Như
vậy tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn
Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc cùng chúng đại Tỳ Kheo ngàn hai trăm
năm mươi người câu hội, đều là A La Hán các lậu
đã hết không còn phiền não, được thượng điều phục
như đại long, chỗ làm đã xong bỏ những gánh nặng đã được
lợi mình hết kiết sử các cõi, chánh trí giải thoát tâm
được tự tại, tối thượng ứng cúng mọi người được
quen biết, chỉ có Ngài A Nan còn ở tại bực hữu học. Tên
của các Ngài ấy là:A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ma
Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Thấp Ba, Xá Lợi Phất, Ðại
Mục Kiền Liên,
Ma Ha Kiếp
Tân Na, Ma Ha Câu Si La, Ma Ha Phạm Phả, La Hầu La, Nan Ðà v.v…làm
bực thượng thủ.
Lại có năm
trăm đại Bồ Tát câu hội đều được tam muội và đà la
ni.
Bấy giờ
trong thành Xá Vệ có trưởng giả tên Dũng Mãnh Thọ giàu
có nhiều của báu kho đụn đầy tràn, những vàng bạc lưu
ly xa cừ mã não san hô hổ phách ma ni chơn châu voi ngựa bò
dê kẻ hầu người hạ các loại buôn bán tất cả đều nhiều.
Trưởng giả Dũng mãnh Thọ cùng năm trăm trưởng giả yến
hội nghị rằng: «Nầy các Ngài! Phật xuất thế khó,
được thân người khó, gặp Phật cũng khó, ở trong Phật
pháp do lòng tinh xuất gia cũng khó, thành tánh Tỳ kheo lại
càng khó, đúng phép tu hành cũng khó, biết ơn báo ơn
mang chút ơn chẳng quên người nầy khó có, ở nơi Phật
pháp có thể sanh lòng tin ưa người nầy khó được, tin ưa
thành tựu việc nầy lại khó, trang nghiêm Phật pháp sự nầy
cũng khó, giải thoát sanh tử càng khó gấp bội. Chúng
ta vì Thanh Văn thừa Bích Chi Phật thừa mà cầu diệt độ
hay sẽ phát xu tối thượng Phật thừa».
Mọi người
đều xướng lên rằng: «Chúng ta phải ở nơi vô thượng
Phật đạo mà chứng Niết Bàn ».
Chúng trưởng
giả quyết nghị xong cùng xuất thành đến rừng Kỳ Ðà đảnh
lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng ngồi qua một bên.
Ðức Thế
Tôn biết mà cố ý hỏi: «Chư trưởng giả có duyên gì nay
đến chỗ Phật? ».
Trưởng giả
Dũng Mãnh Thọ cùng năm trăm trưởng giả đứng dậy trịch
y vai hữu gối hữu chấm đất chấp tay cung kính bạch Phật
rằng: «Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đồng tập hội nghị
rằng: Phật xuất thế khó, thân người khó được nhẫn đến
giải thoát sanh tử càng khó gấp bội, nay chúng ta sẽ ở
nơi Thanh Văn Thừa, Bích Chi Phật thừa mà cầu diệt độ
hay sẽ phát xu vô thượng Phật thừa! Chúng tôi đồng xướng
lên rằng: chúng ta phải ở nơi vô thượng Phật đạo mà
chứng Niết bàn. Do quyết nghị ấy mà chúng tôi đến chỗ
đức Như Lai Ðẳng Chánh Giác.
Bạch đức
ThếTôn! Ðại Bồ Tát chí cầu vô thượng Bồ đề,
phải học thế nào? Trụ thế nào? Tu thế nào? .
Ðức Phật
nói: «Lành thay lành thay! Các ông phát xu Vô thượng Bồ đề
đến chỗ Phật phải lắng nghe kỹ khéo nghĩ nhớ lấy. Như
chư đại Bồ Tát nên học nên trụ nên tu sẽ vì các ông
mà nói ».
Chúng trưởng
giả vâng lời dạy lắng nghe.
Ðức Phật
phán dạy: «Nầy chư trưởng giả! Ðại Bồ Tát ở nơi
vô thượng Bố đề có chí nguyện thù thắng phải đối với
tất cả chúng sanh khởi tâm đại bi, phải rộng tu hành phải
siêng huân tập. Vì thế nên Bồ Tát ở nơi thân thể sanh
mạng tài sản vợ con kho tàng nhà cửa uống ăn y phục xe
cộ mền nệm hoa hương tất cả đồ dùng phải là không ái
trước. Tại sao?Vì chúng sanh chấp trước nơi thân mà tạo
nghiệp ác, do nghiệp ác mà đọa trong địa ngục. Nếu đối
với chúng sanh khởi tâm đại bi thì chẳng chấp trước thân
mạng tài và sẽ sanh thiện đạo. Ðại Bồ Tát ở nơi vô
thượng Bồ đề có chí nguyện thù thắng đối với chúng
sanh khởi từ bi rồi phải tu đại xả mà chẳng cầu báo,
người chẳng cầu báo phải an trụ giới luật, ba giới thanh
tịnh rồi phải đủ nhẫn nhục hay nhẫn các điều ác hại
rồi nên phát khởi tinh tiến chẳng tiếc thân mạng, nên tu
nhứt tâm an trụ thiền định, nên tu trí huệ thiện xảo
phương tiện, phải ở nơi ngã nhơn chúng sanh thọ mạng đều
xả ly. Vì chúng sanh nên hành bố thí thọ trì cấm giới,
vì chúng sanh nên tu nhẫn nhục phát khởi tinh tiến, vì chúng
sanh nên nhập thiền định tu tập trí huệ thiện xảo phương
tiện ».
Chúng trưởng
giả bạch Phật: «Bạch đức Thế Tôn! Ở nơi thân mạng
và vợ con tất cả tài vật lòng chúng tôi thường mến tiếc.
Ðại Bồ Tát quan sát thế nào ở nơi thân mạng tài có thể
không tham lẫn? ».
Ðức Phật
phán dạy: «Nầy thiện nam tử! Ðại Bồ Tát có chí
nguyện thù thắng nơi Vô thượng Bồ Ðề phải quan sát thân
nầy có vô lượng lỗi họa, các vi trần tích tập sanh trụ
dị diệt niệm niệm dời đổi, chín cửa chảy dơ như hang
rắn độc, trong ấy không chủ như xóm hoang vắng, rốt ráo
phá hoại như ngói bình chưa nung, nước dơ đầy tràn như
chậu phẩn dãi, chứa những bất tịnh như hầm tiêu,
chẳng động chạm đến được như nhọt dữ, tham ngon bị
họa như món ăn lộn chất độc, chẳng biết ơn đức như
Vị Sanh Oán, khi dối mọi người như ác tri thức, bị
si ái hại như làm bạn khỉ vượn, dứt mạng trí huệ như
sát nhơn, đoạt các pháp lành như trộm cướp, thường
tìm dịp hại như oán thù, không có từ tâm như người hàng
thịt, khó hầu gần như kẽ bạo ác, như tên cắm vào thân
động tới thì đau như nhà hư mục phải luôn sửa sang, như
xe cũ hư khó dùng, như hộp rắn độc khó gần, như quán trọ
chỗ họp của kẻ mệt mõi, như nhà cô độc không bị nhiếp
thuộc, như lính ngục chuyên hai,như vua lo nước, như thành
trì biên giới phải phong sợ, như ác quốc nhiều tai họa,
như chén bể khó cầm, như thờ lửa không chán, như dương
diệm hư dối, như huyễn hóa mê hoặc người như lột dây
chuối không lõi cứng, như khối bọt nước chẳng nắm cầm
được, như bong bóng nước mau sanh mau diệt, như cây bờ sông
lâm nguy lai động, như giòng sông chảy xiết trọn đến biển
chết.
Bồ Tát lại
quan sát thân nầy nhơn duyên trước sau của nó, ban đầu do
dục ái hòa hiệp mà sanh, vì nuôi lớn lên nuốt đồ ăn vào
đến sanh tạng đàm ấm tiêu hóa, kế vào đến huỳnh tạng
lúc sắp thục thì biến làm chất chua, kế vào đến phong
tạng do phong lực chia ra nước và cặn bã lưu hành riêng thành
đại tiểu tiện. Nước biến ra máu máu biến thành thịt,
trong thịt sanh mỡ, nơi mỡ sanh xương sanh tủy. Nhơn duyên
của thân thể trước sau đều bất tịnh như vậy.
Khi quan sát
như trên Bồ Tát lại nên suy nghĩ: Thân nầy do ba trăm sáu
mươi khối xương ráp thành như nhà mục hư, các lóng đốt
chi trì dùng bốn lưới mạch giăng bủa giáp vòng, năm trăm
phần thịt như bùn tô trét, sáu mạch cột nhau, năm trăm gân
ràng rịt, bảy trăm mạch nhỏ dùng làm lạc bện, mười sáu
mạch to câu mang liền nhau, có hai sợi dây thịt dài ba tầm
rưỡi vấn gút nơi trong, mười sáu trường vị vây quanh sanh
tạng thục tạng, hai mươi lăm mạch hơi như kẻ song, ,một
trăm lẻ bảy cửa huyệt như bình bể nát, tám vạn lỗ lông
như cỏ loạn trùm, năm căn bảy khiếu đầy tràng chất dơ,
bảy lớp da gói ghém, lục vị nuôi lớn như thờ lửa nuốt
thâu chẳng chán.
Thân thể
như vậy tất cả hôi dơ tánh chất thúi rã. Có ai nên ái
trọng nó mà sanh kiêu mạn.Chỉ nên quan sát nó như giữ
cái bình, như gìn chiếc xe, nuôi dưỡng nó để được đến
Bồ Ðề vậy ».
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng:
«Thân nầy
là chậu dơ
Dường như
bình đựng phẩn
Phàm phu
không trí huệ
Cậy sắc
sanh kiêu mạn
Trong mũi
hằng chảy mũi
Hơi miệng
luôn hôi hám
Mắt ghèn
thân đầy trùng
Ai nên tưởng
lạc sạch
Như người
cầm hòn than
Mài dồi
muốn trắng bóng
Dầu mài
đến mòn hết
Thể sắt
than không đổi
Dầu muốn
thân mình sạch
Rửa hết
cả nước sông
Thân trọn
không sạnh được
Vì thể
chất vốn dơ.
Nầy các
thiện nam tử! Nếu Bồ Tát phát chí nguyện thù thắng
hướng đến vô thượng Bồ đề thì nên quan sát thân thể
nầy bốn mươi bốn thứ:
Một là thân
nầy đáng chán vì tánh không hòa hiệp vậy. Hai là thân nầy
hôi dơ vì máu mủ thường chảy vậy. Ba là thân nầy chẳng
bền vì cứu cánh bại hoại vậy. Bốn là thân nầy yếu đuối
vì chi tiết trì nhau vậy. Năm là thân nầy chẳng sạch vì
chất dơ dáy đầy tràn vậy. Sáu là thân nầy như ảo thuật
vì phỉnh gạt phàm phu vậy. Bảy là thân nầy như miệng nhọt
vì cửu khiếu thường chảy vậy. Tám là thân nầy lửa cháy
vì lửa dục thạnh vậy. Chín là thân nầy là lửa vì lửa
giận mạnh vậy. Mười là cháy khắp vì lửa si cháy khắp
vậy. Mười một là thân nầy tối tăm vì tham sân si vậy.
Mười hai là thân nầy sa lưới vì bị lưới ái trùm vậy.Mười
ba là thân nầy là khối ung nhọt vì đầy ung nhọt vậy. Mười
bốn là thân nầy chẳng an vì bốn trăm lẻ bốn bệnh vậy.
Mười lăm là chỗ ở của côn trùng vậy. Mười sáu là thân
nầy vô thường vì cứu cánh phải chết vậy. Mười bảy
là thân nầy ngoan si vì không rõ các pháp vậy. Mười tám
là như đồ sành vì sanh trụ hoại vậy. Mười chín là
bức bách vì nhiều lo sầu vậy. Hai mươi là không được
cứu hộ vì chắc hoại diệt vậy. Hai mươi mốt là hiểm
ác vì siễm cuống khó biết vậy. Hai mươi hai là như hố
không đáy vì tham muốn không chán vậy. Hai mươi ba là như
lửa nhận củi vì tham sắc chẳng nhàm vậy. Hai mươi bốn
là không nhàm đủ vì tham thọ ngũ dục vậy. Hai mươi lăm
là như bị đập đánh vì bị tổn hại vậy. Hai mươi sáu
là bất định vì thạnh suy tăng giảm vậy. Hai mươi bảy
là thân chuyển theo tâm vì chẳng chánh tư duy vậy. Hai mươi
tám là chẳng biết ơn vì chắc bỏ gò mả vậy. Hai mươi
chín là bị kẻ khác ăn vì chồn sói kiến mối ăn vậy. Ba
mươi là như bộ máy vì gân xương chi trì vậy.Ba mươi mốt
là chẳng khả quan vì máu mủ phẩn dơ vậy. Ba mươi hai là
chẳng tự do vì phải nương uống ăn vậy Ba mươi ba là hư
vọng gói cột vì trọn bại hoại vậy. Ba mươi bốn là ác
hữu vì nhiều nghịch hại vậy. Ba mươi lăm là kẻ giết
hại vì nó tự tàn hại vậy. Ba mươi sáu là đồ khổ họa
vì nhiều khổ bức bách vậy. Ba mươi bảy là khối khổ vì
năm uẩn sanh vậy. Ba mươi tám là không có chủ vì các duyên
sanh vậy. Ba mươi chính là không có mạng vì rời lìa tướng
nam nữ vậy.Bốn mươi là rỗng không vì phải quán uẩn giới
xứ vậy. Bốn mươi mốt là hư vọng vì như chiêm bao vậy.
Bốn mươi hai là chẳng thiệt vì như huyễn hóa
vậy. Bốn mươi ba là huyễn hoặc vì như dương diệm vậy.
Bốn mươi bốn là thân nầy khi dối vì như bóng tượng trong
gương vậy.
Lúc quan sát
thân thể như vậy, đối với thân mạng vợ con tài vật
Bồ Tát đều lìa chán không còn ái luyến mau thành tựu sáu
Ba la mật sớm được vô thượng Bồ đề ».
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng:
« Ðược
thân người tốt rất là khó
Chớ vì
thân nầy tạo nghiệp ác
Cứu cánh
gò hoanh nuôi chồn sói
Chớ vì
ác kíến sanh tham ái
Phàm ngu
mê hoặc vì cuồng si
Do ái thân
nầy tạo ác nghiệp
Thân nầy
cũng lại chẳng biết ơn
Ngày đêm
chỉ thêm duyên khổ họa
Cơ quan động
chuyển thường mỏi nhọc
Mũi qiải
tiên lợi hằng tràn đầy
Ðói khát
nóng rét luôn bức ngặt
Nào có người
trí lại ái thân
Thân nầy
không nhàm như hố sâu
Luống hay
nuôi lớn những oán hại
Do nơi thân
nầy thường làm ác
Phải thọ
khổ báo vô lượng kiếp
Nên nhớ
gìa chết siêng tu phước
Chánh tín
sanh vào trong Phật pháp
Uống ăn
y phục các hương thoa
Dưỡng nuôi
thân nầy đã từ lâu
Ai hay nắm
giữ cho chẳng hoại
Phải biết
vô ích chớ đam mê
Ðức Phật
Như Lai rất khó gặp
Trong vô
lượng kiếp một lần hiện
Ðối với
Phật pháp nên tin sâu
Ác đạo
đáng sợ chớ theo nó
Dầu cho
sống lâu ngàn kiếp năm
Còn sợ
vô thường sanh lòng chán
Huống là
giây lát chẳng bảo đảm
Phải bị
trầm luân trong ác đạo
Hoặc có
ác hữu đến khuyên bảo
Thân người
khó được nay đã được
Cầu nhiều
của báu hưởng dục lạc
Kịp thuở
khỏe mạnh vui chơi thỏa
Có ai cầu
của mà sung sướng
Dầu được
giữ gìn vẫn khổ nhọc
Người ngu
như vậy luống vọng ngôn
Thế nên
người trí phải quan sát
Tài vật
như ảo cũng như mộng
Chúng sanh
ngu si bị phỉnh lầm
Trong sát
na được sát na mất
Ðâu có
người trí lại mến luyến
Như nhà
ảo thuật hóa ảo sự
Thành càn
Thát Bà nhiều hình sắc
Của báu
cũng vậy gạt phàm ngu
Ở trong
hư vọng nào có thiệt
Chiu nhiều
khổ não cầu tài lợi
Nước lửa
vua giặc thường xâm đoạt
Do đây hay
làm nhơn duyên khổ
Ðâu có
người trí sanh mến luyến
Có những
kẻ thường hoài tham ái
chạy theo
tài lợi không biết chán
Ðối với
cha mẹ không từ tâm
Cho đến
thân thuộc sanh oán hại
.Lời nói
thuận hành lòng sâu độc
Gây tạo
nhiều nghiệp duyên khi dối
Hoặc học
tà luận tà chú thuật
Dối khoe
tài nghệ như dâm nữ
Hoặc lại
siểm cuống hiện nhu hòa
Hoặc lại
cang cường hiện oai mãnh
Vô lượng
ác nghiệp nhiều như vậy
Không gì
chẳng do tài lợi sanh
San hô vàng
ngọc châu ma ni
Vật ấy
bổn lai như bọt bóng
Chẳng biết
được nó như ảo hóa
Vì vật
hư giả đọa tham đồ
Thời kỳ
Di Lạc Phật xuất thế
Bổ xứ
thành Phật nối Thích Ca
Cõi nước
hoàng kim lót mặt đất
Thất bửu
hiện ra từ đâu đến
Kiếp tận
thế gian bị thiêu hoại
Tu Di sông
biển khô cháy hết
Cứu cánh
hư mất hoàn hư không
Những của
báo nầy đi về đâu
Gây tạo
nghiệp báo ác cầu tài vật
Nuôi nấng
vợ con cho rằng vui
Ðến lúc
lăm chung khổ bức thân
Hoặc vợ
hoặc con không cứu được
Ở trong
tam đồ kinh sợ kia
Chẳng thấy
vợ con cùng thân thuộc
Ngựa xe
của báu thuộc người khác
Thọ khổ
có ai chia sớt được
Cha mẹ anh
em cùng vợ con
Bằng hữu
bè bạn và của cải
Chết đi
không một cùng gần kề
Chỉ có
ác nghiệp thường theo sát
Người trí
trọn chẳng vì thân ái
Mà tạo
nghiệp mãn mời ra khỏi
Thân thuộc
không ai thay thế được
Diêm La sứ
giả chỉ khảo nghiệp
Chẳng hỏi
thân quyến và bằng hữu
Người được
thân người chẳng bỏ ác
Khổ sở
nay phải cam nhận chiu
Diêm La thường
bảo người tội ấy
Ta không
gia được một chút tội
Người tự
tạo tội nay tự đến
Nghiệp báo
tự chiệu không ai thế
Cha mẹ vợ
con không cứu được
Chỉ nên
siêng tu nhơn xuất thế
Thế nê
phải bỏ nghiệp xích xiềng
Khéo biết
xa lìa cầu an lạc
Với vợ
con nhà nên biết sợ
Hằng nương
Phật giáo chánh tu hành
Tại gia
phùng thạnh là gốc khổ
Dường như
lò lữa rất đáng sợ
Thân tâm
nóng bức bị đốt cháy
Ðâu có
người trí sanh tham ái
Ưa thích
tu hành các Phật pháp
Không hề
doanh cầu là khoái lạc
Phàm phu
ngu tối chẳng biết hay
Nhà là gốc
khổ lại tham ái
Nơi khối
da xương gân thịt kia
Mê lầm
vọng tưởng là chồng vợ
Chẳng biết
thân thể như ảo hóa
Phàm phu
ngu tối sanh tham ái
Người trí
biết thân là lỗi họa
Dục lạc
trong đời đều vất bỏ
Cầu pháp
phải như cầu lương dược
Phải mau
bỏ lìa dây tại gia ».
Nghe pháp
xong năm trăm trưởng giả được vô sanh nhẫn vui mừng hớn
hở nói kệ rằng:
«Mừng thay
được lợi lớn
Tối thượng
trong lợi ích
Chúng tôi
đối Phật pháp
Ðều sanh
lòng vui thích
Phát xu đại
Bồ đề
Lợi lạc
cho chúng sanh
Pháp lành
dùng nuôi mạng
Giác huệ
tự an tâm
Thương xót
các chúng sanh
Nguyện sẽ
thành Phật đạo
Chúng tôi
đều đã phát
Tâm Bồ
đề vô thượng
Thân vàng
tướng trang nghiêm
Chiếu sáng
khắp thế giới
Người thích
tâm Bồ đề
Sẽ được
tâm Như Lai
Ðại tâm
Bồ đề tâm
Tối thượng
trong các tâm
Giải thoát
tất cả phược
Ðầy đủ
các công đức
Các chúng
sanh ít phước
Nơi đây
không ưa thích
Chẳng nhìn
lỗi sanh tử
Chẳng thích
tâm Bồ đề
Tâm Bồ
đề công đức
Nếu có
sắc phương phần
Rộng khắp
cõi hư không
Không gì
dung chứa được
Trong sát
độ chư Phật
Nhiều như
các sông Hằng
Giả sử
trải trân bửu
Dùng cúng
dường chư Phật
Có người
hay chấp tay
Hồi hướng
tâm Bồ đề
Phước đây
hơn phước trên
Chẳng thể
suy tính được
Nào riêng
phước cúng dường
Phước khác
cũng như vậy
Tâm Bồ
đề như vậy
Ðấng Tối
Thắng tuyên nói
Tâm Bồ
đề tối thắng
Như thuốc
a già đà
Trừ được
tất cả bịnh
Cho tất
cả an vui
Tôi thấy
các chúng sanh
Bị ba độc
nhiệt não
Trí giả
vô lượng kiếp
Cần khổ
thường tu tập
Như Y Vương
dũng mãnh
Ðầy đủ
hạnh Bồ đề
Cứu vớt
chúng sanh khổ
Lìa hẳn
các ưu não
Tất cả
chỗ thọ sanh
Trọn chẳng
bỏ thân nầy
Siêng tu
các hạnh nguyện
Dũng mãnh
cầu Phật pháp
Chúng tôi
được lợi lành
Chúng tôi
lòng vui thích
Nay gặp
Phật Thích Ca
Sẽ được
thân Như Lai ».
Bấy giờ
đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ diện môn của đức Phật
phóng ra những thứ tia sáng sanh vàng đỏ trắng hồng tía
pha lê chiếu đến vô lượng vô biên thế giới cho đến trời
Phạm Thế, oai quang cùa nhựt nguyệt đều bị ẩn khuất,
trở về nhiễu ba vòng rồi nhập vào đảnh Phật.
Tôn giả
An Nan đứng vậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp
tay bạch đức Phật rằng: «Bạch thế Tôn! Có nhân duyên
gì mà đức Phật mỉm cười ».
Tôn giả
liền nói kệ rằng:
«Chư Phật
là đạo sư tối thượng
Chẳng không
duyên cớ hiện mỉm cười
Ðấng thương
xót lợi ích thế gian
Xin nói nhơn
duyên của sự ấy
Chúng sanh
nghèo thiếu không pháp tài
Nên ban nói
thừa lớn tối thượng
Hay làm mắt
sáng cho thế gian
Xin nói nhơn
duyên Phật cười mỉm».
Ðức Phật
phán dạy: «Nầy A Nan! Ông có thấy năm trăm trưởng
giả nay ở trước Phật phát tâm vô thượng Bồ đề chăng?
-Vâng tôi
đã thấy, bạch đức Thế Tôn!
-Nầy A Nan!
Năm trăm trưởng giả nầy thuở xưa đã ở nơi trăm ngàn
ức na do tha chư Phật thừa sự cúng dường, trồng các thiện
căn, nay nghe ta nói pháp đều được vô sanh nhẫn. Các trưởng
giả nầy về sau chẳng còn sanh ác đạo thường thọ khoái
lạc trong Nhơn Thiên. Ðời sau ở chỗ Phật Di Lạc, các
trưởng giả nầy thân cận cúng dường cung kính tôn trọng
tán thán, với tất cả chư Phật trong Hiền kiếp cũng như
vậy, ở chỗ chư Phật nghe chánh pháp thọ trì đọc
tụng vì người mà giảng nói. Quá hai mươi lăm kiếp, các
trưởng giả nầy sẽ ở trong các Phật độ thành Vô thượng
Bồ đề đều thành một danh hiệu Thắng Liên Hoa Tạng Như
Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác».
Tôn Giả
An Nan bạch đức Phật: «Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thiện Thệ!
Nên đặt tên pháp môn quảng đại nầy là gì, chúng tôi phải
thọ trì thế nào? ».
Ðức Phật
phán dạy: «Nầy A Nan! Pháp môn nầy tên là Du Già Sư Ðịa,
cũng gọi là Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Sở Vấn, ông
nên thọ trì».
Ðức Phật
nói kinh nầy rồi, Tôn Giả A Nan và các Tỳ Kheo năm trăm trưởng
giả các chúng Bồ Tát, Trời Người Thiên Long Bát Bộ nghe
lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI
DŨNG MÃNH THỌ TRƯỞNG GIẢ
THỨ HAI
MƯƠI TÁM
HẾT