XXV
PHÁP HỘI
PHÁT THẮNG CHÍ NGUYỆN
THỨ HAI MƯƠI LĂM
Hán dịch:
Nhà Đưòng, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi
Việt dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Như vậy
tôi nghe một lúc đức Phật ở thành Ba La Nại chỗ tiên nhơn
ở trong vườn Thí Lộc cùng chúng đại Tỳ Kheo ngàn người
và năm trăm Bồ Tát.
Lúc ấy trong
chúng, có nhiều Bồ Tát nghiệp chướng sâu nặng, các căn
ám độn, thiện pháp kém ít, ưa ồn ào luận nói việc đời,
thích ngủ nghỉ, nhiều hí luận, rộng lo nhiều việc, tham
trước các thứ, làm những sự chẳng nên làm, quên mất chánh
niệm tu tập tà huệ siêng nơi việc hạ liệt, làm sự mê
hoặc.
Di Lặc Bồ
Tát ở trong pháp hội thấy chư Bồ Tát ấy, Ngài nghĩ rằng
chư Bồ Tát ấy đều đã thối chuyển nơi đạo phần viên
mãn Vô thượng Bồ đề. Nay tôi nên làm cho họ giác
ngộ mở tỏ sanh lòng vui mừng. Suy nghĩ như vậy xong,
lúc sáng sớm từ thiền định dậy, Di Lặc Bồ Tát đến
chỗ chư Bồ Tát ấy thăm hỏi rồi dùng lời dịu dàng mà
nói pháp yếu cho họ vui mừng. Nhơn đó Di Lặc Bồ Tát
bảo họ rằng : “Các ôngở nơi đạo phần viên mãn Vô thượng
Bồ đề được tăng trưởng mà chẳng thối chuyển chăng?”
Chư Bồ Tát
ấy đồng bạch rằng : “Bạch Tôn Giả ! Nơi đạo phần
viên mãn Vô thượng Bồ đề chúng tôi chẳng tăng trưởng
chỉ có thối chuyển. Tại sao, vì tâm chúng tôi thường
bị nghi hoặc che ngăn nên nơi Vô thượng Bồ đề chẳng hiểu
biết được. Thế nào là chúng tôi sẽ làm Phật hay
chẳng làm Phật ư ? Nơi pháp đọa lạc chúng tôi cũng
chẳng rõ được. Thế nào là chúng tôi sẽ đọa lạc
hay chẳng đọa lạc ư ? Vì những lẽ ấy nên thiện
pháp muốn sanh thường bị nghi hoặc làm rối mờ”.
Di Lặc Bồ
Tát bảo rằng : “Các ông nên cùng tôi đến trước đức
Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Đức Như Lai ấy là đấng
biết tất cả thấy tất cả, thành tựu đầy đủ trí vô
ngại tri kiến giải thoát. Đức Phật dùng sức phương
tiện biết rõ sở hành của tất cả chúng sanh, sẽ vì các
ông theo căn tánh mỗi người mà nói pháp cho”.
Trong chúng
năm trăm người có sáu mươi Bồ Tát cùng Di Lặc Bồ Tát
đến chỗ Phật đồng lậy chưn Phật buồn cảm rơi lệ chẳng
dậy được.
Di Lặc
Bồ Tát kính lễ Phật xong lui qua một bên.
Đức Phật
phán : “Các thiện nam tử nên dậy chớ có buồn khóc sanh
nhiệt não nhiều. Thuở xưa các ông gây tạo nghiệp ác,
đối với các chúng sanh các ông ưa thích giận mắng hủy
nhục chướng não tổn hại, tùy ý mình mà phân biệt, chẳng
biết được nghiệp báo sai khác, thế nên nay các ông bị
nghiệp chướng ràng buộc ngăn che mà ở nơi thiện pháp chẳng
tu hành được”.
Nghe lời
đức Phật dạy, chư Bồ Tát ấy đứng dậy trịch y
vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay cung kính mà bạch rằng
: “Bạch đức Thế Tôn ! Xin đức Như Lai vì chúng tôi
mà nói nghiệp chướng ấy. Chúng tôi biết tội sẽ tự
điều phục. Từ nay chúng tôi chẳng dám tái phạm”.
Đức Phật
phán : “Nầy các thiện nam tử ! Thuở xưa trong pháp
của đức Câu Lưu Tôn Như Lai các ông từng xuất gia tu hành,
các ông tự thị đa văn tu trì tịnh giới thường có lòng
kiêu mạn phóng dật. Các ông lại hành đầu đà thiểu
dục tri túc, ở nơi công đức nầy lại sanh chấp trước.
Bấy giờ có hai Tỳ Kheo thuyết pháp có nhiều thân hữu danh
tiếng lợi dưỡng. Với hai pháp sư ấy, vì lòng tham
ganh mà các ông vọng ngôn dèm chê là hành dâm dục sự.
Các thân hữu của hai Pháp Sư ấy bị các ngươi ly gián nói
phạm trọng tội nên đều nghi hoặc chẳng còn lòng tín thọ.
Các người ấy đối với hai pháp sư không lòng tùy thuận
dứt mất thiện căn. Do ác nghiệp ấy, các ông phải
đọa A Tỳ địa ngục trong sáu mươi trăm ngàn năm, ác nghiệp
chưa hết lại đã đọa đẳng hoạt địa ngục bốn mươi
trăm ngàn năm, kế đọa thiêu nhiệt địa ngục sáu mươi
trăm ngàn năm, rời khỏi địa ngục được thân người trong
năm trăm đời sanh manh đui mù, vì nghiệp tàn dư nên đời
đời nhiều ngu độn quên mất chánh niệm che chướng thiện
căn phước đức kém ít, hình dung thô xấu thiếu khuyết chẳng
ai ưa nhìn, thường bị chê bai khinh tiện cợt đùa khi ghét,
luôn luôn sanh tại biên địa bần cùng hạ tiện, tài vật
hao mất sanh sống gian nan. Từ thân hiện nay chết, thời
kỳ pháp sắp diệt đời mạt thế năm trăm năm sau lại sanh
làm người tại biên địa hạ liệt thiếu thốn lạnh đói
bị người khinh chê quên mất chánh niệm chẳng tu pháp lành,
dù có tu hành bị nhiều lưu nạn, dầu tạm thời phát khởi
ánh sáng trí huệ nhưng vì nghiệp chướng nên liền ẩn mất.
Sau năm trăm năm mạt thế ấy các nghiệp chướng mới tiêu
diệt, sau đó các ông sẽ sanh được thế giới Cực Lạc,
đức A Di Đà Phật sẽ vì các ông mà thọ ký Vô thượng
Bồ đề”.
Nghe lời
đức Phật dạy, chư Bồ Tát ấy cả mình lông dựng
lên rất hối hận, bèn tự gạt lệ bạch rằng : “Bạch
đức Thế Tôn ! Nay tôi phát lộ sám hối tội lỗi.
Chúng tôi thường đối với người Bồ Tát thừa khinh mạn
ghét ganh và các nghiệp chướng khác, nay đối trước đức
Phật sám hối tội lỗi. Chúng tôi ở trước đức Thế
Tôn phát hoằng thệ nguyện :
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
ở nơi người Bồ Tát thừa thấy có trái phạm mà cử bầy
lỗi người, là khi dối đức Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
đối với người Bồ Tát thừa mà cợt đùa chê ghét khủng
bố khinh tiện, là khi dối đức Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
thấy Bồ Tát tại gia Bồ Tát xuất gia dùng ngũ dục lạc
vui hưởng, chúng tôi trọn chẳng rình tìm lỗi họ mà thường
kính tin tưởng là giáo sư, nếu chẳng như vậy là khi dối
Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, đối với người
Bồ Tát thừa nếu chúng tôi bỏn xẻn nhà thân hữu và các
lợi dưỡng cùng não nhiễu thân tâm cho họ khổ sở là khi
dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, với người
Bồ Tát thừa nếu chúng tôi dùng một lời thô làm cho họ
chẳng vui là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, vì bảo hộ
những hoằng thệ này nên chúng tôi chẳng tiếc thân mạng,
nếu chẳng như vậy là khi dối đức Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, với hàng Thanh
Văn và Bích Chi Phật nếu chúng tôi dùng lòng khinh mạn bảo
họ chẳng hơn tôi là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
chẳng khéo xô phục thân mình tưởng là hạ liệt như hạng
Chiên Đà La và như loài chó là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
tự khen và chê người là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, nếu chúng tôi
chẳng ghê sợ chỗ đấu tranh mà đi tránh xa trăm do tuần
mau như gió thổi mạnh là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, ở nơi những
công đức trì giới đa văn đầu đà thiểu dục tri túc nếu
chúng tôi tự khoe khoang là khi dối Như Lai.
Bạch đức
Thế Tôn ! Từ ngày nay đến vị lai tế, tu pháp lành
chúng tôi chẳng tự kiêu căng, phạm tội nghiệp chúng tôi
hổ thẹn phát lộ, nếu chẳng như vậy là khi dối Như Lai”.
Đức Phật
khen : “Lành thay, lành thay ! Các thiện nam tử khéo nói
pháp giác ngộ như vậy, khéo phát thệ nguyện rộng lớn như
vậy. Hay dùng tâm quyết định như vậy để an trụ trong
ấy thì tất cả nghiệp chướng đều tiêu diệt, vô lượng
thiện căn cũng sẽ tăng trưởng”.
Đức Phật
lại bảo Di Lặc Bồ Tát : “Nầy Di Lặc ! Nếu có Bồ
Tát muốn tịnh trừ các nghiệp chướng nên phát thệ nguyện
rộng lớn như vậy”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Có thiện nam
tử thiện nữ nhơn hộ trì thệ nguyện ấy sẽ được viên
mãn bất thối chuyển chăng ?”
Đức
Phật phán : “Nầy Di Lặc ! Nếu có thiện nam tử thiện
nữ nhơn hành đạo Bồ Tát hộ trì thệ nguyện ấy thì họ
thà bỏ thân mạng chớ trọn không để kém khuyết cho thối
chuyển”.
Di Lặc Bồ
Tát lại bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đời mạt
thế, năm trăm năm sau lúc pháp sắp diệt, Bồ Tát hành bao
nhiêu pháp để an ổn không não nhiễu mà được giải thoát
?”
Đức
Phật phán : “Nầy Di Lặc ! Đời mạt thế, năm trăm
năm sau lúc pháp sắp diệt, Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì
an ổn không nhiễu não mà được giải thoát : một là nơi
chúng sanh chẳng tìm lỗi họ, hai là thấy chư Bồ Tát có
chỗ trái phạm trọn chẳng cử lộ, ba là nơi nhà thân hữu
và thí chủ chẳng chấp trước, bốn là dứt hẳn lời thô
cộc”.
Muốn tuyên
lại nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng :
“Chẳng
tìm lỗi lầm người
Cũng chẳng
cử tội người
Rời thô
cộc bỏn xẻn
Người nầy
được giải thoát.
Nầy Di Lặc
! Lúc pháp sắp diệt Bồ Tát nên thành tựu bốn pháp
thì an ổn không não nhiễu mà được giải thoát : một là
chẳng nên thân cận người giải đãi, hai là bỏ rời tất
cả chúng ồn náo ở riêng rảnh vắng, ba là thường tu tinh
tiến, bốn là dùng thiện phương tiện điều phục thân mình”.
Muốn tuyên
lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
“Nên rời
bỏ giải đãi
Xa lìa những
ồn náo
Tịch tĩnh
thường tri túc
Người nầy
sẽ giải thoát”.
Nói kệ xong
đức Thế Tôn bảo Di Lặc Bồ Tát : “Nầy Di Lặc !
Vì thế nên
thuở mạt thế năm trăm năm sau, Bồ Tát muốn tự không nhiễu
não được giải thoát, người muốn trừ diệt tất cả các
nghiệp chướng phải nên rời bỏ chỗ ồn náo ở trong rừng
tịch tĩnh a lan nhã, các loại người chẳng nên làm mà làm
cùng lười nhác biếng trễ đều phải xa lìa, chỉ tự xét
mình chẳng tìm lỗi người, thích điềm tĩnh nín lặng, siêng
tu công hạnh tương ưng với Bát Nhã Ba la mật, nếu muốn
ở nơi các chúng sanh mà thương xót làm lợi ích nhiều cho
họ thì phải dùng tâm không hy vọng thuyết pháp thanh tịnh.
Lại nầy
Di Lặc ! Nếu lúc Bồ Tát dùng tâm không hy vọng mà hành
pháp thí, chẳng trước danh văn lợi dưỡng quả báo, lấy
sự lợi ích người làm trên hết, thường vì chúng sanh mà
rộng tuyên chánh pháp thì sẽ được thành tựu hai mươi thứ
lợi ích, đó là chánh niệm thành tựu, trí huệ đầy đủ,
có sức kiên trì, tu hạnh thanh tịnh, sanh tâm giác ngộ, được
trí xuất thế, chẳng bị các ma được dịp tiện, ít tham
dục, không có sân hận, cũng chẳng ngu si, được chư Phật
ghi nhớ, Phi nhơn thủ hộ, vô lượng chư Thiên giúp thêm oai
đức, quyến thuộc thân hữu không ai ngăn phá được, lời
nói ra người đều tín thọ, chẳng bị oan gia rình tìm dịp
tiện, được vô sở úy, nhiều sự khoái lạc, được các
người trí khen ngợi, giỏi thuyết pháp mọi người kính ngưỡng.
Bồ Tát như
vậy lại được thành tựu hai mươi thứ lợi ích, đó là
biện tài chưa sanh mà được sanh, biện tài đã sanh trọn
không quên mất, thường siêng tu tập, được đà la ni, dùng
ít công dụng khéo hay lợi ích vô lượng chúng sanh, dùng ít
công dụng khiến các chúng sanh khởi tâm tăng thượng cung
kính tôn trọng, được thân khẩu ý thanh tịnh luật nghi,
siêu quá tất cả ác đạo bố úy, lúc mạng chung tâm được
hoan hỉ, hiển dương chánh pháp, xô dẹp dị luận, tất cả
hào khí oai đức tôn nghiêm còn chẳng thể rình trông được
huống là các chúng sanh ít phước hạ liệt, các căn thành
tựu không ai chói che được, đầy đủ nhiếp thọ ý lạc
thù thắng, được xa ma tha tỳ bát xá na, các hạnh khó làm
đều được viên mãn, phát khởi tinh tấn, khắp hộ trì chánh
pháp, mau được lên bậc bất thối chuyển, trong tất cả
công hạnh tuỳ thuận an trụ.
Lại nầy
Di Lặc ! Ông quan sát đời mạt thế năm trăm năm sau
có chư Bồ Tát rất là vô trí, lúc họ hành pháp thí nếu
được lợi dưỡng thì sanh lòng vui mừng, lúc chẳng được
lợi duỡng thì chẳng vui. Lúc họ vì người thuyết pháp,
họ nghĩ rằng làm sao khiến các thân hữu đàn việt quy thuộc
nơi tôi. Họ lại nghĩ làm sao khiến các Bồ Tát tại
gia xuất gia đối với tôi họ sanh lòng tịnh tín cung kính
cúng dường y phục ẩm thực ngọa cụ thuốc thang. Chư
Bồ Tát nầy vì tài lợi mà vì người thuyết pháp, nếu không
được lợi dưỡng thì họ chán mỏi.
Nầy Di Lặc
! Ví như có người tâm thích sạch sẽ, hoặc bị
đem thây rắn chết chó chết người chết sình thúi mủ máu
đeo vào cổ, người này khổ não rất gớm nhàm mê muội chẳng
an. Cũng vậy người thuyết pháp đời mạt thế năm trăm
năm sau nơi chỗ không lợi dưỡng không thuận lòng họ không
có thú vị, họ sanh lòng chán mỏi bỏ đi mà nghĩ rằng ở
nơi đây ta thuyết pháp vô ích, tại sao, vì các người nơi
đây đối với tứ sự cần dùng của tôi họ chẳng lo đến,
ở đây nói pháp làm gì cho nhọc mệt uổng công. Các
Pháp sư nầy tự cầu cúng dường cung cấp tôn trọng mà nhiếp
thọ chúng xuất gia và tại gia chớ chẳng vì pháp và sự
lợi ích người mà nhiếp thọ. Các Pháp sư nầy tự
cầu tứ sự lợi dưỡng mà dối hiện dị tướng vào vương
thành quốc ấp tụ lạc chớ chẳng vì lợi ích thành thục
chúng sanh mà làm pháp thí.
Nầy Di Lặc
! Đức Phật chẳng nói người có mong cầu là làm pháp
thí thanh tịnh. Tại sao, vì lòng có mong cầu thì pháp
không bình đẳng. Đức Phật chẳng nói người tâm tham
ô mà hay thành thục được chúng sanh. Tại sao, vì tự
mình chưa thành thục mà hay thành thục người không bao giờ
có. Đức Phật chẳng nói người tôn trọng cúng dường
an lạc tự thân tham nhiếp vật bất tịnh mà làm sự lợi
ích. Tại sao, vì người cầu tự thân an ổn đầy đủ
vui sướng nhiếp thọ chúng tôi thì chẳng thể khiến người
an trụ chánh tín. Đức Phật chẳng nói người dối trá
là ở a lan nhã tịch tĩnh, người phước đức mỏng ít là
thiểu dục, người tham vị ngon là tri túc, cầu nhiều thức
ăn ngon là khất thực. Đức Phật chẳng nói người khất
cầu các thứ y phục đẹp là trì phấn tảo y. Đức Phật
chẳng nói người mà hàng tại gia xuất gia không ai quen biết
là người lìa ồn náo. Đức Phật chẳng nói người
siểm khúc gặp Phật ra đời mà tìm lỗi dở của người
là tu hành đúng lý, người làm nhiều sự tổn hại là giới
tụ thanh tịnh, người tăng thượng mạn là đa văn đệ nhứt.
Đức Phật chẳng nói người ưa bè đảng là trụ luật nghi,
người tâm cống cao là tôn kính Pháp sư, người ỷ ngữ khinh
đùa là thuyết pháp giỏi, người cùng thế tục giao tạp
là có thể ở trong Tăng chúng mà rời lìa các lỗi lầm.
Đức Phật chẳng nói bỏ bớt thắng phước điền là bố
thí chẳng mong báo, người cầu báo ơn là nhiếp các sự việc
tốt, người cầu cung kính lợi dưỡng là chí thích thanh tịnh,
người nhiều vọng chấp là xuất gia. Đức Phật chẳng
nói người phân biệt bỉ ngã là ưa trì giới, người chẳng
tôn kính là nghe pháp, người ưa thích sách thế tục chú ếm
ngôn luận là yêu chánh pháp. Đức Phật chẳng nói người
ở nơi tánh không chẳng có thắng giải là có thể xuất ly
sanh tử, người nhiều chấp trước là rời lìa các hành.
Đức Phật chẳng nói người ở nơi Bồ đề phần an trụ
hữu sở đắc là chứng trí. Đức Phật chẳng nói người
không thế lực là thành tựu nhẫn nhục, người ít phiền
não là luật nghi thanh tịnh, người hành phương tiện là tu
hành đúng pháp. Đức Phật chẳng nói người ưa nói
chuyện là an trụ nhứt tâm, người ưa kinh doanh sự đời
là chẳng tổn chánh pháp, người chí nguyện thanh tịnh là
đọa các đạo, người tu tập trí huệ là làm hành ồn náo.
Đức Phật chẳng nói phương tiện tương ưng là siểm khúc,
chẳng cầu lợi dưỡng là vọng ngữ, không chấp trước là
hủy báng chánh pháp, người hộ chánh pháp mà tiếc thân mạng,
việc làm hạ liệt là không thắng mạn.
Nầy Di Lặc
! Đời mạt thế sau sẽ có Bồ Tát độn căn thiểu trí
siểm khúc hư cuống an trụ nơi tặc hạnh, ông phải thủ
hộ họ”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đời mạt thế
trong năm trăm năm sau, chỉ có sáu mươi Bồ Tát nầy bị nghiệp
chướng trói buộc, hay là còn chư Bồ Tát khác”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Đời mạt thế, năm trăm năm sau
có chư Bồ Tát phần nhiều bị nghiệp chướng trói buộc.
Các nghiệp chướng ấy hoặc có tiêu diệt hoặc lại tăng
trưởng.
Nầy Di Lặc
! Trong hàng năm trăm Bồ Tát đây có hai mươi Bồ Tát
nghiệp chướng kém ít, năm trăm năm sau sẽ sanh lại nơi thành
ấp tụ lạc chợ phố núi đồng nầy, dòng giống hào tôn
có oai đức lớn, thông minh trí huệ phương tiện khéo hay,
tâm ý điều nhu thường có lòng từ mẫn làm nhiều lợi ích,
dung mạo đoan nghiêm, biện tài thanh diệu, số thuật công
xảo đều giỏi, tự ẩn dấu tài đức mình mà an trụ hạnh
đầu đà công đức, sanh chỗ nào đều bỏ nhà vì đạo,
đã ở trong vô lượng a tăng kỳ câu chi kiếp chứa họp Vô
thượng Bồ đề hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng,
ở a lan nhã trong rừng vắng rảnh, thường siêng tu tinh tấn
chẳng cầu lợi dưỡng, khéo nhập vào tâm hành của tất
cả chúng sanh, chú thuật ngôn luận đều biết rõ cả, nơi
các nghĩa lý nghe ít hiểu nhiều, biện tài trí huệ đều
đầy đủ. Ở nơi pháp nầy chư Bồ Tát ấy siêng năng
tu tập được đà la ni vô ngại biện tại, ở trong hàng tứ
chúng tuyên nói chánh pháp, do sức oai đức gia bị của Phật
nên ở nơi Pháp của Phật nói mười hai bộ kinh đều được
thông thạo biện tài tự tại. Hai mươi Bồ Tát tài giỏi
ấy ở nơi Hòa Thượng A Xà Lê được nghe vô lượng trăm
ngàn khế kinh đều có thể thọ trì, sẽ nói thế nầy : Pháp
môn nầy của tôi là tôi đích thân nghe thọ với Hòa Thượng
A Xà Lê ấy không có nghi hoặc.
Nầy Di Lặc
! Vào thời kỳ ấy có hàng Bồ Tát tại gia Bồ Tát xuất
gia vì không có trí huệ thiện xảo phương tiện nên đối
với pháp được nói bởi Bồ Tát thọ trì chánh pháp nầy,
họ chê cười khinh hủy phỉ báng rằng : Pháp như vậy là
do các người dùng lời khôn khéo tùy ý chế tạo ra thiệt
chẳng phải của Như Lai tuyên nói, chúng tôi ở nơi pháp ấy
chẳng thể tin ưa phát tâm hi hữu. Do đây nên có vô
lượng chúng sanh đối với các Pháp sư nầy đều sanh lòng
phỉ báng bỏ đi mà bảo nhau rằng : Chư Tỳ Kheo ấy không
có quỷ phạm nhiều tà thuyết, chẳng y cứ khế kinh, chẳng
y cứ giới luật, như tuồng ca hát xướng kỹ, mọi người
chớ nên tin ưa phát tâm hi hữu, chẳng phải là chánh pháp
vậy.
Nầy Di Lặc
! Những người ngu ấy bị ma nó nhiếp trì đối với
pháp nầy họ chẳng hiểu được mà cho là chẳng phải của
Như Lai nói, với chư Tỳ Kheo trì pháp họ phỉ báng tạo nghiệp
hoại pháp do đây sẽ đọa ác đạo.
Nầy Di Lặc
! Vì lẽ ấy nên chư Bồ Tát có trí huệ thiện xảo muốn
hộ chánh pháp phải ẩn tài đức mình, với các chúng sanh
nhiều phân biệt phải cần hộ niệm chớ để họ sanh lòng
ác bất thiện”.
Di Lặc Bồ
Tát lại bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đời mạt
thế năm trăm năm sau có chư Bồ Tát rất vô trí ở trong đại
chúng phỉ báng chánh pháp và người trì pháp, nơi trong ấy
sẽ có biện tài và đà la ni mà họ chẳng tín thọ được.
Bạch đức
Thế Tôn ! Ví dụ như có người khát nước đi đến
suối ao để uống, trước đó người ấy đã đem phẩn dơ
đổ xuống ao nầy rồi, lúc sắp uống họ ngửi nước ao
nghe mùi hôi thúi nên chẳng uống. Đây là họ tự làm
dơ uế mà đổ lỗi tại nước đến đỗi bảo rằng rất
lạ sao nước nầy quá hôi thúi. Họ chẳng biết lỗi
tại họ trở lại oán trách nước ao.
Bạch đức
Thế Tôn ! Như nước ao ví dụ cho chư Tỳ Kheo trí pháp
do thần lực Phật mà khéo giải thuyết nơi pháp nhãn nầy.
Còn người ngu si đem phẩn dơ đổ xuống ao rồi không nhớ
biết lúc sau muốn uống, lại trách nước hôi là dụ cho chư
Bồ Tát vô trí trong đời mạt thế năm trăm năm sau đối
với chánh pháp và người trì pháp sanh lòng phỉ báng, rồi
sau đó lại đến người trì pháp nghe thuyết chánh pháp, họ
chẳng tự biết lỗi vì nghi hoặc ô nhiễm ý căn nên họ
khi dễ cười chê pháp sư, khinh hủy chánh pháp, tìm tòi chỗ
dở nói lời ô nhục nhàm chán bỏ đi”.
Đức Thế
Tôn khen rằng : “Lành thay, lành thay, Di Lặc khéo nói ví dụ
như vậy. Nầy Di Lặc ! Nên biết có bốn biện tài
mà tất cả chư Phật đều tuyên nói, lại có bốn biện tài
mà tất cả chư Phật đều cấm ngăn.
Những gì
là bốn biện tài được chư Phật tuyên nói : đó là
tương ưng với lợi ích chẳng phải tương ưng với bất lợi,
tương ưng với chánh pháp chẳng phải tương ưng với pháp,
tương ưng với phiền não diệt tận chẳng phải tương ưng
với phiền não tăng trưởng, tương ưng với Niết bàn công
đức chẳng phải tương ưng với sanh tử quá lậu, đây là
bốn biện tài được chư Phật tuyên nói. Nếu chư Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, người muốn thuyết pháp
nên an trụ nơi biện tài nầy. Các thiện nam tử thiện
nữ nhơn có lòng tín thuận, đối với người như vậy nên
sanh ý tưởng như Phật, coi là giáo sư và thính thọ chánh
pháp nơi người ấy. Tại sao, vì chỗ nói của người
ấy là chỗ nói của chư Như Lai, là lời thành thiệt của
tất cả chư Phật vậy.
Nầy Di Lặc
! Nếu có ai phỉ báng bốn biện tài nầy cho rằng chẳng
phải Phật nói chẳng có lòng cung kính tôn trọng, người
nầy do lòng oán ghét nên đối với bốn biện tài của tất
cả chư Phật Như Lai đã nói sanh lòng phỉ báng, họ phỉ
báng pháp rồi gây nghiệp hoại pháp, tạo nghiệp hoại pháp
rồi họ phải đọa ác đạo.
Vì thế nên,
nầy Di Lặc ! Nếu có thiện nam tử tịnh tín vì muốn
thoát khỏi tội nghiệp phỉ báng chánh pháp nên chẳng vì
ghét bỏ người mà ghét bỏ chánh pháp, chẳng vì người có
lỗi mà qui lỗi nơi chánh pháp, chẳng vì oán người mà oán
cả chánh pháp.
Nầy Di Lặc
! Thế nào là bốn thứ biện tài mà tất cả Như Lai
ngăn cấm. Đó là tương ưng với phi lợi ích mà chẳng
tương ưng với lợi ích, tương ưng với phi pháp mà chẳng
tương ưng với pháp, tương ưng với phiền não mà chẳng tương
ưng với phiền não diệt tận, tương ưng với sanh tử mà
chẳng tương ưng với công đức Niết bàn”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như lời đức
Phật đã dạy, nếu có biện tài tăng trưởng sanh tử thì
chẳng phải là chỗ tuyên nói của chư Như Lai, tại sao đức
Phật nói các phiền não hay làm sự lợi ích của Bồ Tát,
đức Phật lại khen ngợi nhiếp thủ sanh tử mà hay viên mãn
pháp Bồ đề phần, những biện thuyết ấy há chẳng phải
là chỗ nói của Như Lai ư ?”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Nay Phật hỏi ông tùy ý ông đáp.
Nếu có lời nói rằng Bồ Tát vì viên mãn thành tựu Bồ
đề phần mà nhiếp thủ sanh tử, lại nói dùng các phiền
não làm sự lợi ích. Lời nói trên đây là tương ưng
với lợi ích hay với phi lợi ích, là tương ưng với pháp
hay với phi pháp ?”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn! Nếu là chánh thuyết
thì tương ưng với lợi ích và pháp, vì hay làm cho pháp Bồ
đề phần của Bồ Tát được viên mãn”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Nếu nói Bồ Tát vì viên mãn pháp
Bồ đề phần mà nhiếp thủ sanh tử, lại nói các phiền
não hay làm sự lợi ích của Bồ Tát, biện thuyết như vậy
là chỗ tuyên nói của chư Phật Như Lai. Tại sao, nầy
Di Lặc ! chư Bồ Tát ấy được pháp tự tại các phiền
não được phát khởi không có lầm lỗi, đây là Bồ Tát
thiện xảo phương tiện, chẳng phải là cảnh giới của Thanh
Văn Duyên Giác.
Nầy Di Lặc
! Nếu có phiền não chẳng làm lợi ích được cho người,
chẳng hay làm viên mãn Bồ đề phần, chẳng tương ưng với
lợi ích chẳng tương ưng với pháp lúc nó phát khởi chỉ
làm nhơn duyên cho thiện căn hạ liệt, trong trường hợp nầy
Bồ Tát thà bỏ thân mạng chớ chẳng tùy theo các phiền não
ấy mà thật hành.
Nầy Di Lặc
! Nếu có Bồ Tát vì được trí lực nên ở nơi các
phiền não hiện có phan duyên, có Bồ Tát khác vì không trí
lực nên ở nơi các phiền não tăng trưởng chấp trước”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như tôi hiểu
nghĩa của đức Phật nói, nếu chư Bồ Tát thuở mạt thế
năm trăm năm sau muốn lìa sự trói buộc của các nghiệp chướng,
tự không tổn hại mà được giải thoát, người nầy sẽ
sanh tín giải sâu ở trong Bồ Tát hạnh, vì lỗi lầm của
người chẳng sanh phân biệt, chí cầu công đức chơn thiệt
của Như Lai”.
Đức Phật
phán : “Đúng vậy. Nầy Di Lặc ! Vì thế nên phải
sanh tín giải sâu ở trong phương tiện hạnh của chư Bồ
Tát, tại sao, vì phương tiện hạnh của huệ hành Bồ Tát
rất khó tín giải vậy.
Nầy Di Lặc
! Ví như vị Tu Đà Hoàn thị hiện phàm phu hạnh.
Hàng phàm phu với Tu Đà Hoàn ngôi vị đều sai biệt.
Người phàm phu vì sự trói buộc của tham sân si mà đọa
ác đạo, mà người Tu Đà Hoàn hay khéo liễu đạt tham sân
si trọn chẳng bị sa đọa ác đạo.
Huệ hành
Bồ Tát cũng như vậy, ở nơi tập khí tham sân si chưa dứt
mà cũng khác với sơ nghiệp Bồ Tát. Tại sao, vì tâm
của huệ hành Bồ Tát chẳng bị phiền não che lấp chẳng
đồng với các sơ nghiệp Bồ Tát.
Đơn hành
Bồ Tát không có thiện xảo đồng với phàm phu chẳng xuất
ly được.
Nầy Di Lặc
! Tất cả trọng tội, huệ hành Bồ Tát dùng sức trí
huệ đều hay xô diệt, cũng chẳng nhơn đó mà đọa ác đạo.
Ví như có
người đem củi gỗ ném vào khối lửa lớn, luôn luôn thêm
củi, do đó ngọn lửa càng thêm sáng không hề tắt.
Cũng vậy, nầy Di Lặc, huệ hành Bồ Tát dùng lửa trí huệ
đốt củi phiền não luôn luôn thêm củi gỗ phiền não, do
đó khối lửa trí huệ thêm sáng mãi không hề tắt.
Nầy Di Lặc
! Đúng vậy, sức trí huệ thiện xảo phương tiện của
huệ hành Bồ Tát rất khó biết rõ”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Sơ nghiệp Bồ
Tát đã xuất gia rồi mà chưa được sức trí huệ, nay muốn
được thì nên xả bỏ pháp gì nên tu pháp gì để cho huệ
lực chưa sanh thì được sanh, huệ lực đã sanh thì tăng trưởng”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát đã xuất gia
rồi muốn huệ lực được tăng trưởng, nên đối với
lợi dưỡng biết rõ tội lỗi của nó và cần xả ly.
Với những lỗi ưa ồn náo nói chuyện thế tục, ưa ngủ
nghỉ làm nhiều công việc thích hí luận đều phải xa rời.
Phải bỏ lợi dưỡng mà tập thiểu dục, bỏ nơi ồn náo
mà thích vắng lặng, bỏ chuyện đời mà quán thiệt nghĩa,
đầu hôm cuối đêm phải xa rời ngủ nghỉ để quan sát tư
duy tùy hành tu tập, xả bỏ các công vụ và các hí luận
mà tu đạo xuất thế, thương nhớ chúng sanh.
Nầy Di Lặc
! Sơ nghiệp Bồ Tát đã xuất gia rồi chưa được huệ
lực mà muốn được thì phải bỏ và tu như vậy. Tại
sao, vì chẳng bỏ lợi dưỡng để tu thiểu dục mà muốn
sanh huệ lực chưa sanh muốn tăng trưởng huệ lực đã sanh
thì chẳng bao giờ có. Chẳng bỏ ồn náo chẳng thích ở vắng
lặng chẳng bỏ chuyện đời chẳng quán thiệt nghĩa mà muốn
sanh và trưởng huệ lực cũng chẳng bao giờ có. Đầu
hôm cuối đêm ham ưa ngủ nghỉ chẳng giác ngộ nhiếp niệm
tư duy, chẳng bỏ công vụ ưa hí luận, chẳng tu đạo xuất
thế, với chúng sanh chẳng thương nhớ mà muốn sanh huệ lực
đã sanh cũng đều chẳng bao giờ có. Tại sao, vì Bồ
Tát trí lực từ nhơn duyên sanh, nếu không nhơn duyên thì
trọn chẳng sanh được. Nhơn duyên hòa hiệp mới được
sanh sức trí huệ”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là
lỗi của lợi dưỡng, nếu lúc quán sát hay khiến Bồ Tát
thích xa lìa chẳng phát sanh nhiệt não ?”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quan sát
lợi dưỡng vì sanh tham dục vậy, nên quan sát lợi dưỡng
vì hư mất chánh niệm sân khuể vậy, nên quan sát lợi dưỡng
vì quan niệm đắc thất sanh ngu si vậy, nên quan sát lợi dưỡng
vì hay sanh tâm cao hạ tất đố vậy, nên quan sát lợi dưỡng
vì ở nơi nhà thân hữu xan lẫn ham ưa sanh cuống hoặc vậy,
nên quan sát lợi dưỡng vì gây nên ưa thích sanh siểm khúc
vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì bỏ bốn thánh chủng không
tàm quí vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì tất cả chư Phật
chẳng hứa khả, quen phóng dật sanh cao mạn vậy, nên quan
sát lợi dưỡng vì bỏ thắng phước điền khởi khinh mạn
làm ma đảng vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì là căn bổn
các điều ác mà phá hư các điều lành vậy, nên quan sát
lợi dưỡng vì nhiều sự tham trước như sương tuyết vậy,
nên quan sát lợi dưỡng vì ở nơi nhà thân hữu xem chờ nhan
sắc sanh ưu não vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì yêu mến
đồ vật tổn hoại bị lòng lo rầu nhiễu loạn vậy, nên
quan sát lợi dưỡng vì ở nơi bốn niệm xứ nhiều quên mất
làm kém hao bạch pháp vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì ở
nơi bốn chánh cần nhiều thối thất hay khiến tất cả tha
luận thắng vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì tự khoe nói
đã được thần thông trí huệ sanh sự sai trái vậy, nên
quan sát lợi dưỡng vì trước sau đắc thất sanh lòng oán
ghét vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì giận ghét nhau nói lỗi
lầm nhiều giác quán vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì lo sanh
sống mà kinh doanh nghiệp đời so tính suy tư giảm mất sự
an lạc vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì với những thiện
căn cho đến thiền định giải thoát tam muội tam ma bát đề
lòng như dâm nữ hay thối thất vậy, nên quan sát lợi dưỡng
vì bỏ rời trí đức đoạn đức đọa vào các ác đạo địa
ngục súc sanh ngạ quỉ vậy, nên quan sát lợi dưỡng vì cùng
Đề Bà Đạt Đa và Ô Đà Lạc Ca đồng pháp đồng trụ phải
đọa ác đạo vậy.
Nầy Di Lặc
! Sơ nghiệp Bồ Tát quan sát tội lỗi của lợi dưỡng
như vậy rồi thích ưa thiểu dục chẳng sanh nhiệt não.
Tại sao, vì Bồ Tát thiểu dục thì chẳng sanh tất cả tội
lỗi có thể làm pháp khí thanh tịnh của Phật, chẳng hệ
thuộc tại gia hay xuất gia, an trụ trí nguyện chơn thiệt
tối thắng, chẳng làm ti hạ cũng chẳng kinh sợ vì rời lìa
sự lo sợ đọa lạc ác đạo vậy, không gì che lấp được
vì bỏ sự say đắm vậy, vì được thoát khỏi các cảnh
giới ma vậy, được tất cả chư Phật ngợi khen, chư Thiên
và mọi người cũng sẽ kính mến, với các thiền định cũng
chẳng nhiễm trước vì an trụ biên tế vậy, lòng dạ chất
trực không siểm khúc, ở trong ngũ dục chẳng phóng dật vì
thấy lỗi của nó, tu hành đúng pháp hay an trụ thánh chủng,
người đồng phạm hạnh cũng sẽ mến ưa.
Nầy Di Lặc
! Nếu có Bồ Tát trí huệ thông sáng ở nơi công đức
nầy có thể biết như vậy, do ý nguyện thù thắng nên bỏ
lợi dưỡng, do ý nguyện thù thắng an trụ thiểu dục, vì
dứt tham ái mà pháp khởi vậy.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào gọi
là lỗi ở trong ồn náo, lúc quan sát Bồ Tát ở riêng vắng
lặng chẳng sanh nhiệt não”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quan sát
tội lỗi của ồn náo có hai mươi thứ, lúc quan sát hay khiến
Bồ Tát ở riêng vắng lặng chẳng sanh nhiệt não.
Thế nào
ưa nơi ồn náo có hai mươi điều lỗi ?
Một là chẳng
hộ thân nghiệp, hai là chẳng hộ khẩu nghiệp, ba là chẳng
hộ ý nghiệp, bốn là nhiều tham dục, năm là thêm ngu si,
sáu là ưa nói chuyện đời, bảy là rời lời xuất thế,
tám là với phi pháp tôn trọng tu tập, chín là bỏ lìa chánh
pháp, mười là thiên ma được dịp tiện, mười một là nơi
hạnh bất phóng dật chưa từng tu tập, mười hai là nơi hạnh
phóng dật thường có lòng nhiễm trước, mười ba là nhiều
giác quán, mười bốn là tổn giảm đa văn, mười lăm là
chẳng được thiền định, mười sáu là không có trí huệ,
mười bảy là mau chóng được các phi phạm hạnh, mười tám
là chẳng mến Phật, mười chín là chẳng mến Pháp, hai mươi
là chẳng mến Tăng”.
Đức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
“Bỏ rời
những tham sân
Chẳng ở
nơi ồn náo
Nếu có
chuyên ở đó
Là lỗi
chẳng nên làm
Kiêu mạn
và giác quán
Đều do
ồn náo sanh
Người không
giới không hạnh
Khen tặng
nơi ồn náo
Kẻ ngu thích
thế luận
Thối thất
đệ nhứt nghĩa
Phóng dật
nhiều giác quán
Lỗi nầy
chẳng nên làm
Tỳ Kheo
bỏ đa văn
Ngôn luận
chẳng đúng lý
Tổn giảm
các thiền định
Thường
tư duy thế gian
Người ham
ưa tư duy
Làm sao được
tịch tĩnh
Lòng họ
thường phóng dật
Lìa hẳn
các chỉ quán
Mau được
phi phạm hạnh
Ồn
náo không luật nghi
Họ chẳng
mến nơi Phật
Cũng chẳng
mến Thánh chúng
Vất bỏ
pháp ly dục
Say mê lời
phi pháp
Ta thường
bỏ ngàn thân
Tay chân và
đầu mắt
Vì cầu
đạo vô thượng
Nghe pháp
không chán đủ
Các ngưòi
phi pháp nầy
Nghe chút
ít liền bỏ
Xưa ta làm
quốc vương
Vì cầu
bốn câu kệ
Cả vợ
con của báu
Đều hay
đem bố thí
Nào có bực
trí giả
Mà chẳng
siêng nghe pháp
Ta thường
bỏ tất cả
Những hí
luận phi pháp
Vì trong
trăm ngàn kiếp
Khó được
giải thoát vậy
Các ông
nên ưa thích
Chí cầu
pháp vi diệu
Nếu người
ưa giải thoát
Các công
đức tối thắng
Những sự
nghiệp thế gian
Đều chẳng
nên hỏi đến
Áo cơm không
lợi tốt
Cũng chẳng
chứng Niết bàn
Nên ngợi
khen tối thắng
Chư Tỳ
Kheo thiện lai
Phải trải
tòa mời ngồi
Cùng nhau
nói pháp yếu
Thân người
rất khó được
Tùy phần
tu bạch pháp
Đọc tụng
và thiền định
Ông phải
hỏi như vậy
Đức Phật
nhập Niết bàn
Chánh pháp
sẽ hoại diệt
Tỳ Kheo
nhiều phóng dật
Ưa đông
bỏ rảnh vắng
Vì uống
ăn lợi dưỡng
Ngày đêm
thuận sự đời
Người ngu
ở trong mộng
Kinh sợ
và trôi đắm
Tự biết
phạm tội nhiều
Sẽ đọa
ba ác đạo
Nên sanh
lòng hoan hỷ
Ở riêng
nơi rảnh vắng
Hoặc ở
a lan nhã
Chí cầu
đạo vô thượng
Chẳng nên
thấy lỗi người
Tự khoe tôn
thắng nhứt
Kiêu căng
gốc phóng dật
Chớ khinh
kẻ hạ liệt
Họ ở trong
chánh pháp
Lần lượt
sẽ giải thoát
Tỳ Kheo
dầu phá giới
Mà sâu tin
Tam bảo
Đây là
nhơn giải thoát
Chẳng nên
thấy lỗi họ
Khó dẹp
phục tham sân
Chớ kinh
sợ phóng dật
Thói quen
nên phải vậy
Vì thế
chẳng nên nói
Nếu Tỳ
Kheo thanh tịnh
Rình tìm
lỗi của người
Rất là
chẳng chơn thiệt
Chẳng gọi
tu chánh pháp
Người tu
hành đúng pháp
Phải nên
tự quan sát
Chư Tỳ
Kheo cầu đạo
Bỏ rời
ngôn luận ác
Thường
dùng tâm hoan hỷ
Ở riêng
nơi rảnh vắng”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Ham thích ồn
ào bèn có vô lượng tội lỗi như vậy thối thất công đức
không được lợi ích thêm lớn phiền não sa đọa ác đạo
rời lìa bạch pháp. Nào có Bồ Tát cầu pháp lành được
nghe tội lỗi nầy mà chẳng thích ở riêng rảnh vắng.
Bạch đức
Thế Tôn ! Thế nào gọi là lỗi của sự nói chuyện
đời, nếu lúc quan sát Bồ Tát nên an trụ nghĩa quyết định,
do quán sát nghĩa ấy mà chẳng sanh nhiệt não ?”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! ! Sơ nghiệp Bồ Tát phải
nên quán sát nói chuyện đời có hai mươi điều lỗi, lúc
quán sát có thể làm cho Bồ Tát an trụ quyết định nghĩa,
do quán nghĩa ấy mà chẳng sanh nhiệt não.
Những gì
gọi là ưa nói chuyện đời có hai mươi điều lỗi ?
Một là lòng
sanh kiêu tứ chẳng kính đa văn, hai là ở nơi các tranh luận
sanh nhiều chấp trước, ba là mất chánh niệm tác ý đúng
lý, bốn là làm sự chẳng nên làm thân nhiều tháo động,
năm là mau chóng cao hạ hư hoại pháp nhẫn, sáu là tâm thường
cương cường chẳng huân tu thiền định trí huệ, bảy là
nói phi thời bị ngôn luận ràng buộc, tám là chẳng thể
kiên cố chứng Thánh trí, chín là chẳng được Thiên Long
cung kính, mười là bị người biện tài thường có lòng khinh
rẻ, mười một là bị người thân chứng quở trách, mười
hai là chẳng an trụ chánh tín thường có lòng hối hận, mười
ba là lòng nhiều nghi hoặc dao động chẳng an, mười bốn
là như hàng xướng kỹ theo dõi âm thanh, mười lăm là nhiễm
trước các dục lạc theo cảnh lưu chuyển, mười sáu là chẳng
quan sát chơn thiệt phỉ báng chánh pháp, mười bảy là có
mong cầu chi thường chẳng được toại nguyện, mười tám
là tâm chẳng điều thuận bị người chê bỏ, mười chín
là chẳng biết pháp giới tùy thuận ác hữu, hai mươi là
chẳng rõ các căn hệ thuộc phiền não”.
Đức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
“Kiêu ngạo
nơi đa văn
Chấp trước
các tranh luận
Thất niệm
bất chánh tri
Đây là
lỗi chuyện đời
Xa rời chánh
tư duy
Thân tâm
chẳng tịch tĩnh
Thối thất
nơi pháp nhẫn
Đây là lỗi
thế thoại
Tâm họ
chẳng điều thuận
Xa rời xa
ma tha
Và tỳ bát
xá na
Đây là
lỗi thế thoại
Chẳng tôn
kính Sư Trưởng
Ưa thích
các thế luận
Trí huệ
chẳng kiên cố
Đây là
lỗi thế thoại
Chư Thiên
chẳng cung kính
Long thần
cũng như vậy
Thối thất
nơi biện tài
Đây là
lỗi thế thoại
Bực thánh
thường quở trách
Các người
đam mê ấy
Luống uổng
nơi thọ mạng
Đây là
lỗi thế thoại
Các hành
đều khuyết giảm
Xa lìa đại
Bồ đề
Mạng chung
sanh ưu não
Đây là
lỗi thế thoại
Nghi hoặc
tâm giao động
Như gió
thổi động cỏ
Trí huệ
chẳng kiên cố
Đây là
lỗi thế thoại
Ví như người
xướng kỹ
Khen nói
là dũng kiện
Người ấy
cũng như vậy
Đây là
lỗi thế thoại
Theo dõi
ngữ ngôn đời
Nhiễm trước
các cảnh dục
Thường
làm những tà đạo
Đây là
lỗi thế thoại
Mong cầu
lòng chẳng toại
Siểm khúc
nhiều tranh luận
Xa rời các
Thánh hạnh
Đây là
lỗi thế thoại
Người ngu
được chút lợi
Lòng họ
thường dao động
Như khỉ
vượn tháo nhiễu
Đây là
lỗi thế thoại
Nhiều thối
thất trí huệ
Không có
lòng giác ngộ
Bị kẻ
ngu nhiếp trì
Đây là
lỗi thế thoạ
Mê hoặc
nơi mắt tai
Nhẫn đến
ý cũng vậy
Thường
cùng phiền não chung
Đây là
lỗi thế thoại
Kẻ ngu ưa
thế thoại
Trọn đời
thường luống qua
Chẳng bằng
suy nhứt nghĩa
Được lợi
ích vô biên
Ví như vị
ngọt mía
Dầu chẳng
rời vỏ đốt
Mà được
vị ngọt ngon
Vỏ đốt
như nói chuyện
Nghĩa lý
như vị ngọt
Vì thế
bỏ hư ngôn
Suy gẫm
nơi thiệt nghĩa
Chư Bồ
Tát trí huệ
Hay biết
lỗi thế thoại
Nên thường
thích suy gẫm
Công đức
đệ nhứt nghĩa
Pháp vị
và nghĩa vị
Giải thoát
vị đệ nhứt
Ai là người
có trí ?
Mà lòng
chẳng ưa thích
Vì thế
nên phải bỏ
Các ngôn
luận vô lợi
Thường
ưa siêng suy gẫm
Đệ nhứt
nghĩa thù thắng
Pháp đệ
nhứt như vậy
Được chư
Phật ngợi khen
Vì thế
người trí sáng
Nên vui siêng
tu tập”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đức Như Lai
khéo hay nói lỗi của thế thoại và công đức lợi ích suy
gẫm nghĩa thù thắng, nào có Bồ Tát chí cầu trí huệ chơn
thiệt của Phật mà lại còn ưa chuyện trò sự đời hư cuống.
Bạch đức
Thế Tôn ! Thế nào là lỗi của ngủ nghỉ, nếu lúc
quán sát Bồ Tát nên phải phát khởi tinh tấn chẳng sanh nhiệt
não ?”.
Đức Phật
phán : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát
ngủ nghỉ có hai mươi điều lỗi, lúc quán sát có thể làm
cho Bồ Tát phát khởi tinh tấn ý nguyện chẳng mỏi : Một
là giải đãi lười nhác, hai là thân thể trầm trọng, ba
là nhan sắc tiều tụy, bốn là thêm tật bịnh, năm là hơi
nóng ấm kém yếu, sáu là ăn chẳng tiêu hóa, bảy là thân
thể sanh mụn ghẻ, tám là chẳng siêng tu tập, chín là thêm
lớn ngu si, mười là trí huệ yếu kém, mười một là da thứa
tối đục, mười hai là Phi Nhơn chẳng kính, mười ba là việc
làm ngu độn, mười bốn là phiền não ràng buộc, mười lăm
là phiền não che lấp tâm trí, mười sáu là chẳng thích pháp
lành, mười bảy là bạch pháp tổn giảm, mười tám là làm
việc hạ tiện, mười chín là ghét ganh tinh tấn, hai mươi
là bị người khinh rẻ”.
Đức Thế
Tôn nói kệ rằng :
“Thân nặng
không nghi kiểm
Giải đãi
ít kham nhiệm
Nhan sắc
không sáng nhuần
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Người ấy
nhiều bịnh não
Tích tập
nhiều phóng nhiệt
Tứ đại
ngược trái nhau
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Ăn uống
không tiêu hóa
Thân thể
không sáng nhuần
Tiếng nói
chẳng trong suốt
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Thân họ
sanh ghẻ chốc
Ngày đêm
thường say ngủ
Các trùng
độc nảy sanh
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Thối thất
hạnh tinh tiến
Thiếu hụt
các của báu
Nhiều mộng
không giác ngộ
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Lưới si
mê thêm lớn
Thích ưa
các kiến chấp
Mạnh chắc
khó đối trị
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Tổn giảm
các trí huệ
Thêm lớn
các ngu si
Chí ý thường
hạ liệt
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Họ ở a
lan nhã
Mà lòng
thường biếng lười
Quỷ thần
được tiện lợi
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Mù mờ mất
chánh niệm
Phúng tụng
chẳng thông thuộc
Thuyết pháp
nhiều lãng quên
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Do si sanh
mê lầm
An trụ trong
phiền não
Lòng họ
chẳng an vui
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Công đức
đều tổn giảm
Thường
sanh lòng lo buồn
Thêm lớn
các phiền não
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Xa rời các
thiện hữu
Cũng chẳng
cầu chánh pháp
Thường
đi trong phi pháp
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Chẳng mong
cầu pháp lạc
Tổn giảm
các công đức
Xa rời các
bạch pháp
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Tâm người
ấy khiếp nhược
Ít khi có
hoan hỷ
Tay chưn
thường ốm gầy
Là lỗi
ưa ngủ nghỉ
Tự biết
mình giải đãi
Ghét ganh
người tinh tiến
Thích rao
nói lỗi người
Là lỗi ưa
ngủ nghỉ
Người trí
hiểu lỗi ấy
Thường
xa rời ngủ nghỉ
Kẻ ngu thêm
kiến chấp
Vô ích tổn
công đức
Người trí
thường tinh tiến
Siêng tu
đạo thanh tịnh
Thoát khổ
được an lạc
Chư Phật
thường ngợi khen
Các kỹ
nghệ thế gian
Và công
xảo xuất thế
Đều do
sức tinh tiến
Người trí
phải tu tập
Nếu người
hướng Bồ đề
Biết rõ
lỗi ngủ nghỉ
An trụ sức
tinh tiến
Giác ngộ
sanh tàm quý
Vì thế
những người trí
Thường
sanh lòng tinh tiến
Bỏ rời
sự ngủ nghỉ
Gìn giữ
giống Bồ đề”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Kẻ ưa ngủ
nghỉ có vô lượng lỗi lầm như vậy. Nếu ngưòi nào
được nghe mà chẳng sanh lòng lo lắng nhàm lìa để phát khởi
tinh tiến, nên biết rằng người này rất ngu si.
Nếu Bồ
Tát có chí cầu Vô thượng Bồ đề nghe nói cú nghĩa chơn
thiệt công đức lợi ích như vậy mà đối với pháp lành
chẳng phát khởi tinh tiến an trụ các phần Bồ đề lại
sanh lòng giải đãi thì không bao giờ có.
Bạch đức
Thế Tôn ! Thế nào là lỗi trong các sự vụ mà lúc quan
sát khiến chư Bồ Tát chẳng kinh doanh sự vụ ?”.
Đức Phật
dạy : “Nầy Di Lặc ! Hàng Bồ Tát sơ nghiệp phải nên
quan sát người ưa kinh doanh sự vụ có hai mươi điều lỗi,
lúc quan sát như vậy có thể làm cho Bồ Tát chẳng kinh doanh
sự vụ mà siêng tu tập Phật đạo
Những gì
là hai mươi lỗi về kinh doanh sự vụ ?
Một là
ham thích nghiệp hạ liệt thế gian. Hai là bị chư Tỳ Kheo
chuyên đọc tụng tu hành khinh rẻ. Ba là bị chư Tỳ
Kheo chuyên tu thiền định quở trách. Bốn là tâm thường
phát khởi nghiệp sanh tử lưu chuyển từ vô thỉ. Năm
là luống thọ sự cúng thí của các cư sĩ có tín tâm.
Sáu là lòng tham ưa tài vật. Bảy là thường ưa rộng
mở sự vụ thế gian. Tám là tưởng nhớ gia nghiệp mà
lòng thường lo lắng. Chín là tánh tình hung dữ phát
ngôn thô lỗ. Mười là lòng thường tưởng nhớ gia nghiệp.
Mười một là ham thích món ngon thêm lớn tham dục. Mười
hai là các nơi không lợi dưỡng thì chẳng sanh lòng hoan hỷ.
Mười ba là hay sanh nghiệp não hại chướng ngại. Mười
bốn là thường ưa thân cận các Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di.
Mười lăm là chỉ nhớ ăn mặc mà qua ngày đêm. Mười
sáu là luôn hỏi việc làm ăn thế gian. Mười bảy là
thường ưa nói lời phi pháp. Mười tám là cậy mình
kinh doanh sự vụ mà sanh kiêu mạn. Mười chín là chỉ
tìm lỗi người mà chẳng tự quan sát. Hai mươi là đối
với người thuyết pháp ôm lòng khinh rẻ”.
Đức Thế
Tôn nói kệ rằng :
“An trụ
nghiệp hạ liệt
Rời xa hạnh
thù thắng
Thối thất
lợi ích lớn
Là lỗi
ưa sự vụ
Bị chư
đại Tỳ Kheo
Tụng kinh
và tham thiền
Khinh khi
và quở trách
Là lỗi
ưa sự vụ
Thường tạo
nghiệp sanh tử
Xa rời nhơn
giải thoát
Luống thọ
của tín thí
Là lỗi
ưa sự vụ
Thích nhận
các của báu
Chẳng được
thì lo khổ
An trụ hạnh
hạ liệt
Là lỗi
ưa sự vụ
Người ấy
nhiều ái nhiễm
Qua lại
nhà dâm nữ
Như chim
chui vào lồng
Là lỗi
ưa sự vụ
Thường
lo rầu gia nghiệp
Luôn ôm
lòng nóng khổ
Lời nói
người chẳng tin
Là lỗi
ưa sự vụ
Chẳng thích
nghe thầy dạy
Chống trả
lại khinh tiện
Hủy phạm
giới thanh tịnh
Là lỗi
ưa sự vụ
Lòng họ
nhiều tưởng nhớ
Siêng toan
lo nghiệp đời
Chẳng thể
tu định huệ
Là lỗi nhiều
sự vụ
Lòng tham
thường xí thạnh
Thích ưa
những ngon đẹp
Không hề
biết tri túc
Là lỗi
nhiều sự vụ
Được lợi
lòng vui mừng
Thất lợi
lòng buồn lo
Tham lẫn
không từ tâm
Là lỗi
nhiều sự vụ
Hại người
không xót thương
Thêm lớn
những nghiệp ác
Dây ái cột
chặt nhau
Là lỗi
nhiều sự vụ
Xa rời các
Sư Trưởng
Gần gũi
các bạn dữ
Chê đuổi
người trì giới
Là lỗi
nhiều sự vụ
Ngày đêm
không tưởng khác
Chỉ nhớ
đến ăn mặc
Chẳng thích
các công đức
Là lỗi
nhiều sự vụ
Thường
hỏi chuyện thế gian
Chẳng ưa
lời xuất thế
Say mê các
tà thuyết
Là lỗi
nhiều sự vụ
Tự thị
biết công việc
Khinh mạn
chư Tỳ Kheo
Chẳng khác
kẻ cuồng say
Là lỗi
nhiều sự vụ
Thường
rình tìm lỗi người
Chẳng thấy
lỗi của mình
Khinh chê
người có đức
Là lỗi
nhiều sự vụ
Người ngu
si như vậy
Không có
phương tiện hay
Khinh mạn
người thuyết pháp
Là lỗi
nhiều sự vụ
Sự nghiệp
hạ liệt ấy
Có đủ
những lỗi lầm
Đâu có
người trí huệ
Lại ưa
học tập nó
Nghiệp thanh
tịnh thù thắng
Đầy đủ
các công đức
Đây là
chỗ người trí
Ưa thích
thường học tập
Nếu kẻ
ưa sự đời
Người trí
nên quở trách
Như người
bỏ thất bảo
Tham lấy
những sỏi đá
Thế nên
người trí sáng
Nên bỏ
sự nghiệp đời
Phải cầu
pháp thắng thượng
Chư Phật
thường khen ngợi”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Chư Bồ Tát
ấy bỏ rời hạnh nghiệp tinh tiến thù thắng mà phát khởi
sự vụ hạ liệt thế gian, nên biết họ là kẻ thiểu trí
giác huệ cạn kém”.
Đức Phật
dạy : “Nầy Di Lặc ! Nay ta bảo thiệt ông : Nếu có
Bồ Tát chẳng tu công hạnh chẳng dứt phiền não chẳng tập
thiền tụng kinh chẳng cầu đa văn, ta gọi người ấy chẳng
phải người xuất gia.
Nầy Di Lặc
! Nếu có người siêng tu công hạnh trí đoạn, trí xuất
sanh, trí thành tựu, chẳng làm nghiệp thế gian, chẳng kinh
doanh sự vụ, ta gọi người nầy an trụ lời dạy Như Lai.
Nếu là Bồ
Tát thì chẳng nên ưa nghiệp thế gian kinh doanh sự vụ.
Nếu ưa làm thì ta gọi là kẻ an trụ sanh tử. Vì thế
nên chư Bồ Tát phải xa rời.
Nầy Di Lặc
! Nếu có Bồ Tát kinh doanh nhiều sự vụ xây tạo tháp
bảy báu khắp cõi Đại Thiên cũng chẳng làm cho ta hoan hỷ,
cũng chẳng phải cung kính cúng dường ta.
Nầy Di Lặc
! Nếu có Bồ Tát ở nơi pháp tương ưng với Ba la mật,
cho đến thọ trì bài kệ bốn câu rồi đọc tụng tu hành
giảng nói cho người, đây nói là cung kính cúng dường ta.
Tại sao? Vì chư Phật Bồ đề từ đa văn mà xuất sanh
chớ chẳng phải từ các sự vụ.
Nầy Di Lặc
! Nếu có Bồ Tát kinh doanh nhiều sự vụ khiến các Bồ
Tát trì tụng tu hành giảng thuyết đồng kinh doanh sự vụ,
nên biết đó là tăng trưởng nghiệp
chướng không
có phước lợi. Tại sao ? Vì ba thứ phước nghiệp
đã được nói đều từ trí huệ mà phát sanh. Vì thế
nên Bồ Tát kinh doanh sự vụ đối với chư Bồ Tát trì tụng
tu hành diễn thuyết chẳng nên làm chướng ngại. Chư
Bồ Tát trì tụng diễn thuyết đối với chư Bồ Tát tu thiền
định chẳng nên làm chướng ngại lưu nạn.
Nầy Di Lặc
! Chư Bồ Tát kinh doanh sự vụ trong một Diêm Phù Đề
nên cúng dường thân cận thừa sự một Bồ Tát đọc tụng
tu hành diễn thuyết. Chư Bồ Tát trong một Diêm Phù Đề
đọc tụng tu hành diễn thuyết nên thân cận thừa sự cúng
dường một Bồ Tát chuyên cần tu thiền định. Thiện
nghiệp như vậy được Như Lai tùy hỉ được Như Lai hứa
khả.
Nếu thừa
sự cúng dường Bồ Tát siêng tu trí huệ sẽ được khối
phước đức vô lượng. Tại sao ? Vì nghiệp trí
huệ là vô thượng tối thắng siêu hơn tất cả hành nghiệp
của tam giới. Vì thế nên có Bồ Tát nào phát khởi
tinh tiến thì nên siêng tu tập trí huệ”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đức Như Lai
đã khéo nói những lỗi lầm của hàng sơ nghiệp Bồ Tát
ưa thích ồn náo nói chuyện thế gian ngủ nghỉ và nhiều
sự vụ.
Bạch đức
Thế Tôn ! Thế nào là lỗi của hí luận mà lúc quan
sát khiến chư Bồ Tát sẽ an trụ tịch tĩnh không có những
tranh luận.
Đức Phật
dạy : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát hí luận có
vô lượng vô biên lỗi lầm nay ta lược nói hai mươi lỗi
:
Một là hiện
tại sanh nhiều khổ não, hai là tăng trưởng sân khuể thối
thất nhẫn nhục, ba là bị kẻ oán thù làm hại, bốn là
ma và dân
ma đều
vui mừng, năm là thiện căn chưa sanh đều chẳng sanh, sáu
là thiện căn đã sanh hay bị thối thất, bảy là thêm lòng
oán ghét đấu tranh, tám là gây nghiệp địa ngục ác thú,
chín là sẽ mắc quả xấu ác, mười là lưỡi chẳng dịu
mềm nói năng cứng rít, mười một là giáo pháp được thọ
chẳng thể ghi nhớ, mười hai là với kinh chưa từng nghe khi
nghe không hiểu được, mười ba là bị chư thiện tri thức
bỏ rời, mười bốn là mau gặp các ác tri thức, mười lăm
là tu hành đạo hạnh khó được xuất ly, mười sáu là thường
phải nghe lời không vừa ý, mười bảy là sanh vào chỗ nào
cũng nhiều nghi lầm, mười tám là thường sanh chỗ nạn chẳng
được nghe chánh pháp, mười chín là tu hành bạch pháp thì
bị chướng ngại, hai mươi là chỗ thọ dụng bị nhiều oán
ghét. Bồ Tát ham hí luận có hai mươi lỗi như vậy”.
Đức Thế
Tôn lại nói kệ rằng :
“Hiện đời
thường khổ não
Mất nhẫn
nhiều sân hận
Oán thù
sanh lòng hại
Là lỗi
ưa hí luận
Ma và quyến
thuộc ma
Đều sanh
lòng hoan hỉ
Hư mất các
pháp lành
Là lỗi
ưa hí luận
Lành chưa
sanh chẳng sanh
Thường
ở trong đấu tranh
Gây tạo
nghiệp ác đạo
Là lỗi
ưa hí luận
Thân hình
nhiều thô xấu
Sanh vào
nhà hạ liệt
Phát ngôn
lời cứng rít
Là lỗi
ưa hí luận
Nghe pháp
chẳng nhớ được
Hoặc nghe
chẳng lọt tai
Thường
xa rời thiện hữu
Là lỗi
ưa hí luận
Gặp gỡ
các ác hữu
Tu hành khó
xuất ly
Thường
nghe lời trái ý
Là lỗi
ưa hí luận
Tùy họ
sanh chỗ nào
Thường
ôm lòng nghi lầm
Chẳng hiểu
được giáo pháp
Là lỗi
ưa hí luận
Thường
sanh trong bát nạn
Xa rời chỗ
không nạn
Có đủ
sự vô ích
Là lỗi
ưa hí luận
Pháp lành
nhiều chướng ngại
Hư mất
chánh tư duy
Thọ dụng
bị oán ghét
Là lỗi
ưa hí luận
Các lỗi
lầm như vậy
Đều do
nơi hí luận
Vì thế
nên người trí
Phải mau
xa rời nó
Những người
ưa hí luận
Khó chứng
đại Bồ đề
Vì thế
nên người trí
Cũng chẳng
nên thân cận
Chỗ hí
luận tranh cãi
Phát sanh
nhiều phiền não
Người trí
phải xa rời
Cách xa trăm
do tuần
Cũng chẳng
cất nhà ở
Gần những
chỗ hí luận
Vì thế
người xuất gia
Chẳng ở
nơi tranh luận
Xuất gia
không ruộng nhà
Vợ con và
tôi tớ
Cũng không
có chức vị
Cớ chi sanh
tranh luận
Xuất gia
ở tịch tĩnh
Thân mặc
toàn pháp phục
Tiên thần
đều kính thờ
Phải tu
tâm nhẫn nhục
Những người
ưa hí luận
Thêm lớn
lòng độc hại
Sẽ phải
đọa ác thú
Vì thế
phải nhẫn nhục
Tù cấm
và xiềng xích
Hình phạt
và đánh khảo
Các sự
khổ như vậy
Đều do
nơi tranh luận
Những người
ưa hí luận
Thường
gặp ác tri thức
Danh tiếng
bị hư mất
Luôn không
lòng hoan hỉ
Nếu người
bỏ tranh luận
Không ai
rình gặp dịp
Quyến thuộc
chẳng trái lìa
Thường được
gặp thiện hữu
Nơi đạo
được thanh tịnh
Nghiệp chướng
hết không thừa
Xô dẹp
các quân ma
Siêng tu
hạnh nhẫn nhục
Tranh luận
nhiều tội lỗi
Vô tranh
nhiều công đức
Nếu là
người tu hành
Phải an
trụ nhẫn nhục”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Hi hữu Thế Tôn có thể khéo nói lỗi
lầm của hí luận như vậy khiến chư Bồ Tát sanh lòng giác
ngộ.
Bạch đức
Thế Tôn ! Đời mạt thế sau trong năm trăm năm, có Bồ
Tát nghe nói lỗi hí luận như vậy hay sanh lòng ưu hối rời
lìa phiền não chăng ?”
Đức Phật
dạy : “Nầy Di Lặc ! Đời mạt thế sau trong năm trăm
năm ít có Bồ Tát hay sanh ưu hối lìa phiền não, có nhiều
Bồ Tát tâm cang cường chẳng tôn kính nhau, ôm lòng tăng thượng
mạn phải trái lẫn nhau, họ nghe nói nghĩa thú thậm thâm
công đức thù thắng như vậy, dầu họ trì đọc tụng diễn
thuyết, nhưng vì nghiệp chướng sâu nặng nên chẳng sanh được
công đức thù thắng, nên họ chẳng tin, nghi hoặc kinh điển
nầy rồi chẳng còn thọ trì diễn thuyết. Bấy giờ
ma Ba Tuần thấy sự ấy, muốn gạt gẫm liền hiện hình Tỳ
Kheo đến chỗ họ bảo rằng : Các kinh điển ấy là do người
thế tục giỏi văn từ chế tạo ra, chẳng phải do Như Lai
tuyên nói. Tại sao ? Vì công đức lợi ích trong
kinh ấy nói các ngài đều chẳng được. Do lời gạt
gẫm của ma Ba Tuần mà họ sanh lòng nghi hoặc đối với khế
kinh thậm thâm tương ưng với nghĩa lợi tánh không nầy rồi
phát khởi tranh luận chẳng còn thọ trì đọc tụng diễn
thuyết.
Nầy Di Lặc
! Các người ngu si ấy chẳng biết được do nghiệp chướng
của họ nên chẳng được công đức thù thắng, lúc nghiệp
chướng tiêu rồi họ quyết định sẽ được”.
Di Lặc Bồ
Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như Phật đã
nói công đức của đức A Di Đà Phật và Cực Lạc thế giới.
Nếu có chúng sanh phát mười tâm nguyện, tùy mỗi tâm chuyên
niệm A Di Đà Phật, khi mạng chung người ấy sẽ được vãng
sanh Thế Giới Cực Lạc.
Bạch đức
Thế Tôn ! Những gì là phát mười tâm nguyện, do tâm
ấy niệm Phật A Di Đà mà sẽ được vãng sanh thế giới
Cực Lạc của đức Phật ấy ?
Đức Phật
dạy : “Nầy Di Lặc ! Mười tâm nguyện như vậy chẳng
phải kẻ phàm ngu bất thiện đủ phiền não mà phát được.
Những gì
là mười tâm nguyện ?