LIII
Pháp Hội Bất
Thuấn Bồ Tát
Thứ Năm Mươi
Ba
(Hán
bộ từ quyển 132)
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn ở giữa
hai cõi Dục giới và Sắc giới, trong Ðại Bửu Phường Ðình
cùng chư đại chúng vây quanh thuyết pháp.
Lúc
ấy trong đại chúng có ánh sáng kim sắc, ánh sáng ấy sáng
sạch chiếu khắp Ðại Thiên thế giới làm khuất tất cả
ánh sáng của mặt nhựt mặt nguyệt và chư Thiên. Ánh sáng
ấy chiếu xong liền tắt.
Tất
cả đại chúng chăm nhìn đức Như Lai không nháy mắt, trong
thời gian nầy lặng lẽ không có tiếng động, cũng không
có tiếng dặng hắng tiếng hơi thở ra vào.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế
Tôn! Nay có nhơn duyên gì mà xuất hiện ánh sáng kim sắc ấy,
tất cả đại chúng nhìn đức Như Lai không chớp mắt".
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Tu Bồ Ðề! Quá vô lượng thế giới
phương Ðông có vị Bồ Tát tên là Bất Thuấn cùng một vạn
vị Bồ Tát đồng đến đây vì muốn nghe đức Như Lai nói
kinh vi diệu Ðại thừa nầy. Ðây là ánh sáng của các vị
ấy”.
Ðức
Phật nói chưa dứt lời, Bất Thuấn Bồ Tát cùng chúng Bồ
Tát đã đến chỗ Phật trong đại bửu phường đình, tay
cầm các thứ hương hoa kỹ nhạc dâng cúng đức Phật, đầu
mặt lạy chưn Phật rồi cung kính đi nhiễu Phật mà ngồi
lại một phía.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bất Thuấn
Bồ Tát từ thế giới nào đến đây, cách đây bao xa, đức
Phật nơi ấy danh hiệu là gì?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Tu Bồ Ðề! Phương Ðông cách đây
bảy vạn hai ngàn hằng hà sa số thế giới, có quốc độ
tên là Bất Thuấn, đức Phật cõi ấy hiệu là Phổ Hiền
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc Thiện Thệ
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Bồ Tát Bất Thuấn từ đó đến
đây”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát quỳ dài chắp tay nói kệ khen Phật:
Như
Lai Thế Tôn khối trân bửu
Ðầy
đủ tất cả Ba la mật
Vô
Thượng Pháp Sư trời trong trời
Vì
chúng sanh nên tôi đảnh lễ
Tịch
tĩnh giới định chẳng động được
Vô
thuợng trí huệ điều các căn
Vì
các chúng sanh nói Ðại thừa
Nên
tôi quy y đấng Pháp Vương
Thích
ban nhơn thiên những an ổn
Chúng
sanh mừng thấy như trăng tròn
Ðầy
đủ lực thế phá chúng ma
Nay
tôi quy y đấng Y Vương
Thành
tựu thiện căn thí cam lộ
Hay
độ chúng sanh biển sanh tử
Nay
tôi quy y đấng Vô Thượng
Ðầy
đủ tướng tốt ba mươi hai
Thế
Tôn trang nghiêm đại chúng nầy
Dường
núi Tu Di hiển bốn mặt
Danh
hiệu vô ngại khắp mười phương
Ðấng
Thiên Nhơn Sư tôi kính lễ
Như
Lai trí huệ như hư không
Thông
đạt tam thế không chướng ngại
Theo
căn chúng sanh mà thuyết pháp
Nay
tôi kính lễ Tự Tại Vương
Quá
vô lượng kiếp siêng tinh tiến
Vượt
hơn đồng nghiệp chư Bồ Tát
Phật
pháp chứng được như Phật trước
Nay
tôi kính lễ Biến Chánh Giác
Mười
phương chư Phật đều tán thán
Tinh
tiến thù thắng vô biên lượng
Vô
lượng chúng sanh được nghe rồi
Thảy
đều đồng phát tâm Bồ đề
Ở
trong chánh pháp không nhàm đủ
Cũng
đem khuyên dạy các chúng sanh
Hay
nói pháp tánh thường thanh tịnh
Nay
tôi đảnh lễ đấng Pháp Vương.
Nói
kệ tán thán Phật rồi, Bồ Tát đại Bồ Tát bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi ở trong kinh Ðại thừa nầy
có ít điều muốn hỏi, mong đức Như Lai thương xót cho phép”.
Ðức
Phật nói: “Lành thay, lành thay, nầy thiện nam tử! Tùy ý
ông hỏi, Phật sẽ phân biệt tuyên nói cho để trừ bỏ lòng
nghi của các ông”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát đã được đức Phật hứa cho hỏi trong
lòng rất vui mừng bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bồ
Tát tu hành tam muội gì mau được thành tựu Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, được đại niệm tâm, được đại trí
đại ý, tàm quí dũng kiện tu thí giáo giới mặc giáp nhẫn
nhục dựng tràng tinh tiến, du hí thần thông trang nghiêm từ
bi, rất thích pháp hỉ, bước lên núi xả, hay nói hay đáp
xô dẹp ma oán phá các tà kiến, chẳng xa rời chư Phật Bồ
Tát thiện hữu, thường được hóa thân chẳng mất niệm
tâm, tin sâu Ðại thừa, thích ban thí chúng sanh trí sáng vô
thượng, chẳng bị thế pháp làm nhiễm ô đồng như bốn
đại chủng, như đất làm lợi ích cho tất cả chúng sanh,
như nước hay rửa sạch tất cả nhơ bẩn, như lửa nấu chín
căn lành chúng sanh, như gió ở nơi giới văn huệ thí tín
tàm quí chẳng hề chướng ngại, tu tập từ bi như hư không,
huệ nhãn vô lượng như Thiên Ðế Thích, tâm được tự tại
như Tự Tại Thiên, chánh pháp độ đời như Chuyển Luân Thánh
Vương, khối đại phước đức như núi Tu Di, không chán pháp
lành nhóm các trân bửu như biển lớn, tư duy thâm nghĩa mười
hai nhơn duyên không hề kinh sợ như sư tử vương, đủ của
thiện pháp như thương chủ, tất cả bịnh nhơn đều y chỉ
như đại y vương, hay làm ánh sáng như đèn lớn, phá tối
như mặt nhựt, mát mẻ như mặt nguyệt, phiền não chẳng
ô nhiễm như hoa sen, đầy đủ tất cả diệu pháp của chư
Phật như trăng tròn”.
Ðức
Phật phán dạy: “Lành thay, lành thay, nầy thiện nam tử!
Ông có thể đem nghĩa nầy mà hỏi nơi Như Lai, chí tâm lắng
nghe Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải thuyết.
Nầy
thiện nam tử! Có tam muội tên là nhứt thiết pháp tự tại.
Bồ Tát tu tập tam muội nầy thì có thể được tất cả
sự như vậy, cũng được vô lượng vô biên phước đức
mau thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lúc thành Phật
trong thế giới có đầy đủ tất cả.
Nầy
thiện nam tử! Nhứt thiết pháp tự tại tam muội ấy, đó
là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin tứ chơn đế, thập nhị
nhơn duyên, nội ngoại nhơn quả nghiệp và quả báo, tin ấm
nhập giới không vô tướng vô nguyện xuất sanh diệt mất,
tin nơi mở khai và bít tắc, xem tất cả pháp như huyễn, như
hóa, như dương diệm, như bóng, như vang, như trăng trong nước,
như lông rùa sừng thỏ, như hoa đốm, như con trai thạch nữ,
như mặc bóng y phục, như mơ cõi bạch tượng, hoặc có hoặc
không, hoặc cũng có không hoặc chẳng có không, chẳng phải
thường đoạn, chẳng phải sanh diệt, chẳng phải nội ngoại,
chẳng phải thấy biết. Tin như vậy thì có thể tin đại
sự của Phật của Bồ tát mà chẳng tự khinh. Sự nghiệp
của Bồ tát dầu là rộng lớn tôi cũng có thể biết, tâm
được tự tại có thể bố thí lớn, hộ trì cấm giới chẳng
ngại việc ngoài, vì thương chúng sanh mà thường tu nhẫn
nhục, vì chẳng thối chuyển mà tu tinh tiến, vì làm cho các
chúng sanh lìa phiền não mà tu trí huệ, vì phá phân biệt
tưởng nên tu tam muội, được âm thanh vi diệu tất cả đều
thích nghe, tu tập niệm Phật xem chư Phật Như Lai bình đẳng
không hai, tu tập niệm Pháp xem tất cả pháp đồng một tánh
tướng, tu tập niệm Tăng xem tất cả Tăng không có thối
chuyển, tu tập niệm xả bỏ các phiền não, tu tập niệm
giới thường nhớ Phật giới, tu tập niệm thiên nhớ thân
hậu biên thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, giới định trí
huệ chẳng theo người khác, thanh tịnh bố thí rồi có thể
được đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, bố thí các thứ
vật cần dùng có thể thành tựu đầy đủ tám mươi tùy
hảo, vì muốn trang nghiêm trí huệ xuất thế nên tu đủ Tứ
niệm xứ, vì muốn xa lìa tất cả phiền não nên tu đủ Tứ
chánh cần, vì muốn tâm mình được đại tự tại nên tu
đủ Tứ như ý, vì muốn phá các ma oán nên tu tập Tín căn,
vì chẳng điên đảo nơi tất cả pháp nên tu tập Tinh tiến
căn, vì làm cho nhớ biết các tội lỗi nên tu tập Niệm căn,
vì làm cho các chúng sanh tâm thanh tịnh nên tu tập Ðịnh căn,
vì muốn tột đảnh tất cả pháp nên tu tập Huệ căn, vì
không bị phá hoại nên tu tập Ngũ lực, vì chơn thiệt biết
tất cả các pháp nên tu tập Thất giác chi, vì chơn thiệt
biết là đạo là phi đạo nên tu tập Bát chánh đạo, vì
thích nơi tịch tĩnh thiểu dục tri túc nên xa lìa ác hữu,
dầu đã thông đạt tất cả sự nghiệp mà trọn chẳng ở
trong đó sanh ý tưởng là độc sư, với các phiền não, tâm
không tham trước trong thân ngoài thân chẳng giận thù chúng
sanh chẳng nghi các kiến chấp, chẳng thấy có ngã ngã sở,
thường tu tập lòng muốn cứu độ các chúng sanh, với các
bậc Sư trưởng, Hòa thượng, cha mẹ, thiện hữu lòng thường
nhớ ơn nghĩ việc báo đáp ơn ngày trước, thấy người phá
giới chẳng có lòng chê trách, vứt bỏ gánh nặng vì quán
ngũ ấm vậy, chẳng đua chẳng tranh hộ pháp trì giới nhiếp
thủ người trì giới và người hộ pháp, nghe pháp nhớ pháp
cúng dường pháp, ở trong chánh pháp không có lòng nghi, phàm
lúc diễn thuyết chẳng vì ăn uống, lúc diễn nói thì chí
tâm, chẳng khinh cũng chẳng tự cao, vì cho mầm thiện mọc
nên pháp được nghe chẳng quên mất, trông coi người bịnh
cung cấp đồ cần dùng, cúng dường Pháp sư chẳng nói chỗ
dở cũng chẳng để ý đến dòng họ thân thế giữ giới
hay phá giới, thường thích nghe pháp chí tâm chẳng quên chẳng
thất thời tiết, thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp giáo
hóa, nếu có lúc giảng nói chẳng sanh lòng kiêu mạn, nghe
pháp rồi hiểu nghĩa cũng chẳng tự cao, chẳng xem lỗi lầm
của người khác, những pháp được nghe là vì tri túc mạng
vô ngại, vì được chơn thiệt thấy pháp tánh, vì phát tâm
Vô Thượng Bồ Ðề, vì hộ trì chơn thiệt pháp của Như
Lai, vì được dòng họ tốt, vì thấy Phật pháp, và Tỳ Kheo
Tăng, vì được tâm kiên cố bất thối, vì hành thánh hạnh,
vì nhập thánh số, vì được đại tài bửu vô tận, vì được
đại công đức vô biên, vì được phạm âm thanh tịnh, vì
được Phật công đức, vì được đầy đủ Bồ tát, vì
muốn thọ trì đọc tụng thơ tả Bồ tát pháp tạng và lý
hành, vì muốn thọ trì những pháp như vậy để rộng tuyên
thuyết.
Nầy
thiện nam tử! Ðại Bồ tát được nhứt thiết pháp tự tại
tam muội thì nơi tất cả sự không thể cùng tận”.
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Tâm
Bồ Tát tin Phật Pháp Tăng
Cũng
kính tin rõ bốn chơn đế
Nếu
được trí huệ không quái ngại
Ðây
gọi chư Pháp tư tại định
Biết
được khổ đệ nhứt chơn đế
Cũng
xa lìa được tập chơn đế
Chứng
được đệ tam diệt chơn đế
Tu
tập vô thượng thánh đạo đế
Thành
tựu đầy đủ đại niệm tâm
Chơn
thiệt xem ấm như hư không
Oai
nghi nơi thân rất tịch tĩnh
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Hay
xem lục nhập tánh tướng không
Cũng
hay điều như nơi các căn
Hay
phá lưới nghi của chúng sanh
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Hay
tu không vô tướng vô nguyện
Phá
hoại tất cả các kiêu mạn
Các
hạnh được làm không đen tối
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Xa
lìa đoạn kiến và ngã kiến
Thân
khẩu ý nghiệp đều tịch tĩnh
Tâm
chẳng trụ trước pháp hữu vô
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thuyết
pháp chánh nghĩa không điên đảo
Ðiều
phục tất cả tâm chúng sanh
Ðã
nói pháp rồi không kiêu mạn
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Tu
tập tất cả các thiện căn
Chẳng
bị phiền não làm ô nhiễm
Tâm
không nhiệt não cũng không trược
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Chẳng
vì người mừng cầu Bồ đề
Cũng
chẳng hư dối tu thiện pháp
Mười
phương chư Phật xem tâm ấy
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thường
thích bố thí hộ trì giới
Vì
thương xót nên nhẫn các ác
Tinh
tiến tu định và trí huệ
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Vì
các chúng sanh tu từ tâm
Cũng
không tưởng phân biệt thân thù
Thích
ban chúng sanh vui vô thượng
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Ðiều
phục chúng sanh hướng Bồ đề
Tu
xả ly dục được an lạc
Thường
thích tu tập ngũ thần thông
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Chánh
pháp được nói chúng thích nghe
Nghĩa
ấy khó hết như biển lớn
Chơn
thiệt biết rõ nơi pháp tánh
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Quán
sát thân Phật như các pháp
Phật
tánh pháp tánh vô sai biệt
Hộ
pháp định tâm không thối chuyển
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thân
khẩu ý nghiệp được tịch tĩnh
Ðầy
đủ giới định tâm vô vi
Lìa
tất cả phiền não tập khí
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Tu
chứng vô thượng chơn giải thoát
Cũng
hay chứng được thiệt tri kiến
Tu
tập định huệ vô hữu biên
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Những
vật bất tịnh không đem thí
Chẳng
thọ tất cả bất tịnh giới
Ba
mươi hai tướng thành đầy đủ
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Tu
hành tất cả những bố thí
Vì
vậy được tám mươi hình hảo
Ở
trong Phật pháp được tự tại
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Tu
tập đầy đủ tứ niệm xứ
Chánh
cần hay phá các phiền não
Vì
điều chúng sanh tu như ý
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Vì
nhập Phật pháp tu tín căn
Vì
phá ma chúng tu ngũ lực
Vì
biết các pháp tu thất giác
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Tu
bát chánh đạo phá đường tà
Ban
cho chúng sanh vui vô thượng
Tâm
không kiêu mạn tưởng làm thầy
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Nếu
tu tập được tự tại định
Thì
hay xa lìa các phiền não
Gần
kề chư Phật chúng Bồ Tát
Thích
tu thiểu dục và tri túc
Vì
ở số thánh nhơn vô thượng
Vì
độ chúng sanh tu đại bi
Chẳng
vì lợi danh diễn thuyết pháp
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Vì
pháp chẳng tiếc thân mạng mình
Hộ
trì chánh pháp chẳng tiếc của
Thường
thích tu hành tài pháp thí
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thường
khuyên chúng sanh siêng nghe pháp
Như
họ chưa hiểu thì chẳng khinh
Chẳng
vì hơn người mà trì giới
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Trong
vô lượng đời được nghe pháp
Chí
tâm thọ trì nói cho người
Pháp
sư vô thượng danh hiệu lớn
Chẳng
xem thời tiết giới chẳng giới
Diễn
thuyết chẳng nghĩ cũng chẳng thôi
Chẳng
thất thời tiết tùy ý nói
Các
pháp được nói tướng như huyễn
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Lời
nói chơn thiệt thích lắng nghe
Nghe
rồi như lời mà an trụ
Tâm
không tham trước không ganh ghét
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Người
hỏi không giận không khinh mạn
Thường
tu từ bi không hai tướng
Hay
tự trừ sạch các lỗi lầm
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Ðầy
đủ vô thượng thất thánh tài
Thành
tựu thọ mạng vô thượng mạn
Ðầy
đủ thập lực Tứ vô úy
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thường
thích nghe pháp thiện tư duy
Thiện
tư duy rồi trụ như pháp
Trụ
như pháp rồi vì chúng nói
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Chẳng
quên Bồ đề thượng chủng tánh
Cúng
dường Tam bửu được hóa thân
Khuyên
dạy đại chúng được Bồ đề
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Nhãn
mục thanh tịnh thấy chư Phật
Ðược
phạm âm thanh vô hữu biên
Phạm
âm vang khắp mười phương cõi
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Của
báu ban cho không cùng tận
Trí
huệ diễn thuyết cũng vô cùng
Cùng
dường cha mẹ và sư trưởng
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thành
tựu đầy đủ trí túc mạng
Chẳng
mất tâm Vô thượng Bồ đề
Sáu
Ba la mật không chán đủ
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Vì
muốn lợi ích các chúng sanh
Thọ
Bồ Tát tạng và lý hành
Thích
vì chúng sanh rộng phân biệt
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Xa
lìa tất cả ác tư duy
Mười
phương thế giới thấy rõ ràng
Một
tâm biết được vô lượng tâm
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Một
tâm biết rõ việc tam thế
Tu
tập vô lượng các thần thông
Ðược
tối hậu thân trí vô ngại
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Thương
xót chúng sanh tu đại bi
Quán
sát các căn tùy ý nói
Tất
cả Phật pháp được tự tại
Ðây
gọi chư pháp tự tại định
Nếu
có được nghe sự như vậy
Chí
tâm thọ trì tin thuận theo
Thì
hay chứng được đạo vô thượng
Cũng
như chư Phật các đời trước.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Ðại Bồ Tát thành tựu pháp gì thì được nhứt thiết chư
pháp tự tại tam muội như vậy?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy thiện nam tử! Ðại Bồ Tát đầy
đủ một pháp thì có thể được tam muội ấy đó là chẳng
trụ trước tất cả các pháp. Còn có một pháp đó là chẳng
trụ trước cấm giới, tại sao, vì chẳng trụ trước cấm
giới thì chẳng trụ trước tất cả thiện pháp, vì đầy
đủ cấm giới thì có thể thành tựu tất cả Phật Pháp
được lợi ích lớn vô thượng đại đạo, vì vậy mà Phật
nói giới là căn bổn tất cả pháp lành, giới tên là đèn
sáng lớn. Nếu trụ trước nơi cấm giới thì người nầy
ở nơi Bồ đề bị chướng ngại, chẳng phải đạo Bồ đề.
Nếu ở nơi các pháp mà có trụ trước thì cách đạo Bồ
đề rất xa. Nếu không tham trước thì gần kề đạo Bồ
đề. Còn có hai pháp mà Bồ Tát đầy đủ thì có thể được
tam muội ấy. Một là vì Bồ đề phương tiện mà tu tập
xa ma tha, hai là vì thiện pháp phương tiện mà tu tập tỳ
bà xá na. Còn có ba pháp mà Bồ Tát đầy đủ thì có thể
được nhứt thiết chư pháp tự tại tam muội ấy. Một là
chẳng bỏ chúng sanh mà tu không tam muội, hai là chẳng bỏ
các pháp mà tu vô tướng tam muội, ba là cầu các hữu mà
tu vô nguyện tam muội”.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng:
Ðiều
phục chúng sanh tu không định
Vì
hộ pháp tu vô tướng định
Chẳng
bỏ các hữu tu vô nguyện
Người
nầy thì được tự tại định.
Còn
nữa, nầy thiện nam tử! Có bốn pháp mà Bồ Tát đầy đủ
thì được tam muội ấy. Một là đầy đủ Tứ đế phương
tiện, hai là đầy đủ Tứ vô lượng tâm, ba là đầy đủ
Tứ vô ngại trí và bốn là đầy đủ Tứ nhiếp pháp. Còn
có năm pháp mà Bồ Tát đầy đủ thì có thể được tam muội
ấy. Một là đầy đủ Ngũ thần thông, hai là đầy đủ Ngũ
căn, ba là đầy đủ Ngũ lực, bốn là đầy đủ chơn trí
quán sát Ngũ ấm và năm là đầy đủ Ngũ nhãn. Còn có sáu
pháp mà Bồ Tát có đủ thì được tam muội nầy: Một là
đầy đủ sáu Ba la mật, hai là đầy đủ Lục niệm, ba là
đầy đủ trí huệ quán Lục nhập, bốn là đầy đủ viễn
ly Lục đạo, năm là đầy đủ Lục thông và sáu là đầy
đủ Sáu pháp hòa kính. Còn có bảy pháp mà Bồ Tát có đủ
thì được tam muội nầy: Một là vô tham xa lìa phiền não,
hai là với tất cả chúng sanh không giận thù, ba là ở trong
các pháp không có tâm ngu si, bốn là có trí vô ngại không
có năm cái chướng, năm là quán mười hai nhơn duyên không
nghi, sáu là thành tựu trí huệ vô thượng và bảy là thành
tựu vô lượng tam muội. Còn có tám pháp mà Bồ Tát đầy
đủ thì được tam muội nầy: Một là tu tập Bát chánh đạo
phần, hai là lìa Bát tà đạo, ba là viễn ly Bát nạn, bốn
là đầy đủ Bát đại nhơn giác, năm là đầy đủ Bát giải
thoát, sáu là đầy đủ Bát thắng xứ, bảy là chuyên niệm
Bồ đề và tám là dứt Tập khí phiền não. Còn có chín pháp
mà Bồ Tát có đủ thì được tam muội nầy: Một là chẳng
thất niệm tâm, hai là hiểu nghĩa thậm thâm, ba là phá hoại
ma nghiệp, bốn là đủ Phật tam muội, năm là tịnh thân khẩu
ý, sáu là đầy đủ phương tiện, bảy là oai nghi thuần thiện,
tám là siêng tu tinh tiến đủ sáu Ba la mật và chín là viễn
ly Thanh Văn, Bích Chi Phật đạo. Còn có mười pháp mà Bồ
Tát có đủ thì được tam muội nầy: Một là đầy đủ Phật
trí, hai là đầy đủ pháp giới vô phân biệt trí, ba là ở
nơi tánh chơn thiệt không động chuyển, bốn là đầy đủ
tam thế bình đẳng trí huệ, năm là đầy đủ chúng sanh tâm
bình đẳng trí, sáu là đầy đủ trí biết các căn thượng
trung hạ, bảy là đầy đủ bốn trí vô ngại, tám là
đầy đủ ba môn giải thoát, chín là đầy đủ trí các pháp
đồng nhứt vị và mười là đầy đủ trí các pháp vô sanh
diệt.
Lúc
đức Phật nói pháp nầy, trong pháp hội có ba vạn hai ngàn
đại Bồ Tát được nhứt thiết chư pháp tự tại tam muội.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề hỏi Bất Thuấn đại Bồ Tát rằng: “Nay
trong đại chúng có ba vạn hai ngàn vị Bồ Tát được tam
muội ấy, vậy nay Ðại sĩ có được tam muội ấy chăng?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát đáp: “Thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề! Nhẫn
đến không có một pháp được gọi là tam muội thì làm sao
tôi lại được. Phàm nói là được đó là điên đảo, mà
điên đảo là ngã ngã sở. Bồ Tát nếu có ngã ngã sở thì
không thể được tam muội nầy”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề lại hỏi: “Ðại Bồ Tát trụ chỗ nào thì
được tam muội nầy?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Như pháp được trụ của Tu Bồ
Ðề mà được giải thoát ấy thì tôi trụ như vậy mà được
tam muội nầy”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Tôi thiệt chẳng trụ trong tất cả
pháp mà được giải thoát”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề ! Cũng
vậy, đại Bồ Tát chẳng trụ các pháp mà được tam muội
nầy”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Thưa Ðại Sĩ! Có lẽ đại Bồ Tát
chẳng trụ nơi không vô tướng vô nguyện mà được tam muội
nầy ư?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát hỏi: “Không vô tướng vô nguyện có
thể trụ được chăng?”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Không thể trụ được”. Bất Thuấn
Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Vì vậy nên chỗ sở trụ
không vô tướng vô nguyện là được tam muội nầy”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề hỏi: “Thưa Ðại Sĩ ! Tam muội nầy trụ
tại chỗ nào?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Như tất cả pháp chơn thiệt tánh
trụ, người trụ tam muội nầy cũng trụ như vậy. Tất cả
các pháp chơn thiệt tánh đó gọi là vô sở trụ. Trụ vô
sở trụ trụ trong tất cả pháp. Tất cả các pháp chẳng
trụ phiền não chẳng trụ giải thoát. Thưa Ðại Ðức! Người
được giải thoát là có đủ phiền não hay là không có phiền
não?”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Thưa Ðại Sĩ! Tôi cũng chẳng có chẳng
phải chẳng có”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Nếu Ðại Ðức
chẳng có chẳng phải chẳng có ấy thì Ngài được gì mà
gọi là giải thoát?”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Thưa Ðại Ðức! Nếu giả sử pháp
giới mà có hệ phược thì tôi được giải thoát, nhưng pháp
giới tánh không có tướng hệ phược không có tướng giải
thoát, chẳng phải tướng, chẳng phải tướng như, chẳng
phải các thứ tướng, chẳng phải một tướng chẳng phải
nhiều tướng, như tướng pháp giới, giải thoát cũng vậy”.
Lúc
Tôn giả Tu Bồ Ðề nói pháp ấy, trong đại chúng có tám
ngàn Tỳ Kheo được quả A La Hán.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề lại nói với Bất Thuấn đại Bồ Tát: “Thưa
Ðại Sĩ! Như lời đức Phật đã nói: nếu có thể đầy
đủ các pháp như vậy thì được nhứt thiết pháp tự tại
tam muội ấy, nay Ðại Sĩ có đầy đủ tam muội nầy chăng?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề! Tất
cả các pháp không có căn trụ, nếu pháp không có căn thì
là không có trụ, mà vô trụ thì gọi là vô tác, nếu đã
là vô tác thì làm sao trụ được”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Nếu vô trụ như vậy, tại sao đức
Như Lai thường nói rằng trụ pháp như vậy thì được Vô
sanh nhẫn?”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Vô sở trụ ấy
cũng gọi là trụ, vì vậy mà đức Như Lai cũng nói trụ tham
mà được giải thoát, mà trí huệ tánh chẳng thể hoại tham
trụ nơi giải thoát. Nếu Bồ Tát biết được trụ chẳng
trụ như vậy thì gọi là Vô sanh trí huệ, trụ trong Vô sanh
trí huệ ấy rồi thì có thể được Vô sanh pháp nhẫn.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Nếu Bồ Tát chẳng rời phàm phu mà
biết được thánh pháp, dùng tâm phàm phu quán sát thánh pháp,
dùng thánh pháp tánh quán sát nơi nhẫn, dùng nhẫn tánh quán
sát nơi nhẫn, lại dùng nhẫn như vậy quán sát tất cả pháp,
biết tất cả như vậy thì gọi là Vô sanh pháp nhẫn.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Nếu Bồ Tát quán sát hai thứ giới
là chúng sanh giới và pháp giới, dùng pháp giới tánh quán
sát chúng sanh tánh, dùng chúng sanh tánh quán pháp giới tánh.
Nếu rời pháp giới thì không có chúng sanh giới, pháp giới
và chúng sanh giới vô sanh vô diệt. Nếu có thể thông đạt
biết như vậy thì gọi là Vô sanh trí, Vô sanh trí là Vô sanh
nhẫn.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát biết từ mười hai nhơn
duyên sanh các pháp, từ sáu cảnh giới làm sáu nhơn duyên
cho thiện hoặc bất thiện, thiện và bất thiện ấy là không
sanh diệt, tại sao, vì tánh cảnh giới chẳng sanh các pháp
được. Như sáu cảnh sáu nhập cũng vậy, chẳng sanh được
các pháp, tại sao, vì là tánh vô sanh vậy. Nếu sáu nhập
ấy mà hay sanh được các pháp thì lẽ ra thường sanh mà chẳng
cần duyên ngoài. Nếu sáu cảnh giới nó hay sanh được các
pháp thì lẽ ra thường sanh chẳng cần duyên trong. Còn nếu
là chúng sanh thì có hai tướng, pháp hai tướng thì tánh của
nó không chơn thiệt. Bồ Tát Không đạt biết rõ như vậy
thì gọi là Vô sanh nhẫn. Nếu có chơn trí huệ như vậy thì
gọi là Bồ Tát được Vô sanh nhẫn.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Nếu Bồ Tát thành tựu đầy đủ hai
thứ trang nghiêm công đức trí huệ quán hai sự nầy bình
đẳng không hai, dầu biết như vậy mà không nói là tôi biết,
cũng ở nơi sự biết ấy không tham trước, đây gọi là Vô
sanh nhẫn.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát thân ý tịch tĩnh quán
pháp tịch tĩnh, pháp tịch tĩnh rồi quán Bồ đề tịch tĩnh,
Bồ đề tịch tĩnh rồi quán nhẫn tịch tĩnh, cũng chẳng
theo kia chẳng trụ trước nội ngoại, đây gọi là Bồ Tát
Vô sanh pháp nhẫn”.
Lúc
Bất Thuấn đại Bồ Tát nói pháp ấy, trong chúng của Bất
Thuấn đại Bồ Tát có năm trăm Bồ Tát được Vô sanh pháp
nhẫn.
Ðức
Phật phán khen: “Lành thay, lành thay, nầy Bất Thuấn! Như
lời ngươi diễn nói về vô sanh pháp nhẫn tức là chơn thiệt
chư Phật thuở trước đã nói.
Lại
nầy thiện nam tử! Bồ Tát nếu được tâm tự tại thì được
nhứt thiết chư pháp tự tại tam muội. Thế nào gọi là tâm
tự tại?
Nầy
thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát xa lìa tham ái được thân Thiên
Ðế Thích hoặc được thân Chuyển Luân Vương, dầu vì vô
lượng chúng sanh nói sự vui ngũ dục, nhưng nội tâm diệt
chẳng tham trước thế dục, đây gọi là Bồ Tát tâm được
tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát tu tập tam muội Tứ vô
lượng tâm, lúc cầu sanh các hữu chẳng dùng tâm các hữu
mà dùng tâm trí huệ. Dầu sanh Dục giới mà chẳng nhơn nơi
dục tâm, tâm ấy chẳng hề xa lìa Tam bửu thường tu tập
trang nghiêm sáu Ba la mật, dùng Tứ nhiếp pháp nhiếp lấy
chúng sanh, vì điều phục chúng sanh mà tu tập Ba mươi bảy
phẩm trợ đạo, đây gọi là Bồ Tát tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát tu tập không vô tướng
vô nguyện, tự mình chẳng chứng không vô tướng vô nguyện
mà vì chúng sanh diễn nói ba môn giải thoát ấy, vì điều
phục hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật mà nhập vô sanh chánh định
các môn tam muội rồi vì họ thuyết pháp, họ được nghe
pháp rồi liền được giải thoát, mà mình thì không chứng
đó, cũng làm cho chúng sanh chẳng bỏ bồ đề, đây gọi là
Bồ Tát tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát vì điều phục hàng Thanh
Văn và Bích Chi Phật mà nhập khối vô sanh diệt chánh định,
cũng được diệt tận định, còn có thể thông đạt tất
cả tam muội xuất nhập hành tướng, dầu được thông đạt
tự tại như vậy mà chẳng chứng nơi diệt tận định, tại
sao, vì chưa đầy đủ Phật pháp vậy, đây gọi là Bồ Tát
tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát dùng trí bình đẳng quán
sát pháp giới, các thứ thế gian, các loại chúng sanh, các
thứ thuyết pháp, các thứ phương tiện, đây gọi là Bồ
Tát tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát sanh trời trường thọ chưa
hết tuổi thọ trời mà thân cũng sanh trong loài đoản mạng
vì để điều phục các chúng sanh, đây gọi là Bồ Tát tâm
được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đồng với hạnh Thanh Văn
và Bích Chi Phật mà tâm hộ niệm đạo Bồ đề cũng tu hạnh
vi diệu Bồ đề, vì hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật mà tùy
ý thuyết pháp nhưng chẳng chứng, đây gọi là Bồ Tát tâm
được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát khéo hiểu tám vạn bốn ngàn
pháp môn, cũng thông đạt phiền não hành xứ, vì đoạn dứt
phiền não cho các chúng sanh nên ở trong ấy thuyết pháp mà
chẳng bị các phiền não làm nhiễm ô, đây gọi là Bồ Tát
tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đầy đủ thần thông, nếu
có các chúng sanh đui điếc què thọt, đại Bồ Tát tự biến
thân đồng như họ mà thuyết pháp cho họ, đây gọi là Bồ
Tát tâm được tự tại.
Lại
nầy thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đầy đủ trí huệ thông
đạt ngoại điển khéo hiểu tà luận, mà nội tâm chẳng
bị tà kiến, chỉ vì muốn điều phục chúng sanh mà học
tập đạo ấy, đây gọi là Bồ Tát tâm được tự tại.
Nầy
thiện nam tử! Bồ Tát đầy đủ các sự như vậy thì gọi
là tâm tự tại, cũng gọi là được nhứt thiết chư pháp
tự tại tam muội”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Bất Thuấn đại Bồ Tát được tam muội ấy đã bao lâu?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Tu Bồ Ðề! Quá khứ vô lượng a tăng
kỳ kiếp, bấy giờ có Phật hiệu Tự Tại Vương Như Lai,
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư,
Phật Thế Tôn, thế giới ấy tên Tịnh, kiếp ấy cũng tên
là Tịnh. Quốc độ ấy bằng phẳng thất bửu trang nghiêm
như Trời Ðâu Suất, món ăn vật uống đều sung túc, các
chúng sanh cõi ấy không có tham dục sân hận ngu si, phần đông
có trí huệ hiểu được lời Phật dạy, tất cả đều có
chí nguyện Ðại thừa vô thượng. Pháp hội của Phật Tự
Tại Vương có tám vạn bốn ngàn Bồ Tát, ba vạn hai ngàn
Thanh Văn. Lúc ấy thế gian có Chuyển Luân Thánh Vương tên
Quảng trì hiệu là Pháp Vương có đủ thất bửu là luân
bửu, tượng bửu, mã bửu, nữ bửu, châu bửu, binh bửu và
chủ tạng bửu, đủ ngàn Vương Tử, trị tứ thiên hạ chỉ
dùng chánh pháp không dùng dao gậy, thương mến chúng sanh dạy
họ thập thiện nghiệp, tất cả chúng sanh ấy cũng thích
thọ trì. Bấy giờ ngàn Vương Tử đều phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Thánh Vương Quảng Trì cúng dường
đức Như Lai Tự Tại Vương cùng chúng Bồ Tát chúng Thanh
Văn tất cả đại chúng những món ăn uống thuốc men giường
ghế y phục, những vật cần dùng mãn một vạn năm rồi,
nhà vua phát tâm Vô thượng Bồ đề vì vô thượng đạo mà
tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Ðức Phật Tự Tại Vương
thọ tám vạn bốn ngàn tuổi. Vua có một Vương Tử tên là
Pháp Ngữ do tín tâm mà xuất gia trong Phật pháp ấy siêng
tu tinh tiến thanh tịnh trì giới vì được Vô thượng Bồ
đề đạo. Pháp Ngữ Tỳ Kheo trong thời gian hai vạn năm không
ngủ dầu chỉ là khoảng khảy ngón tay, chẳng sanh tâm tham
tâm sân tâm si, cũng không có những giác quán bất thiện,
chẳng nhớ tướng đến cha mẹ, thân tộc, quyến thuộc, ăn
uống, y phục, phòng nhà, ngọa cụ, vật cần dùng, cũng chẳng
hay biết tướng ngày tướng đêm. Trong hai vạn năm thường
tu niệm Phật. Do siêng tu tinh tiến mà Pháp Ngữ Tỳ Kheo được
Tứ Thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định. Quá hai
vạn năm, Pháp Ngữ Tỳ Kheo đến chỗ Phật đầu mặt đảnh
lễ hữu nhiễu ba vòng đứng qua một phía bạch Phật rằng:
Bạch đức Thế Tôn! Tôi phát tâm Vô thượng Bồ Ðề vì
ban cho tất cả chúng sanh sự an vui, vì muốn điều phục tất
cả chúng sanh. Mong đức Thế Tôn thương xót chỉ bảo cho
tôi làm thế nào được có thể giáo hóa chúng sanh tuyên nói
chánh pháp. Ðức Tự Tại Vương Phật nói: Nầy Pháp Ngữ!
Có tám môn đà la ni, nếu thành tựu thì được vô ngại ngữ
có thể thuyết pháp cho chúng sanh. Những gì là tám? Một là
niệm Phật vì biết pháp thân vậy, hai là niệm Pháp vì biết
tịnh pháp vậy, ba là niệm Tăng vì biết vô ngại vậy, bốn
là chơn thiệt tư duy vì phá ác giác quán vậy, năm là biết
chữ vì bất khả thuyết vậy, sáu là tu xa ma tha vì biết
các pháp đồng nhứt vị vậy, bảy là tu tỳ bà xá na vì
biết các pháp bổn tánh thanh tịnh vậy và tám là tu phương
tiện trí vì được nhẫn vậy. Nầy Tỳ Kheo! Có đủ tám
môn đà la ni ấy thì kham có thể tuyên nói chánh pháp giáo
hóa chúng sanh. Nầy Tỳ Kheo! Còn có tám tinh tiến mà Bồ Tát
có đủ thì có thể tuyên nói chánh pháp giáo hóa chúng sanh.
Một là cầu pháp siêng tinh tiến, hai là trì pháp siêng tu
tinh tiến, ba là quán pháp siêng tu tinh tiến, bốn là thuyết
pháp siêng tu tinh tiến, năm là hộ pháp siêng tu tinh tiến,
sáu là cúng dường Pháp sư siêng tu tinh tiến, bảy là thủ
hộ người thọ pháp siêng tu tinh tiến và tám là như pháp
mà trụ siêng tu tinh tiến. Nầy Tỳ Kheo! Còn có tám pháp Bồ
Tát có đủ thì có khả năng giáo hóa chúng sanh: Một là tu
từ vì bình đẳng quán chúng sanh vậy, hai là tu bi vì điều
phục chúng sanh vậy, ba là quán pháp vì được pháp vô thượng
vậy, bốn là quán trí vì phá kiêu mạn vậy, năm là hộ các
chúng sanh vì ban an lạc vậy, sáu là thiện tư duy vì phá các
phiền não vậy, bảy là tu pháp trợ đạo vì trang nghiêm Bồ
đề vậy và tám là hộ pháp vì đầy đủ lục độ vậy.
Nầy Tỳ Kheo Pháp Ngữ! Ðại Bồ Tát nếu có thể đầy đủ
những pháp như vậy thì có thể giáo hóa tất cả chúng sanh.
Tỳ
Kheo Pháp Ngữ nghe pháp ấy rồi trong thế gian một vạn năm
nhiếp tâm tư duy siêng tu tinh tiến vì để được những pháp
ấy. Do tinh tiến nên được vô tận khí đà la ni giỏi hiểu
ngữ ngôn của tất cả chúng sanh rồi theo ngữ ngôn của mỗi
loài mà thuyết pháp. Ðược đà la ni ấy rồi lại được
vô tận biện tài. Ðược các pháp như vậy rồi Tỳ Kheo Pháp
Ngữ du hành khắp các nước các thành ấp tụ lạc giáo hóa
vô lượng chúng sanh an trụ tam thừa đạo, vì cha mẹ tôn
tộc quyến thuộc thuyết pháp đều làm cho tất cả được
tùy thuận pháp nhẫn. Tỳ Kheo Pháp Ngữ lại đến chỗ đức
Tự Tại Vương Phật đầu mặt đảnh lễ đi nhiễu ba vòng
đứng qua một phía mà bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Như
trước kia đức Phật đã dạy bảo tôi do đó đã chứng được
Phật thần lực đã được Thánh trí huệ. Bạch đức Thế
Tôn! Còn có tam muội gì mà Bồ Tát tu tập rồi được bất
thối chuyển tăng trưởng thiện pháp chăng? Ðức Tự Tại
Vương Phật nói: Nầy Tỳ Kheo, có tam muội tên là nhứt thiết
pháp tự tại, Bồ Tát tu tập rồi thì tâm chẳng thối chuyển
cũng được tăng trưởng thìện pháp. Tỳ Kheo Pháp Ngữ nghe
tên tam muội nhứt thiết pháp tự tại ấy liền bạch đức
Tự Tại Vương Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ Tát hành
thế nào tu thế nào học thế nào để có thể được tam
muội ấy? Ðức Phật nói: Nầy Tỳ Kheo! Có tám pháp tám trang
nghiêm và tám phát tâm, Bồ Tát có đủ thì được tam muội
ấy.
Những
gì là tám pháp? Ðó là tịnh tâm, chí tâm, thí tâm, ly phiền
não tâm, quán lục giới, tu nhẫn, siêng tinh tiến và tu chánh
định thân tâm tịch tĩnh.
Những
gì là tám trang nghiêm? Ðó là xả, giới, công đức, trí,
xa ma tha, tỳ bát xá na, phá Bồ đề tâm và trang nghiêm tất
cả Phật pháp.
Những
gì là tám phát tâm? Ðó là phát tâm không có chúng sanh thọ
mạng sĩ phu nhẫn đến cũng không có chư Phật. Phát tâm tất
cả các pháp vô thường khổ vô ngã. Phát tâm tất cả các
pháp không vô tướng vô nguyện. Phát tâm pháp vị lai không
có trụ xứ. Phát tâm hiện tại các pháp không có trụ xứ.
Phát tâm tất cả các pháp không có nghiệp nhơn quả báo.
Phát tâm tất cả các pháp không có tác giả không có thọ
giả. Phát tâm tất cả các pháp không có hệ thuộc. Bồ Tát
có đủ tám pháp tám trang nghiêm và tám phát tâm như vậy
thì có thể được nhứt thiết pháp tự tại tam muội.
Nghe
rồi, Tỳ Kheo Pháp Ngữ tinh tiến tu tập chẳng lâu liền được
nhứt thiết pháp tự tại tam muội ấy. Ðược tam muội rồi
Tỳ Kheo ấy phóng quang minh chiếu khắp Ðại Thiên thế giới.
Tỳ Kheo Pháp Ngữ lại đến chỗ đức Phật đảnh lễ hữu
nhiễu ba vòng thăng lên hư không cao một cây đa la ngồi kiết
già mãn một ngàn năm chẳng động chẳng lay dùng pháp hỉ
làm món ăn, được trí lạc thuyết vô ngại làm cho ba vạn
sáu ngàn ức chúng sanh được tâm bất thối chuyển, vô lượng
chúng sanh an trụ tam thừa. Quá một ngàn năm, Tỳ Kheo Pháp
Ngữ rời chỗ ngồi bạch đức Tự Tại Vương rằng: Bạch
đức Thế Tôn! Ðức Như Lai do siêng năng tinh tiến mà được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chớ chẳng phải là do giải
đãi. Ðức Tự Tại Vương Phật bảo Tỳ Kheo Pháp Ngữ rằng:
Nầy thiện nam tử! Ngươi đã ở trong vô biên vô lượng đời
thành tựu vô lượng vô biên công đức nên mau được thần
thông như vậy. Nầy thiện nam tử! Thuở trước ông đã ở
chỗ bảy vạn sáu ngàn ức chư Phật trồng các căn lành tịnh
tu phạm hạnh, do thiện căn quá khứ ấy mà được thiện
quả hôm nay vậy”.
Ðức
Phật bảo Tôn giả Tu Bồ Ðề: “Nầy Tu Bồ Ðề! Ông có
biết thuở xa xưa nơi đức Phật Tự Tại Vương ở Tịnh
thế giới trong Tịnh kiếp, Tỳ Kheo Pháp Ngữ được nhứt
thiết pháp tự tại tam muội là người nào chăng? Chính là
đại Bồ Tát Bất Thuấn đây vậy. Ðại Bồ Tát nầy đã
được vô lượng vô biên công đức”.
Lúc
đức Thế Tôn vì Tôn giả Tu Bồ Ðề nói nhơn duyên thuở
trước của đại Bồ Tát Bất Thuấn, có ba vạn hai ngàn chúng
sanh phát tâm Vô thượng Bồ Ðề. Trên hư không, chư Thiên
Long Bát Bộ mưa những hoa hương để cúng dường Bất Thuấn
đại Bồ Tát mà đồng thanh nói rằng: “Chúng tôi hôm nay
thấy đại Bồ Tát Bất Thuấn này được lợi ích rất lớn”.
Bấy
giờ Tôn giả Tu Bồ Ðề nói với Bất Thuấn đại Bồ Tát:
“Ðại Sĩ từ lâu đã tu phạm hạnh thanh tịnh”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề! Luận
về phạm hạnh chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại. Nếu
chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại tức là vô tác, nếu
là vô tác thì gọi là hạnh. Hạnh như vậy gọi là vô sanh,
gọi là vô tranh, không có ngôn thuyết và oai nghi. Thưa Ðại
Ðức! Vì chẳng phải nhãn hành nên gọi lả phạm hạnh, vì
chẳng phải nhĩ tỹ thiệt thân và ý hành nên gọi là phạm
hạnh. Vì chẳng phải sắc hành nên gọi là phạm hạnh, vì
chẳng phải thanh, hương, vị, xúc và pháp hành nên gọi là
phạm hạnh. Cũng vì chẳng phải sắc, thọ, tưởng, hành và
thức hành nên gọi là phạm hạnh. Phạm hạnh ấy chẳng phải
tướng, chẳng phải duyên, chẳng phải kiến, chẳng phải
văn, chẳng phải tri, chẳng phải giác.
Thưa
Ðại Ðức! Các pháp như vậy không có đi đến không có đứng
dừng, không có kéo níu, không có số lượng, không có trên
duới, đây gọi là phạm hạnh vậy”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: Thưa Ðại Sĩ! Phạm hạnh ấy gọi là
bát chánh đạo”.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Thế nào
phạm hạnh gọi là bát chánh đạo?
Thưa
Ðại Ðức! Nếu lấy chánh kiến làm phạm hạnh ấy, chẳng
thấy các pháp gọi là chánh kiến, bình đẳng thấy các pháp
gọi là chánh kiến, thấy chẳng thấy mới gọi là chánh kiến.
Nếu chẳng thấy thì thế nào được gọi là chánh kiến ư!
Nếu không có chánh kiến thì thế nào được gọi là phạm
hạnh ư!
Không
có tư duy gọi là chánh tư duy, luận về người có tư duy
thì gọi là điên đảo. Nếu điên đảo thì thế nào được
nói là chánh tư duy ư! Nếu không có chánh tư duy thì thế
nào được gọi là phạm hạnh ư!
Tất
cả âm thanh thảy đều bình đẳng. Hoặc thiện hoặc ác một
hoặc hai hoặc quá khứ hoặc vị lai hoặc hiện tại hoặc
tất cả chữ hoặc tất cả tiếng đều gọi là như hưởng
vang, nếu là hưởng vang ấy thì thế nào được nói là chánh
ngữ ư! Tất cả ấm thanh bình đẳng ấy, tất cả hành pháp
đều vô thường khổ vô ngã là Niết bàn tịch tĩnh, nếu
có thể bình đẳng quán tất cả các pháp như tướng Niết
bàn và người diễn thuyết ấy cũng như vậy thì gọi là
chánh ngữ.
Không
có thân không có thân nghiệp, không có khẩu không có khẩu
nghiệp, không có ý không có ý nghiệp, tại sao, vì không có
nghiệp xứ vậy. Nếu có nghiệp xứ thì là có ngã và ngã
sở. Nếu không có ngã ngã sở thì không có nghiệp quả. Quán
như vậy thì gọi là chánh nghiệp.
Nếu
vì sống còn mà làm tà mạng, xa lìa tà mạng thì gọi là
chánh mạng. Nếu quán tất cả không ngã ngã sở không có
chúng sanh thọ mạng sĩ phu. Như kia đã không có thì thế nào
được gọi là chánh mạng ư! Nơi nhãn thức sắc chẳng sanh
nhiễm trước, nhãn thức tánh rỗng không, vì nhãn thức tánh
không nên nhãn và sắc cũng rỗng không. Nếu nhãn sắc và
thức rỗng không đến ý pháp và thức cũng rỗng không như
vậy. Quán như đây thì gọi là chánh mạng.
Không
có điên đảo đoạn dứt các tinh tiến gọi là chánh tinh
tiến: không có pháp tinh tiến, không có người tinh tiến,
không có đầy đủ thành tựu tinh tiến, không có tinh tiến
làm lợi ích ấy. Nếu có thể quán sát các pháp như vậy
thì gọi là chánh tinh tiến.
Nếu
có thể khắp niệm tất cả pháp bình đẳng như hư không,
tất cả các pháp ấm nhập giới cũng như như vậy. Nếu có
thể quán các pháp như vậy thì gọi là chánh niệm.
Quán
tất cả pháp đều bình đẳng không có ngã không có ngã sở,
nếu có thể bình đẳng quán tất cả các pháp như vậy thì
gọi là chánh định.
Thưa
Ðại Ðức! Nếu có thể quán tất cả pháp tánh bình đẳng
như vậy thì gọi là bát chánh đạo, gọi là phạm hạnh.
Chẳng phải lấy số mà gọi lả bát chánh đạo, chẳng phải
bát chánh đạo mà gọi là phạm hạnh, chẳng phải vì đạo
thế tục mà gọi là phạm hạnh, chẳng phải vì chấp tâm
mà gọi là phạm hạnh, chẳng phải vì hai tướng mà gọi
là phạm hạnh, nếu thấy các pháp không có trụ xứ mới
gọi là phạm hạnh vậy”.
Lúc
Bất Thuấn đại Bồ Tát vì đại chúng mà nói phạm hạnh
như vậy, có năm trăm Tỳ Kheo lìa các phiền não được quả
A La Hán.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề nói: “Lành thay, lành thay! Ðại Sĩ rất giỏi
nói pháp ấy như bực A La Hán lìa các phiền não nói không
có khác.
Bất
Thuấn đại Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề! Nay
tôi cũng là bực lìa phiền não, cũng là A La Hán, tôi cũng
xa lìa các pháp Thanh Văn Duyên Giác phiền não. Tôi như pháp
trụ nên gọi là A La Hán”.
Tôn
giả Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Bất Thuấn đại Bồ Tát nầy lại thuyết vô ngại chẳng
thể nghĩ bàn biện tài lợi ích tùy chỗ hỏi mà đáp”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Tu Bồ Ðề! Bất Thuấn Bồ Tát được
nhứt thiết pháp tự tại tam muội, vì vậy nên có thể tùy
chỗ hỏi mà đáp. Nếu Bồ Tát được tam muội ấy thì tất
cả thế gian Trời, Người, Ma, Phạm, Sa Môn, Bà La Môn không
ai có thể chướng ngại được lạc thuyết vô ngại của
Bồ Tát ấy”.
Thiên
Ðế Thích bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu có
người trong vô lượng đời đầy đủ công đức mới thấy
được Bất Thuấn đại Bồ Tát và nghe thuyết pháp. Bạch
đức Thế Tôn! Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu
Bà Di thọ trì kinh nầy đọc tụng thơ tả giải nói cho người,
và người nghe pháp đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, nên biết các hạng người nầy sẽ như Bất Thuấn
đại Bồ Tát làm sư tử hống. Bạch đức Thế Tôn! Ðế
Thích tôi sẽ ủng hộ các người ấy”.
Ðức
Phật phán dạy: “Lành thay, lành thay, Kiều Thi Ca! Nay ông
có thể chí tâm hộ trì chánh pháp như vậy”.
Phạm
Vương bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi sẽ thích
tu xả định tam muội rời bỏ vui thiền định để đến
hộ trì Phật pháp và người thuyết pháp cho họ lìa bịnh
khổ. Tùy quốc độ nào mà có chỗ thuyết pháp tôi sẽ thọ
sanh nơi ấy chí tâm nghe pháp và thọ trì. Nếu có quốc độ
nào nghe thọ kinh nầy và cúng dường tam bảo, tôi cũng trừ
diệt ác tướng nơi ấy, cho quốc độ ấy thanh tịnh an vui
chánh pháp được lưu truyền giáo hóa rộng rãi”.
Ðức
Phật phán khen: “Lành thay, lành thay, Phạm Vương chơn thiệt
hộ pháp. Nếu có người có thể hộ pháp như vậy phải biết
người ấy trọn chẳng xa lìa Tam bửu”.
Tứ
Thiên Vương bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi
cũng có thể thủ hộ người thọ trì đọc tụng thơ tả
giải thuyết pháp thậm thâm nầy”.
Ðức
Phật phán dạy: “Lành thay, lành thay, nầy các thiện nam tử!
Nếu người biết rõ chánh pháp thì người ấy mới có thể
ủng hộ pháp nầy. Các ông ở chỗ Phật được nghe pháp
rồi liền được pháp nhãn dứt các ác đạo, nếu lại chí
tâm hộ trì chánh pháp thì chẳng lâu sẽ dứt tất cả các
hữu”.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan: “Nầy A Nan! Ông nên
thọ trì kinh điển như vậy vì bốn hộ chúng mà nói rộng
nghĩa ấy".
Tôn
giả A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi có thể
thọ trì kinh điển như vậy đúng nhu lời Phật dạy rộng
vì tứ chúng mà tuyên nói phân biệt giải thích”.
Ðức
Phật nói kinh nầy rồi, Trời Rồng Bát Bộ tất cả đại
chúng nghe lời đức Phật dạy đều rất vui mừng đồng thanh
khen rằng: Lành thay, lành thay!
Pháp
Hội Bất Thuấn Bồ Tát - Thứ Năm Mươi Ba
Hết