LIV
PHÁP HỘI HẢI
HUỆ BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI
BỐN
(Hán
bộ từ quyển 133 đến quyển 136)
Hán
dịch : Tam Tạng Đàm Vô Sấm - Việt dịch : Tỳ Kheo Thích
Trí Tịnh.
Thế
nào là Bồ Tát ý nghiệp tùy trí ?
Bồ
Tát an trụ trong một tâm mà có thể biết tâm tất cả chúng
sanh, thường ở tại thiền định mà hiện các oai nghi, tất
cả chúng ma, các hàng Thanh Văn, các bực Duyên Giác đều không
biết được chỗ cảnh giới mà tâm Bồ Tát duyên đến, trọn
không hề có tâm niệm tự hại hại người, biết rõ tất
cả pháp thông đạt vô ngại, Bồ Tát được tâm như vậy
chẳng thọ mà hay thọ cũng chẳng chứng diệt. Đây gọi
là Bồ Tát ý nghiệp tùy trí.
Đây
gọi là tịnh ấn tam muội căn bổn. Căn bổn nầy còn
có mười thứ : một là tịnh sơ phát tâm, hai là tịnh Bồ
đề đạo, ba là tịnh sáu Ba la mật, bốn là vì tịnh càn
huệ mà tu chánh định, năm là tịnh ba mươi hai tướng, sáu
là tịnh tám mươi hảo, bảy là tịnh đà la ni, tám là tịnh
như pháp an trụ, chín là tịnh không có tội lỗi và mười
là tịnh ba mươi bảy pháp trợ đạo.
Nầy
Hải Huệ ! Tịnh ấn tam muội có ba mươi pháp : một
là nội tịnh, hai là ngoại tịnh, ba là tâm tịnh, bốn là
kiêu mạn tịnh, năm là thân tịnh, sáu là nhãn tịnh, bảy
là tất cả chúng sanh không có chúng sanh tịnh, tám là tất
cả pháp bổn tánh tịnh, chín là tất cả pháp đồng một
vị tịnh, mười là không vô tướng vô nguyện tịnh, mười
một là giải thoát pháp môn tịnh, mười hai là tất cả pháp
nhập pháp giới tịnh, mười ba là tất cả các pháp nhập
vào một tánh tịnh, mười bốn là tín tâm không hư hoại
tịnh, mười lăm là không có chướng ngại tịnh, mười sáu
là tất cả giải thoát tịnh, mười bảy là vô vi tịnh, mười
tám là quán mười hai nhơn duyên tịnh, mười chín là thập
lực tứ vô sở úy tịnh, hai mươi là vô thắng tịnh, hai
mươi mốt là nhứt thiết pháp trí tịnh, hai mươi hai là quá
khứ nghiệp tịnh, hai mươi ba là từ bi tịnh, hai mươi bốn
là chẳng rời bỏ chúng sanh tịnh, hai mươi lăm là phá các
ma nghiệp tịnh, hai mươi sáu là lìa nội tham tịnh, hai mươi
bảy là lìa các tập khí tịnh, hai mươi tám là một niệm
biết tất cả pháp tịnh, hai mươi chín là chẳng mất niệm
tâm tịnh, ba mươi là đầy đủ trang nghiêm tịnh. Bồ
Tát đầy đủ các pháp như vậy gọi là tịnh ấn tam muội.
Được tam muội ấy rồi thì được tám pháp bất cộng.
Những gì là tám ?
Một
là thế giới của Bồ Tát nầy thì kim cương làm đất, hai
là trên mỗi cây trong thế giới ấy đều đầy đủ mọi
thứ nhánh lá tốt mọi thứ hoa quả thơm ngon, ba là tất cả
chúng sanh trong thế giới ấy chẳng khởi phiền não của các
loài địa ngục ngạ quỷ và súc sanh, bốn là tất cả chúng
sanh trong thế giới ấy đều thấy Bồ Tát ngồi cội Bồ
đề, năm là thấy Bồ Tát rồi thì đều được khoái lạc
vi diệu, sáu là kim quang chiếu khắp vô lượng thế giới,
bảy là tất cả đại địa chấn động sáu cách mà không
có một chúng sanh nào bị nhiễu hại và tám là có trí trong
một niệm biết tất cả pháp".
Muốn
tuyên lại nghĩa nầy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Nếu
biết các pháp như hư không
Tịnh
nơi bổn tánh chẳng sanh diệt
Liền
hay tịnh được Như Lai ấn
Cũng
được trụ ở định căn bổn
Dầu
được cúng dường lòng chẳng mừng
Mắng
chửi hủy nhục lòng chẳng giận
Tu
tập từ bi tâm bình đẳng
Đây
gọi là tịnh ấn tam muội
Xa
lìa tất cả các kiêu mạn
Lìa
rồi trong lòng chẳng tự cao
Hay
trách phiền não các kiết phược
Đây
thì gọi là tịnh ấn định
Thân
ấy lìa hẳn các kiến phược
Trang
nghiêm diệu tướng ba mươi hai
Đầy
đủ thanh tịnh cả sáu căn
Cũng
lại chẳng sanh lỗi kiêu mạn
Thấy
kẻ thân xấu không xinh đẹp
Nghèo
cùng hèn hạ lòng chẳng khinh
Vì
đạo Bồ đề nói tịnh pháp
Đây
thì gọi là tịnh ấn định
Quán
sát nơi thân tánh chơn thiệt
Phá
lòng tham thân của chúng sanh
Vì
vậy mà được thượng pháp thân
Xa
lìa tất cả thân tạp thực
Thường
tại thiền định pháp hỉ thực
Vì
độ chúng sanh thọ đoàn thực
Cam
lồ thượng vị tăng pháp mạng
Đây
thì gọi là tịnh ấn định
Ưa
thích thánh hạnh trì tịnh giới
Xa
lìa tham dục sân khuể si
Bồ
Tát trước tự điều thân mình
Rồi
sau vì người mà diễn thuyết
Thần
thông đi khắp mười phương cõi
Để
diễn thuyết pháp dạy chúng sanh
Hiện
thân mình đồng sắc thân chúng
Theo
ý nguyện họ mà thuyết pháp
Thân
phóng vô lượng kim sắc quang
Chiếu
khắp mười phương các thế giới
Hay
trừ chúng sanh phiền não nóng
Tăng
trưởng công đức tâm Bồ đề
Nếu
có chúng sanh ba ác đạo
Kim
quang làm họ thoát khỏi khổ
Đều
được xa lìa báo ác đạo
Thành
tựu tín tâm tu thiện nghiệp
Thân
nghiệp thanh tịnh được Phật nói
Để
cho chúng sanh tịnh Phật thân
Nếu
ai hay tu thân nghiệp tịnh
Thì
được tịnh thân như tiên Phật
Nếu
ai xa lìa nghiệp ác khẩu
Thì
được âm thanh tùy trí phát
Lời
diễn thuyết pháp người thích nghe
Người
nghe đều được sanh mầm lành
Lìa
sáu mươi bốn thứ ác khẩu
Người
nầy nói được pháp cam lộ
Nói
được vô vi Đại thừa pháp
Hiểu
rành ngôn ngữ các chúng sanh
Xa
lìa lời nói tham sân si
Diễn
nói nghĩa thậm thâm chơn thiệt
Tiếng
ấy mười phương đều được nghe
Vì
chúng tuyên nói chơn giải thoát
Xa
lìa mắng chửi chẳng giận tranh
Nói
lời dịu dàng lòng thương mến
Vì
chúng nói pháp chẳng nói được
Nói
rồi trong lòng chẳng kiêu mạn
Nếu
thanh tịnh được khẩu nghiệp ấy
Người
này xa lìa các ác khẩu
Khẩu
nghiệp thanh tịnh được Phật nói
Để
người nghe được lưỡi rộng dài
Nếu
ai tu tập ý nghiệp thiện
Người
nầy một niệm biết các tâm
Thường
ở thiền định hiện oai nghi
Phá
các ma nghiệp lòng chẳng kiêu
Chẳng
thọ hay thọ vì chúng sanh
Biết
rõ chơn thiệt chẳng chứng diệt
Bồ
Tát tâm duyên mà chẳng biết
Thanh
Văn Duyên Giác cũng chẳng rõ
Chẳng
hề sanh lòng hại mình người
Hay
quán thậm thâm các pháp giới
Nếu
người muốn được tịnh ấn định
Thường
phải tu tập đủ mười pháp
Thanh
tịnh trang nghiêm Phật quốc độ
Thanh
tịnh thiện pháp và lục độ
Đầy
đủ công đức và thân tướng
Được
vô ngại thuyết đà la ni
Như
pháp an trụ tịnh thân mình
Niệm
tâm chẳng mất tuyên vô ngã
Lìa
tất cả chướng huệ vô ngại
Tâm
ý không lỗi đủ công đức
Tu
trợ đạo pháp không phóng dật
Vì
các chúng sanh nói Bồ đề
Vô
lượng thế giới thân vô ngại
Diễn
thuyết chánh pháp dạy chúng sanh
Đầy
đủ tám thứ bất cộng pháp
Được
có vô thượng lợi ích lớn
Kim
cương làm đất, các loại cây
Chúng
thấy Bồ Tát ngồi đạo thọ
Nếu
muốn có đủ công đức ấy
Thường
tu tịnh ấn tam muội định
Như
Lai do tu tam muội nầy
Nên
được công đức bất tư nghị.
Nầy
Hải Huệ ! Muốn được tịnh ấn tam muội, đại Bồ
Tát phải tu tập tịnh Bồ đề xa lìa tất cả tâm cặn đục.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu chẳng thấy được các pháp tánh
tịnh thì bị phiền não khát ái làm ô nhiễm. Tất cả
các pháp chẳng thể tư duy là bất tác bất hành, thanh tịnh
tịch tĩnh không có trần cấu cũng không có tội lỗi, là
rốt ráo thanh tịnh như giải thoát tánh, pháp giới bất hoại
không có phân biệt, thiệt tánh pháp tánh không có sai biệt,
tất cả các pháp không vô tướng vô nguyện, như giải thoát
tánh vô ngại bình đẳng thì tất cả các pháp cũng như vậy.
Nếu có thể chánh quán sát như vậy thì gọi là vô trược
không có nhơ đục.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có thể vì chúng sanh mà nói pháp
như vậy thì gọi là không có cặn bã.
Nếu
Bồ Tát không có cặn bã nhơ đục thì được tịnh ấn tam
muội".
Hải
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Tam muội như vậy nghĩa của nó thậm thâm vì là chẳng nói
được, vì là chẳng nhìn thấy được chẳng đoán chẳng
đếm được, khó hiểu rõ được vì chẳng thể thấy, là
đại trí huệ nhiếp tất cả pháp vậy. Tất cả Bồ
Tát đều bình đẳng không có nhơ không có cặn không có các
chướng ngại không có trụ xứ vi diệu khó tỏ chẳng thể
ví dụ để nói được. Tánh ấy kiên cố như kim cương
bất sanh bất diệt chẳng phá chẳng hoại chẳng trói chẳng
buộc, là ánh sáng lớn vì xa lìa tối tăm, chẳng thể nghĩ
bàn thanh tịnh vô cấu vì xa lìa tham vậy, không có tranh tụng
vì tu tập đại từ vậy, chẳng giác chẳng quán vì xa lìa
khứ lai vậy, tất cả bình đẳng vì như hư không vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Quán nhơn duyên gì mà được tịnh ấn
tam muội nầy ?".
Đức
Phật nói : "Nầy thiện nam tử ! Ví như có người muốn
đi trên hư không họ tự trang nghiêm lớn rộng.
Cũng
vậy, Bồ Tát muốn được tam muội nầy thì phải trang nghiêm
lớn trang nghiêm bình đẳng tất cả các pháp. Tại sao,
như pháp thế gian từ hột mà được trái. Nầy thiện nam
tử ! Tất cả pháp hữu vi thì thức là chủng tử. Còn
tam muội nầy không có chủng tử. Tại sao, vì tam muội
nầy chẳng phải nhãn thức biết nhẫn đến chẳng phải ý
thức biết, chẳng phải tạo tác, chẳng phải sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Xem tất cả pháp khắp tất cả đều
bình đẳng không có hai không có sai biệt thì gọi là Chánh
đẳng Chánh giác.
Nầy
thiện nam tử ! Chẳng phải vì tướng khác gọi là sanh
tử vì tướng khác gọi là Niết bàn, mà tùy nơi tướng sanh
tử tức là tướng Niết bàn, tại sao, vì tất cả các pháp
bổn tánh thanh tịnh, tánh bổn tánh ấy gọi là vô tánh, mà
vô tánh ấy gọi là vô tướng tánh, nếu là vô tướng tánh
tức là vô tác, vô tác như vậy tức là pháp tánh không có
văn tự, nếu có văn tự thì gọi là Như, như trước thì
giữa và sau cũng vậy đây gọi là tam thế. Mà tam thế
ấy thì gọi là rỗng không, rỗng không ấy thì là vô tác,
vô tác như vậy thì nào có tác giả nên gọi vô tác là rỗng
không. Nếu không có tác không có tác giả thì nên biết
là không có pháp. Nếu không có pháp thì không có cầu
không có nguyện. Nếu không nguyện cầu thì không có
ba nghiệp thân khẩu ý. Không có ba nghiệp thân khẩu
ý thì gọi là vô ngại. Vô ngại ấy gọi là bất sanh,
bất diệt, bất trụ. Chẳng sanh diệt trụ tức là tướng
vô vi. Tướng vô vi ấy gọi là vô trụ. Vô trụ
ấy có nghĩa là không có tất cả nghiệp sở tác, thức chẳng
trụ nơi sắc, chẳng trụ nơi thọ, chẳng trụ nơi tưởng,
chẳng trụ nơi hành. Nơi bốn chỗ ấy mà thức chẳng
trụ thì gọi là vô trụ. Nếu vô trụ thì chẳng sanh
tương tự ngã mạn. Nếu không có tương tự ngã mạn
như vậy thì không có tăng trưởng. Nếu không có tăng
trưởng thì không có nhơn. Nếu không có nhơn thì không
có giác quán. Nếu không có giác quán thì gọi là tịch
mặc.
Nầy
thiện nam tử ! Các pháp như vậy nghĩa của nó thậm
thâm, nếu có thể tin được thì được giải thoát xa lìa
điên đảo phiền não chướng ngại, thì có thể thọ trì
tất cả pháp tạng của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại,
là đại thuyền sư là đạo sư thương chủ là thần chú sư,
là đại y sư, có thể thừa sự cúng dường tam thế chư Phật,
đây gọi là chơn Phật tử, khỏi ma nghiệp phá ma chúng, chẳng
lâu sẽ được tịnh ấn tam muội, có thể đại trang nghiêm
thuyền buồm bền chắc tế độ chúng sanh nơi biển sanh tử".
Hải
Huệ Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Thế
nào là Bồ Tát có thể phá hoại các ma bạn đảng ?".
Đức
Phật nói : "Nầy Hải Huệ ! Nếu Bồ Tát có thể chẳng cầu
các pháp thì chính lúc ấy có thể phá hoại ma chúng mà chẳng
cầu tất cả cảnh giới nhơn duyên.
Nầy
thiện nam tử ! Có bốn thứ ma : một là ấm ma, hai là
phiền não ma, ba là tử ma và bốn là thiên ma.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có thể quán các pháp như tướng
ảo huyễn thì người nầy có thể phá hoại ấm ma. Nếu
thấy các pháp đều là tướng rỗng không thì người này
có thể phá hoại phiền não ma. Nếu thấy các pháp chẳng
sanh chẳng diệt thì người nầy có thể phá hoại thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu biết khổ thì có thể
phá ấm ma, nếu xa lìa tập nhơn thì phá phiền não ma, nếu
chứng diệt thì phá tử ma, nếu tu trợ đạo thì phá thiên
ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu thấy tất cả pháp hữu vi
khổ thì phá ấm ma, nếu thấy các pháp chơn thiệt vô thường
thì phá phiền não ma, nếu thấy các pháp chơn thiệt vô ngã
thì phá tử ma, nếu thấy các pháp tịch tĩnh Niết bàn thì
phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Ở nơi thân mình nếu Bồ Tát
có thể không tham ái lúc xả thân bố thí hồi hướng Bồ
đề thì có thể phá ấm ma, lúc bố thí thân xa lìa lòng xan
tham thì phá phiền não ma, nếu thấy tài vật tất cả đều
vô thường thì phá tử ma, vì chúng sanh mà tâm từ bi bố
thí thì phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát chẳng vì ngã kiến
mà thọ trì tịnh giới thì có thể phá ấm ma, nếu chẳng
vì có tham mà trì giới thì phá phiền não ma, nếu vì xa lìa
tội lỗi sanh tử mà trì giới thì phá tử ma, nếu hay sanh
tâm làm cho người phá giới trở lại trì tịnh giới mà trì
giới thì có thể phá được thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát chẳng thấy ta
nhẫn ta tu hạnh nhẫn nhục thì phá ấm ma, chẳng thấy có
chúng sanh tu hạnh nhẫn nhục thì phá phiền não ma, chẳng
thấy sanh tử thì phá tử ma, chẳng thấy Bồ đề thì phá
thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát siêng tu tinh tiến thân
mình tịch tĩnh thì phá ấm ma, siêng tu tinh tiến tâm mình
tịch tĩnh thì phá phiền não ma, siêng tu tinh tiến thấy pháp
vô sanh thì phá tử ma, siêng tu tinh tiến vì điều chúng tu
khiến chuyển sanh tử thì phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát chẳng vì thân ngũ
ấm mà tu thiền định thì phá ấm ma, chẳng tham trước thập
bát giới thập nhị xứ mà tu thiền định thì phá phiền
não ma, chẳng tham trước lục nhập mà tu thiền định thì
phá tử ma, có bao nhiêu thiện căn đều hồi hướng Bồ đề
thì phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát biết ngũ ấm phương
tiện thì phá ấm ma, biết thập bát giới phương tiện thì
phá phiền não ma, biết lục nhập phương tiện thì phá tử
ma, đem tất cả thứ phương tiện ấy hồi hướng Bồ đề
thì phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát quán tất cả pháp
tướng rỗng không thì phá ấm ma, quán tất cả pháp không
có tướng thì phá phiền não ma, quán tất cả pháp không có
nguyện cầu thì phá tử ma, có đủ ba pháp quán như vậy đều
hồi hướng Bồ đề thì phá thiên ma.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát quán thân thân xứ
chẳng giác chẳng trước thì phá ấm ma, quán thọ thọ xứ
chẳng giác chẳng trước thì phá phiền não ma, quán tâm tâm
xứ chẳng giác chẳng trước thì phá tử ma, quán pháp pháp
xứ chẳng giác chẳng trước thì phá thiên ma. Quán tất
cả như vậy mà trọn chẳng hề mất tổn tâm Bồ đề thì
có thể phá hoại cả bốn thứ ma.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát trước ngã thì tăng thêm ma sự.
Đại
Bồ Tát cũng biết có ngã cũng biết vô ngã, cũng biết có
pháp chẳng phải có ngã chẳng phải vô ngã, biết như vậy
thì không có một pháp nào tăng giảm.
Vì
tất cả chúng sanh bị vô minh che trùm nên Bồ Tát vì họ
mà muốn trang nghiêm vô thượng Đại thừa chớ chẳng phải
vì mình mà phát trang nghiêm. Phát trang nghiêm rồi tự
nghĩ rằng ai trang nghiêm pháp kiên cố chẳng hư hoại, ta nên
trang nghiêm. Ta cũng chẳng phải vì phá ngã chúng sanh
thọ mạng sĩ phu mà trang nghiêm, chính là vì phá những tà
hoặc ác kiến trước ngã chúng sanh thọ mạng sĩ phu của
các chúng sanh mà ta phát trang nghiêm.
Chúng
sanh điên đảo thấy ngũ ấm nầy là thường là lạc là ngã
là tịnh, ta nên vì họ mà giảng nói vô thường khổ vô ngã
bất tịnh cho các chúng sanh được chơn thiệt trí.
Nếu
chúng sanh có lòng nguyện cầu thì nên biết người ấy là
có trước chấp. Khôngcó trước chấp thì không có hư
dối. Không có hư dối thì được chơn thiệt trí biết
nơi quá khứ vị lai hiện tại chẳng trước quá khứ vị
lai hiện tại. Sao vậy, vì quá khứ đã hết, vị lai
chưa đến, hiện tại chẳng trụ. Nếu ở nơi tam thế
không có niệm tưởng trước chấp là chẳng điên đảo là
Bồ Tát hạnh, biết rõ các hành của tất cả chúng sanh.
Biết rõ hành rồi thì rành rẽ diễn nói về nghiệp về quả.
Cũng biết rõ tham hành sân hành si hành. Biết có chúng
sanh hành nơi tham dục trang nghiêm nơi sân, hành nơi sân trang
nghiêm nơi tham, hành nơi ngu si trang nghiêm nơi tham, hành nơi
tham dục trang nghiêm nơi si, hành nơi ngu si trang nghiêm nơi
sân. Biết có chúng sanh nơi sắc thì sanh tham, nơi thanh
thì sanh sân, có chúng sanh nơi sắc thì sanh sân, nơi thanh thì
sanh tham. Hoặc có chúng sanh nơi hương thì sanh tham, nơi
vị thì sanh sân; hoặc nơi vị sanh tham, mà nơi hương thì
sanh sân; có chúng sanh nơi xúc thì sanh tham, nơi pháp sanh sân;
hoặc nơi pháp thì sanh tham, mà nơi xúc thì sanh sân. Còn
có những chúng sanh tham dục yếu kém mà sân hận mãnh liệt,
hoặc sân hận yếu kém mà tham dục thì mãnh liệt. Có
những chúng sanh tham yếu mà si mạnh, hoặc si yếu mà tham
mạnh. Có những chúng sanh sân yếu mà si mạnh, hoặc
si yếu mà sân thì mạnh.
Còn
có chúng sanh vì sắc mà được điều phục chớ chẳng phải
vì thanh, hương, vị, xúc và pháp. Có chúng sanh vì thanh
mà được điều phục chớ chẳng phải vì sắc, hương, vị,
xúc và pháp. Có chúng sanh vì hương mà được điều
phục chớ chẳng phải vì sắc, thanh, vị, xúc và pháp.
Có chúng sanh vì vị mà được điều phục chớ chẳng phải
vì sắc, thanh, hương, xúc và pháp. Có chúng sanh vì xúc
mà được điều phục chớ chẳng phải vì sắc, thanh, hương,
vị và pháp. Có chúng sanh vì pháp mà được điều phục
chớ chẳng phải vì sắc, thanh, hương, vị và xúc.
Còn
có các chúng sanh vì tâm tịch tĩnh mà được điều phục
chớ chẳng phải vì thân tịch tĩnh, hoặc vì thân tịch tĩnh
mà được điều phục chớ chẳng phải vì tâm tịch tĩnh
mà được điều phục.
Còn
có những chúng sanh hoặc nhơn nghe nói vô thường mà được
điều phục chớ chẳng phải nhơn nghe khổ vô ngã bất tịnh.
Hoặc nhơn nghe khổ mà được điều phục chớ chẳng phải
nhơn nghe vô thường vô ngã và bất tịnh. Hoặc nhơn
nghe vô ngã mà được điều phục chớ chẳng phải nhơn nghe
vô thường khổ và bất tịnh. Hoặc có chúng sanh nhơn
nghe bất tịnh mà được điều phục chớ chẳng phải nhơn
nghe vô thường khổ và vô ngã mà được điều phục.
Còn
có những chúng sanh hoặc do hiện thần thông mà được điều
phục chớ chẳng phải do tha tâm trí mà được điều phục.
Hoặc do tha tâm trí mà được điều phục chớ chẳng phải
do thần thông mà được điều phục.
Nầy
thiện nam tử ! Còn có những chúng sanh siêng tu tinh tiến
thì chậm được giải thoát mà ít tu tinh tiến thì mau được
giải thoát. Hoặc có chúng sanh siêng tu tinh tiến thì
mau được giải thoát mà ít tu tinh tiến thì chậm được
giải thoát. Có nhơn giải thoát mà chẳng phải duyên
giải thoát. Có duyên giải thoát mà chẳng phải nhơn
giải thoát. Có nhơn duyên giải thoát, có chẳng phải
nhơn duyên giải thoát.
Có
các chúng sanh do quán nội pháp mà được giải thoát chớ
chẳng phải do quán ngoại pháp. Có chúng sanh do quán ngoại
pháp được giải thoát mà chẳng phải do quán nội pháp.
Có chúng sanh do quán nội pháp ngoại pháp mà được giải
thoát. Có chúng sanh chẳng quán nội pháp ngoại pháp mà
được giải thoát. Có chúng sanh nhơn lạc hạnh được
giải thoát mà chẳng phải do khổ hạnh. Có chúng sanh
nhơn khổ hạnh được giải thoát mà chẳng phải do lạc hạnh.
Có chúng sanh nhơn khổ hạnh và lạc hạnh được giải thoát.
Có chúng sanh chẳng nhơn khổ hạnh lạc hạnh được giải
thoát. Có chúng sanh do khen thưởng mà được điều phục.
Có chúng sanh do trách phạt mà được điều phục. Có
chúng sanh do khen và trách mà được điều phục. Có chúng
sanh chẳng do khen và trách mà được điều phục. Có
chúng sanh do nghịch thuyết mà được điều phục chẳng phải
do thuận thuyết pháp. Có chúng sanh do thuận thuyết pháp
mà được điều phục chẳng phải do nghịch thuyết pháp.
Có chúng sanh nhơn nghịch thuyết và thuận thuyết hoặc có
chẳng do nghịch thuyết và thuận thuyết mà được điều
phục. Có chúng sanh do nghe lược thuyết, có chúng sanh
do nghe quảng thuyết, có chúng sanh do nghe cả lược thuyết
và quảng thuyết, có chúng sanh chẳng do nghe lược thuyết
quảng thuyết mà được điều phục. Có chúng sanh do
Tứ chơn đế được điều phục. Có chúng sanh do Tứ
niệm xứ được điều phục. Có chúng sanh do Tứ chánh
cần được điều phục. Có chúng sanh do Tứ như ý túc
được điều phục. Có chúng sanh do Ngũ căn được điều
phục. Có chúng sanh do Ngũ lực được điều phục.
Có chúng sanh do Thất giác chi được điều phục. Có
chúng sanh do Bát chánh đạo được điều phục.
Nầy
thiện nam tử ! Nghiệp hành của các chúng sanh chẳng thể
nghĩ bàn, tâm của chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ bàn, chúng
sanh điều phục chẳng thể nghĩ bàn, pháp môn được nhập
của chúng sanh chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới của các chúng
sanh chẳng thể nghĩ bàn.
Đại
Bồ Tát được trí bất khả tư nghị như vậy mới biết
được sở hành bất khả tư nghị của các chúng sanh.
Nầy
thiện nam tử ! Ví như tấm lưới có nhiều gút mắt,
có người ở trong ấy dùng sức chú thuật phá lưới thoát
ra tùy ý mà đi. Cũng vậy, đại Bồ Tát vào trong chúng
sanh dùng sức trí huệ phá lưới phiền não tùy ý tự tại,
dầu chưa chứng được Vô thượng Bồ đề mà có thể thông
đạt sở hành của các chúng sanh".
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Đại
Bồ Tát lúc mới phát tâm Vô thượng Bồ đề nghe nói sở
hành bất tư nghị của các chúng sanh như vậy mà chẳng kinh
chẳng sợ, sự nầy thiệt rất khó chẳng thể nghĩ bàn được".
Đức
Phật nói : "Nầy Xá Lợi Phất ! Ý của ông nghĩ thế
nào, như sư tử con lúc mới được đẻ ra nghe tiếng rống
của sư tử nó có kinh sợ chăng ?".
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Dầu mới sanh nhưng sư tử con không kinh sợ khi nghe tiếng
rống của sư tử".
Đức
Phật nói : "Nầy Xá Lợi Phất ! Cũng vậy, đại Bồ
Tát lúc mới phát tâm Vô thượng Bồ đề nghe nói sở hành
bất tư nghị của các chúng sanh chẳng kinh chẳng sợ.
Lại
này Xá Lợi Phất ! Ý ông nghĩ thế nào, thế lực của
mồi lửa dầu nhỏ mà nó có sợ đống củi khô lớn chăng
?".
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Mồi lửa nhỏ không sợ củi khô lớn".
Đức
Phật nói : "Nầy Xá Lợi Phất ! Đại Bồ Tát lúc sơ
phát Bồ đề tâm vô thượng được lửa trí huệ cũng như
vậy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Nay đức Như Lai lấy việc chẳng
phải ví dụ để làm ví dụ.
Ví
như có ngọn lửa giao hẹn sau bảy ngày sẽ cùng củi gỗ
khô chiến đấu. Bấy giờ bao nhiêu củi gỗ khô cùng
họp tụ lại một chỗ cao lớn như tòa núi Tu Di, mà ngọn
lửa ấy vẫn không núng sợ tự biết sức mình có thể chống
phá nổi chẳng cần phải giúp thêm. Cũng vậy, dầu các
phiền não cùng hòa hiệp chung nhau thế lực mãnh liệt, nhưng
sức trí huệ của Bồ Tát đều có thể tiêu phục.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Đại Bồ Tát có hai thứ sức lực, một
là phiền não lực, hai là trí huệ lực.
Bồ
Tát nếu không có phiền não lực thì chẳng có thể cùng đồng
với hành nghiệp của các chúng sanh, cũng chẳng có thể biết
được hành xứ của các chúng sanh và cũng sẽ đồng như
bực Thanh Văn và Duyên Giác. Vì vậy nên Bồ Tát dùng
phiền não lực đi đến khắp các cõi hóa độ các chúng sanh
chẳng hề kinh sợ, đây gọi là Bồ Tát hiện hành phương
tiện.
Này
Xá Lợi Phất ! Như có số đốm lửa nhiều vô lượng
ngàn vạn ức cũng chẳng thể chiếu lấn được ánh sáng
mặt nhựt. Cũng vậy, dầu có vô lượng vô số phiền
não cũng chẳng thể ngăn ngại được trí quang của Bồ Tát.
Này
Xá Lợi Phất ! Như một hoàn thuốc A Già Đà có khả năng
phá được đại độc. Trí huệ của Bồ Tát cũng vậy,
chút ít sức trí huệ có khả năng phá vô lượng đại phiền
não.
Này
Xá Lợi Phất ! Như trận mưa nước một vị, rơi xuống
rồi thì tùy theo đất mà có các thứ vị. Một giải
thoát trí của đại Bồ Tát cũng vậy, theo căn tánh của các
chúng sanh mà nói nhiều pháp sai khác.
Này
Xá Lợi Phất ! Như dưới cây Diêm Phù có bùn hoàng kim,
trong bùn này có các loại báu quý. Trong vô thượng Bồ
đề tâm mới phát của Bồ Tát cũng vậy, trong tâm ấy có
đủ Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Này
Xá Lợi Phất ! Như các Tiểu Vương đều thuộc Chuyển
Luân Thánh Vương. Cũng vậy, tất cả hàng nhơn thiên
đều đến quy thuộc sơ tâm Bồ Tát.
Này
Xá Lợi Phất ! Như người phước mỏng ít thì chẳng
gặp được thất bửu. Cũng vậy, nếu người chẳng
thể ở chỗ vô lượng chư Phật gieo trồng thiện căn thì
chẳng thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Này
Xá Lợi Phất ! Như mầm non mía thì không có các vị
thạch mật v.v. Cũng vậy, nếu người không có tâm Vô
thượng Bồ đề thì không có các công đức Tam bảo.
Này
Xá Lợi Phất ! Như y vương Kỳ Bà thường nói rằng tất
cả vật có trong thiên hạ không gì chẳng phải là thuốc.
Cũng vậy, Bồ Tát nói tất cả các pháp không gì chẳng phải
là Bồ đề.
Này
Xá Lợi Phất ! Như A Tu La Vương tận lực cũng không
ngăn được vòng đi của mặt nhựt nguyệt. Cũng vậy,
tất cả ma chúng dùng hết thế lực chẳng thể trở ngại
Bồ Tát siêng tu Bồ đề đạo.
Này
Xá Lợi Phất ! Như sắc giới cung điện chư Thiên an trụ
tại hư không. Cũng vậy, Bồ đề được có của Bồ
Tát cũng y dựa nơi không mà an trụ.
Này
Xá Lợi Phất ! Như hư không có thể dung thọ tất cả
vạn vật mà hư không ấy không hề tăng giảm. Vô lượng
Phật pháp cũng vậy, dầu có Bồ Tát phát tâm nguyện cầu
mà Phật pháp ấy vẫn không tăng giảm.
Này
Xá Lợi Phất ! Như có người tha hồ tùy sức mình đi
trong hư không mà hư không ấy không hề tăng giảm. Cũng
vậy, Bồ Tát dùng hết tín lực đi trong Phật trí mà Phật
trí ấy vẫn không tăng giảm.
Này
Xá Lợi Phất ! Như thợ lò gốm lúc làm chưa thành món
vật thì vật ấy chưa được tên món vật. Cũng vậy
lúc chưa phát tâm Vô thượng Bồ đề thì pháp lành của Bồ
Tát cũng chưa được tên.
Này
Xá Lợi Phất ! Như người đã được thấy Chuyển Luân Thánh
Vương thì chẳng cầu thấy các Tiểu Vương. Cũng vậy,
Bồ Tát đã phát tâm Vô thượng Bồ đề rồi thì chẳng còn
phát tâm Thanh Văn, tâm Bích Chi Phật.
Này
Xá Lợi Phất ! Như các bửu châu chẳng sản xuất ở những
nơi khác mà phải sản xuất ở lòng đại hải. Cũng
vậy, trong pháp Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng sản xuất được
Tam bảo, mà Tam bảo phải được sản xuất trong pháp Bồ
Tát.
Này
Xá Lợi Phất ! Như bực Thái Tử chẳng gọi là vua chẳng
phải chẳng gọi là vua. Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng
gọi là Phật chẳng phải chẳng gọi là Phật.
Này
Xá Lợi Phất ! Thất bửu dầu là lượng nhỏ cũng chẳng
nên khinh, tại sao, vì lượng bửu dầu nhỏ mà có thể dùng
làm việc lớn có nhiều lợi ích. Cũng vậy, dầu Bồ
Tát lúc sơ phát tâm cũng chẳng nên khinh.
Này
Xá Lợi Phất ! Nay Phật vì chư đại Bồ Tát mà nói những
ví dụ như vậy. Bồ Tát được nghe những ví dụ ấy
thì được an lạc".
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Nếu
muốn chứng được vô thượng đạo
Phải
nên dứt trừ lòng nghi hối
Người
siêng tu lòng tin vô thượng
Thì
có thể được đạo Bồ đề
Nếu
người tu tập tịnh ấn định
Tuyên
nói các pháp như cảnh mộng
Trong
vô lượng đời tịnh tâm mình
Thì
có thể chứng chánh giác đạo
Đạo
Phật được chẳng phải thân nghiệp
Cũng
chẳng phải khẩu nghiệp ý nghiệp
Vô
vi chơn thiệt tánh cũng vậy
Vì
thế chẳng thể ví dụ nói
Phật
đạo không đối chẳng thấy được
Chẳng
phải nhãn thức như hư không
Chẳng
phải tất cả các tình căn
Chẳng
phải cảnh giới của các căn
Chẳng
phải tướng ấm giới lục nhập
Chẳng
phải tâm ý thọ tưởng thức
Chẳng
phải cảnh của tri của trí
Vì
thế Phật cảnh chẳng biết được
Chư
Phật đại bi khó nghĩ bàn
Vô
lượng vô biên không chướng ngại
Không
chữ không tiếng chẳng nói được
Vì
thế không ai biết Phật giới
Nếu
chúng sanh trong vô lượng đời
Gần
kế thiện hữu nghe chánh pháp
Nghe
rồi liền được đại phước đức
Thường
thọ diệu lạc như chư Phật
Tất
cả các ma chẳng hại được
Các
căn điều phục thường an lạc
Hay
dùng phương tiện phá tứ ma
An
trụ như pháp hành Phật đạo
Nếu
tu đạo Bồ đề như vậy
Thì
được Bồ đề vì người nói
Hay
độ chúng sanh biển sanh tử
Hay
phá tất cả đại tà kiến
Liền
được vô thượng các tướng hảo
Thành
tựu Thập lực Tứ vô úy
Hay
biết chúng sanh phiền não hành
Hay
phá tất cả cõi sanh tử
Nếu
có Bồ Tát siêng tinh tiến
Thì
hay phá hoại các phiền não
Như
lửa đốt cháy gỗ cỏ khô
Tâm
Bồ đề đốt được phiền não.
Lại
nầy Hải Huệ ! Vì được Vô thượng Bồ đề mà đại Bồ
Tát siêng tu tinh tiến. Có ai siêng tu tinh tiến thì nên
biết người ấy tức là có Bồ đề. Có ai siêng tu tinh
tiến thì người ấy tức là có Đàn Ba la mật, Thi Ba la mật,
Sằn đề Ba la mật, Tỳ lê gia Ba la mật, Thiền Ba la mật,
Bát Nhã Ba la mật, có thể lợi ích mình mà cũng có thể lợi
ích người.
Nầy
thiện nam tử ! Vô lượng kiếp quá khứ có đức Phật Thế
Tôn hiệu Cần Tinh Tiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, quốc độ
tên Thiện Kiến, kiếp ấy tên Hoa Tụ. Lúc ấy đại
thủy tràn đầy cả thế giới, trong đại thủy sản xuất
tám vạn bốn ngàn thượng diệu liên hoa, mỗi hoa sen ngang
rộng đủ ngàn do tuần có vô lượng ức ánh sáng màu hoàng
kim, mùi thơm vi diệu. Chư Thiên cõi Trời Sắc Cứu Cánh
thấy các hoa sen ấy cảm thọ nhiều an lạc đồng nói rằng
trong thế gian mà có nhiều hoa sen ấy thì nên biết là có
nhiều đức Phật xuất thế. Do cớ ấy mà kiếp ấy
có tên là Hoa Tụ.
Thuở
ấy cả thế giới tịch tĩnh không có tiếng động. Vì
tịch tĩnh mà chư Bồ Tát ở vô lượng thế giới thường
thích quán sát. Do quán sát nên mỗi mỗi Bồ Tát đều
được hỷ hành tam muội. Vì cớ ấy mà thế giới ấy
có tên là Thiện Kiến.
Quốc
độ Thiện Kiến có nhiều rừng cây thất bửu, nhiều những
điện đền lầu các thất bửu như Đâu Suất Thiên.
Chúng sanh cõi ấy ăn uống đầy đủ, phần đông đều có
thần thông, tất cả đều hóa sanh, không có thân người nữ
cũng không có ba ác đạo, đều tu pháp Đại thừa, không có
Nhị thừa. Đức Phật Cần Tinh Tiến có ba vạn sáu ngàn
Bồ Tát xuất gia đều được tâm bất thối chuyển Vô thượng
Bồ đề, còn có vô lượng nhơn thiên sơ phát tâm Bồ đề
kiên cố chẳng thối chuyển. Đức Cần Tinh Tiến Như
Lai thường thích tuyên nói hạnh cần tinh tiến. Lúc ấy
trong đại chúng có một vị Bồ Tát tên Kiên Cố Trang nghiêm
từ chỗ ngồi đứng dậy đến lễ chưn đức Cần Tinh Tiến
Như Lai rồi quỳ dài chắp tay bạch rằng :
Bạch
đức Thế Tôn ! Thế nào là Bồ Tát cần hành tinh tiến ?
Đức
Cần Tinh Tiến Như Lai nói :
Nầy
Kiên Cố Trang nghiêm ! Cần hành tinh tiến có bốn pháp,
đó là phát tâm, tác tâm, quán tâm và như pháp trụ.
Bốn pháp như vậy tức là đầy đủ nhơn duyên Phật pháp.
Tại
sao vậy ? Nầy thiện nam tử ! Do phát tâm nên sanh thiện
pháp. Do tu tác mà thiện pháp tăng trưởng. Do quán
sát mà lợi ích chúng sanh. Do như pháp trụ nên nhập
vào tất cả nhơn duyên Phật pháp.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử ! Phát ấy là cầu được nghe
chánh pháp. Tác ấy là nghe pháp rồi có thể nói.
Quán ấy là giỏi tư duy nghĩa. Như pháp trụ ấy là như
pháp được nói mà an trụ.
Lại
phát ấy là điều phục tâm xan tham, tác ấy là có thể bố
thí tất cả, quán ấy là vì chúng sanh bố thí hồi hướng
Bồ đề, như pháp trụ ấy là chẳng cầu quả báo bố thí.
Lại phát ấy là tìm cầu người lãnh thọ, tác ấy là khi
thấy người đến cầu xin thì sanh lòng thương xót, quán ấy
là quán sát của cải vô thường, như pháp trụ ấy là chẳng
cầu quả báo. Lại phát ấy là cầu của cải đúng như
pháp, tác ấy là cầu được tịnh mạng, quán ấy là nơi
vật chẳng bền mà tu pháp bền vững, như pháp trụ ấy là
lúc xả thí tất cả chẳng có lòng kiêu mạn. Lại phát
ấy là lìa các ác cấm giới, tác ấy là chí tâm thọ trì
các tịnh cấm giới, quán ấy là chí tâm điều phục người
phá giới, như pháp trụ ấy là trì tịnh cấm giới chẳng
sanh lòng kiêu mạn. Lại phát ấy là tịnh khẩu nghiệp,
tác ấy là tịnh thân nghiệp, quán ấy là tịnh ý nghiệp,
như pháp trụ ấy là tu tập thiện pháp. Lại phát ấy
là xa lìa tâm sân hận, tác ấy là tu tập nhẫn nhục, quán
ấy là thủ hộ mình và người, như pháp trụ ấy là tu nhẫn
nhục rồi chẳng sanh lòng kiêu mạn. Lại phát ấy là
thích giáo hoá chúng sanh tà kiến, tác ấy là hay phá tâm sân
hận của các chúng sanh, quán ấy là chẳng thấy có nội ngoại,
như pháp trụ là xa lìa tất cả phiền não kiết sử.
Lại phát ấy là xa lìa giải đãi, tác ấy là siêng tu tinh
tiến, quán ấy là điều phục tất cả chúng sanh giải đãi,
như pháp trụ ấy là khuyên các chúng sanh tu tinh tiến.
Lại
phát ấy là thiện từ, tác ấy là việc phải làm đã xong,
quán ấy là chẳng cầu các thừa khác, như pháp trụ ấy là
chẳng mất tâm vô lượng Bồ đề. Lại pháp ấy là
trang nghiêm thiền chi, tác ấy là trang nghiêm tam muội, quán
ấy là tu tập chẳng sanh tương tợ ngã mạn, như pháp trụ
là phá hoại tâm hành ác của các chúng sanh. Lại phát
ấy là trang nghiêm niệm tâm, tác ấy là trang nghiêm các cõi,
quán ấy là ý chí kiên cố, như pháp trụ là dũng kiện không
khiếp sợ. Lại phát ấy có tên như pháp nhơn, tác ấy
có tên như phương tiện, quán ấy có tên môn hộ, như pháp
trụ ấy có tên giải thoát. Lại phát ấy là cầu văn
tự, tác ấy là thọ trì văn tự, quán ấy là tự bất khả
thuyết, như pháp trụ ấy là xa lìa văn tự. Lại phát
ấy là lìa ác tri thức, tác ấy là cầu thiện tri thức, quán
ấy là ở nơi thiện tri thức chí tâm nghe pháp, như pháp trụ
ấy là chẳng hiểu sai nghĩa. Lại phát ấy là thích rời
bỏ nhà, tác ấy là xa lìa oán và thân, quán ấy là cầu phá
lành, như phát trụ là chẳng theo ý người. Lại phát
ấy là nói thiểu dục, tác ấy là nói tri túc, quán ấy là
dễ nuôi dễ thoả mãn, như pháp trụ ấy là khéo biết thời
nghi.
Lại
phát ấy là tu đúng cấm giới, tác ấy là nơi cấm giới
chẳng hư, quán ấy là như định học giới, như pháp trụ
ấy là như huệ học giới. Lại phát ấy là Đàn na và
Thi la Ba la mật, tác ấy là Sằn đề và Tỳ lê gia Ba la mật,
quán ấy là Thiền na và Bát Nhã Ba la mật, như pháp trụ ấy
là trí và phương tiện Ba la mật. Lại phát ấy là hành
bố thí nhiếp thủ, tác ấy là hành nhuyến ái ngữ nhiếp
thủ, quán ấy là làm lợi ích cho người nhiếp thủ, như
pháp trụ ấy là đồng sự với người nhiếp thủ. Lại
phát ấy là đại từ, tác ấy là đại bi, quán ấy là đại
hỷ, như pháp trụ ấy là đại xả. Lại phát ấy là
hộ trì chánh pháp, tác ấy là thanh tịnh phước điền, quán
ấy là trang nghiêm tướng hảo, như pháp trụ ấy là điều
phục chúng sanh. Lại pháp ấy là thiệt biết ấm ma,
tác ấy là lìa phiền não ma, quán ấy là phá tử ma, như pháp
trụ ấy là xô dẹp thiên ma. Lại phát ấy là thân niệm
xứ, tác ấy là thọ niệm xứ, quán ấy là tâm niệm xứ,
như pháp trụ là pháp niệm xứ. Lại phát ấy là rành
rẽ biết khổ, tác ấy là xa lìa tập nhơn, quán ấy là chúng
chơn thiệt diệt, như pháp trụ là tu tập trợ đạo.
Lại phát ấy là tín căn, như pháp trụ ấy là huệ căn.
Lại phát ấy là thất giác phần, tác ấy là bát chánh đạo
phần, quán là xa ma tha, như pháp trụ là tỳ bà xá na.
Nầy
thiện nam tử ! Như tất cả hạnh lành đều gọi là phát,
tu tập pháp lành đều gọi là tác, tất cả tâm thanh tịnh
đều gọi là quán, biết tất cả nghiệp thì gọi là như
pháp trụ.
Lại
nầy Kiên Cố Trang nghiêm Bồ Tát ! Người siêng tu tinh
tiến thì tịch tĩnh tâm mình, nếu tâm tịch tĩnh tức là
tinh tiến. Nếu phá tâm tham thân tức là tinh tiến.
Nếu biết thân và ý tức là tinh tiến. Nếu đoạn dứt
ngã và ngã sở tức là tinh tiến. Đoạn dứt các hệ
phược tức là tinh tiến. Phiền não chướng dứt hết
tức là tinh tiến. Nếu có thể xa lìa tất cả chướng
ngại tức là tinh tiến. Nếu có thể trừ bỏ mười
thứ kiêu mạn tức là tinh tiến. Nếu phá tham sân tức
là tinh tiến. Nếu phá vô minh hữu ái tức là tinh tiến.
Nếu chẳng phóng dật tu tập thiện pháp tức là tinh tiến.
Nếu có thể chơn thiệt thấy nội lục nhập ngoại lục nhập
tức là tinh tiến. Nếu chơn thiệt biết ngũ ấm, thập
bát giới, thập nhị nhập tức là tinh tiến. Tâm tịch
tĩnh tức là tinh tiến. Phá hoại lòng nghi tức là tinh
tiến. Nơi tam thế chẳng phân biệt tức là tinh tiến.
Nếu quán pháp giới chẳng động chuyển tức là tinh tiến.
Nếu chẳng lậu tức là tinh tiến. Nếu chẳng hại tức
là tinh tiến. Nếu chẳng sanh hối tức là tinh tiến.
Nếu chẳng cầu tức là tinh tiến. Nếu chẳng diệt tức
là tinh tiến. Nếu chẳng tác tức là tinh tiến. Nếu
không có tăng giảm tức là tinh tiến.
Không
có thượng không có hạ tức là tinh tiến. Chẳng xả
chẳng trước tức là tinh tiến. Chẳng phược chẳng
giải tức là tinh tiến. Chẳng đến chẳng đi tức là
tinh tiến. Bất sanh bất diệt tức là tinh tiến.
Chẳng phải phóng dật chẳng phải chẳng phóng dật tức là
tinh tiến. Không có tác không có tác giả tức là tinh
tiến. Không có tối không có sáng tức là tinh tiến.
Chẳng phải có thấy chẳng phải chẳng thấy tức là tinh
tiến.
Đức
Thế Tôn bảo Hải Huệ đại Bồ Tát : "Nầy thiện nam
tử ! Lúc đức Cần Tinh Tiến Như Lai nói pháp tinh tiến như
vậy có vô lượng Bồ Tát được Vô sanh pháp nhẫn.
Hiện nay trong pháp hội này cũng có năm ngàn Bồ Tát được
Vô sanh pháp nhẫn, bảy ngàn thiên nhơn phát tâm Vô thượng
Bồ đề.
Nầy
thiện nam tử ! Thuở xa xưa ấy, Kiên Cố Trang Nghiêm
Bồ Tát nghe đức Cần Tinh Tiến Như Lai nói pháp ấy rồi,
vì muốn được vô lượng pháp như vậy nên siêng tu tinh tiến
chứng được hạ nhẫn. Vì cầu pháp mà Bồ Tát ấy
chẳng ngồi chẳng nằm cho đến mạng chung. Lúc đã bỏ
thân liền sanh Trời Phạm Thiên, trong vô lượng đời cúng
dường Phật và nghe pháp thọ trì. Trong kiếp Hoa Tụ
ấy Bồ Tát Kiên Cố Trang Nghiêm cúng dường cùng khắp tám
vạn bốn ngàn chư Phật Như Lai nghe pháp thọ trì siêng tu
tinh tiến.
Nầy
Hải Huệ ! Ông có biết thuở kiếp Hoa Tụ xa xưa, Bồ
Tát Kiên Cố Trang Nghiêm ấy là người nào chăng ? Chính là
thân ta Thích Ca Mâu Ni Phật vậy.
Nầy
Hải Huệ ! Từ lâu ta đầy đủ tinh tiến nên siêu việt
Di Lặc và chư vị đại Bồ Tát mà thành Chánh Giác trước.
Vì vậy mà ta nói rằng ai có tinh tiến thì nên biết người
ấy tức là có Bồ đề.
Nầy
Hải Huệ ! Ta siêng tu tinh tiến mà còn khó được Vô
thượng Bồ đề huống là giải đãi ư ! Nếu có Bồ
Tát hay siêng tu tinh tiến thì người ấy có thể tự lợi
lợi tha".
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Ta
nhớ quá khứ vô lượng đời
Trong
kiếp Hoa Tụ tinh tiến Phật
Thế
giới Thiện Kiến nước tràn đầy
Sản
xuất tám vạn bốn ngàn hoa
Cõi
ấy báu đẹp như Đâu Suất
Dư
nhiều vật thực không thân nữ
Chúng
sanh tất cả đều hóa sanh
Cũng
không nhị thừa thuần nhứt thừa
Mười
phương thế giới chư Bồ Tát
Thấy
cõi Thiện Kiến thọ an lạc
Ba
vạn hai ngàn chúng xuất gia
Vô
lượng nhơn thiên phát giác tâm
Tinh
Tiến Phật khen hạnh tinh tiến
Chỉ
vì Kiên Cố Trang Nghiêm nói
Nếu
hay phát tâm siêng tu thiện
Nhiếp
tâm tư duy như pháp trụ
Cần
Tinh Tiến Phật vì Kiên Cố
Phân
biệt nói rộng bốn câu ấy
Phát
Bồ đề tâm như pháp hành
Tư
duy được nhẫn như pháp trụ
Nếu
cầu chánh pháp gọi sơ phát
Như
pháp mà nói gọi là tác
Hiểu
nghĩa chẳng sai tư duy tốt
Tu
tập pháp nhẫn như pháp trụ
Nếu
siêng bố thí gọi sơ phát
Cầu
người nhận lãnh gọi là tác
Thấy
rõ vô thường tư duy tốt
Chẳng
thấy hai tướng như pháp trụ
Cầu
của đúng pháp gọi sơ phát
Thanh
tịnh sanh sống gọi là tác
Phá
hoại san tham tư duy tốt
Chẳng
sanh kiêu mạn như pháp trụ
Xa
lìa ác giới gọi sơ phát
Trì
giới chẳng hư gọi là tác
Điều
phục người lỗi tư duy tốt
Tịnh
giới không kiêu như phá trụ
Xa
lìa ác khẩu gọi sơ phát
Thân
thường tịch tĩnh gọi là tác
Ý
nghiệp tịch tĩnh tư duy tốt
Các
pháp tịch tĩnh như pháp trụ
Xa
lìa hại tâm gọi sơ phát
Tu
tập nhẫn nhục gọi là tác
Gìn
giúp mình người tư duy tốt
Nhẫn
chẳng kiêu mạn như pháp trụ
Khuyên
dạy kẻ sân gọi sơ phát
Xa
lìa kẻ ác gọi là tác
Trong
ngoài tịch tĩnh tư duy tốt
Tâm
không trước ngã như pháp trụ
Xa
lìa giải đãi gọi sơ phát
Siêng
tu tinh tiến gọi là tác
Biết
rõ chơn thiệt tư duy tốt
Tu
tập trợ đạo như pháp trụ
Mới
cầu pháp lành là sơ phát
Cầu
rồi tu tập gọi là tác
Niệm
tâm thọ trì tư duy tốt
Chẳng
mất thiện pháp như pháp trụ
Cầu
nơi thiền chi gọi sơ phát
Tu
tập tam muội gọi là tác
Không
tương tợ mạn tư duy tốt
Không
có lỗi lầm như pháp trụ
Tâm
niệm nơi huệ gọi sơ phát
Chứng
được pháp môn gọi là tác
Ủng
hộ chánh pháp tư duy tốt
Dũng
kiện tinh tiến như pháp trụ
Chánh
niệm nhơn duyên là sơ phát
Tu
thiện phương tiện gọi là tác
Quán
xem nội pháp tư duy tốt
Đã
được giải thoát như pháp trụ
Mới
cầu văn tự gọi sơ phát
Thông
đạt hiểu rõ gọi là tác
Biết
bất khả thuyết tư duy tốt
Rõ
không văn tự như pháp trụ
Xa
lìa ác hữu là sơ phát
Gần
kề thiện hữu gọi là tác
Nghe
pháp hiểu đúng tư duy tốt
Chẳng
rời chánh pháp như pháp trụ
Phật
pháp xuất gia là sơ phát
Trừ
bỏ oán thân gọi là tác
Tu
tập pháp lành thiện tư duy
Chẳng
theo ý người như pháp trụ
Thiểu
dục sơ phát tri túc tác
Thích
nơi tịch tĩnh tư duy tốt
Trụ
tịch tĩnh rồi giảng vô tranh
Cũng
tự tu tập như pháp trụ
Theo
giới mà học gọi sơ phát
Thường
thích tịch tĩnh gọi là tác
Dễ
nuôi dễ đủ thiện tư duy
Quán
sát vô thường như pháp trụ
Thích
tu thí giới gọi sơ phát
Nhẫn
nhục tinh tiến gọi là tác
Thiền
và Bát Nhã tư duy tốt
Trí
cùng phương tiện như pháp trụ
Bố
thí nhiếp thủ là sơ phát
Ái
ngữ nhiếp thủ gọi là tác
Lợi
ích cho người tư duy tốt
Đồng
sự nhiếp thủ như pháp trụ
Tu
từ là phát tu bi tác
Tam
thế vô nhị tư duy tốt
Vì
các chúng sanh tịnh thân tâm
Tu
tập hỉ xả như pháp trụ
Hộ
trì chánh pháp là sơ phát
Thanh
tịnh phước điền gọi là tác
Trang
nghiêm tự thân tư duy tốt
Điều
phục chúng sanh như pháp trụ
Phá
hoại ấm ma là sơ phát
Rời
phiền não ma gọi là tác
Phá
được tử ma tư duy tốt
Dẹp
phục ma địch như pháp trụ
Tu
tập thân niệm là sơ phát
Tu
tập thọ niệm gọi là tác
Tu
tập tâm niệm tư duy tốt
Tu
tập pháp niệm như pháp trụ
Rành
rẽ biết khổ là sơ phát
Xa
lìa nhơn tập gọi là tác
Chứng
diệt chơn thiệt tư duy tốt
Tu
tập trợ đạo như pháp trụ
Tu
tập tín căn là sơ phát
Tu
tập các lực gọi là tác
Tu
niệm tam muội tư duy tốt
Tu
tập trí huệ như pháp trụ
Thân
tâm tịch tĩnh là sơ phát
Xa
lìa tà kiến gọi là tác
Quán
rõ danh sắc tư duy tốt
Tinh
tiến chẳng hối như pháp trụ
Không
ngã ngã sở là sơ phát
Không
phược không giải gọi là tác
Không
khứ không lai tư duy tốt
Pháp
tánh bất động như pháp trụ
Xa
lìa kiêu mạn là sơ phát
Từ
bỏ tham sân gọi là tác
Quán
mười hai duyên tư duy tốt
Lìa
si hữu ái như pháp trụ
Nếu
hay xa lìa tất cả tướng
Phá
hoại sở hữu các chướng ngại
Đầy
đủ thập lực tứ vô úy
Hay
nói công đức cần tinh tiến
Như
Lai nói pháp tinh tiến nầy
Mười
ngàn chúng sanh ngộ vô sanh
Năm
ngàn Bồ Tát được pháp nhẫn
Vô
lượng Trời Người phát Bồ đề
Bồ
Tát Kiên Cố nay Thích Ca
Tinh
tiến vượt hơn chư Bồ Tát
Nếu
muốn chứng được Vô thượng đạo
Nên
tu tinh tiến như Phật trước.
Bấy
giờ Tu Bi Phạm Thiên hỏi Hải Huệ Bồ Tát rằng : "Bạch
Đại Sĩ ! Nói là Phật pháp ấy, thế nào gọi là Phật
pháp ?".
Hải
Huệ đại Bồ Tát nói : "Thưa Thiên Tử ! Phật pháp ấy tên
là tất cả pháp. Tất cả pháp ấy tên là Phật pháp.
Như Phật pháp tánh tức là tất cả pháp tánh. Như tất
cả pháp tánh ấy tức là Phật pháp tánh. Tất cả pháp
tánh cùng Phật pháp tánh không hai không sai biệt.
Tất cả pháp tịch tĩnh Phật pháp cũng tịch tĩnh. Tất
cả pháp rỗng không Phật pháp cũng rỗng không.
Thưa
Thiên Tử ! Tất cả pháp tức mười hai nhơn duyên, Bồ đề
ấy cũng là mười hai nhơn duyên".
Tu
Bi Phạm Thiên nói : "Bạch Đại Sĩ ! Luận về Phật pháp
ấy phải chăng là chẳng quá tam giới pháp ư ?".
Hải
Huệ đại Bồ Tát nói : "Thưa Thiên Tử ! Tam giới cùng
Phật pháp, tánh không sai biệt. Tam giới tánh bình đẳng,
Phật pháp tánh bình đẳng không có hai tướng. Ví như
hư không không có tăng giảm, Phật pháp cũng như vậy không
có tăng giảm, vì tánh rỗng không nên không có thượng không
có hạ. Nếu ai muốn thấy Phật pháp thì nên quan sát
như vậy.
Lại
nầy Thiên Tử ! Luận về Phật pháp ấy chẳng phải
xứ chẳng phải chẳng xứ, chẳng phải sanh chẳng phải diệt,
chẳng phải xanh chẳng phải vàng đỏ trắng chẳng phải mầu
tạp mầu lưu ly mầu hư không giới, lìa mầu sắc không có
mầu sắc, chẳng phải có hình chất vuông tròn dài vắn, không
có tướng không có các tướng, không có phược không có giải,
không có tướng như vậy gọi là Phật pháp, không có tướng
không có cú không có văn tự, là thanh tịnh tịch tĩnh, là
nghĩa rỗng không, là nghĩa không có tướng, là nghĩa không
có tích tụ, là nghĩa rốt ráo không có xuất sanh, là nghĩa
giác tri.
Nghĩa
tịch tĩnh ấy là chẳng tuyên nói được, chẳng nhìn được
chẳng thấy được. Nghĩa tịch tĩnh ấy là nghĩa không.
Nghĩa không ấy là nghĩa không tích tụ. Nghĩa không tích
tụ ấy là nghĩa chơn thiệt. Nghĩa chơn thiệt ấy là
nghĩa rốt ráo bất xuất. Nghĩa rốt ráo bất xuất ấy
là nghĩa bất diệt. Nghĩa bất diệt ấy tức là nghĩa
không có xứ. Nghĩa không có xứ ấy tức là pháp tánh.
Pháp tánh ấy tức là Phật pháp. Đây gọi là hữu học
pháp, gọi là A La Hán pháp, gọi là Duyên Giác pháp, gọi là
Phật pháp. Phật pháp như vậy cùng các pháp khác cũng
không có trụ xứ, bất xuất bất diệt, không có sắc xanh
vàng đỏ trắng, không có hình vuông tròn dài vắn, không có
tướng mạo, không có sáng không có tối, tất cả các pháp
bình đẳng vô sai biệt. Người cầu Phật pháp gọi rằng
Phật, Phật pháp và tất cả pháp.
Đại
Bồ Tát ngồi đạo tràng dưới cội Bồ đề mới có thể
rành rẽ rõ ràng chơn thiệt biết thấy. Tại sao, vì
Phật chánh pháp không có trụ xứ vậy, tất cả các pháp
cũng không có trụ xứ. Phật pháp bất khả đắc tất
cả các pháp cũng bất khả đắc. Phật pháp bình đẳng
tất cả các pháp cũng bình đẳng. Nếu không có nhơn
duyên thì không có chủng tánh. Nếu không có chủng tánh
thì không có xuất không có diệt. Nếu không có xuất
diệt thì gọi là chơn thiệt. Biết chơn thiệt ấy tức
là thiệt tánh. Các pháp quá khứ vị lai hiện tại tức
là Phật pháp. Tại sao, vì thông đạt tam thế không có
chướng ngại vậy. Không có chướng ngại ấy tức là
Phật trí. Phật trí ấy tức là mười tám pháp bất
cộng. Pháp bất cộng ấy nhiếp tất cả pháp. Vì
thế nên tất cả các pháp tức là Phật pháp. Các pháp
cùng Phật pháp không có hai không sai biệt".
Tu
Bi Phạm Thiên nói : "Bạch Đại Sĩ ! Nay Đại Sĩ có rõ ràng
thấy Phật pháp chăng ?".
Hải
Huệ Bồ Tát nói : "Thưa Thiên Tử ! Phật pháp chẳng
phải sắc hình thể nhìn thấy được, sao Thiên Tử lại nói
là rõ ràng thấy Phật pháp ư ! Tất cả các pháp đều
chẳng thể thấy được. Luận về rõ ràng ấy tức là
Phật pháp, không có hai tướng sai biệt".
Tu
Bi Phạm Thiên nói : "Bạch Đại Sĩ ! Sao đức Như Lai cớ chi
nói rằng Phật biết thấy tất cả các pháp ?".
Hải
Huệ Bồ Tát nói : "Thưa Thiên Tử ! Như Lai Phật pháp
nếu có định tướng mới có thể nói được rằng rõ ràng
biết thấy".
-Bạch
Đại Sĩ ! Phật pháp không có ư ?
-Thưa
Thiên Tử ! Pháp nếu là vô định thì chẳng thể nói
có chẳng thể nói không. Nếu chẳng thể nói có tướng
không có tướng thì làm sao nói được rằng rõ ràng biết
thấy.
-Bạch
Đại Sĩ ! Tại sao đức Như Lai nói các Phật pháp ?
-Thưa
Thiên Tử ! Như nói hư không, mà tánh hư không thiệt
không có định tướng, Phật pháp cũng vậy.
-Bạch
Đại Sĩ ! Phật pháp như vậy chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ Tát lúc mới phát tâm Vô thượng Bồ đề nghe pháp như
vậy mà chẳng kinh chẳng sợ cũng là chẳng thể nghĩ bàn.
Tánh Chánh giác cũng chẳng thể nghĩ bàn.
-Thưa
Thiên Tử ! Người được đức Phật gia hộ mới có thể
phát được tâm Vô thượng Bồ đề ấy, vì thế nên nghe
pháp như vậy mà chẳng kinh chẳng sợ.
Thưa
Thiên Tử ! Nếu người có tham trước thì sanh lòng kinh sợ,
người không có tham trước thì không có kinh sợ. Người
luyến tiếc thân mạng thì sanh lòng kinh sợ, người không
luyến tiếc thân mạng thì không có kinh sợ, người có chướng
ngại thì sanh lòng kinh sợ, người không có chướng ngại
thì không có kinh sợ. Tham trước ngã và ngã sở thì
sanh lòng kinh sợ, người dứt ngã và ngã sở thì không có
kinh sợ.
-Bạch
Đại Sĩ ! Đại Bồ Tát có sức lực gì mà khi nghe Phật
pháp thậm thâm chẳng sanh lòng kinh sợ ?
-Thưa
Thiên Tử ! Có tám thứ lực khi nghe Phật pháp thậm thâm
thì chẳng sanh lòng kinh sợ. Đó là trụ lực, thiện
hữu lực, đa văn lực, thiện căn lực, thiện tư duy lực,
phá kiêu mạn lực, đại từ bi lực và như pháp trụ lực.
-Thưa
Thiên Tử ! Bồ Tát có đủ tám sức lực như vậy thì khi
nghe Phật pháp thậm thâm chẳng sanh lòng kinh sợ.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn khen Hải Huệ Bồ Tát rằng : "Lành
thay lành thay ! Thiện nam tử có thể khéo tuyên nói các
lực của Bồ Tát. Đúng như lời ông nói Bồ Tát có
đủ các lực như vậy thì nghe Phật pháp thậm thâm không
sanh lòng kinh sợ.
Nầy
thiện nam tử ! Tất cả ngôn thuyết gọi đó là âm thanh.
Tánh Bồ đề chẳng thể nói được cũng chẳng thể thấy
được. Chẳng thể nói chẳng thể thấy gọi đó là
đệ nhứt nghĩa. Đức Như Lai rõ ràng biết thấy chẳng
thể tuyên nói được như vậy, vì thương chúng sanh nên tuyên
nói cho họ. Bồ đề chẳng phải tâm cũng chẳng phải
tâm sở, huống là âm thanh văn tự.
Nầy
thiện nam tử ! Vì thương các chúng sanh nên đức Như
Lai giác ngộ pháp thậm thâm. Giác ngộ pháp thậm thâm
rồi không có tri không có giác không có tâm, không có tâm
sở, không có thanh, không có tự chẳng thể tuyên nói được.
Vì chúng sanh nên đức Như Lai nói có văn tự âm thanh thứ
đệ.
Nầy
thiện nam tử ! Như hư không chẳng phải là sắc pháp
chẳng thể nhìn thấy chẳng phải đối chẳng phải tác.
Có người vẽ giỏi vẽ hư không làm hình tượng hoặc là
nam, hoặc là nữ, là voi, là ngựa. Người vẽ giỏi như
vậy có thể nghĩ bàn được chăng ?".
Hải
Huệ Bồ Tát bạch đức Phật : "Bạch đức Thế Tôn !
Chẳng thể nghĩ bàn được".
Đức
Phật nói : "Nầy thiện nam tử ! Việc ấy còn có thể tin
được. Đức Như Lai Thế Tôn biết rõ chẳng thể tuyên
nói được mà có thể diễn nói, sự ấy rất là khó.
Dầu là diễn nói pháp chẳng thể tuyên nói được nhưng
Như Lai chơn thiệt tánh chẳng thể nói được.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu người nghe pháp ấy mà chẳng kinh
sợ, nên biết người ấy đã từ lâu ở chỗ vô lượng chư
Phật Như Lai trồng các căn lành.
Nầy
thiện nam tử ! Kinh điển như vậy chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu có người hay thọ trì đọc tụng biên chép giải nói,
người nầy có thể thọ trì pháp tạng của tất cả chư
Phật, nhiếp thủ tất cả chúng sanh làm cho họ giải thoát.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có Bồ Tát thấy rõ tất cả chư
Phật trong vô lượng thế giới, thấy rồi liền mang thất
bửu đầy cả những thế giới ấy dâng hiến cúng dường
tất cả chư Phật Thế Tôn. Người nầy được công
đức chừng có nhiều chăng ?".
Hải
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Rất nhiều, bạch đức Thế
Tôn ! Công đức như vậy không thể ví dụ nói được".
Đức
Phật nói : "Nầy thiện nam tử ! Chẳng bằng người ủng
hộ chánh pháp, vì thương mến chúng sanh mà thọ trì đọc
tụng biên chép giải nói kinh điển này. Tại sao, vì
công đức pháp thí thắng hơn tài thí. Luận về tài
thí tức là thế gian thí, pháp thí là xuất thế thí.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu người hay hộ trì chánh pháp Phật
thì được bốn sự nhiếp thủ. Đó là được Phật
nhiếp, được chư Thiên nhiếp, được phước nhiếp và được
trí nhiếp.
Phật
nhiếp chúng sanh còn có bốn sự : một là thường được
thân cận chư Phật, hai là chúng ma chẳng được dịp, ba là
được vô tận đà la ni và bốn là được trụ bực bất
thối chuyển.
Chư
Thiên nhiếp chúng sanh cũng có bốn sự : một là chỗ thuyết
pháp được chư Thiên trần thiết thanh tịnh, hai là lúc thuyết
pháp mọi người thích nghe, ba là chẳng hề bị các nhơn duyên
khác làm tổn hại và bốn là người chẳng tin thì tin.
Phước
nhiếp chúng sanh cũng có bốn sự : một là trang nghiêm nơi
thân có ba mươi hai tướng và tám mươi tùy hảo, hai là trang
nghiêm nơi miệng phàm lời nói ra được người thích nghe,
ba là trang nghiêm Phật độ và bốn là trang nghiêm chủng tánh
như là Đế Thích, Phạm Thiên, Chuyển Luân Thánh Vương.
Trí
nhiếp chúng sanh cũng có bốn sự : một là biết rõ căn của
chúng sanh mà tùy ý thuyết pháp, hai là biết bịnh khổ của
các chúng sanh theo bịnh mà cho thuốc, ba là được đại thần
thông đi khắp các Phật quốc độ và bốn là rành rẽ thông
đạt pháp giới.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu người muốn được những công đức
như vậy thì nên siêng tâm hộ trì chánh pháp".
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói tụng rằng :
Hay
hộ chánh pháp thương chúng sanh
Thọ
trì kinh này và diễn thuyết
Phật
nói một phần trong ngàn phần
Dường
như một giọt trong đại hải
Biết
ơn báo ơn niệm Như Lai
Người
nầy đáng tin phó pháp tạng
Cúng
dường vô lượng mười phương Phật
Như
vậy thì hay hộ Phật pháp
Dầu
thí trân bửu vô lượng quốc
Chẳng
bằng chí tâm tụng một kệ
Pháp
thí tối diệu thắng tài thí
Vì
vậy người trí phải hộ pháp
Mười
phương chư Phật, Thiên, Long, Thần
Công
đức trí huệ được nhiếp thủ
Trang
nghiêm tu hành các tướng hảo
Người
nầy đều do hộ chánh pháp
Thường
gặp chư Phật thiện tri thức