Như vậy,
tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn Kỳ
Thọ Cấp Cô Ðộc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm người
câu hội.
Ðại Bồ
Tát tám ngàn người, tất cả đều là tri thức của
mọi người.Các Ngài đã được đà la ni vô ngại biện tài,
có đủ các nhẫn hàng phục ma oán đến các pháp đã được
của Như Lai.
Danh hiệu
của các Ngài là : Trì Thế Bồ Tát, Trì Ðạo Bồ Tát, Trì
Ðịa Bồ Tát, Trì Ðại Ðịa Bồ Tát, Lạc Ý Bồ Tát, Linh
Tín Lạc Bồ Tát, Diệu Sắc Trang Nghiêm Bồ Tát, Bửu Diệm
Bồ Tát, Bửu Tràng bồ Tát, Bửu Tư Bồ Tát, Bửu Xứ Bồ
Tát, Bửu Huệ Bồ Tát, Bửu Ðức Bồ Tát, Bửu Quang bồ Tát,
còn có chư Bồ Tát Hiền Kiếp mà Di Lặc Bồ Tát làm thượng
thủ, còn có sáu mươi vô đẳng dụ tâm chư Bồ Tát mà Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát làm thượng thủ, còn có mười sáu Ðại
Sĩ mà Hiền Hộ Bồ Tát làm thượng thủ, còn có hai vạn
Thiên Tử Ðâu Suất đều ở trong pháp hội.
Bấy giờ
đức Thế Tôn ngồi tòa sư tử Ðại Trang Nghiêm Tạng, vô
lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, quang minh chiếu sáng
như nhựt nguyệt, oai đức thù thắng như Ðế Thích Phạm
Vương, cao vọi vượt chúng như núi Tu Di, tia sáng chói rực
như lửa đuốc lớn, nhìn ngó an tường như đại tượng vương,
thuyết pháp vô úy như sư tử hống, che trùm đại chúng như
La Hầu La Vương, tướng hảo trang nghiêm oai quang xí thạnh,
phát xuất phạm âm vang khắp tam thiên Ðại Thiên thế
giới, vì muốn giác ngộ tất cả chúng sanh khiến đều an
trụ thắng nghĩa quyết định nên ở giữa đại chúng rộng
tuyên pháp yếu.
Ái nữ của
vua Ba Tư Nặc tên Tịnh Tín tuổi còn ấu trĩ, dung mạo đoan
nghiêm được mọi người ưa nhìn, đời trước gieo trồng
gốc lành tu tập đại thừa, cùng năm trăm đồng nữ sau trước
vây quanh tay cầm vòng hoa xuất thành Xá Vệ tiến đến rừng
Kỳ Ðà đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng đứng qua
một phía. Rồi ở trước Phật, nàng nói kệ rằng :
“ Lâu tích
phước thiện nghiệp thanh tịnh
Ðầy đủ
vô biên biển công đức
Khiến chúng
tin ưa đều vui mừng
Nên tôi
đảnh lễ đấng Mâu Ni
Hiển hiện
oai quang tướng kỳ đặc
Khai thị
pháp môn tạng trân bửu
Thân quang
một tấm thường chiếu sáng
Tôi lễ
Ðại Huệ ao thanh lương
Cây to công
đức phước vô tận
Tối tôn
trong người đời khen ngợi
Bổn nguyện
giới hạnh đã viên mãn
Nên tôi
đảnh lễ đấng Ứng Cúng
An trụ diệu
pháp thường yên lặng
Lòng thương
chúng sanh như con một
Trí huệ
thiện xảo biết các hành
Chỉ đường
bình thản như Ðạo Sư
Nếu có
người kiên cố dũng mãnh
Từ bi lợi
ích loài chúng sanh
Bồ Tát
như vậy chánh tu hành
Duy nguyện
Như Lai tuyên dạy họ
Thế nào
sẽ được sức vững chắc
An trụ sanh
tử hàng phục ma
Thế nào
sẽ được pháp bình đẳng
Thế nào
thành thục các chúng sanh
Thế nào
như địa như hư không
Như phong
như thủy cũng như hỏa
Thế nào
tín tâm ở nơi pháp
Như Tu Di
Vương Sư Tử Vương
Thế nào
xa rời lòng ghét thương
Tâm sạch
trách trực không siểm khúc
Thế nào
xuất sanh thí giới nhẫn
Tinh tiến
thiền định và giải thoát
Trí huệ
phá các phiền não tối
Mà thường
an lạc đại phương tiện
Tam muội
tổng trì vô ngại biện
Trụ tứ
vô lượng ngũ thần thông
Thế nào
được ở gần chư Phật
Thường
thọ hóa sanh hóa túc mạng
Ðầu đà
vô tránh ở lan nhã
Ðiều phục
tâm mình dứt phiền não
Trì giới
tu tập đạo Bồ đề
Chứng đạo
cam lồ hàng ma oán
Thí chúng
an lạc chuyển pháp luân
Chánh đạo
như vậy nguyện tuyên nói”.
Ðức Thế
Tôn bảo Tịnh Tín đồng nữ rằng : “ Bồ Tát nếu thành
tựu được tám sức lực thì ở trong sanh tử kiên cố dũng
mãnh không mỏi mệt.
Một là sức
chí nguyện vì không dua dối. Hai là sức thắng giải vì lìa
các ác. Ba là sức gia hạnh vì thường tu điều lành. Bốn
là sức tịnh tín thâm tín nghiệp báo. Năm là sức Bồ đề
tâm vì chẳng cầu Tiểu thừa. Sáu là sức đại từ vì chẳng
hại chúng sanh. Bảy là sức đại bi và kham nhẫn các ác.
Tám là sức thiện hữu vì luôn luôn cảnh giác. Nầy đồng
nữ ! Ðây gọi là tám sức lực, nếu Bồ Tát thành tựu sức
lực nầy thì kiên cố dũng mãnh ở trong sanh tử không nhiễm
trước”.
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
“Chí nguyện
dũng mãnh
Rời lìa
siễm cuống
Thường
hành chất trực
Ðúng đường
Bồ đề
Dùng sức
thắng giải
Xa lìa các
ác
Thuần tu
hạnh lành
An trụ chánh
cần
Gia hạnh
đầy đủ
Hằng khéo
quan sát
Tinh tiến
kiên cố
An lạc chúng
sanh
Do sức tịnh
tín
Biết rõ
nghiệp báo
Tin nơi Phật
trí
Nhiếp thọ
thế gian
Sức tâm
Bồ đề
Xa lìa Tiểu
thừa
Chẳng dứt
Phật chủng
An trụ pháp
tánh
Do sức đại
từ
Bình đẳng
chúng sanh
Không yêu
không ghét
Chẳng làm
giận hại
Do sức đại
bi
Chịu được
các ác
chẳng nhiễm
sanh tử
Cũng không
mỏi mệt
Do sức thiện
hữu
Thường
cảnh tỉnh nhau
Lòng chẳng
thối chuyển
An trụ Bồ
đề
Người tinh
tiến tu
Ðược tám
sức nầy
Sẽ ngồi
đạo tràng
Phá các
chúng ma
Lại nầy
đồng nữ ! Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên an
trụ nơi bình đẳng :
Một là tất
cả chúng sanh bình đẳng vì bổn vô ngã. Hai là tất cả pháp
bình đẳng vì các pháp tịch tĩnh. Ba là tất cả thế giới
bình đẳng vì đều nhập vào không giới. Bốn là tất cả
trí bình đẳng vì bình đẳng thuyết pháp.Năm là tất cả
hành bình đẳng vì nhơn duyên vô tánh. Sáu là tất cả thừa
bình đẳng vì đồng vô vi. Bảy là tất cả tâm bình đẳng
vì tâm như huyễn. Tám là tất cả ma bình đẳng vì phiền
não làm trước bất khả đắc. Ðây là tám pháp an trụ bình
đẳng ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Chúng
sanh bổn vô ngã
Niệm niệm
bất khả đắc
Người an
trụ bình đẳng
Phải quan
sát như vậy
Tất cả
pháp bình đẳng
Bổn tánh
thường không tịch
Văn tự
có phân biệt
Các pháp
vốn không khác
Mười phương
các quốc độ
Biên tế
bất khả đắc
Tánh nó
như hư không
Phật quốc
thường bình đẳng
Tam thế
chư Như Lai
Trụ pháp
giới bình đẳng
Vô biên
trí giải thoát
Chư Phật
đều như vậy
Chúng sanh
bổn duyên khởi
Tất cả
đều bình đẳng
Khéo biết
họ sở hành
Dùng chỗ
khai ngộ họ
Chúng sanh
bao nhiêu thứ
Biết rõ
như huyễn hóa
Trong ngoài
vô sở thủ
Tự tánh
thường thanh tịnh
Các thừa
nói các pháp
Tánh vô
vi bình đẳng
Ðạo Sư
thiện phương tiện
Phân biệt
nói ba thừa
Hiện ở
phiền não ma
Phiền não
vô sở hữu
Thiên ma
uẩn tử ma
Cảnh giới
nó đều không
Lại nầy
đồng nữ ! Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên rời lìa
ghét thương :
Một là từ,
hai là bi, ba là thường làm lợi ích, bốn là chẳng nhiễm
thế pháp, năm là chẳng luyến thân mình, sáu là thường tu
định tâm, bảy là xả ly thân mạng, tám là quan sát phiền
não. Tu tám pháp nầy thì có thể rời lìa ghét thương
vậy ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Mặc vững
giáp từ tâm
Thương xót
tất cả loài
An trụ tâm
bình đẳng
Thì chẳng
sanh yêu ghét
Người trí
làm lợi ích
Thường
ban cho an vui
Ðược lợi
chẳng tự cao
Bị khi chẳng
sanh giận
Chẳng bị
tám gió động
Thì chẳng
sanh yêu ghét
Với mình
và với người
Chẳng nghĩ
tưởng ghét yêu
Ðều bỏ
lìa ý tưởng
không luyến
trước cảnh giới
Thường
tự xem thân mình
Chẳng luyến
tiếc thân mạng
Người trí
nơi khổ vui
Bất động
như hư không
Khéo quan
sát phiền não
Lìa cả
ngã ngã sở
Gìn lòng
hằng như đất
Thì chẳng
sanh yêu ghét
Lại nầy
đồng nữ ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên ở trong sanh
tử không có mỏi mệt :
Một là vì
thiện căn quảng đại. Hai là vì quan sát chúng sanh.
Ba là vì thường được thấy Phật sắm đồ cúng dường.
Bốn là vì được thấy vô lượng Phật độ. Năm là
vì thường cầu Phật trí. Sáu là vì biết rõ sanh tử
như mộng. Bảy là vì đối với pháp thù thắng không
khiếp nhược. Tám là quan sát tiền tế và hậu tế đồng
như thiệt tế ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Nếu những
người hành đạo
Tu lành không
vết nhơ
Như không
nguyệt thanh tịnh
Ðộ thoát
khổ chúng sanh
Vì nhiếp
các công đức
Ở sanh tử
không mệt
Quan sát
tánh chúng sanh
Bền vững
tu tinh tiến
Nơi vô lượng
Phật độ
Cung kính
cúng dường Phật
Thế nên
bực thập lực
Ở sanh tử
chẳng mỏi
Vô lượng
vô biên đời
Thuyết bất
tư nghì pháp
Chẳng dứt
giống Tam bửu
Sẽ thành
giống Pháp Vương
Người kiên
trì cấm giới
Ở sanh tử
chẳng mệt
Biết rõ
tánh sanh tử
Như mộng
như mây chớp
Nơi pháp
được giải thoát
Ở sanh tử
chẳng mỏi
An trụ nơi
Bồ đề
Lòng mừng
luôn vui vẻ
Ðến nơi
bờ phương tiện
Ở sanh tử
không mệt
Thường
tu pháp thù thắng
Như không
nguyệt thêm tròn
Ưa thích
Phật công đức
Ở sanh tử
chẳng mỏi
Sanh tử
không biên tế
Thường
an trụ thiệt tế
Một niệm
huệ tương ưng
Ở sanh tử
không mệt
Lại nầy
đồng nữ ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên tâm giới bình
đẳng :
Một là tâm
như địa. Hai là tâm như thủy. Ba là tâm như hỏa.
Bốn là tâm như phong. Năm là tâm như hư không. Sáu
là tâm đồng pháp giới. Bảy là tâm đồng giải thoát.
Tám là tâm đồng Niết bàn. Ðây gọi là tám thứ tâm
giới bình đẳng ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Tâm bình
đẳng như đất
Gánh chở
tất cả loài
Với thiện
và với ác
Không có
chỗ tăng giảm
Tâm bình
đẳng như thủy
Rửa sạch
các cấu dơ
Dưỡng dục
các thế gian
Trừ khô
khát phiền não
Tâm bình
đẳng như hỏa
Ðốt cháy
tiêu phiền não
Ánh sáng
như đuốc lớn
Không chỗ
nào chẳng sáng
Tâm bình
đẳng như phong
Không xứ
sở không nương
Thổi bay
hương giới văn
Khắp đến
khứ lai kim
Tâm bình
đẳng hư không
Lìa kiến
chấp thanh tịnh
Khắp nhập
vào tất cả
Mà chẳng
theo chúng ma
Tâm bình
đẳng pháp giới
Khéo được
thường an trụ
Chẳng tăng
cũng chẳng giảm
Thường
nhập vào bình đẳng
Thanh Văn
và Duyên Giác
Chỗ chứng
được giải thoát
Không còn
có trói buộc
Cũng không
có cởi trói
Sanh tử
và Niết bàn
Không lai
cũng không khứ
An trụ nơi
tịch tĩnh
Ði khắp
trong tam thế
Lại nữa,
nầy đồng nữ ! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu được
thì xuất sanh Bồ đề :
Một là bố
thí xuất sanh vì xả sở hữu vậy. Hai là trì giới xuất
sanh vì không phạm lỗi vậy. Ba là nhẫn nhục xuất sanh
vì không sân khuể vậy. Bốn là tinh tiến xuất sanh
vì chẳng giải đãi thối thất vậy. Năm là thiền định
xuất sanh vì hành phương tiện vậy. Sáu là huệ xuất
sanh vì thọ trì đa văn vậy. Bảy là phạm trụ xuất
sanh vì giải thoát tịch tĩnh vậy. Tám là thần thông
xuất sanh vì thường tại chánh định vậy”.
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
“Người
thường hành bố thí
Rời lìa
tham nhiệt não
Chẳng mong
cầu quả báo
Hồi hướng
Phật bồ đề
Trì giới
tu Ðại Thừa
Ðập đánh
không sân hận
Chí cầu
đại an lạc
Trừ tập
khi chứng diệt
Bồ Tát
hành tinh tiến
Nhiều kiếp
vì chúng sanh
Chịu khổ
ở thế gian
Sức tinh
tiến tăng trưởng
Người tu
hành thiền định
Rời xa các
hí luận
Ðến bỉ
ngạn thiền định
Mà chẳng
theo thiền sanh
Ðại huệ
không gì bằng
Rời hẳn
các chấp kiến
Biết rõ
đời không tịch
Si tối dứt
không thừa
Tịch tĩnh
tu phạm trụ
Trừ sạch
các ác đạo
Thường
làm Thích Phạm Vương
Siêng tu
các nghĩa lợi
Thần thông
đạo Phật độ
Hầu Phật
nghe Phật dạy
Khéo biết
các tánh dục
Thuyết pháp
độ chúng sanh
Lại nầy
đồng nữ ! Vì thành tựu tám pháp mà Bồ Tát được đà
la ni biện tài vô ngại :
Một là
tôn trọng Phật pháp. Hai là kính thờ Hòa Thượng và
A xà Lê. Ba là cầu pháp không chán. Bốn như chỗ
được nghe mà thuyết pháp. Năm là chẳng bỏn xẻn
chánh pháp. Sáu là chẳng rao lỗi người. Bảy là
yêu kính pháp sư như Hòa Thượng. Tám là chẳng thấy
lỗi người và khuyên người chừa lỗi ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Chí nguyện
thường cầu pháp
Thờ thầy
gần thiện hữu
Rời xa ác
tri thức
Ðược vô
tận tạng trì
Ða văn không
chán đủ
Dũng mãnh
siêng cầu pháp
Như nghe
mà diễn thuyết
Chẳng mong
cầu lợi dưỡng
Ðược biện
tài thanh tịnh
Khiến chúng
đều hoan hỉ
Vui thích
làm pháp thí
Rời xa bỏn
xẻn ganh
Hành pháp
vô sở trước
Chứng được
đà la ni
Hộ giới
tự quán thân
Chẳng tìm
tội lỗi người
Từ bi làm
y chỉ
Phát ngữ
chẳng phi thời
Sẽ được
vô ngại biện
Ðến bỉ
ngạn ngôn thuyết
Với người
thuyết pháp giỏi
Yêu kính
như thầy mình
ẩn lỗi
khuyên rời lỗi
Ðược biển
vô tận trì
Lại nầy
đồng nữ ! Vì thành tựu tám pháp Bồ Tát ở trước chư
Phật liên hoa hóa sanh :
Một là dầu
cho đến mất mạng cũng chẳng nói lỗi người. Hai là
khuyến hóa chúng sanh khiến quy y Tam Bảo. Ba là an trí
tất cả nơi tâm Bồ đề. Bốn là phạm hạnh không nhiễm.
Năm là tạo lập tượng Phật đặt trên tòa sen. Sáu
là chúng sanh ưu não khiến trừ ưu não. Bảy là với
kẻ cống cao thường tự khiêm hạ. Tám là chẳng não
hại người ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
Dầu bị
khổ bức thân
Trọn chẳng
nói lỗi người
Thường
ca ngợi Tam bảo
Hóa sanh
ở trước Phật
Khuyên phát
tâm Bồ đề
Khiến cầu
Nhứt thiết trí
Thường
tu hành phạm hạnh
Hóa sanh
ở trước Phật
Vàng ròng
trang nghiêm tượng
Ðặt trên
tòa sen báu
Trừ ưu
não chúng sanh
Hóa sanh
ở trước Phật
Với kẻ
kiêu mạn kia
Khiêm hạ
như đệ tử
Chẳng để
họ não phiền
Hóa sanh
ở trước Phật
Lại nầy
Tịnh Tín ! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu công đức đầu
đà thì thường thích an trụ nơi a lan nhã :
Một là thiểu
dục. Hai là tri túc. Ba là mãn túc sở nguyện.
Bốn là dùng thiện tự bồi dưỡng. Năm là thường trì
thánh chủng. Sáu là thấy
Khổ sanh
tử lòng thường chán lìa. Bảy là hàng quán vô thường.
Tám là tín sâu vững chắc chẳng theo lời người khác ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Thiểu
dục tri túc bất phóng dật
Pháp hỉ
các thiện làm tư dưỡng
Ưa thích
thường tu nơi thánh chửng
Thấy khổ
sanh tử sanh lòng sợ
Do đó thường
thích hành đầu đà
Như tê một
sừng ở cô độc
Quán pháp
hữu vi khổ vô ngã
Huệ tâm
thâm tín trụ chánh cần
Tự thấy
nơi pháp chẳng theo người
Thường
ở không nhàn được Phât khen
Ðầu đà
viễn ly không não hoạn
Không các
tranh luận những tội lỗi
Xa lìa quyến
thuộc tuyệt khen tặng
Do đó thích
ở a lan nhã
Lại nầy
Tịnh Tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì hàng phục ma oán
:
Một là nhập
vào tánh không. Hai là tin vô tưởng. Ba là tin vô
nguyện. Bốn là biết rõ vô tác. Năm là trong không
nghi hoặc. Sáu là nhẫn nơi vô sanh. Bảy là quyết
liễu vô tánh. Tám là nơi tất cả pháp phương tiện
quan sát chẳng hoại như như ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Nơi không
vô tướng và vô nguyện
Ðược ba
giải thoát hàng ma oán
Hữu vi vô
vi không hai tướng
Chứng nơi
vô sanh được giải thoát
Các pháp
vô sanh nhẫn như vậy
Người nầy
hàng phục các ma oán
Ở trong
vô sanh vô diệt nầy
Uẩn giới
vô ngã dường như huyễn
Quyết định
biết rõ pháp vô tánh
Chẳng hoại
nơi như xảo phương tiện
Phân biệt
các pháp là nghiệp ma
Xả ly phân
biêt thì hàng ma
Trí huệ
phương tiện làm cả hai
Hoặc có
hoặc không vô sở trụ
Tu tập thắng
pháp như vậy thảy
được thiện
phương tiện diệu sắc thân.
Lại nầy
Tịnh tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chẳng rời lìa
Bồ đề :
Một là
chánh kiến vì thành thục chúng sanh tà kiến vậy. Hai
là chánh niệm vì bi mẫn chúng sanh tà niệm vậy. Ba là
chánh ngữ vì thương các chúng sanh tà ngữ vậy. . Bốn
là chánh nghiệp vì nhiếp các chúng sanh tà nghiệp vậy.
Năm là chánh tinh tiến vì độ các chúng sanh tà cần vậy.
Sáu là chánh mạng vì chẳng bỏ tà mạng chúng sanh vậy.
Bảy là chánh tư duy vì khiến chúng sanh lìa tà tư duy vậy.
Tám là chánh định vì phát khởi tăng tiến các chúng sanh
tà định vậy ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Người
thành tựu chánh kiến
Giáo hóa
kẻ tà kiến
Thường
tu hành chánh niệm
Thương xót
kẻ tà niệm
Thanh tịnh
chánh ngôn thuyết
Thương các
kẻ tà ngữ
An trụ nơi
chánh nghiệp
Nhiếp những
kẻ tà nghiệp
Thường
tu hạnh chánh cần
Chẳng bỏ
kẻ tà cần
Tương ưng
chánh tịnh mạng
Nhiếp các
kẻ tà mạn
Trí giả
chánh tư duy
Thương xót
kẻ tà tư
Thường
an trụ chánh định
Nhiếp những
kẻ tà định
Vô thượng
bát chánh đạo
An ổn qua
dòng dữ
Lại độ
kẻ phiêu lưu
Là đạo
đại Bồ đề
Thanh Văn
và Duyên giác
Bè cỏ chỉ
tự độ
Bồ Tát
rộng cứu độ
Như tối
đại thuyền trưởng
Lại nầy
Tịnh Tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chứng đạo cam
lộ
Một là an
trụ pháp vô tránh. Hai là khéo giữ tâm vô chướng ngại.
Ba là thường quán nghĩa như thiệt. Bốn là an trụ tâm
Bồ đề tu sáu niệm. Năm là tinh tấn tu tập các Ba la
mật. Sáu là chứa họp thiện căn thành thục chúng sanh.
Bảy là an trụ đại bi nhiếp thọ chánh pháp. Tám là
được vô sanh nhẫn an trụ bất thối chuyển »
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Thường
tu hạnh vô tránh
Trụ pháp
đại Sa Môn
Xa rời lỗi
sân khuể
Chứa họp
các thiện căn
Khéo quán
nghĩa chơn thiệt
Ðược những
vô tận hiện
An trụ tâm
Bồ đề
Thường
niệm nơi vô niệm
Tất cả
Ba la mật
Siêng tu
không thối chuyển
Ðược các
phương tiện lực
Do đây độ
chúng sanh
Hay đem của
Pháp Vương
Từ bi ban
tất cả
Mau chứng
vô sanh nhẫn
Bất thối
chuyển Bồ đề
Nếu tu hành
được vậy
Phật pháp
chẳng khó được
Chẳng lâu
hàng chúng ma
Chứng tối
thượng Bồ đề ».
Nghe pháp
xong, Tịnh tín đồng nữ vui mừng hớn hở bạch đức
Phật rằng : « Bạch đức
Thế Tôn
! Thành tựu mấy pháp có thể chuyển được nữ thân ? ».
Ðức Phật
dạy : « Nầy Tịnh Tín ! Thành tựu tám pháp thì có thể chuyển
nữ nhân :
Một là chẳng
ganh ghét. Hai là chẳng bỏn xẻn. Ba là chẳng dua
nịnh. Bốn là chẳng sân. Năm là thiệt ngữ.
Sáu là chẳng ác khẩu. Bảy là xả ly tham dục.
Tám là rời các tà kiến. ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
Chẳng tật
đố người khác
Lìa bỏn
xẻn ưa pháp
Chẳng có
lòng siểm cuống
Chán ghét
thân nữ nhơn
Tâm từ
bỏ rời sân
Thường
tu nói lời thiệt
Trừ tham
lìa ác khẩu
An trụ trong
chánh kiến
Nếu chán
thân nữ nhơn
Nên tu pháp
như vậy
Thì sẽ
mau được chuyển
Thọ thân
thiện trượng phu.
Lại nầy
Tịnh Tín ! Nếu thành tựu tám pháp thì chuyển được nữ
thân :
Một là
tôn trọng chư Phật rất thích chánh pháp. Hai là cung
kính cúng dường các Sa Môn Bà La Môn trì giới nhẫn nhục
đa văn. Ba là đối với chồng con và cư gia chẳng sanh
lòng luyến ái. Bốn là thọ trì cấm giới không khuyết
phạm. Năm và với các người chẳng sanh tà niệm.
Sáu là có ý nguyện tăng thượng chán lìa nữ thân. Bảy
là an tru tâm Bồ đề pháp đại trượng phu. Tám là xem
gia nghiệp thế gian như ảo như mộng ».
Ðức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
« Kính Phật
rất ưa pháp
Tôn trọng
giới văn Tăng
Chẳng sanh
lòng tham ái
Thân nữ
sẽ chuyển mau
Trì giới
đủ tàm quý
Chẳng vọng
niệm người khác
An trụ tâm
Bồ đề
Chẳng ưa
pháp nhị thừa
Do đây mau
chuyển được
Thân người
nữ bất tịnh
Thắng chí
tâm chán lìa
Tất cả
đều như huyễn
Các pháp
bổn bất động
Nhơn duyên
tánh không tịch
Siêng tu
pháp như thiệt
Chóng được
thân trượng phu.
Bấy giờ
Tịnh Tín đồng nữ đem tràng hoa vàng mà cô đang cầm tán
lên trên đức Phật, hoa ở trên hư không biến thành cung điện
lâu các chơn kim, trong cung điện ấy có đức Hóa Phật ngồi
tòa vàng. Năm trăm đồng nữ cũng cời đồ trang sức
tán lên trên đức Phật biến thành lâu các chơn kim ở
trên hư không có trướng báu lọng báu các thứ trang nghiêm.
Thấy đại thần biến ấy, năm trăm đồng nữ khác miệng
đồng lời nói kệ rằng :
“Thế Tôn
thù thắng nhứt loài người
Thương xót
lợi ích các chúng sanh
Nay tôi đã
phát tâm Bồ đề
Chí nguyện
tương ưng trụ điều phục
Làm thầy
thế gian ban an lạc
Tôi phải
cúng dường Nhơn Trung Tôn
Nghe pháp
đã lìa các trần cấu
Chúng tôi
chẳng còn những nghi lầm
Mới lìa
thân nữ nhiều nhiểm ô
Phá hẳn
phiền não hàng ma oán
Mười phương
vô lượng câu chi Phật
Tôi sẽ
hoan hỉ thường cúng dường
An trụ thí
giới siêng tinh tấn
Nhẫn nhục
thiền định khéo điều tâm
Trí huệ
phương tiện nhiếp chúng sanh
Sẽ chứng
tối thượng đạo Bồ đề
Lợi ích
vô lượng chúng Trời Người
đều khiến
phát khởi tâm Ðại thừa
Chúng tôi
sẽ hay sư tử hống
Chúng tôi
sẽ làm Thiên Nhơn Sư”.
Ðức Thế
Tôn hiện mỉm cười. Theo lệ thường của chư Phật,
lúc đức Phật mỉm cười thì từ miệng đức Phật có những
tia sáng nhiều màu xanh vàng đỏ trắng hồng tía pha lê phóng
ra chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới cao đến trời
Phạm Thế rồi trở về nhiễu đức Phật ba vòng lại nhập
vào đảnh của Phật.
Trưởng lão
A Nan làm lễ bạch rằng :” Bạch đức Thế Tôn ! Do nhơn
duyên gì mà hiện mỉm cười ?”.
Ðức Phật
dạy : “ Nầy A Nan ! Ông có thấy Tịnh Tín đồng nữ chăng
?
-
Vâng, bạch Thế Tôn ! Tôi đã thấy.
-
Nầy A Nan ! Tịnh Tín và năm trăm đồng nữ thọ trong loài
người sẽ bỏ thân
nữ sanh
Trời Ðâu Suất thừa sự cúng dường Di Lặc Thế Tôn và
chư Như Lai trong Hiền kiếp. Quá tám vạn bốn ngàn câu
chi na do tha kiếp. Tịnh Tín sẽ được làm Phật tại
ÐiệnQuang thế giới hiệu Quang Minh Trang Nghiêm Vương Như
Lai, kiếp tên Thường Quang, Phật ấy thọ như Trời Ðâu Suất
mười hai ngàn tuổi, có vô lượng vô biên chúng đại Bồ
Tát làm quyến thuộc, mà năm trăm đồng nữ nầy sẽ là thượng
thủ nhứt trong đại chúng ấy, cũng như hiện nay Văn Thù
Sư Lợi làm thượng thủ trong sáu mươi Bồ Tát vậy. ?
Nầy A Nan
! Nếu có nữ nhơn được nghe kinh nầy rồi họ trì đọc
tụng, khi hết thân nữ nầy chẳng còn thọ thân nữ nữa
và mau chứng được Vô thượng Bồ đề”.
Ðức Phật
nói kinh nầy rồi, Tịnh Tín với năm trăm đồng nữ và tất
cả thế gian Trời, Người, A Tu La nghe lời Phật dạy đều
rất vui mừng tín thọ phụng hành
PHÁP HỘI
TỊNH TÍN ÐỒNG NỮ
THỨ BỐN
MƯƠI
HẾT TẬP
VI