XXXV
PHÁP HỘI
THIỆN ÐỨC THIÊN
TỬ
THỨ BA MƯƠI LĂM
Hán dịch
: Nhà Ðường Pháp Sư bồ Ðề Lưu Chi
Việt dịch
: Việt Nam Tỳ Kheo thích Trí Tịnh
Như vậy
tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn Kỳ
Thọ Cấp Cô Ðộc cùng chúng đại Tỳ Kheo ngàn người câu
hội, mười ngàn đại Bồ Tát với Thiện Ðức Thiên Tử
đồng ở trong pháp hôi.
Bấy giờ
đức Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi đại Bồ Tát : « Ông
nên vì chư Thiên đại chúng và chư Bổ Tát mà diễn
nói cảnh giới thậm thâm của chư Phật ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát bạch rằng : « Vâng, bạch đức Thế Tôn ! Nếu
thiện nam tử thiện nữ nhơn muốn biết cảnh giới Phật
thì nên biết là chẳng phải cảnh giới nhãn nhĩ tỷ thiệt
thân và ý, chẳng phải cảnh giới sắc thanh hương vị xúc
và pháp.
Bạch đức
Thế Tôn ! Phi cảnh giới là cảnh giới Phật. Vì nghĩa ấy
nên như Vô thượng Bồ đề của Phật đã được là cảnh
giới gì ư ? ».
Ðức Phật
nói : « Không cảnh giới, vì các kiến bình đẳng, vô tướng
cảnh giới vì tất cả tướng bình đẳng, vô nguyện cảnh
giới vì vì tam giới bình đẳng , vô tác cảnh giới vi hữu
tác bình đẳng, vô vi cảnh giới vì hữu vi bình đẳng vậy
».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Bạch đức Thế Tôn ! Những gì là vô
vi cảnh giới ? ».
Ðức Phật
nói : « Vô niệm là vô vi cảnh giới ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Bạch đức thế tôn ! Nếu vô vi v.v..là
cảnh giới Phật ma là vô niệm thì y cứ nơi đâu để nói,
vì không sở y thì không sở thuyết, vì không sở thuyết thì
bất khả thuyết.
Bạch đức
Thế Tôn ! Cảnh giới chư Phật chẳng nói được vậy ».
Ðức Phật
nói : « Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Cảnh giới chư Phật sẽ phải
cầu ở đâu.
Bạch đức
Thế Tôn !Nên ở trong phiền não của tất cả chúng sanh mà
cầu. Tại sao ? Vì tánh phiền não của chúng sanh bất khả
đắc, chẳng phải chỗ biết của Thanh Văn Duyên Giác, đây
gọi là cảnh giới chư Phật.
- Nầy Văn
thù Sư Lợi ! Cảnh giới Phật có tăng giảm chăng ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! không tăng giảm.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Thế nào biết rõ bổn tánh phiền não của chúng
?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Như cảnh giới Phật không tăng giảm bổn tánh
phiền não cũng không tăng giảm.
- Nầy Văn
thù Sư Lợi ! Thế nào là bổn tánh phiền não ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Bổn tánh phiền mão là bổn tánh cảnh giới Phật.
Bạch đức Thế Tôn ! Nếu bổn tánh phiền não khác cảnh
giới Phật thì chẳng nói đức Phật an trụ trong tất cả
pháp bình đẳng tánh. Vì tánh phiền não là tánh cảnh giới
Phật nên nói đức Phật an trụ tánh bình đẳng..
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Ông thấy Như Lai an trụ bình đẳng gì ?
Bạch thế
Tôn ! Như chỗ tôi hiểu thì hiện hành tham sân si của chúng
sanh chỗ trụ của nó bình đẳng là chỗ trụ của Phật.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Hiện hành tam độc phiền não của chúng sanh
trụ bình đẳng gì ?
- Bạch đức
thế Tôn ! Trụ trong tánh bình đẳng không, vô tướng vô nguyện.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Trong tánh không ấy sao lại có tham sân si ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Trong cái có ấy chỗ có tánh không có tham
sân si.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Trong cái có gì nói có tánh không ?
- Bạch đức
Thế Tôn !Trong văn tự ngữ ngôn nói có tánh không. Vì có
tánh không nên có tham sân si ? Như Phật đã nói : Nầy chư
Tỳ Kheo ! Có vô sanh vô vi vô tác vô khởi. Nếu vô sanh vô
vi vô tác vô khỡi mà chẳng có thì cũng chẳng thể nói có
hữu sanh hữu vi hữu tác hữu khởi. Thế nên , nầy chư Tỳ
Kheo ! Do có vô sanh vô vi vô tác vô khởi nên được nói hữu
sanh hữu vi hữu tác hữu khởi. Bạch đức Thế Tôn !
Như vậy nếu không có tánh không vô tướng vô nguyện thì
chẳng thể nói tham sân si v.v… tất cả kiến chấp.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Do nghĩa ấy nên như Lời ông nói trụ phiền
não là trụ tánh không.
- Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu người quán hạnh mà lìa phiền nãođể cầu
tánh không thì chẳng tương ưng, sao lại có tánh không khác
với phiền não. Nếu quán phiền não tức là tánh không thì
là chánh tư hành vậy.
- Nầy Văn
thù Sư Lợi ! Ông trụ phiền não hay lìa phiền não ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Tất cả phiền não thảy đều bình đẳng, bình
đẳng như vậy tôi chánh tu hành, vào bình đẳng ấy thì chẳng
lìa phiền não chẳng trụ phiền não.
Nếu có
Sa Môn hay Bà La Môn tự cho mình ly dục mà thấy phiền não
của người thì mắc phải hai kiến chấp : nói có phiền não
là thường kiến, nói không phiền não là đoạn kiến.
Bạch đức
Thế Tôn !Người chánh tu hành chẳng thấy có các tướng tự
tha hữu vô. tại sao ? Vì sáng tỏ tất cả pháp vậy.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Y đâu để chánh tu hành ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Người chánh tu hành là vô sở y vậy.
- Nầy Văn
Thù sư Lợi ! Chẳng y nơi đạo để tu hành ư ?
- Bạch
đức thế Tôn ! Nếu có sở y mà tu hành thì là hhữu vi, nếu
hành hữu vi thì chẳng phải bình đẳng, vì chẳng lìa sanh
trụ diệt vậy.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Trong vô vi chừng có số ư ?
- Bạch đức
Thế Tôn !Nếu vô vi có số thì là hữu vi chẳng gọi là vô
vi.
- Nầy Văn
thù Sư Lợi ! Nếu thánh giả chứng được vô vi thì có pháp
ấy đâu không số ư ?
- Bạch đức
thế Tôn ! Vì pháp không số nên thánh giả xa lìa số là vô
số vậy.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Ông chứng thánh pháp hay chẳng chứng ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu hỏi hóa nhơn rằng ông chứng thánh pháp hay
chẳng chứng thì nó sẽ đáp thế nào ?
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Xét về hóa nhơn thì không thể nói chứng hay
không chứng.
- Bạch đức
Thế Tôn ! Ðức Phật há chẳng đã dạy rằng tất cả pháp
đều như hóa ư ?
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Ðúng như vậy.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu tất cả pháp như hóa, sao lại hỏi rằng ông
chứng thánh pháp hay chẳng chứng ?
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Trong tam thừa ông chứng bình đẳng nào ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Phật giới bình đẳng , tôi chứng như vậy.
- Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Ông được cảnh giới Phật ư ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu Thế Tôn được thì tôi được ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Ðức Như
Lai chẳng được cảnh giới Phật ư ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tôn giả ở nơi cảnh giới Thanh Văn
có được chăng ? ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : « Thánh giả giải thoát phi đắc phi bất
đắc ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Ðúng như vậy. Như Lai giải thoát chẳng
phải có cảnh giới chẳng phải không cảnh giới ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : « Ngài chẳng thủ hộ Bồ Tát tân phát ý
mà diễn nói pháp ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Ý Tôn giả thế nào, nếu có y sĩ vì
thủ hộ bịnh nhơn mà chẳng cho uống thuốc đắng cay chua
chát, đó là chữa lành hay là để chết ? ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : « Ðó là để chết khổ chớ chẳng phải
ban cho an vui ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Cũng vậy, người thuyết pháp nếu thủ
hộ người nghe e rằng họ kinh sợ mà giấu các nghĩa thậm
thâm như vậy chỉ dùng văn từ câu nghĩa tạp cạn để diễn
thuyết thì là trao cho chúng sanh những khổ sanh lão bịnh tử
mà chẳng ban cho họ Niết bàn an lạc ».
Lúc nói pháp
nầy, có năm trăm Tỳ Kheo chẳng thọ các pháp lậu tận ý
giải, tám ngàn chư Thiên xa trần rời cấu ở trong các pháp
được pháp nhãn thanh tịnh, bảy trăm Thiên Tử phát tâm Vô
thượng Bồ đề phát nguyện rằng đời vị lai chúng tôi
sẽ được biện tài như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Ngài há
chẳng dùng pháp Thanh Văn để vì người Thanh Văn mà nói ư
? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tất cả pháp của các thừa được tôi
thừa trên đó ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : »Ngài là Thanh Văn, Bích Chi Phật hay là Chánh
Ðẳng Giác ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tôi là Thanh Văn vì chẳng nhơn nơi âm
thanh của người
khác mà sanh
hiểu biết vậy. Tôi là Bích Chi Phật vì chẳng bỏ đại
bi vô sở úy vậy. Tôi là Chánh Ðẳng Giác vì chẳng bỏ bổn
nguyện vậy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài làm Thanh Văn thế nào ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Các chúng sanh kia chưa từng được nghe
pháp, vì khiến họ được nghe nên tôi làm Thanh Văn ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài làm Bích Chi Phật thế nào ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Chúng sanh pháp giới vì làm cho họ hiểu
nên gọi tôi là Bích Chi Phật ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài làm Chánh Ðẳng Giác thế nào ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tất cả các pháp, pháp giới bình đẳng,
vì biết rõ như vậy nên tôi làm Chánh Ðẳng Giác ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài quyết định trụ địa nào ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tôi trụ tất cả địa vậy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài cũng trụ phàm phu địa chăng ? ».
Văn Thù Sư
Lợi nói : « Tôi cũng quyết định trụ phàm phu địa
vậy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Có mật ý gì mà Ngài nói như vậy ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Vì tất cả pháp tự tánh bình đẳng
nên tôi nói như vậy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Nếu tất cả pháp tự tánh bình đẳng
thì ở chỗ nào mà lập thành các pháp : đây là Thanh Văn
địa, là Bích Chi Phật địa, là Bồ Tát Phật địa ư ? ».
Văn thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : « Như trong thập phương hư không giới
mà nói rằng đây là Ðông phương hư không , đây là Nam, Tây,
Bắc tứ duy thượng hạ phương hư không. Nói có các phương
hư không sai biệt như vậy, chẳng phải ở nơi hư không có
khác nhau. Vì thế, nên thưa Tôn giả ! Y cứ trong tất cả
pháp cứu cánh không mà lập thành tướng các địa, cũng chẳng
phải không tánh có sai khác vậy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Ngài đã chứng nhập chánh tánh ly sanh
rồi chăng, ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Tôi đã chứng nhập nhưng cũng lại xuất
».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Sao đã chứng nhập mà lại còn xuất
? ».
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : « Tôn giả nên biết đây là trí huệ
phương tiện của Bồ Tát, ở nơi chánh tánh ly sanh như thiệt
chứng nhập rồi phương tiện mà xuất. Ví như có người
rất giỏi thuật bắn tên có một kẻ oán thù, xạ sư nầy
nghĩ muốn giết hại. Xạ sư lại có một con trai rất thương
yêu. Bấy giờ con trai ấy đương ở trong đồng hoang, xạ
sư nhận lầm là kẻ thù, buông tên ra, đứa con la lên, xạ
sư có sức thần tốc vọt đến bên con bắt lấy mũi tên
ấy. Cũng vậy, vì điều phục Thanh Văn, Bích Chi Phật nên
Bồ Tát nhập chánh vị rồi từ đó mà xuất chẳng sa vào
Thanh Văn địa, Bích Chi Phật địa, do nghĩa nầy mà gọi là
Phật địa ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Thế nào mà Bồ Tát được địa ấy
? ».
Văn thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Nếu chư Bồ Tát trụ tất cả địa
mà vô sở trụ thì được địa nầy. Nếu hay diễn nói tất
cả địa mà chẳng trụ địa hạ liệt là được địa nầy.
Nếu có tu hành vì hết tất cả chúng sanh phiền não mà pháp
giới vô tận, dầu trụ vô vi mà hành hữu vi, ở trong sanh
tử tưởng như vườn nhà chẳng cầu Niết bàn là được
địa nầy. Có bao nhiêu chí nguyện đều khiến viên mãn, được
vô ngã nhẫn thành thục chúng sanh là được địa nầy, có
trí huệ Phật mà chẳng sanh lòng sân hận đối với kẻ vô
trí là được địa nầy, vì người cầu pháp mà chuyển pháp
luân nhưng ở nơi pháp giới không có sai biệt tu hành như
vậy là được địa nầy.
Lại nữa,
nếu có Bồ Tát xô dẹp ma oán mà hiện làm tứ ma là được
địa nầy ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : « Hạnh Bồ Tát ấy, tất cả thế gian rất
khó tin được ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Ðúng như lời Tôn giả, hạnh Bồ Tát
ấy siêu quá thế pháp ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề nói : « Ngài nên vì tôi mà nói siêu quá thế gian
ấy ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Luận về thế gian gọi là ngũ uẩn.
Trong các uẩn ấy, sắc là tánh khối bọt nước, thọ là
tánh bong bóng nước, tưởng là tánh dương diệm, hành là
tánh cây chuối, thức là tánh ảo huyễn. Như vậy nên biết
bổn tánh thế gian là khối bọt bóng nước dương diệm cây
chuối ảo huyễn, trong ấy không có uẩn không có danh tự
uẩn, không có chúng sanh không có danh tự chúng sanh, không
có thế gian siêu quá thế gian. Ở nơi ngũ uẩn nếu chánh
biết như vậy thì gọi là thắng giải. Nếu chánh thắng giải
thì bổn lai giải thoát. Nếu bổn lai giải thoát thì chẳng
tham trước thế pháp. Nếu chẳng tham trước thế pháp thì
là siêu quá thế gian.
Lại nầy
Tôn giả Tu Bồ Ðề ! Ngũ uẩn bổn tánh không, nếu bổn tánh
không thì không có ngã ngã sở, nếu không có ngã ngã sở
thì là vô nhị. Nếu bổn vô nhị thì không có thủ xả, vì
không có thủ xả nên không có sở trước, vì không sở trước
nên siêu quá thế gian.
Lại nầy
tôn giả Tu Bồ Ðề ! Ngũ uẩn ấy thuộc nhơn duyên, nếu
thuộc nhơn duyên thì chẳng thuộc ngã chẳng thuộc chúng sanh,
nếu chẳng thuộc ngã chúng sanh thì là vô chủ, vô chủ thì
vô thủ, vô thủ thì vô tránh. Vô tránh luận là pháp Sa Môn,
như tay vẽ trong hư không chẳng có chạm đụng. Tu hành không
bình đẳng tánh như vậy thì siêu quá thế gian.
Lại nầy
Tôn giả Tu Bồ Ðề ! Ngũ uẩn pháp giới đồng nhập pháp
giới thì là không có giới. Nếu không có giới thì không
có địa thủy hỏa phong các giới, không ngã chúng sanh thọ
mạng, không dục sắc giới vô sắc giới, không hữu vi vô
vi sanh tử Niết bàn giới. Nhập giới nầy rồi thì cùng chung
với thế gian mà không sở trụ. Nếu không sở trụ thì siêu
quá thế gian vậy ».
Lúc nói pháp
siêu quá thế gian, có hai trăm Tỳ Kheo chẳng thọ các pháp
lậu tận ý giải đồng cởi y Uất đa la tăng choàng lên mình
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mà đồng thanh xướng rằng : « Nếu
người chẳng tin hiểu pháp môn nầy thì người ấy không
chỗ được cũng không chỗ chứng ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi chư Tỳ Kheo : « Các Trưởng Lão ! Các Ngài
có chút ít được chứng chăng ? ».
Chư Tỳ Kheo
đáp : « Nếu là kẻ tăng thượng mạn thì có thể nói là
có được có chứng. Pháp của Sa Môn không tăng thượng mạn
thì không được không chứng. Họ ở chỗ nào mà động
niệm tự cho rằng tôi được như vậy tôi chứng như vậy.
Nếu ở trong đây mà sanh động niệm là ma nghiệp ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề hỏi : « Nầy chư Trưởng Lão ! Như chỗ hiểu
của các Ngài thì được gì chứng gì mà nói như vậy ư ?
».
Chư Tỳ Kheo
nói : « Chỉ có đức Thế Tôn và Văn Thù Sư Lợi biết chỗ
được chỗ chứng của tôi. Bạch Tôn giả ! Như chỗ tôi
hiểu, nếu chẳng biết rõ tướng khổ, tướng tập, tướng
diệt, tướng đạo mà nói rằng khổ ấy tôi phải biết thì
là tăng thượng mạn, tập ấy phải dứt, diệt ấy phải
chứng, đạo ấy phải tu đều là tăng thượng mạn vậy.
Họ chẳng biết rõ tướng khổ tập diệt đạo mà nói rằng
khổ tôi đã biết tập tôi đã dứt diệt tôi đã chứng và
đạo tôi đã tu đều là tăng thượng mạn vậy.
Thế nào
là khồ tướng ? Ðó là vô sanh tướng, tập, diệt, đạo
tướng cũng vậy.
Nếu là vô
sanh tướng thì là vô tướng, trong ấy vô sở đắc, không
có chút khổ để biết, tập để dứt, diệt để chứng và
đạo dể tu. Nếu ở trong nghĩa thánh đế được nói đây
mà chẳng kinh chẳng sợ thì chẳng phải tăng thượng mạn,
còn nếu có kinh có sợ là tăng thượng mạn vậy ».
Ðức Thê
Tôn khen chư Tỳ Kheo : « Lành thay, lành thay ! Nầy Tu Bồ Ðề
! Trong thời chánh pháp của Phật Ca Diếp, chư Tỳ Kheo ấy
đã được ngheVăn thù Sư Lợi diễn nói pháp thậm thâm ấy.
Vì thuở xưa đã tu pháp thậm thâm nên nay được nghe liền
tùy thuận mau hiểu rõ. Ở trong pháp của ta theo thứ đệ
như vậy, người nghe pháp thậm thâm ấy mà có thể tin hiểu,
tất cả sẽ nhập vào số đại chúng trong pháp của Phật
Di Lặc.
Bấy giờ
Thiện Ðức Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Bồ Tát : « Ngài luôn
luôn thuyết pháp tại Diêm Phù Ðề, chúng tôi xin thỉnh Ngài
đến cung Ðâu Suất. Chư Thiên Tử nơi ấy cũng đã trồng
căn lành rộng lớn từ lâu, họ được nghe pháp sẽ được
hiểu rõ. Vì họ ham vui nên không thể đến chỗ Phật nghe
pháp để phải mất lợi ích ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát liền hiện thần biến khiến Thiện Ðức Thiên
Tử và tất cả chúng hội đều tự cho mình vào cung trời
Ðâu Suất, thấy vườn rừng cung điện lâu đài nơi
ấy báu đẹp trang nghiêm. Các đài báu từng cấp cao rộng
đến hai mươi từng, các màn lưới báu và các hoa trời bủa
khắp mọi nơi, các loài chim lạ bay lượn hòa minh, trong hư
không có các thiên nữ rải hoa mạn đà la, ca vịnh khen tặng
du hí khoái lạc.
Thấy vậy
Thiện Ðức ThiênTử bạch Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát :
« Rất hi hữu, bạch Ngài ! Sao chúng tôi đến cung trời Ðâu
Suất quá mau như vậy, thấy những lâu đài và chư Thiên.
Mong Ngài vì họ mà thuyết pháp ».
Tôn giả
Tu Bồ Ðề bảo Thiện Ðức Thiên Tử : « Ông chẳng rời
lìa pháp hội mà đến chỗ khác, đó là do Văn Thù Sư Lợi
biến hóa khiến ông tự thấy nhập cung trời Ðâu Suất ».
Thiện Ðức
Thiên Tử bạch đức Phật : « Bạch đức Thế Tôn ! Rất
hi hữu Văn Thù Sư Lợi du hí tam muội thần thông biến hóa,
trong một sát na liền khiến toàn đại hội nầy đều nhập
cung trời Ðâu Suất ».
Ðức Phật
phán : « Nầy Thiện Ðức Thiên Tử ! Ông đâu thấy thần
thông biến hóa của Văn Thù Sư Lợi. Như chỗ ta biết thì
Văn Thù Sư Lợi nếu muốn đem hằng sa Phật độ công đức
trang nghiêm tập họp tại một Phật độ thì liền có thể
hiện được. Ông ấy hoặc dùng đầu ngón tay cất hằng sa
Phật độ qua khỏi hằng sa Phật độ ở thượng phương rồi
đặt tại hư không. Hoặc ông ấy đem nước của tất cả
đại hải trong các Phật độ để vào một lỗ lông mà loài
thủy tộc không hề thấy chật hẹp và đều tự thấy chẳng
rời khỏi biển. Hoặc ông ấy đem tất cả núi Tu Di trong
các thế giới để váo trong một hột cải mà chư Thiên ở
núi Tu Di đều tự cho mình vẫn ở bổn cung. Hoặc ông ấy
đem tất cả ngũ đạo chúng sanh trong các thế giới đặt
trong bàn tay ổng cho hưởng đồ dùng đẹp báu như Nhứt Thiết
Lạc Trang Nghiêm. Hoặc ông ấy đem tất cả khối lửa
trong các thế giới để vào trong một khăn bông đâu la. Hoặc
ông ấy dùng một lỗ lông có thể che đậy tất cả nhựt
nguyệt của các thế giới. Tùy chỗ đáng nên làm ông ấy
đều làm được cả ».
Lúc bấy
giờ ác ma hóa làm Tỳ Kheo bạch rằng : « Bạch đức Thế
Tôn !
Chúng tôi
muốn thấy Văn Thù Sư Lợi hiện tiền làm những thần thông
biến hóa ấy, cần gì phải tuyên lời hư cuống như vậy
mà các thế gian khó tin được ».
Ðức Thế
Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Ông nên ở trong chúng
hội nầy mà hiện thần biến ».
Văn Thù Sư
Lợi chẳng rời chỗ ngồi , nhập tâm tự tại nhứt thiết
pháp trang nghiêm tam muội, liền thị hiện thần biến
đúng như lời đức Phật đã trình bày.
Ma cùng chúng
hội và Thiện Ðức Thiên Tử đều thấy. Ðại chúng khen
chưa từng có và đồng nói rằng : « Lành thay lành thay
, do đức Phật xuất hiện mà có bực Chánh sĩ nầy ở trong
thế gian khai diễn pháp môn thậm thâm hiện các thần biến
».
Do oai thần
của Văn Thú Sư Lợi Bồ Tát, ác ma bạch rằng : « Bạch đức
Thế Tôn ! Rất hi hữu, Văn Thù Sư Lợi có thần thông như
vậy, nay chúng hội nầy cũng đều hi hữu vì tin hiểu được
thần thông biến hóa của Văn Thù Sư Lợi vậy. Bạch đức
Thế Tôn ! Dầu cho có hằng hà sa ác ma cũng chẳng lưu nạn
được các thiện nam tử thiện nữ nhơn tin hiểu nầy.
Tôi cũng là ác ma Ba Tuần hằng tìm dịp hại Phật não
loạn chúng sanh. Từ đây về sau tôi lập thệ nguyện : nếu
xứ nào có pháp môn nầy lưu hành mà có người tin hiểu ưa
thích thọ trì đọc tụng diễn nói, thì ngoài trăm do tuần
bốn phía chỗ ấy , tôi chẳng đi qua trong đó.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nhưng quyến thuộc tôi có kẻ muốn đoạn diệt
pháp Như Lai nên khiến người tu hành tâm niệm tán loạn,
vì hàng phục họ nên tôi nói đà la ni chú. Nếu thiện nam
tử thiện nữ nhơn ở nơi pháp môn nầy biên chép đọc tụng
vì người diễn thuyết, chư Thiên ma sẽ được lợi lành
khiến người thuyết pháp thân tâm vui đẹp siêng năng tu tập,
cũng ban cho vô ngại biện tài và đà la ni cùng thừa sự cung
cấp y phục ẩm thực ngọa cụ thang dược chẳng để thiếu
thốn ».
Ba Tuần liền
nói chú rằng : « Ðát diệt tha, a mạt lệ, tì mạt lệ, thế
đa đê, a yết tì, thị đa thiết đỗ rô, thệ duệ đỗ dã
thiệt đê, bộ đa thiệt đê già mễ lệ, phiến đê, tô phổ
đê, phổ phổ tế, địa rị tô khê, vị để, khả nghệ,
mễ tẩy lễ, ương củ lệ bạt lệ, hô lô hốt lê, sách
hê, thâu thú mễ đề địa rị, a na phiệt đê để để sử
tra nệ, khất lợi đa rị đê, khất rị đa phí đê, phì lô
giá đô phí để mạn đát ra bột trì na đà lộ ca, á bạt
la mục đa ế phạ tô rị gia.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu thiện nam tử thiện nữ nhơn chuyên tinh thọ
trì đà la ni nầy thì tâm họ chẳng tán loạn thường được
Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na
La, Ma Hầu La Già thủ hộ, tất cả ác quỉ không làm hại
được ».
Lúc ma Ba
Tuần nói chú ấy, cõi Ðại Thiên chấn động sáu cách.
Ðức Thế
Tôn khen ma Ba Tuần : « Lành thay lành thay, nầy Ba Tuần ! Biện
tài của ông nên biết đó cảnh giời thần thông cùa Văn
Thù Sư Lợi ».
Lúc Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát hiện thần thông và ma Ba Tuần nói chú có
ba vạn hai ngàn chư Thiên phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nhiếp thần lực lại khiến đại chúng
tự thấy như cũ.
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát bảoThiện Ðức Thiên Tử ! « Ông đến trời
Ðâu Suất phổ biến cho Thiên chúng hay rằng tôi sẽ đến
đó ».
Thiện Dức
Thiên Tử cùng quyến thuộc đảnh lễ chưn Phật và Bồ Tát,
Thanh Văn đại chúng rồi bổng ẩn mất, giây lát về đến
cung trời Ðâu Suất phổ cáo khắp Thiên chúng rằng : « Chư
Thiên chúng nên biết Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vì thương xót
Thiên chúng nên muốn đến đây. Thiên chúng phải nên bỏ
các dục lạc lìa xa kiêu mạn, cung kính tôn trọng tùy thuận
nghe pháp » .
Thiện đức
Thiên Tử trang nghiêm đạo tràng đúng theo pháp rồi chắp
tay thỉnh rằng : « Bạch Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Nay đã đến
giờ ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát cùng một vạn Bồ Tát và năm trăm đại Thanh
Văn cùng Thiên Long Bát Bộ lễ chưn đức Phật rồi ẩn, hiện
đến cung trời Ðâu Suất theo thứ tự ngồi nơi đạo tràng.
Các đại chúng đều nghe trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao
Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha
Hóa, trời Ma Chúng, Phạm Chúng đến trời Hữu Ðảnh xướng
nhau rằng : « Nay Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở tại cung trời
Ðâu Suất sắp muốn thuyết pháp ».Chư Thiên nghe
lời xướng nầy có vô số trăm ngàn đồng đến tập họp,
cả cung trời Dục giới không đủ chỗ dung thọ. Do thần
lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khiến chư Thiên chúng tự
thấy rộng rãi không trở ngại nhau.
Thiện Ðức
Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Ðại chúng đã
vân tập xong xin Ngài thuyết pháp cho ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát bảo Thiện Ðức Thiên Tử : « Có bốn pháp Bồ
Tát an trụ chẳng phóng dật thì hay nhiếp thủ tất cả Phật
pháp, một là an trụ giới luật mà đủ đa văn, hai là an
trụ thiền định mà hành trí huệ, ba là an trụ thần thông
mà khởi đại trí, bốn là an trụ tịch tĩnh mà thường quan
sát.
Nầy Thiên
Tử ! có tám pháp nhập vào giới luật : thân thanh tịnh,
ngữ thanh tịnh , ý thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đầu đà
công đức thanh tịnh, mạng thanh tịnh, bỏ lìa tất cả dị
tướng đem lợi cầu lợi thanh tịnh và chẳng xả bỏ Nhứt
thiết trí tâm thanh tịnh. Ðây là tám pháp nhập vào giới
luật.
Lại có tám
pháp nhập vào đa văn : tôn trọng, khiêm hạ, phát khởi tinh
tiến, chẳng mất chánh niệm, nghe pháp liền thọ trì, tâm
khéo quan sát, đem pháp được nghe dạy lại kẻ khác và chẳng
tự khen mà chê người . Ðây là tám pháp nhập vào đa văn.
Lại có tám
pháp nhập vào thiền định : tịch tĩnh, ở a lan nhã, bỏ
lìa ồn ào, chẳng nhiễm cảnh giới, thân tâm khinh an, tâm
duyên định cảnh, tuyệt các tướng âm thanh, bớt ăn uống
vừa nuôi thân và chẳng lấy thánh lạc. Ðây là tám pháp
nhập vào thiền định.
Lại có tám
pháp nhập vào trí huệ : uẩn thiện xảo, giới thiện xảo,
xứ thiện xảo , các duyên khởi thiện xảo, đế thiện xảo,
tam thế thiện xảo, tất cả thừa thiện xảo và tất cả
Phật pháp thiện xảo. Ðây là tám pháp nhập vào trí huệ.
Lại có tám
pháp nhập vào thần thông : Thiên nhãn thông vì thây không
chường ngại, Thiên nhĩ thông vì nghe không chường ngại,Tha
tâm thông vì quan sát tâm tất cả chúng sanh, Túc mạng thông
vì ghi nhớ tiền tế, Thần túc thông vì thị hiện tất cã
thần biến, Lậu tận thông vì hết sạch tất cả lậu chúng
sanh, chẳng trụ phiền não chẳng thủ giải thoát vỉ phương
tiện lực và chẳng y Thanh Văn giải thoát mà nhập Niết bàn.
Ðây là tám pháp nhập vào thần thông.
Lại
có tám pháp hay nhập vào trí : khổ trí, tập trí, diệt trí,
đạo trí, nhơn trí, duyên trí, thế trí và nhứt thiết trí.
Ðây là tám pháp hay nhập vào trí.
Lại có tám
pháp nhập vào tịch tĩnh : nội tịch tĩnh, ngoại tịch tĩnh,
ái tịch tĩnh thủ tịch tĩnh, hữu tịch tĩnh, sanh tịch tĩnh,
tất cả phiền não tịch tĩnh và tam giới tịch tĩnh. Ðây
là tám pháp nhập vào tịch tĩnh.
Lại có tám
pháp nhập vào quan sát : giời, văn, thiền định, trí huệ,
thần thông, trí, tịch diệt và bất phóng dật. Ðây là tám
pháp nhập vào quan sát.
Nầy Thiên
Tử ! Vì Bồ Tát an trụ bốn pháp ấy chẳng phóng dật
nên chư Phật Bồ đề và pháp Bồ đề phần đều sẽ được
tất cả. Thế nên y nơi bất phóng dật nầy mà an trụ vậy
Chư Thiên
Tử y nơi bất phòng dật thì ba điều vui thường chẳng tổn
giảm, đó là thiên lạc, thiền định lạc và Niết bàn lạc.
Chư Thiên
Tử y nơi bất phóng dật mà an trụ lại lìa được ba thứ
khổ, đó là khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Lại siêu
được ba thứ bố úy, đó là địa ngục, súc sanh và ngạ
quỉ. Lại siêu được tam hữu, đó là dục hữu, sắc hữu
và vô sắc hữu. Lại lìa được tam cấu, đó là tham cấu,
sân cấu và si cấu. Lại sẽ được viên mãn ba học xứ,
đó là tăng thượng giới, tăng thượng tâm và tăng thượng
huệ. Lại thường được cúng dường Tam bửu, đó là Phật
bửu, Pháp bửu và Tăng bửu. Lại được lìa ba thứ chướng
Ba la mật, đó là sự xan lẫn, ganh ghét người bố thí và
tùy thuận kẻ xan lẫn. Tự phá giới, ghét người trì giới
và tùy thuận kẻ phá giới. Tự sân, ghét người nhẫn nhục
và tùy thuận kẻ sân. Tự giải đãi ghét người tinh tiến
và tùy thuận kẻ giải đãi. Tự tán loạn,ghét người thiền
định và tùy thuận kẻ tán loạn. Tự không trí huệ, ghét
người trí huệ và tùy thuận kẻ không trí huệ.
Lại nầy
Thiên Tử ! Y nơi bất phóng dật mà an trụ sẽ được ba thứ
trợ bạn Ba la mật : đó là bố thí tăng trưởng, chẳng cầu
quả báo và hồi hướng Bồ đề. Giới tăng trưởng, chẳng
cầu sanh thiên và hồi hướng Bồ đề . Nhẫn nhục tăng trưởng,
với tất cả chúng sanh chẳng có lòng hại và hồi hướng
Bồ đề. Tinh tiến tăng trưởng, trồng các thiện căn không
nhàm đủ và hồi hướng Bồ đề. Thiền định tăng trưởng,
tâm chẳng tán loạn và hồi hướng Bồ đề. Trí huệ tăng
trưởng , thường tu thiện nghiệp và hồi hướng Bồ đề
.
Nầy chư
Thiên Tử ! An trụ pháp bất phóng dật thì tăng trưởng tất
cả thiện pháp được đức Phật hứa khả.
Lại tất
cả pháp như hư không, bốn pháp chánh cần đây phải thường
quan sát :
Ðó là các
pháp tánh vô tác, điều bất thiện chưa sanh vì chẳng sanh
nó nên phát khởi tinh tiến.
Pháp tánh
thanh tịnh, điều bất thiện đã sanh vì trừ diệt nó
nên phát khởi tinh tiến.
Pháp tánh
tịch tĩnh, điều thiện chưa sanh vì khiến được sanh
nên phát khởi tinh tiến.
Pháp tánh
vô xứ vô hành, điều thiện đã sanh vì an trụ chẳng mất
mà phát khởi tinh tiến.
Ðây là bốn
chánh cần của Bồ Tát được Phật ấn khả vậy.
Lại nầy
chư Thiên Tử ! Pháp tánh bình đẳng vô sanh vô diệt, vì y
pháp tánh vô sở đắc nầy mà chẳng làm các điều ác vì
thuận pháp tánh mà siêng tu các điều lành. Tu như vậy là
vô sở tu.
Lại ở nơi
tất cả pháp chẳng thủ chẳng xả, đây gọi là chánh cần
vậy.
Lại nữa,
nầy chư Thiên Tử !Nên quán Tứ niệm xứ : đó là không thân
trụ xứ, không thọ trụ xứ, không tâm trụ xứ, không pháp
trụ xứ, không chỗ trụ xứ, không chỗ kiến lập, đây gọi
là niệm xứ.
Lại quán
Tứ như ý túc : một là thân tâm chẳng giải đãi vì thích
muốn tu các pháp lành vậy, hai là vì thành thục các chúng
sanh mà phát khởi tinh tiến dứt tham dục vậy, ba là vì tất
cả pháp bất khả đắc mà chứng các Phật pháp vậy, bốn
là vì tâm như huyễn hóa pháp vô sở y nên siêu quá tất cả
thủ trước vậy.
Lại nên
quán ngũ căn : một là tín căn, vì quyết định an trụ trong
các pháp làm thượng thủ vậy ; hai là tinh tiến căn, vì tu
khắp các hạnh để thành tựu Phật thân vậy : ba là niệm
căn, vì đầy đủ các pháp tâm khéo điều nhu không quên mất
vậy ; bốn là định căn, vì xa rời phan duyên chẳng tùy theo
hôn trầm thùy miên vậy ; năm là huệ căn, vì quyết đoán
các pháp chánh quán hiện tiền chẳng theo nơi người khác
vậy.
Lại nên
quán Ngũ lực, đó là an trụ trong các pháp tánh như vậy thì
tất cả phiền não không trở hoại được nên gọi là lực.
An trụ các
lực ấy bèn được thắng pháp như thiệt biết rõ phi dị
phi như nên gọi là giác phần.
Nếu ở nơi
các pháp tùy thuận biết rõ, do nơi đạo hạnh ấy mà thứ
đệ tu hành thông đạt bí mật ở nơi pháp bất động thì
gọi là Thánh đạo.
Nầy chư
Thiên Tử ! Vì thế nên phải tu ba mươi bảy phẩm Bồ đề
phần pháp như vậy vượt hơn các công hạnh không còn chướng
ngại trí huệ sáng rõ cứu cánh tịch tĩnh.
Thế nào
gọi là cứu canh tịch tĩnh ? Nghĩa là các pháp không
khởi không tận, vì không tận nên không tác, vì không tác
nên cũng chẳng phải không tác, không thọ, không kẻ thọ,
không thi thiết, đây gọi là cứu cánh tịch tĩnh vậy ».
Lúc Van Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói pháp nầy, có vạn hai ngàn Thiên Tử ở
trong các pháp được pháp nhãn thanh tịnh.
Thiện Ðức
Thiên Tử hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Bồ Tát tu tập
nơi đạo thế nào ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Nếu Bồ Tát chẳng bỏ
sanh tử mà làm cho chúng sanh nhâp nơi Niết bàn, chẳng bỏ
ái thủ mà độ chúng sanh làm cho họ đứng nơi thánh đạo
thì gọi là Bồ Tát tu tập nơi đạo vậy.
Lại người
tu tập nơi đạo là thiện xảo an trụ tánh không thanh tịnh
. Tại sao ? Vì Bồ Tát dùng tâm tịch tĩnh thấy tất cả pháp
tự tánh thanh tịnh, rồi vì các chúng sanh chấp kiến an trụ
tùy miên không có phương tiện mà diễn nói các pháp tự tánh
không. Tại sao ?Vì các chúng sanh ấy ỡ trong tự tánh không
mà sanh chấp kiến vậy.
Bồ Tát
nầy dùng vô tướng vô nguyện tất cả pháp tự tánh bất
sanh , vi các phàm phu từ lâu quen theo phiền não sanh diệt chấp
kiến ở nơi vô sanh nầy làm cho họ tin ưa mà ở nơi sanh
diệt cũng không chỗ động. Ðây gọi là Bồ Tát tu tập nơi
đạo vậy.
Nầy Thiên
Tử ! Nên thấy đạo khứ lai của Bồ Tát.
- Bạch
Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là đạo khứ lai của Bồ
Tát ?
- Nầy
Thiên Tử ! Chư Bồ Tát vì chứng Bồ đề mà đi, vì như chỗ
nên thuyết pháp mà đến. Vì được các thiền định giải
thoát mà đi, vì hiện sanh trong dục giới mà đến. Vì nhập
vào thánh đạo nên đi, vì đại bi thành thục chúng sanh nên
đến, vì được vô sanh pháp nhẫn mà đi, vì nhẫn thọ chúng
sanh nên đến. Vì nơi tất cả pháp xuất ly nên đi, vì độ
chúng sanh nên đến. Vì thệ nguyện kiên cố mà đi, vì thệ
nguyện không tự tánh mà đến. Vì ba giải thoát môn mà đi,
vì thọ sanh mà đến. Vì Bồ đề đạo tràng nên đi, vì an
lập chúng sanh nơi Bồ đề nên đến. Ðây gọi là đạo khứ
lai của Bồ Tát vậy ».
- Lúc nói
Bồ Tát đạo nầy, có năm trăm Bồ Tát được vô sanh pháp
nhẫn.
- Thiện
Ðức Thiên Tử hỏi : « Bạch Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Chúng
tôi có được nghe thế giới tên là Nhứt Thiết Công Ðức
Quang Minh. Thế giới ấy ở đâu, đức Như Lai nào hiện thuyết
pháp nơi ấy ? ».
Văn Thù Sư
Lợi Bố Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Thế giới Nhứt Thiết
Công Ðức Quang Minh ấy ở Thượng phương quá đây mười
hai hằng hà sa Phật độ, đức Phổ Hiền Như Lai thuyết pháp
trong ấy”.
Chư Thiên
Tử đồng thanh nói : « Chúng tôi muốn thấy thế giới ấy
và đức Phổ Hiền Như Laỉ ».
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát liền nhập quang minh trang nghiêm tam muội, do sức
tam muội phóng đại quang minh chiếu qua mười hai hằng hà
sa thế giới chiếu khắp thế giới Nhứt Thiết Công Ðức
Quang Minh. Chư Bồ Tát ở đó hỏi duyên cớ quang minh ấy.
Ðức Phổ Hiền Như Lai bảo rằng ở Hạ phương quá mười
hai hằng hà sa Phật độ có thế giới tên Ta Bà, Phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác hiện tại
thuyết pháp. Nơi đó có Bồ Tát tên Văn Thù Sư Lợi nhập
quang minh trang nghiêm tam muội phóng đại quang minh chiếu khắp
vô lượng Phật độ mười phương, quang minh ấy chiếu đến
nơi nầy.
Chư Bồ Tát
bạch Phổ Hiền Như Lai rằng : « Chúng tôi muốn thấy Phật
Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ». Ðức Phổ Hiền
Như Lai liền phóng đại quang minh chiếu mười hai hằng hà
sa thế giới Hạ phương đến Ta Bà thế giới cho chư Bồ
Tát ấy đều thấy rõ Phật và chúng hội bên nầy.
Phổ Hiền
Như Lai hỏi chư Bồ Tát : « Ai có thể qua được thế giới
Ta Bà kia ? ».
Trì Pháp
Cự đại Bồ Tát bạch rằng : « Tôi có thể qua được ».
Phổ Hiền
Như Lai bảo rằng : « Nay đã phải giờ ».
Trì Pháp
Cự đại Bồ Tát cùng với mười ức Bồ Tát ẩn nơi ấy
mà hiện đến cung trời Ðâu Suất phóng đại quang minh chiếu
khắp thế giới.
Cả chúng
hội Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn
Na La,Ma Hầu La Già, Thích, Phạm, Hộ Thế chư Thiên Tử và
chư Thanh Văn, chư Bồ Tát đều được chưa từng có đồng
nói rằng : « Chư Bồ Tát nầy du hí thần thông rất là hi
hữu ».
Nhơn quang
minh ấy mà chúng hội thấy thế giới Nhứt Thiết Công Ðức
Quang Minh và Phổ Hiền Như Lai, cõi ấy trang nghiêm dầu
trong một kiếp nói cũng chẳng hết được.
Trong lúc
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiện thần biến, có bảy na do Thiên
Tử phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Trì pháp
Cự Bồ Tát nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Nên cùng
đến đảnh lễ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ».
Bấy giờ
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát với chư Thiên Tử đáng được độ
thì đều độ rồi, liền cùng Trì Pháp Cự Bồ Tát và đại
chúng về đến chỗ Phật lễ chưn Phật xong ở qua một
phía.
Trì Pháp
Cự bạch Phật rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Phổ Hiền
Như Lai thăm hỏi đức Thế Tôn ít bịnh ít não khởi cư khinh
lợi an lạc hành chăng ? ».
Ðức Phật
phán bảo chúng hội : « Nầy đại chúng ! Văn Thù Sư Lợi
và Trì Pháp Cự đây thần thông biến hóa trí huệ quang minh
thành thục chúng sanh phụng sự chư Phật, tất cả Bồ Tát
chẳng biết được biên tế trí huệ phương tiện thâm nhập
của hai Chánh sĩ nầy. Các thiện nam tử phải nên học những
thần thông trí huệ phụng sự chư Phật thành thục chúng
sanh của Văn Thù Sư Lợi và Trì Pháp Cự cùng chư đại Bồ
Tát . Chư Chánh sĩ nầy đã vô số kiếp từ một Phật độ
đến một Phật độ thường làm Phật sự.
Nếu có chúng
sanh nào nhập vào cảnh giới của chư Chánh sĩ Nầy thì đương
lai chẳng còn đọa nơi ma giới ».
Ðức Thế
Tôn bảo Tôn giả A Nan : « Nầy A Nan ! Ông khéo thọ trì pháp
môn nầy để chẳng dứt giống Tam bửu vậy ».
Bấy giờ
Trì Pháp Cự Bồ Tát từ pháp hội dậy cùng các quyến thuộc
trở về bổn quốc.
Ðức Phật
nói kinh nầy rồi, Thiện Ðức Thiên Tử, Trưởng giả A Nan,
tất cả thế gian Thiên Long Bát Bộ nghe lời Phật dạy đều
rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI
THIỆN ÐỨC THIÊN TỬ
THƯ BA
MƯƠI LĂM
HẾT