LIV
PHÁP HỘI HẢI
HUỆ BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI
BỐN
(Hán
bộ từ quyển 133 đến quyển 136)
Hán
dịch : Tam Tạng Đàm Vô Sấm - Việt dịch : Tỳ Kheo Thích
Trí Tịnh.
Bấy
giờ trong đại chúng có một vị Bồ Tát tên là Công đức
Bửu Quang từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ đức Phật
quỳ dài chắp tay cung kính bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn
! Đức Như Lai ở trong đại điển kinh này nói rằng
Phật pháp chẳng thể tuyên nói được. Nếu chẳng nói
được thì làm sao có thể hộ trì ?".
Đức
Phật nói : "Lành thay lành thay, nầy Công đức Bửu Quang !
Đúng như vậy đúng như vậy, Như Lai chánh pháp thiệt chẳng
thể tuyên nói được. Đức Như Lai giác ngộ biết rõ
pháp chẳng thể nói được. Chánh pháp như vậy dầu
chẳng thể tuyên nói mà có tự cú, vì có tự cú nên có thể
tuyên nói được. Tự cú như vậy mà thọ trì đọc tụng
biên chép giải nói thì gọi là hộ pháp.
Này
Công đức Bửu Quang ! Còn có hộ pháp là thấy có người
thọ trì đọc tụng biên chép giải nói tự cú như vậy thì
cúng dường cung kính thân cận lễ bái tôn trọng tán thán
sanh ý tưởng là thầy, rồi ủng hộ cung cấp những y phục,
uống ăn, thuốc men, giường ghế, phòng nhà, đèn đuốc.
Nghe người ấy nói pháp thì khen rằng thiện tai, thủ hộ
nhà phòng của dòng họ người ấy ở, cũng thủ hộ những
người hầu cận giúp việc, nghe điều xấu dở thì ẩn che,
nghe điều tốt thì tán dương. Nếu có thể ủng hộ
người thọ trì chánh pháp như vậy, thì người nầy có thể
ủng hộ Phật Pháp Tăng.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu có thể tu không vô tướng
vô nguyện, người này tức là ủng hộ chánh pháp.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Thấy có kẻ chê báng kinh điển
Đại thừa thì chẳng cùng ở với người ấy, cũng chẳng
cùng ngôn ngữ đàm luận để điều phục tội của kẻ ấy.
Người nầy tức là hộ trì chánh pháp.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu có người hay tu tập bi
tâm không có ý tưởng đến lợi dưỡng uống ăn, thương
mến chúng sanh vì họ mà tuyên nói chánh pháp, đây gọi là
người hộ pháp.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu có thể chẳng tiếc thân
mạng mà thọ trì đọc tụng biên chép giải nói các kinh điển
Đại thừa như vậy, đây gọi là người hộ pháp.
Còn
nữa nầy thiện nam tử ! Nếu nghe chánh pháp một chữ
một câu mà đi một do tuần nhẫn đến bảy bước trong khoảng
thời gian thở ra hít vào, đây gọi là hộ pháp.
Nầy
Công Đức Bửu Vương ! Quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp
có đức Phật hiệu là Trí Thanh Lực Như Lai , Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn,
thế giới tên Tịnh Quang, kiếp tên Cao Hiển. Thế giới
Tịnh Quang ấy thuần là thanh lưu ly bửu. Tất cả chúng Bồ
Tát đều thành tựu vô lượng thí lực, có đủ thần thông
trí huệ vô ngại. Tất cả Bồ Tát đều thọ thân trời
đều chí tâm nghe đức Phật Đại Trí Thanh Lực thuyết pháp
không có xuất gia cùng tại gia sai biệt. Bấy giờ Thế
Tôn ấy vì cớ hộ pháp nên ban tuyên chánh pháp cho các đại
chúng.
Trong
pháp hội có một vị Bồ Tát hiệu là Pháp Huệ bạch đức
Phật ấy rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Những gì là pháp
mà nói ủng hộ ?".
Đức
Đại Trí Thanh Lực Như Lai nói : "Nầy Pháp Huệ ! Luận về
lục nhập nó thích tìm cầu cảnh giới, nếu có thể ngăn
chỉ được thì gọi là hộ pháp. Nhãn thức ở nơi sắc
gọi là phi pháp, nếu có thể xa lìa sắc thì gọi là hộ
pháp. Nhẫn đến ý thức ở nơi pháp cũng như vậy.
Nầy
Pháp Huệ ! Nếu thấy nhãn rỗng không, thấy rồi chẳng nhìn
xem nơi sắc chẳng trụ trước nơi thức đây gọi là pháp,
nếu chơn thiệt biết rõ pháp như vậy thì gọi là hộ pháp.
Nhẫn đến với ý pháp và thức cũng như vậy.
Nầy
Pháp Huệ ! Nếu pháp hay sanh trong pháp ấy chẳng cầu chẳng
thấy lòng chẳng tham trước, đây gọi là hộ pháp. Nếu
có thấy pháp hay sanh tà kiến, ở trong kiến ấy chẳng cầu
chẳng lấy lòng chẳng tham trước, đây gọi là hộ pháp.
Nếu có vô minh chẳng thể tịnh tâm, ở trong cấu trược
ấy chẳng cầu chẳng lấy lòng chẳng tham trước, đây gọi
là hộ pháp.
Nầy
Pháp Huệ ! Nếu có một pháp sau khi đã cầu lấy rồi mà
chẳng thể ban thí cho người thì pháp ấy là phi pháp cũng
là phi tỳ ni. Còn có thể ban thí cho người tức là chánh
pháp tức là tỳ ni. Nếu có người không cầu không thủ
không thí tức là chánh pháp tức là tỳ ni. Luận về
có cầu thủ ấy tức là phi đạo, nếu chẳng ban thí ấy
tức là phi pháp tức là phi tỳ ni. Nếu có thể ban thí
tức là chánh pháp tức là tỳ ni.
Chẳng
thủ chẳng cầu chẳng thí tức là bất xuất bất sanh bất
diệt, nếu chẳng phải xuất sanh và diệt thì thế nào có
thể thí được. Chẳng thể thí được ấy mới gọi
là pháp là tỳ ni. Tại sao, vì chưa sanh phiền não làm
nhơn duyên chướng ngại, vì vậy mà vô tận, vô tận ấy
là vô xuất, vô xuất ấy gọi là pháp gọi là tỳ ni.
Nơi pháp như vậy chẳng cầu chẳng thủ thì gọi là hộ pháp.
Lúc
đức Phật Đại Trí Thanh Lực vì Pháp Huệ đại Bồ Tát
nói pháp ấy có ba vạn hai ngàn Bồ Tát được Vô sanh pháp
nhẫn".
Hải
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Như tôi hiểu nghĩa của đức Thế Tôn nói thì pháp và phi
pháp đây gọi là pháp. Tại sao, vì nếu phân biệt pháp
và phi pháp ấy, người nầy chẳng gọi là hộ trì chánh pháp.
Nếu thấy có pháp tướng thì gọi là phi pháp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu có thể liễu đạt thấy tất cả
pháp là không có pháp thì gọi là nghĩa đệ nhứt chơn thiệt.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu không có pháp không có phi pháp tức
là vô số, nếu vô số ấy tức là thiệt tánh. Thiệt
tánh ấy gọi là hư không. Tánh hư không vô biên vô tế,
tánh của tất cả các pháp cũng vô biên vô tế. Pháp
tánh cùng thiệt tánh không có sai biệt, tại sao, vì là vô
biên vô tế vậy. Nếu Bồ Tát biết thấy bình đẳng
như vậy tức là thấy chơn thiệt.
Bạch
đức Thế Tôn ! Tôi không thấy có một pháp, do vì chẳng
thấy có pháp nên chẳng thấy có tăng chẳng thấy có giảm.
Bạch
đức Thế Tôn ! Tôi thấy như vậy phải chăng là chẳng phỉ
báng lời nói của đức Như Lai là thiệt thấy chăng".
Đức
Phật nói : "Nầy Hải Huệ ! Thấy như vậy chẳng phỉ
báng Như Lai, là chơn thiệt thấy".
Lúc
nói pháp ấy, Hải Huệ đại Bồ Tát và một vạn trời người
được Vô sanh pháp nhẫn.
Đức
Phật lại bảo Hải Huệ đại Bồ Tát rằng : "Nầy thiện
nam tử ! Ông có biết thuở đức Phật Đại Trí Thanh Lực
Như Lai, đại Bồ Tát Pháp Huệ ấy là ai chăng ? Chính
là tiền thân của ta, Thích Ca Mâu Ni Phật nay vậy. Vì
thế nên nay ta đem chánh pháp được cầu trong vô lượng đời
giao phó cho ông".
Bấy
giờ trong chúng có sáu vạn ức chư Bồ Tát đồng phát thanh
bạch đức Phật rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi sẽ
cùng ủng hộ chánh pháp thọ trì và rộng tuyên nói".
Đức
Phật bảo chư Bồ Tát : "Chư thiện nam tử ! Nay các ông
như pháp trụ thế nào để hộ trì chánh pháp ?".
Sơn
Vương Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Tiếc thân
mạng thì chẳng thể hộ pháp được. Tôi chẳng tiếc
thân mạng như pháp mà trụ nên tôi có thể hộ trì chánh
pháp".
Công
Đức Sơn Vương Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn
! Người tham lợi thì chẳng thể hộ pháp. Tôi không
tham lợi nên có thể hộ pháp".
Bửu
Tràng Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nếu thấy
có hai tướng pháp và phi pháp thì chẳng thể hộ pháp.
Tôi không có hai tướng nên có thể hộ pháp được".
Phước
Đức Tạng Bồ Tát bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn ! Người
có phiền não thì chẳng thể hộ pháp. Tôi có trí lực
đã xa lìa phiền não nên có thể hộ pháp được".
Trì
Cự Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người chẳng
phá tối thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi phá tối nên
có thể hộ pháp được".
Điện
Quang Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nếu tùy
theo tâm người thì chẳng thể hộ pháp. Tôi tùy theo
ý mình nên có thể hộ pháp được".
Biến
Tạng Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người chẳng
điều các căn thì chẳng thể hộ pháp? Nay tôi điều phục
nên có thể hộ được pháp".
Tịnh
Quang Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nếu thấy
các pháp có các thứ tướng dạng thì chẳng thể hộ pháp.
Nay tôi ở nơi các pháp không có các tướng nên có thể hộ
pháp được".
Tăng
Hành Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người tâm
loạn động thì chẳng thể hộ pháp. Tôi tu tam muội
nên có thể hộ pháp được".
Thương
Chủ Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người chẳng
biết đạo thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi biết rõ
nên có thể hộ pháp được".
Thiện
Niệm Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người có
lòng nghi thì chẳng thể hộ pháp. Tôi đã đoạn nghi
nên có thể hộ pháp được ".
Thiện
Kiến Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người chẳng
như pháp trụ thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi như pháp
trụ nên có thể hộ pháp được".
Huệ
Quang Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người ngu
si chẳng thể hộ pháp. Nay tôi tu trí nên có thể hộ
pháp được".
Bình
Đẳng Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người
chấp lấy tướng oán và thân thì chẳng thể hộ pháp.
Nay tôi bình đẳng nên có thể hộ pháp được".
Pháp
Hành Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng biết
chúng sanh các căn cảnh giới thì chẳng thể hộ pháp.
Nay tôi biết rõ đó nên có thể hộ pháp được".
Thần
Thông Vương Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người
thấy ngã và ngã sở thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi
chẳng thấy đó nên có thể hộ pháp được".
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Người
chẳng biết Phật tánh thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi
biết đó nên có thể hộ pháp được".
Di
Lặc Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nếu xa Bồ
đề thì chẳng thể hộ pháp. Nay tôi đã gần Bồ đề
nên tôi có thể hộ pháp được".
Công
Đức Tụ Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nếu
không có vô lượng công đức tụ thì chẳng thể hộ pháp.
Nay tôi đã có nên có thể hộ pháp được".
Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Các
lời thưa bạch ấy đều là lời lầm cả. Tại sao, vì
đức Như Lai Thế Tôn ngồi dưới cội cây Bồ đề đạo
tràng chẳng được một pháp, sao các Ngài nói rằng tôi sẽ
hộ pháp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Tôi ở nơi các pháp chẳng thủ chẳng xả.
Vì các chúng sanh mà tôi tu tập bi tâm chẳng hộ chẳng xả".
Đức
Phật khen Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng : "Lành thay, lành thay,
này Văn Thù Sư Lợi ! Lúc đức Như Lai ngồi đạo tràng dưới
cội Bồ đề thiệt không có được. Vì không có được
bèn từ trong ấy mà đứng dậy".
Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Đức
Như Lai chơn thiệt ngồi đạo tràng dưới cội Bồ đề ư
! Cớ sao lại nói từ chỗ ngồi đứng dậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu đức Như Lai ngồi dưới cội Bồ đề
thì Như Lai có hai tướng, đó là Như Lai và cây Bồ đề.
Nhưng đức Như Lai Thế Tôn đã lìa hai tướng".
Đức
Phật nói : "Này Văn Thù Sư Lợi ! Bồ đề cùng chúng
sanh và tất cả các pháp, tánh bình đẳng không sai biệt,
là một vị một tánh. Như Lai lúc ngồi dưới cây Bồ
đề thấy pháp bình đẳng như vậy, vì thế nên gọi là đến
được Bồ đề. Phật trọn chẳng thấy rời ngoài Bồ
đề có một pháp khác. Phật thấy tất cả các pháp
thảy đều bình đẳng. Mà bình đẳng ấy chẳng vào
số lượng, vì thế nên bình đẳng gọi là vô ngại.
Do nhơn duyên nầy mà Như Lai có tên là Nhứt Thiết Vô Ngại.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Nếu ai có thể thấy Như Lai như vậy
thì người ấy tức là được Như Lai giải thoát. Được
giải thoát rồi thì có thể chơn thiệt biết thấy như vậy".
Lúc
nói pháp ấy, chư Bồ Tát quyến thuộc của Hải Huệ Bồ
Tát vui mừng hớn hở đồng nói rằng : "Chúng tôi hôm nay
được lợi ích lớn, hiện tiền thấy đức Thích Ca Mâu Ni
Như Lai và Văn Thù Sư Lợi đại Bồ Tát.
Bạch
đức Thế Tôn ! Tùy nơi nào mà có kinh điển này nên
biết rằng quốc độ ấy được lợi ích lớn. Nếu
có người cúng dường kinh điển nầy và người thọ trì
đọc tụng biên chép rộng giải nói nghĩa kinh cũng được
lợi ích lớn".
Đức
Phật bảo chư Bồ Tát rằng : "Nay các ông biết được những
lợi ích gì ?".
Chư
Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi sẽ
đem nghĩa ấy hỏi nơi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi".
Chư
Bồ Tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng : "Bạch Đại Sĩ
! Thế nào gọi là được lợi ích lớn ?".
Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát nói với chư Bồ Tát : "Chư thiện nam
tử ! Có mười lợi ích. Đó là Phật xuất thế
được thấy, thấy rồi sanh lòng tin, tin rồi nghe thọ chánh
pháp, nghe chánh pháp rồi phá hẳn lòng nghi, phá lòng nghi rồi
được thanh tịnh mạng, được tịnh mạng rồi chẳng vì
lợi mà thuyết pháp, người nghe pháp rồi phát tâm Bồ đề,
đã phát tâm rồi vững chắc chẳng thối chuyển, tâm chẳng
thối rồi như pháp mà trụ, như pháp trụ rồi được Vô
sanh nhẫn.
Chư
thiện nam tử ! Đó gọi là mười lợi ích chẳng thể
nghĩ bàn".
Lúc
nói pháp ấy có ba vạn sáu ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng
Bồ đề. Đại Thiên thế giới chấn động sáu cách
phát kim sắc quang.
Hải
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Đại
thừa kinh nầy có thể làm lợi ích nhiều cho vô lượng chúng
sanh. Tại sao, vì do nhơn duyên Đại thừa nên tất cả chúng
sanh được vui Nhơn Thiên và vui Niết bàn.
Bạch
đức Thế Tôn ! Luận về Đại thừa ấy, pháp gì nhiếp
thủ, pháp gì lợi ích, pháp gì khó được, pháp gì chướng
ngại, do nhơn duyên gì mà gọi là Đại thừa ?".
Đức
Phật nói : "Nầy Hải Huệ ! Có một pháp nhiếp thủ
Đại thừa đó là sơ phát tâm Vô thượng Bồ đề. Đã
phát tâm rồi tu bất phóng dật. Còn có một pháp đó
là tin rõ nhơn quả. Còn có một pháp đó là quán mười
hai nhơn duyên. Còn có một pháp đó là ở nơi chúng sanh
tâm thường bình đẳng thích tu đại từ. Còn có một
pháp đó là chẳng thối thất tâm Bồ đề. Còn có một
pháp đó là niệm Phật. Còn có một pháp đó là như
pháp trụ rồi niệm Chánh pháp. Còn có một pháp đó là dùng
tâm bất thối niệm chúng Tăng. Còn có một pháp đó
là chẳng mất đạo tâm niệm tịnh cấm giới. Còn có
một pháp đó là xa lìa phiền não tâm niệm nơi xả.
Còn có một pháp đó là muốn được thân vô lượng tịch
tĩnh nên niệm chư Thiên. Còn có một pháp đó là niệm muốn
an ổn tất cả chúng sanh. Còn có một pháp đó là siêng tu
tinh tiến. Còn có một pháp đó là muốn cho chúng sanh
đều được giải thoát được giải thoát rồi thọ hỷ lạc.
Còn có một pháp đó là thích cầu chánh pháp. Còn có
một pháp đó là xa lìa tâm tham vì chúng mà thuyết pháp.
Còn có một pháp đó là nơi người thính pháp sanh lòng mến
nhớ. Còn có một pháp đó là với người thuyết pháp
thích dâng cúng dường. Còn có một pháp đó là với
trong chánh pháp sanh ý tưởng là dược thọ. Còn có một
pháp đó là với tự thân mình sanh ý tưởng là thầy thuốc.
Còn có một pháp đó là chí tâm chuyên niệm hộ trì chánh
pháp. Còn có một pháp đó là nối thạnh dòng thánh chẳng
để đoạn tuyệt. Còn có một pháp đó là xa lìa giải
đãi. Còn có một pháp đó là tri túc. Còn có một
pháp đó là với tất cả của cải không có lòng xan tham.
Còn
có một pháp đó là tự trì giới rồi có thể khuyến hóa
người phạm giới. Còn có một pháp đó là tự tu nhẫn
nhục rồi có thể khuyến hóa chúng sanh khiến họ lìa tâm
sân. Còn có một pháp đó là được chút ít lợi ích
sanh ý tưởng ơn lớn. Còn có một pháp đó là được
ơn ít mà có ý tưởng đền đáp lớn. Còn có một pháp
đó là tự trì tịnh giới chẳng khi người phạm giới.
Còn có một pháp đó là phá kiêu mạn. Còn có một pháp
đó là chí tâm tìm cầu người thính pháp. Còn có một
pháp đó là lìa ác tri thức. Còn có một pháp đó là
chí tâm tu thiện. Còn có một pháp đó là chẳng tùy
theo ý người. Còn có một pháp đó là điều phục các
căn. Còn có một pháp đó là với Pháp sư tưởng như
là đức Như Lai. Còn có một pháp đó là chẳng tiếc
thân mạng hộ trì chánh pháp. Còn có một pháp đó là
vì điều phục chúng sanh mà thọ khổ chẳng hối hận.
Còn có một pháp đó là Phật còn tại thế hay sau khi diệt
độ, sự cúng dường tháp Phật, tượng Phật vv đồng không
sai khác. Còn có một pháp đó là chúng sanh chẳng mời
thỉnh mà thích làm thiện hữu. Còn có một pháp đó
là với những vật tốt không có lòng tham trước. Còn
có một pháp đó là thích niệm xuất gia. Còn có một
pháp đó là thích xưng tụng việc lành của người. Còn
có một pháp đó là thích cầu trang nghiêm pháp Bồ đề.
Còn có một pháp đó là với người đồng sư đồng học
không có lòng tật đố. Còn có một pháp đó là giáo
hóa chúng sanh phát tâm Bồ đề không có lòng thối hối.
Còn có một pháp đó là che giấu lỗi người. Còn có
một pháp đó là cầu tất cả ngữ ngôn. Còn có một
pháp đó là cầu tất cả công hạnh. Còn có một pháp
đó là thiệt ngữ. Còn có một pháp đó là sau khi phát
lời thì cần phải làm trọn việc ấy. Còn có một pháp
đó là với các pháp lành lòng không nhàm đủ. Còn có
một pháp đó là tùy vật có được đều cùng người đồng
hưởng. Còn có một pháp đó là giỏi biết ma giới.
Còn có một pháp đó là phá hoại kiêu mạn tu tập biết chơn
thiệt. Còn có một pháp đó là lòng thích tịch tĩnh.
Còn có một pháp đó là lìa ngã ngã sở. Còn có một
pháp đó là chẳng tự khen ngợi mình. Còn có một pháp
đó là tùy thuận thế gian.
Còn
có một pháp đó là tu chánh mạng rồi thích nơi tịch tĩnh.
Còn có một pháp đó là trì tịnh giới rồi tư duy thiện
pháp. Còn có một pháp đó là tu đa văn rồi chẳng sanh
lòng kiêu mạn. Còn có một pháp đó là tu thiện hạnh
rồi chẳng trụ ở bực ấy. Còn có một pháp đó là
tu không tam muội quán nơi pháp tánh. Còn có một pháp
đó là được cúng dường rồi tâm mình chẳng cao. Còn
có một pháp đó là với người ưa nói thế tục thì chẳng
cùng họ đồng ở. Còn có một pháp đó là được vật
như pháp rồi thì cùng bạn đồng học chung dùng. Còn
có một pháp đó là chơn thiệt phương tiện. Còn có
một pháp đó là biết tất cả rồi chẳng có ý tưởng tham.
Còn có một pháp đó là chưa học khi đã học rồi lòng chẳng
hối. Còn có một pháp đó là đã học biết rồi chẳng
sanh lòng khinh mạn. Còn có một pháp đó là mình bị
mắng nhục lòng chẳng giận. Còn có một pháp đó là
được cúng dường hay bị mắng nhục trong lòng bình đẳng
không hai. Còn có một pháp đó là nghe nói chánh pháp
khen rằng lành thay. Còn có một pháp đó là vì muốn
có đủ sáu Ba la mật nên thường cầu trang nghiêm. Còn có
một pháp đó là tín tâm bất thối. Còn có một pháp
đó là vì cầu đạo Bồ đề mà cầu trang nghiêm. Còn
có một pháp đó là được cúng dường rồi thường thanh
tịnh tâm mình để cho thí chủ được lợi ích lớn.
Còn có một pháp đó là đầy đủ thất thánh tài. Còn
có một pháp đó là hay phá sự bần cùng khốn khổ của chúng
sanh. Còn có một pháp đó là dùng thiện phương tiện
điều phục chúng sanh. Còn có một pháp đó là dùng tứ
nhiếp thủ để nhiếp thủ chúng sanh. Còn có một pháp
đó là chẳng cùng chúng sanh tranh cãi đùa cợt nhau.
Còn
có một pháp đó là lúc nghe pháp chẳng ở nơi Pháp sư tìm
cầu chỗ dở. Còn có một pháp đó là chưa được chứng
quả Sa Môn lòng chẳng sanh hối. Còn có một pháp đó
là thường đi trong thế gian mà chẳng bị tám pháp làm nhiễm
ô. Còn có một pháp đó là thường xem xét lỗi mình.
Còn có một pháp đó là với người cử tội mình chẳng sanh
lòng hờn giận. Còn có một pháp đó là thấy pháp thế
gian lòng sanh ý tưởng xả ly. Còn có một pháp đó là
với thiện hữu chẳng dối phỉnh. Còn có một pháp đó là
trước thanh tịnh tâm mình rồi dạy cho người tịnh.
Còn có một pháp đó là chẳng vì lợi dưỡng mà trì tịnh
giới. Còn có một pháp đó là vì tăng thêm pháp lành
mà tu tâm tịch tĩnh. Còn có một pháp đó là vì pháp
lành mà tu tịnh trang nghiêm. Còn có một pháp đó là
vì tịnh công đức mà tu tập trang nghiêm. Còn có một
pháp đó là vì tịnh trí huệ mà tu tập phương tiện vô tưởng
tam muội. Còn có một pháp đó là như pháp mà nhẫn.
Còn có một pháp đó là tu ba môn giải thoát. Còn có
một pháp đó là biết thị xứ phi xứ. Còn có một pháp
đó là tu xa ma tha vì trang nghiêm tỳ bà xá na. Còn có
một pháp đó là biết rõ giải thoát. Còn có một pháp đó
là biết tam thế bình đẳng. Còn có một pháp đó là chẳng
phân biệt tất cả pháp giới. Còn có một pháp đó là biết
rõ tất cả pháp tánh bất sanh bất diệt.
Nầy
Hải Huệ ! Đại Bồ Tát quán sát trăm pháp như vậy,
đây gọi là nhiếp thủ Đại thừa.
Lại
nấy Hải Huệ ! Còn có hai pháp lợi ích Đại thừa,
một là thích niệm Phật pháp và hai là xa lìa Thanh Văn.
Còn có hai pháp đó là ủng hộ giải thoát và có thể diễn
nói pháp Đại thừa. Còn có hai pháp đó là cầu Bồ
đề tâm và điều phục chúng sanh. Còn có hai pháp đó
là xem tâm Bồ đề như tướng ảo huyễn và xem tất cả chúng
sanh đều không có ngã. Còn có hai pháp đó là chẳng
bỏ tâm Bồ đề và quán pháp bình đẳng. Còn có hai pháp
đó là thanh tịnh thiện căn và vô tác vô tịnh. Còn
có hai pháp đó là vì pháp lành mà tu trang nghiêm và đến
cứu cánh. Còn có hai pháp đó là tự thân cứu cánh và
chúng sanh cứu cánh. Còn có hai pháp đó là nội tịnh
và ngoại tịnh. Còn có hai pháp đó là chẳng phạm tội
và phạm rồi sanh lòng hối. Còn có hai pháp đó là hay
bố thí và chẳng cầu báo đáp. Còn có hai pháp đó là
bình đẳng bố thí và hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Còn có hai pháp đó là trì giới và chẳng cầu thiện quả.
Còn có hai pháp đó là chẳng tự khen và chẳng chê người.
Còn có hai pháp đó là nhẫn nhục và nói lời hoà dịu.
Còn có hai pháp đó là nơi tham thì chẳng tham và nơi sân thì
chẳng sân.
Còn
có hai pháp đó là với pháp lành thì siêng tu tinh tiến và
chẳng khinh người giải đãi. Còn có hai pháp đó là
thân tịch tĩnh và tâm tịch tĩnh. Còn có hai pháp đó
là cầu thiền chi và điều phục tâm. Còn có hai pháp
đó là thích ở thiền định và chẳng nhàm Dục giới.
Còn có hai pháp đó là cầu pháp và thích pháp. Còn có
hai pháp đó là quán pháp và ưa muốn pháp. Còn có hai
pháp đó là thích cầu thiện hữu và cung kính cúng dường.
Còn có hai pháp đó là chí tâm nghe pháp và chí tâm thọ pháp.
Còn có hai pháp đó là luôn thưa hỏi chánh pháp và như pháp
trụ. Còn có hai pháp đó là biết pháp và biết nghĩa.
Còn có hai pháp đó là nghe pháp rồi không nhàm và biết pháp
rồi không nhàm. Còn có hai pháp đó là thích lành và
lìa ác. Còn có hai pháp đó là thích nói chánh pháp và
với người thọ pháp sanh lòng thương xót. Còn có hai
pháp đó là với pháp không có lòng xan lẫn và lúc nói pháp
không có ý tưởng tham. Còn có hai pháp đó là chí tâm
nghe pháp và chí tâm thọ pháp. Còn có hai pháp đó là
lìa ngũ cái và tu thất giác chi. Còn có hai pháp đó là
hỷ và lạc. Còn có hai pháp đó là biết mình và biết
giờ. Còn có hai pháp đó là tin quả báo và tu nghiệp
lành. Còn có hai pháp đó là chẳng dứt thánh tánh và
thiệt ngữ. Còn có hai pháp đó là như thuyết mà trụ
và chẳng giấu công đức Như Lai. Còn có hai pháp đó
là tịnh thân và xa lìa ba căn bất thiện. Còn có hai
pháp đó là quán thân như cỏ cây và vì tịnh tâm mà tu tập
pháp lành. Còn có hai pháp đó là tịnh khẩu và xa lìa
bốn lỗi. Còn có hai pháp đó là quán tất cả pháp đều
bất khả thuyết và quán thanh như vang. Còn có hai pháp đó
là tịnh tâm và xa lìa vô minh tật đố tà kiến.
Còn
có hai pháp đó là đó là nội tịnh và ngoài không có hành
xứ. Còn có hai pháp đó là tu từ và xa lìa ý tưởng
oán thân. Còn có hai pháp đó là đó là quán chúng sanh
như hư không và tu từ. Còn có hai pháp đó là chẳng
bỏ bi tâm và cầu thiện chẳng hối. Còn có hai pháp
đó là hay điều kẻ chẳng điều và lúc điều chẳng hối.
Còn có hai pháp đó là trì chánh pháp và hộ người trì chánh
pháp. Còn có hai pháp đó là thích pháp và hộ pháp.
Còn có hai pháp đó là khen ngợi điều lành của người và
ưa giấu lỗi người. Còn có hai pháp đó là lìa tham
và lìa sân. Còn có hai pháp đó là chẳng bỏ chúng sanh
và tu xả. Còn có hai pháp đó là niệm Phật và biết
vô niệm xứ. Còn có hai pháp đó là quán thân vô thường
và cầu ba mươi hai tướng. Còn có hai pháp đó là niệm
pháp và giáo hóa chúng sanh khiến họ trụ trong pháp.
Còn có hai pháp đó là quán vô tham xứ và với kẻ tham thì
có lòng thương. Còn có hai pháp đó là niệm Bồ Tát
Tăng và y chỉ Tăng bất thối chuyển. Còn có hai pháp
đó là quán không có Tăng và ủng hộ bốn quả Sa Môn.
Còn
có hai pháp đó là niệm giới và biết tâm Bồ đề bất khả
thuyết. Còn có hai pháp đó là quán giới vô tác và thủ hộ
người phạm giới. Còn có hai pháp đó là niệm thí và
thí rồi không hối. Còn có hai pháp đó là đó là xa
lìa phiền não và vì lìa phiền não nên diễn thuyết chánh
pháp. Còn có hai pháp đó là niệm thiên và thích tịch
tĩnh. Còn có hai pháp đó là có đủ niệm tâm và ủng
hộ người loạn tâm. Còn có hai pháp đó là công đức
trang nghiêm và trí huệ trang nghiêm. Còn có hai pháp đó
là quán không có tạo tác và thích tu pháp lành. Còn có
hai pháp đó là không có phược và bị phược thì giải thoát.
Còn có hai pháp đó là xa lìa tâm dối phỉnh và chí tâm tu
tịnh. Còn có hai pháp đó là biết ơn và nhớ ơn.
Còn có hai pháp đó là nói tất cả lỗi và xa lìa lỗi.
Còn có hai pháp đó là tự tu thánh hạnh và khuyên người
tu. Còn có hai pháp đó là nguyện cầu pháp lành và lòng
không nhàm đủ. Còn có hai pháp đó là xa lìa ác pháp
và thân cận thiện pháp. Còn có hai pháp đó là thỉnh
Phật thuyết pháp và chí tâm nghe thọ. Còn có hai pháp
đó là biết tất cả pháp bất sanh bất diệt và diễn
nói tự cú nghĩa. Còn có hai pháp đó là biết không có
chúng sanh và đem căn lành của mình cùng chúng sanh chung.
Còn có hai pháp đó là xa lìa các tướng và thâm cầu ba mươi
hai tướng. Còn có hai pháp đó là quán rỗng không và
giúp hộ chúng sanh. Còn có hai pháp đó là tu tập vô
nguyện và nguyện đến chúng sanh. Còn có hai pháp đó là tu
tất cả thiện và nguyện các chúng sanh đồng tu thiện căn.
Còn có hai pháp đó là trí huệ vô ngại và thọ thân trong
các cõi. Còn có hai pháp đó là bất động và bất hối.
Còn
có hai pháp đó là tàm và quý. Còn có hai pháp đó là
thích tịch tĩnh và cầu pháp tịch tĩnh. Còn có hai pháp
đó là tu tập vô tránh tam muội và quán không có chúng sanh.
Còn có hai pháp đó là thiểu dục và tri túc. Còn có
hai pháp đó là che giấu tội người và phát lộ tội mình.
Còn có hai pháp đó là quán thập nhị nhơn duyên và tin sâu.
Còn có hai pháp đó là vô ngã và không có chúng sanh.
Còn có hai pháp đó là phòng ngừa phiền não mình và phá phiền
não người. Còn có hai pháp đó là quán vô tác vô thọ
và thích tu pháp lành. Còn có hai pháp đó là quán lỗi
sanh tử và chẳng dứt sanh tử. Còn có hai pháp đó là
tự thích sanh tử và giáo hóa các chúng sanh khiến họ thoát
khỏi sanh tử. Còn có hai pháp đó là cầu Ba la mật và
cầu chỗ đã không có. Còn có hai pháp đó là cầu biết
và dậy người đồng biết như mình. Còn có hai pháp
đó là chẳng cầu cúng dường và vì cúng dường mà tạo
tác nghiệp làm. Còn có hai pháp đó là với chỗ có ơn
thường muốn đền đáp và nơi có ơn và không có ơn bình
đẳng báo đáp. Còn có hai pháp đó là tu bất phóng dật
và tu vô duyên từ. Còn có hai pháp đó là thích vào xuất
gia và xuất gia rồi lòng rất yêu thích. Còn có hai pháp
đó là tự nên công đức và với người không có công đức
thì sanh lòng thương. Còn có hai pháp đó là tu thân niệm
xứ và không có niệm xứ. Còn có hai pháp đó là tu thọ
niệm xứ và không có niệm xứ. Còn có hai pháp đó là
tu tâm niệm xứ và không có niệm xứ. Còn có hai pháp
đó là tu pháp niệm xứ và không có niệm xứ. Còn có
hai pháp đó là là xa lìa pháp bất thiện và thân cận hay
sanh thiện pháp. Còn có hai pháp đó là xa lìa ác pháp
đã sanh và hộ trì thiện pháp đã sanh. Còn có hai pháp
đó là làm cho thiện pháp chưa sanh được sanh và vì thêm
rộng mà ủng hộ thiện pháp ấy. Còn có hai pháp đó
là được đại thần thông và giáo hóa chúng sanh. Còn
có hai pháp đó là an trụ pháp giới và thấy khắp chư Phật
thế giới.
Còn
có hai pháp đó là tín tâm bất động và dạy chúng sanh cũng
tin như mình. Còn có hai pháp đó là tịnh tâm và giáo
hóa người tán loạn. Còn có hai pháp đó là siêng tinh
tiến và giáo hóa người giải đãi. Còn có hai pháp
đó là đầy đủ trí huệ vô ngại và giáo hóa vô minh chúng
sanh. Còn có hai pháp đó là quán giới và quán duyên.
Còn có hai pháp đó là cầu trí trang nghiêm và tâm ấy chẳng
hối. Còn có hai pháp đó là quán các phiền não và ra
khỏi phiền não rồi biết rõ giải thoát. Còn có hai
pháp đó là tất cả pháp giải thoát và phiền não chẳng
hiệp tam giới. Còn có hai pháp đó là trang nghiêm Bồ
đề và tu học Bồ đề. Còn có hai pháp đó là tận
trí và vô sanh trí. Còn có hai pháp đó là quán thánh
đạo phương tiện và quán sanh tử phương tiện. Còn
có hai pháp đó là cứu cánh đạo và biết thối chuyển đạo.
Còn
có hai pháp đó là như pháp trụ và trong các pháp không có
kiến chấp. Còn có hai pháp đó là theo duyên mà sanh diệt
và theo duyên mà giải thoát. Còn có hai pháp đó là biết
ma nghiệp và biết đã lìa. Còn có hai pháp đó là nơi
giận có thể nhẫn và nơi nhẫn thì thương. Còn có hai
pháp đó là vì Bồ đề mà tu trang nghiêm và dầu tu trang nghiêm
mà tâm không tham trước. Còn có hai pháp đó là chẳng
bỏ phiền não và chẳng bỏ tu thiện trang nghiêm. Còn
có hai pháp đó là biết thị xứ phi xứ và đem các thiện
căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Còn có hai pháp
đó là quán tâm Bồ đề như tướng ảo huyễn và tu hướng
đến Vô thượng Bồ đề trang nghiêm. Còn có hai pháp
đó là quán các chúng sanh với Bồ đề bình đẳng vô sai
biệt và biết các chúng sanh nhơn nơi Bồ đề mà được giải
thoát. Còn có hai pháp đó là biết pháp vô sanh và vì
sanh pháp lành mà tu trang nghiêm. Còn có hai pháp đó là
pháp bất khả thuyết mà có thể tuyên nói và tất cả chúng
sanh đều đồng nhứt thừa.
Lại
này Hải Huệ ! Còn có ba pháp có thể lợi ích Đại
thừa, đó là sơ phát tâm Bồ đề, thân cận thiện hữu lòng
chẳng sanh hối và tu tập tâm đại bi chẳng thối chuyển.
Còn có ba pháp đó là phá hoại san lẫn, ban cho tất cả và
nhiếp thủ Bồ đề. Còn có ba pháp đó là đầy đủ
tịnh giới, điều phục kẻ phá giới và hồi hướng Bồ
đề. Còn có ba pháp đó là tâm không sân hận, điều
phục kẻ sân hận và hồi hướng Bồ đề. Còn có ba
pháp đó là ở trong sanh tử lòng không thối hối, vui thích
vì người mà gầy dựng sự nghiệp và hồi hướng Bồ đề.
Còn có ba pháp đó là được tam muội định, chẳng sanh kiêu
mạn và hồi hướng Bồ đề. Còn có ba pháp đó là cầu
đa văn, được đa văn rồi chẳng sanh kiêu mạn và hồi hướng
Bồ đề. Còn có ba pháp đó là chúng sanh duyên, pháp
tánh duyên và vô duyên. Còn có ba pháp đó là tự bi,
bi tha và lìa tự bi tha bi. Còn có ba pháp đó là vì tư
lợi mà tu tập trí huệ, dùng trí huệ chuyển giáo hóa chúng
sanh và tự lợi lợi tha. Còn có ba pháp đó là biết
quá khứ đã hết, biết vị lai vô sanh và biết hiện tại
vô trụ. Còn có ba pháp đó là vì người chánh định
mà tu tập từ tâm, vì người tà định mà tu tập bi tâm và
vì người bất định mà tu tập giải thoát. Còn có ba
pháp đó là tịnh thân, tịnh khẩu và tịnh ý. Còn
có ba pháp đó là tu bất tịnh quán để phá tham dục, tu từ
để phá sân hận và quán mười hai nhơn duyên để phá vô
minh. Còn có ba pháp đó là an, lạc và tri túc. Còn
có ba pháp đó là nghe pháp rồi hay thọ trì, có thể rộng
phân biệt văn tự cú nghĩa và quán sát tội lỗi. Còn
có ba pháp đó là đầy đủ thất thánh tài, có thể đại
pháp thí và có thể thí cho chúng sanh. Còn có ba pháp
đó là thiệt nghĩa, chơn nghĩa và bất cuống nghĩa. Còn
có ba pháp đó là tự tri, tri tha và tri thời.
Còn
có ba pháp đó là ngũ ấm với pháp ấm bình đẳng, các giới
cùng pháp giới bình đẳng và các nhập cùng pháp nhập bình
đẳng. Còn có ba pháp đó là tu không, vô tướng và vô
nguyện. Còn có ba pháp đó là chẳng phỉ báng nhơn quả,
phương tiện sanh pháp đều từ nhơn duyên và hòa hiệp nhơn
duyên mà được có danh tự. Còn có ba pháp đó là tin
Phật bất khả tư nghị, tin Pháp chẳng sanh hủy báng và tin
Tăng là phước điền lành tốt. Còn có ba pháp đó là
xa lìa tham dục, xa lìa sân hận và xa lìa ngu si. Còn có
ba pháp đó là thế tục để, đệ nhứt nghĩa để và chẳng
trụ trước hai đế. Còn có ba pháp đó là xa lìa phiền
não, xa lìa kiêu mạn và ở chỗ phước điền thì lễ lậy
cúng dường. Còn có ba pháp đó là chẳng nhiễm Dục
giới, chẳng trước Sắc giới và nơi Vô Sắc giới chẳng
sanh kiêu mạn. Còn có ba pháp đó là được cúng dường
chẳng mừng, bị hủy nhục chẳng giận và lìa tám pháp thế
gian. Còn có ba pháp đó là che giấu các căn, hiểu rõ
các căn và tịch tĩnh các căn. Còn có ba pháp đó là
hướng đến thiện địa, xa lìa chướng thiện địa và quán
công đức thiện địa. Còn có ba pháp đó là chí tâm,
tịnh tâm và tịnh trang nghiêm. Còn có ba pháp đó là
học luật nghi giới, học tâm giới và học huệ giới.
Còn có ba pháp đó là thọ lạc chẳng sanh tham dật, thọ khổ
chẳng sanh sân não và thọ chẳng lạc chẳng khổ tu tập nơi
xả. Còn có ba pháp đó là chuyển nhơn vì chẳng tạo
tác, chuyển phiền não vì chẳng thấy tướng dạng và chuyển
tam thế vì không nguyện cầu.
Còn
có ba pháp đó là nhãn rỗng không, sắc tịch tĩnh và thọ
không có chỗ tạo tác. Còn có ba pháp đó là kín giới,
hộ định và quán huệ. Còn có ba pháp đó là nhớ giữ
niệm pháp, tư duy quán pháp và như pháp trụ. Còn
có ba pháp đó là âm thanh làm nhơn duyên cho Thanh Văn giải
thoát, mười hai chi làm nhơn duyên cho Duyên Giác giải thoát
và lục độ làm nhơn duyên cho Bồ Tát giải thoát. Còn
có ba pháp đó là thí, đại thí và cứu cánh thí. Còn
có ba pháp đó là hộ pháp, hộ người trì pháp và hộ trì
Đại thừa. Còn có ba pháp đó là đi trong sanh tử, xét
lỗi sanh tử và biết mình đã xa lìa. Còn có ba pháp
đó là chí tâm nghe pháp phá trừ ngũ cái, thường thích tịch
tĩnh và như pháp trụ. Còn có ba pháp đó là y nghĩa,
y pháp và y trí. Còn có ba pháp đó là cầu đa văn rồi
thích nơi tịch tĩnh, thích nơi tịch tĩnh rồi tư duy pháp
lành và thiện tư duy rồi biết pháp bình đẳng. Còn
có ba pháp đó là thân cận người trí, thưa hỏi bực đa
văn và hộ trí người lành. Còn có ba pháp đó là không
lòng tham vì người thuyết pháp, thấy người nghe pháp thì
từ tâm nhìn họ và nhứt tâm quán nơi Bồ đề. Còn
có ba pháp đó là xem các chúng sanh tâm mình bình đẳng, quán
tâm bình đẳng và quán Phật bình đẳng. Còn có ba pháp
đó là quá khứ bất tận, vị lai bất hiệp và hiện tại
bất trụ. Còn có ba pháp đó là đó là quán khổ vô
thường, quán pháp vô ngã và quán Niết bàn tịch tĩnh.
Còn có ba pháp đó là nghe pháp rồi kiên trì, tam muội kiên
trì và trí huệ kiên trì. Còn có ba pháp đó là phạm
tội chẳng che dấu, chẳng hối tội trước đã phạm và chí
tâm hộ giới. Còn có ba pháp đó là phá tâm nghi, phá
tâm hối và phá tâm chướng ngại. Còn có ba pháp đó
là muốn điều lành, lìa luận đàm thế sự và thích nơi
tịch tĩnh. Còn có ba pháp đó là nhẫn nghĩa thậm thâm,
nói nghĩa thậm thâm và hiểu rõ các nghĩa. Còn có ba
pháp đó là đầy đủ thanh nhẫn, đủ tư duy nhẫn và đủ
thuận nhẫn. Còn có ba pháp đó là trí huệ phương tiện,
đại từ và tinh tiến vững chắc.
Này
Hải Huệ ! Bồ Tát có đủ những pháp như vậy thì có
thể lợi ích Đại thừa.
Lại
nầy Hải Huệ ! Có bốn pháp chướng ngại Đại thừa.
Những
gì là bốn ? Đó là nghe pháp chẳng nên nghe, chẳng muốn
nghe thọ Bồ Tát pháp tạng, hành các nghiệp ma và phỉ báng
chánh pháp. Còn có bốn pháp đó là tham dục, sân hận,
ngu si và chẳng thích cầu chánh pháp. Còn có bốn pháp
đó là ganh ghét người được lợi, nơi của cải có lòng
bỏn xẻn, ưa phỉnh dối Pháp sư và chẳng thích thân cận
thấy thiện tri thức. Còn có bốn pháp, đó là nơi thiện
tri thức sanh ý tưởng là ác hữu, nơi ác hữu sanh ý tưởng
là thiện tri thức, phi pháp tưởng là pháp và pháp thì tưởng
là phi pháp. Còn có bốn pháp, đó là chẳng ưa thí cho,
cho rồi tiếc hối, cho rồi thấy lỗi và chẳng niệm tâm
Bồ đề. Còn có bốn pháp, đó là vì tham cầu mà cho,
vì sân hận mà cho, vì ngu si mà cho và vì sợ hãi mà cho.
Còn có bốn pháp, đó là vì danh mà cho, vì bạn mà cho và
vì hơn mà cho. Còn có bốn pháp, đó là chẳng chí tâm
cho, chẳng tự tay cho, chẳng hiện thấy cho và khinh mạn cho.
Còn có bốn pháp, đó là cho vật xấu, cho ít vật, chẳng
chí tâm cho và khinh mạn cho. Còn có bốn pháp, đó là
cho vật có độc, cho dao binh khí, bất tịnh thí và thí cho
không lợi ích. Còn có bốn pháp đó là thấy người
trì giới thì giận ghét, thấy người phạm giới thì mến
thương, theo lời của ác hữu và chẳng niệm thí giới.
Còn có bốn pháp đó là cầu lợi phi pháp, được của cải
đúng pháp chẳng cùng người chung, ngăn dứt sự cúng dường
của người và lòng chẳng biết đủ. Còn có bốn pháp
đó là vì lợi dưỡng mà nhiếp trì oai nghi, vì lợi dưỡng
mà nói nhỏ tiếng, có tâm dua vạy và tà mạng mà sống.
Còn có bốn pháp đó là nơi người đồng học sanh lòng giận
ghét, nơi người đồng thừa sanh lòng giận ghét, chẳng biết
nghiệp ma và ưa nói lỗi của người. Còn có bốn pháp
đó là kiêu mạn chẳng nghe chánh pháp, chẳng cung kính Pháp
sư, chẳng lễ lạy cha mẹ Sư trưởng thiện hữu và có ý
theo ác nghiệp. Còn có bốn pháp đó là giấu công đức
của người, nói rộng lỗi người, thêm lớn kiêu mạn và
giận hờn vững chắc. Còn có bốn pháp đó là giải
đãi, chẳng thích nghe lời lành, nói lời chẳng thuận hòa
và trụ nơi phi pháp. Còn có bốn pháp đó là chẳng điều,
chẳng sạch, chẳng kín và chẳng nhẫn nhịn. Còn có
bốn pháp đó là chẳng thích nghe nhận pháp lành vô thượng,
thích ở thành thị, phạm cấm giới mà thích thọ cúng dường
và chẳng điều phục được sáu căn. Còn có bốn pháp đó
là chẳng có thể nhiếp thủ chúng sanh, chẳng thể hộ trì
chánh pháp và ưa nói tội lỗi của Pháp sư. Còn có bốn
pháp đó là đó là chẳng tu tín tâm, chẳng có thể quán sát
tội lỗi sanh tử, chẳng quán sát lỗi ác hữu và chẳng quán
sát tội lỗi của tâm nghi ngờ. Còn có bốn pháp đó
là chẳng quán nội, chẳng quán ngoại, vô tàm và vô quý.
Còn có bốn pháp đó là chẳng biết ơn, chẳng báo ơn, bội
ơn và thích tà kiến. Còn có bốn pháp đó là phỉ báng
Thánh nhơn, giúp họ thế nhơn, chẳng tin phước điền và
chê trách pháp thí cho. Còn có bốn pháp đó là chẳng
sạch thân nghiệp, chẳng hộ khẩu nghiệp, chẳng xả ý nghiệp
và nhàm chê Đại thừa.
Còn
có bốn pháp đó là vì phá hoà hiệp mà lưỡng thiệt, nơi
thầy Hòa thượng thốt lời giận cãi, vì phá sự lợi ích
mà ỷ ngữ và phỉnh nhơn thiên mà vọng ngữ. Còn có
bốn pháp đó là chẳng hộ giới nhơn, loạn thiền định
nhơn, chẳng tin đời sau và thích ưa thế sự. Còn có
bốn pháp đó là thô cộc, kiêu mạn, ưa nói việc đời và
thường thích ngủ nghỉ. Còn có bốn pháp đó là giả
danh hiệu Bồ Tát để thọ cúng dường, chẳng có thể săn
sóc người bịnh khổ, chẳng gieo giống lành và chẳng hướng
đến Bồ đề. Còn có bốn pháp đó là tự khinh, khinh
pháp, khinh phước và luôn nhớ thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Còn có bốn pháp đó là tham thân, tham tâm, tham mạng và tham
cấm giới. Còn có bốn pháp đó là tham nhà phòng, tham
đàn việt, tham tà kiến và tham phá giới. Còn có bốn
pháp đó là làm nhiều, nói nhiều, thọ nhiều và nhìn ngó
nhiều. Còn có bốn pháp đó là ngã kiến, tà kiến, đoạn
kiến và thường kiến. Còn có bốn pháp đó là chẳng
làm, làm rồi chuyển đổi, lòng hối tiếc và chẳng vui.
Còn có bốn pháp đó là chẳng hướng đến Bồ đề, chẳng
tu thiền định, thối thất trí huệ và chẳng thích phương
tiện. Còn có bốn pháp đó là chướng ngại chánh pháp,
chướng ngại nghiệp lành, phiền não chướng ngại và ma nghiệp
chướng ngại.
Nầy
Hải Huệ ! Các pháp như vậy gọi là chướng Đại thừa".
Lúc
đức Phật nói pháp ấy rồi, có bốn ngàn Nhơn Thiên phát
tâm Vô thượng Bồ đề, hai vạn tám ngàn Bồ Tát được
Vô sanh Pháp nhẫn. Cả cõi Đại Thiên chấn động sáu
cách. Trên không có vô lượng chư Thiên khác miệng đồng
lời xướng rằng : Lành thay, lành thay, ngày nay đức Như Lai
Thế Tôn đại sư tử hống, vì thương chúng sanh mà mở cửa
Đại thừa. Bạch đức Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh được
ít phần trong pháp ấy thì có thể đoạn trừ khổ ba ác đạo,
lần lần sẽ được vô lượng pháp bửu. Bạch đức
Thế Tôn ! Ví như có người ở ngoài thôn ấp thấy khối
báu lớn, thấy rồi có lòng thương người nên vào thôn ấp
bảo quần chúng rằng : ai muốn hết nghèo thì nên theo tôi.
Quần chúng nghe nói có người tin có người không tin.
Những người tin cùng đi theo người ấy đến chỗ châu báu
tùy ý lượm lấy bèn hết nghèo khổ. Khối châu báu
lớn ấy không có ỹ nghĩ rằng cho người nầy chẳng cho người
kia, phá sự nghèo của người nầy mà không phải người kia,
cho người này lượm cầm đi mà chẳng cho người kia lượm
cầm đi. Cũng vậy, đức Như Lai Thế Tôn trong vô lượng
đời cần cầu vô thượng pháp bửu như vậy. Cầu rồi
được thấy, sanh lòng thương rộng lớn dùng phạm âm thanh
bảo các chúng sanh rằng : ai muốn phá hoại bần cùng sanh
tử thì nên chí tâm lắng nghe. Trong các chúng sanh, người
bạc phước chẳng tin thì chẳng có thể phá hoại sanh tử
nghèo cùng, những người tin theo thì tùy trí lực tha hồ lấy
thừa Thanh Văn hay thừa Duyên Giác hoặc lấy Bồ Tát Đại
thừa. Pháp bửu tụ lớn ấy không hề tăng giảm cũng
không có phân biệt. Hoặc có người đến bên khối báu
pháp lớn ấy mà không có thể lượm lấy một pháp bửu nào,
người nầy ắt mãi ở trong ba ác đạo. Hoặc có người
có thể lượm lấy một chữ một kệ nhẫn đến một niệm
thọ trì đó, người nầy ắt phá hoại sanh tử nghèo cùng.
Huống là có thể thọ lấy kinh điển Đại thừa nầy một
phẩm hai phẩm và trọn đủ nghe thọ đọc tụng biên chép
vì người mà giải nói.
Đức
Thế Tôn khen chư Thiên rằng : "Lành thay lành thay, nầy chư
Thiên Tử ! Nếu người thọ trì kinh điển như đây thì có
đủ tất cả pháp lành, hay đảnh đới Như Lai vô thượng
Phật trí, đó là khối báu lớn có thể làm lợi ích cho vô
lượng chúng sanh".
Đức
Thế Tôn liền nói tụng rằng :
Trong
các thừa Đại thừa hơn hết
Dường
như hư không vô biên tế
Xa
lìa tất cả cõi sanh tử
Đến
cội Bồ đề không chướng ngại
Nếu
hay thanh tịnh tâm ý mình
Của
cải ban cho tất cả hết
Chí
tâm thọ trì thanh tịnh giới
Đến
cội Bồ đề không chướng ngại
Nơi
các chúng sanh tâm bình đẳng
Thường
xét tội lỗi các phiền não
Hay
thắng tất cả thừa hạ liệt
Điều
phục chúng sanh ở Đại thừa
Nếu
người chí tâm thọ đọc tụng
Đầy
đủ tịch tĩnh giới nhẫn nhục
Đầy
đủ trí huệ phá chúng ma
Thương
mến chúng sanh đến đạo thọ
Trang
nghiêm từ bi thừa Tứ thiền
Dao
bén trí huệ dẹp ma chúng
Dưới
đạo thọ quán Mười hai duyên
Đứng
dậy thương chúng nói Đại thừa
Mười
phương chúng sanh thừa Đại thừa
Thừa
không tăng giảm như hư không
Đại
thừa thần lực chẳng nghĩ bàn
Vì
vậy Như Lai tu tập đó
An
trụ niệm xứ tu chánh cần
Như
ý làm chưn căn thế lực
Đi
đường bất chánh lượm báu giác
Vì
vậy Như Lai đến đạo thọ
Tâm
mình tịch tĩnh lìa phiền não
Phá
trừ si tối được trí quang
Vì
vậy Phạm Thiên cùng Đế Thích
Đảnh
lễ Như Lai thừa Đại thừa
Đầy
đủ lục độ lục thần thông
Đủ
thiện phương tiện tu tam muội
Hay
phá các ma và tà kiến
Vì
vậy Như Lai thừa Đại thừa
Nếu
có đầy đủ các thiện căn
Cùng
với thành tựu căn bất thiện
Tin
đây thì phá được phiền não
Vì
vậy Đại thừa khó nghĩ bàn
Bao
nhiêu tất cả pháp thế gian
Và
cùng vô thượng pháp xuất thế
Hoặc
pháp hữu học pháp vô học
Tất
cả nhiếp vào trong Đại thừa
Nếu
có chúng sanh hành ác nghiệp
Thân
cận tà kiến ác tri thức
Vì
thương bọn này tu phương tiện
Điều
phục họ nên nói Đại thừa
Hạ
liệt chẳng thích pháp Đại thừa
Tâm
hẹp chẳng phá được nhơn chấp
Thường
cầu tự vui bỏ mọi người
Nghe
nói Đại thừa họ kinh sợ
Nếu
có người trí đủ thế lực
Thương
mến chúng sanh làm lợi ích
Nghe
nói Đại thừa lòng vui mừng
Phá
các khổ não lòng chẳng hối
Nếu
muốn biết rõ chúng sanh hành
Tất
cả chúng sanh các giới căn
Một
niệm Bồ Tát hay thông đạt
Vì
vậy Đại thừa khó nghĩ bàn
Được
thân tịch tĩnh tướng trang nghiêm
Được
khẩu tịch tĩnh người thích nghe
Được
tâm tịch tĩnh đủ thần thông
Như
vậy đều do đến Đại thừa
Nếu
có người hay tu Đại thừa
Đây
là chẳng dứt dòng Tam bửu
Hay
làm lợi ích cho chúng sanh
Phá
hoại bần cùng các khổ não
Hay
đến mười phương các thế giới
Hiện
thấy vô lượng Phật Thế Tôn
Những
ai xu hướng pháp Đại thừa
Thì
được vô lượng vô biên phước
Tất
cả thế gian không ai hơn
Người
xu hướng Vô thượng Đại thừa
Đầy
đủ đại lực phá chúng ma
Vì
vậy Đại thừa khó nghĩ bàn
Được
sắc được lực đại tự tại
Thân
Phạm Thích Chuyển Luân Thánh Vương
Nếu
người thừa pháp Đại thừa này
Người
này hưởng thọ vui tam giới
Cho
rồi lòng chẳng hề hối tiếc
Của
vật quan trọng chẳng tiếc tham
Xả
thân cho người tu từ bi
Vì
vậy Đại thừa khó nghĩ bàn
Trì
giới tinh tiến ưa phạm hạnh
Hay
dùng sức thần che nhựt nguyệt
Chẳng
tham trước thân quả báo tốt
Tu
thừa như vậy điều chúng sanh
Thuyết
pháp có người thọ chẳng thọ
Nơi
đây chẳng sanh lòng thương giận
Thân
tâm siêng tu đại tinh tiến
Để
được pháp Đại thừa khó được
Hay
được Vô thượng Đại Pháp Vương
Cũng
được pháp nhẫn khó nhẫn nhục
Trong
vô lượng kiếp thọ khổ não
Vì
được Đại thừa hơn tất cả
Siêng
làm lợi ích nhiều chúng sanh
Thân
khẩu ý nghiệp đều nhu thuận
Tu
tập từ bi và thần thông
Vì
trụ Đại thừa đại lợi ích
Biết
rõ pháp giới tánh sanh diệt
Vô
ngã vô tranh điều các căn
Nếu
an trụ được nơi Đại thừa
Thì
hưởng an lạc như Phật trước
Đầy
đủ niệm tâm và tinh tiến
Tứ
như ý túc thần thông lực
Y
chỉ chánh pháp và chơn nghĩa
Đều
do thích trụ nơi Đại thừa
Đầy
đủ vô thượng vô sở úy
Hay
sư tử hống Vô Thượng Tôn
Tướng
hảo vi diệu tự trang nghiêm
Đều
do thích trụ nơi Đại thừa
Đầy
đủ ba thứ đại thần thông
Điều
phục giáo hóa các chúng sanh
Tâm
mình tịch tĩnh không kiêu mạn
Nếu
tu Đại thừa đủ nhẫn nhục
Đầy
đủ phạm âm thanh vi diệu
Tất
cả chúng sanh rất thích nghe
Nếu
người thích tu tập Đại thừa
Người
này giỏi biết tiếng chúng sanh
Hạnh
nghiệp được làm vì tịnh độ
Chẳng
lâu sẽ được vô biên thân
Nếu
người chí tâm nghe kinh này
Sẽ
hưởng vô biên vô thượng lạc
Bay
đi hư không vô biên tế
Biết
được đại hải bao nhiêu giọt
Công
đức Đại thừa chẳng nói hết
Vì
vậy Đại thừa khó nghĩ bàn.
Lại
này Hải Huệ ! Người muốn thọ trì các kinh điển như
vậy mà muốn tịch tĩnh thân tâm mình thì phải thọ trì môn
cú, pháp cú, kim cương cú và chí tâm suy xét.
Môn
cú là trong tất cả pháp đều làm môn hộ, đó là chữ A,
là cửa của tất cả pháp, A là không có, tất cả các
pháp đều không có thường. Chữ BA cũng là cửa của
tất cả pháp, BA là đệ nhứt nghĩa. Chữ NA cũng là
cửa của tất cả pháp, NA là các pháp vô ngại. ĐÀ
cũng là cửa của tất cả pháp, ĐÀ là tánh hay điều phục
tất cả pháp tánh. SA cũng là cửa của tất cả pháp,
SA là xa lìa tất cả các pháp. ĐA cũng là cửa tất cả
pháp, ĐA là tất cả pháp như. CA cũng là cửa của
tất cả pháp, CA là tất cả các pháp vô tác vô thọ.
TA cũng là cửa của tất cả pháp, TA là tất cả các pháp
không có phân biệt. GIÀ là cửa của tất cả pháp, GIÀ
là Như Lai chánh pháp thậm thâm không có đáy. XÀ là
cửa của tất cả pháp, XÀ là xa lìa tướng sanh. ĐÀM
là cửa của tất cả pháp, ĐÀM là ở trong pháp giới chẳng
sanh tâm phân biệt. XA là cửa của tất cả pháp, XA là
đủ xa ma tha được bát chánh đạo. KHƯ là cửa của
tất cả pháp, KHƯ là tất cả các pháp dường như hư không.
XOA là cửa của tất cả pháp, XOA là tất cả pháp tận.
NHƯỢC là cửa của tất cả pháp, NHƯỢC là các pháp vô
ngại. THA là cửa của tất cả pháp, THA là tất cả
pháp thị xứ phi xứ. CỔ là cửa của tất cả pháp,
CỔ là phán xét ngũ ấm rồi được lợi ích lớn. TRÀ
là cửa của tất cả pháp, TRÀ là tất cả các pháp không
có cứu cánh. CA là cửa của tất cả pháp, CA là vì
thân tịch tĩnh nên được lợi ích lớn. CHÍ là cửa
của tất cả pháp, CHÍ là vì tâm tịch tĩnh nên lìa tất
cả ác. ƯU là cửa của tất cả pháp, ƯU là thọ trì
ủng hộ tất cả cấm giới thanh tịnh. XÀ là cửa của
tất cả pháp, XÀ là thiện tư duy. THẾ là cửa của
tất cả pháp, THẾ là trụ tất cả pháp. TU là cửa
của tất cả pháp, TU là tất cả các pháp tánh là giải thoát.
TÌ là cửa của tất cả pháp, TÌ là tất cả các pháp đều
là tì ni, là điều phục thân mình. THỜI là cửa của
tất cả pháp, THỜI là tất cả các pháp tánh chẳng nhiễm
ô. A là cửa của tất cả pháp, A là tất cả các pháp
tánh là quang minh. BÀ là cửa của tất cả pháp, BÀ là
tu bát chánh đạo. TA là cửa của tất cả pháp, TA là
tất cả các pháp chẳng phải nội chẳng phải ngoại.
Nà
Hải Huệ ! Đây gọi là môn cú hay tịnh niệm tâm.
Vì hay tịnh niệm tâm nên biết căn của chúng sanh.
Pháp
cú là ấn giải thoát của tất cả các pháp, là ấn vô nhị
của tất cả pháp, là ấn không có thường không có đoạn
của tất cả pháp, là ấn không tăng giảm của tất cả pháp,
là ấn bình đẳng như hư không của tất cả pháp, là ấn
ngũ nhãn đạo của tất cả pháp, là ấn như hư không của
tất cả pháp, là ấn không có phân biệt như hư không của
tất cả pháp, là ấn nhập pháp giới của tất cả pháp,
là ấn như của tất cả pháp, là ấn như không có tam thế
khứ lai hiện tại của tất cả pháp, là ấn bổn tánh tịnh
của tất cả pháp, là ấn rỗng không của tất cả pháp,
là ấn vô tướng của tất cả pháp, là ấn vô nguyện của
tất cả pháp, là ấn không có xứ không chẳng xứ của tất
cả pháp, là ấn khổ của tất cả pháp, là ấn vô ngã của
tất cả pháp, là ấn tịch tĩnh của tất cả pháp, là ấn
tánh không có lỗi của tất cả pháp, là ấn đệ nhứt nghĩa
nhiếp thủ của tất cả pháp, là ấn như pháp tánh trụ của
tất cả pháp, là ấn cứu cánh giải thoát của tất cả pháp,
là ấn không có thời gian của tất cả pháp, là ấn quá tam
thế của tất cả pháp, là ấn đồng nhứt vị của tất
cả pháp, là ấn tánh vô ngại của tất cả pháp, là ấn
tánh vô tranh của tất cả pháp, là ấn tánh không có giác
quán của tất cả pháp, là ấn chẳng phải sắc chẳng thể
thấy được của tất cả pháp, là ấn không có đối trị
của tất cả pháp, là ấn không có nghiệp quả của tất
cả pháp, là ấn vô tác vô thọ của tất cả pháp, là ấn
vô xuất vô diệt của tất cả pháp.
Này
Hải Huệ ! Đây gọi là pháp cú. Pháp cú như vậy là
Bồ đề của tam thế chư Phật. Pháp ấn cú như vậy
nhiếp thủ tám vạn bốn ngàn pháp tụ. Nếu có thể
quán pháp tụ như vậy thì có thể được Vô sanh Pháp nhẫn.
Này
Hải Huệ ! Nếu người chưa trồng gốc lành nghe pháp
này rồi thì được trồng gốc lành phá trừ nghiệp ma.
Này
Hải Huệ ! Nếu quán như vậy thì có thể được vô
tận khí đà la ni. Các pháp như vậy đều có thể nhiếp
thủ tám vạn bốn ngàn tam muội, tám vạn bốn ngàn hành tánh
của chúng sanh. Đây gọi là pháp cú.
Kim
cương cú ấy là thân ấy chẳng hư hoại như kim cương, tại
sao, vì pháp tánh chẳng hư hoại vậy.
Tánh
trí huệ hay phá vô minh, vì vậy nên trí huệ gọi là kim cương
cú.
Tội
ngũ nghịch hay phá tất cả thiện, vì vậy nên ngũ nghịch
gọi là kim cương cú.
Quán
bất tịnh hay phá tham dục, vì vậy nên quán bất tịnh gọi
là kim cương cú.
Quán
từ tâm hay phá sân hận, vì vậy nên quán từ tâm gọi là
kim cương cú.
Quán
mười hai nhơn duyên hay phá ngu si, vì vậy nên quán nhơn duyên
gọi là kim cương cú.
Tâm
một chúng sanh nhiếp thủ tâm tất cả chúng sanh, vì vậy
nên gọi là kim cương cú.
Tâm
một chúng sanh cùng tâm tất cả chúng sanh thảy đều bình
đẳng, vì vậy nên gọi là kim cương cú.
Một
Phật cùng tất cả Phật thảy đều bình đẳng, đây gọi
là kim cương cú.
Mỗi
mỗi phước điền cùng tất cả phước điền thảy đều
vô tận bình đẳng, đây gọi là kim cương cú.
Tất
cả các pháp bình đẳng như hư không, đây gọi là kim cương
cú.
Tất
cả các pháp cùng Phật pháp bình đẳng vô nhị, đây gọi
là kim cương cú.
Kim
cương tam muội hay phá tất cả ma nghiệp ác nên gọi là kim
cương cú.
Diệu
âm của đức Như Lai phá các ác thanh, đây gọi là kim cương
cú.
Quán
vô sanh vô diệt vượt quá sanh lão tử, đây gọi là kim cương
cú.
Này
Hải Huệ ! Các pháp như vậy gọi là kim cương cú, là
kiên lao cú, là bất hoại cú, là bất phá cú, là bình đẳng
cú, là thiệt cú, là vô nhị cú, là bất thối chuyển cú,
là đại tịnh tịch tĩnh cú, là vô năng tác quái cú, là bất
tăng bất giảm cú, là vô hữu hữu cú, là vô hữu pháp cú,
là chơn cú, là hữu cú, là bất báng Phật cú, là y pháp cú,
là cộng tăng cú, là như nhĩ cú, là phân biệt tam thế cú,
là dũng kiện cú, là phạm cú, là từ cú, là tâm cú, là hư
không cú, là Bồ đề cú, là bất đê cú, là pháp tướng
cú, là vô tướng cú, là tâm ý thức vô trụ cú, là phá ma
cú, là vô thượng cú, là vô thắng cú. là quảng cú, là hành
kỷ cảnh cú, là nhập Phật cảnh giới cú, là vô giác quán
cú, là pháp giới sở phân biệt cú, là vô cú cú.
Này
Hải Huệ ! Nếu có Bồ Tát hay hiểu những cú nghĩa như
vậy, ắt sẽ ngồi pháp tòa kim cương sư tử dưới cội Bồ
đề".
Lúc
đức Phật nói pháp ấy, có tám ngàn Bồ Tát được nhập
pháp môn đà la ni, cũng được nhứt thiết chúng sanh bình
đẳng tam muội.
Chư
Bồ Tát từ mười phương đến đem diệu hương hoa và các
thứ kỹ nhạc cúng dường đức Phật nói kệ khen :
Chúng
tôi đảnh lễ đấng Vô Thượng
Hay
biết ấm thanh tất cả chúng
Nói
tướng vô tướng thiệt nhứt tướng
Mà
được tướng tốt ba mươi hai
Nếu
có chúng sanh nhứt nhị tâm
Bình
đẳng nhiếp các chúng sanh tâm
Nói
hạnh không hạnh thiệt nhứt hạnh
Vì
vậy tôi lễ đấng Vô Thượng
Như
Lai chơn thiệt biết nhơn quả
Nên
vì chúng sanh nói nghiệp báo
Chơn
như pháp giới chẳng có không
Vì
vậy tôi khen đấng Vô Thượng
Tất
cả chúng sanh không giác quán
Tâm
ấy bổn tịnh không có tham
Vì
theo nhơn duyên có tham dục
Vì
vậy tôi lạy nhơn chơn thiệt
Tôi
thấy thân Phật các mầu sắc
Mà
thân Như Lai thiệt không sắc
Vì
thương chúng hiện sắc không sắc
Tôi
lạy đấng Pháp Vương vô thượng
Tất
cả phước điền vào nhứt điền
Mà
nhứt điền này không tăng giảm
Bất
động pháp giới chẳng chuyển dời
Vì
vậy tôi lạy đấng Vô Thượng
Quán
các chúng sanh tâm như huyễn
Các
pháp cùng Bồ đề cũng vậy
Biết
tất cả pháp đều bình đẳng
Vì
vậy tôi lạy đấng Bình Đẳng
Quán
các pháp giới đều bình đẳng
Vì
vậy các pháp không một hai
Chẳng
có chẳng không là giải thoát
Vì
vậy tôi lậy đấng Vô Kiến
Nhựt
nguyệt nói được rơi xuống đất
Gió
mạnh nói được dây cột buộc
Tu
Di nói được miệng thổi động
Chẳng
thể nói được Phật hai lời
Thiệt
ngữ chơn ngữ và tịnh ngữ
Thân
tâm thanh tịnh như hư không
Chẳng
nhiễm thế pháp như hoa sen
Vì
vậy tôi lậy đấng Vô Thượng
Nếu
ai khen ngợi đức như vậy
Thì
được các công đức như vậy
Tôi
vì các công đức như vậy
Nên
lậy khối công đức như vậy.