Bấy
giờ Ngài Ðại Mục Kiền Liên suy nghĩ rằng : Ðức Thế Tôn
hi hữu. Ðức Thế Tôn thành tựu đại bi như vậy hay
khéo giải thuyết sự việc của chư Bồ Tát. Tại sao
? Bởi Chư Bồ Tát đầy đủ tu tập Phật pháp vì vô
sanh diệt mà khai thị giác ngộ các chúng sanh.
Ðức
Phật biết chỗ suy nghĩ của Ðại Mục Kiền Liên nên bảo
Ngài rằng : "Ðúng như vậy, này Ðại Mục Kiền Liên!
Chư Phật thành tựu tâm đại bi, nếu hàng đệ tử của ta
nghe nói đầy đủ nghĩa đại bi ấy thì chắc chắn tâm sẽ
mê loạn không còn vui thích gì nữa. Này Ðại Mục Kiền
Liên! Ðừng nói đại bi của Như Lai, nếu Phật tự thuật
đại bi được có lúc Phật làm Bồ Tát, ông nghe cũng sẽ
mê muộn không còn vui thích gì nữa".
Ngài
Ðại Mục Kiền Liên bạch rằng : "Lành thay Ðức Thế Tôn
! Xin nói chút ít phần đại bi thuở đức Phật làm đạo
Bồ Tát".
Ðức
Phật bảo Ngài Ðại Mục Kiền Liên : "Nay ông lắng nghe, khéo
nhớ và thọ trì sẽ vì ông mà nói chút ít phần đại bi
lúc làm đạo Bồ Tát. Sẽ dùng thí dụ để giải thuyết
nghĩa ấy. Thuở trước lúc tu Bồ Tát đạo thật hành
đại bi nói chẳng hết được. Mà đại bi ấy y chỉ
nơi bốn sự. Những gì là bốn ?
Ðại
bi ấy của Bồ Tát, theo chỗ an trụ nơi đại bi Bồ Tát
hay tu tập Phật pháp, gọi là đại bi.
Trước
kia Phật có đại bi như vậy, có đại nguyện như vầy : Bao
nhiêu chúng sanh bị khổ não nơi a tì địa ngục, nơi hỏa
nhiệt đại địa ngục, nơi hàn băng đại địa ngục, tôi
thường thay thế các chúng sanh ấy mà chịu khổ trong các
đại địa ngục, cho đến lúc tội xong hết chịu các sự
khổ, lòng tôi không hề hối hận.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Nếu có các chúng sanh do nhơn duyên
ấy mà đắc độ, ta có thể thay thế tất cả khiến các
chúng sanh ra khỏi đại địa ngục, ta thay thế họ chịu khổ,
một lần vào địa ngục làm mãn hết tội nghiệp của các
chúng sanh trong ấy, lúc bấy giờ lòng ta không hề lo buồn
ăn năn.
Thuở
ấy, ta phát đại nguyện tinh tấn như vậy rồi tìm hỏi các
bực trí huệ, đó là chư Phật và hàng đệ tử Phật
có được đạo lý nhơn duyên thay thế chúng sanh chịu khổ
như vậy mà làm cho các chúng sanh ra khỏi địa ngục chăng
?
Các
bực trí huệ nghe ta hỏi, đều vì ta mà tán thán nói về
đa văn sâu phát tâm Bồ đề Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, khen nói sự gần gũi thiện tri thức.
Ðược
nghe lời khen dạy ấy, ta phát đại tinh tấn. Vì cầu
Phật pháp nên ta phát đại nguyện cầu được thành tựu
pháp lớn của chư Phật, siêng tu tinh tấn đầy đủ các Ba
la mật, thật hành sâu về hạnh nhẫn nhục.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Thuở trước ta thật hành sâu
về hạnh nhẫn nhục thế nào ? Lúc làm Bồ Tát ta phát
tâm như vầy : Bao nhiêu chúng sanh ở mười phương, hoặc
có sắc hay không sắc, hoặc có tưởng hay không tưởng, hoặc
phi hữu tưởng phi vô tưởng, giả sử các chúng sanh ấy đều
được thân người đều đến chỗ ta mà nói rằng : Ông phát
tâm Vô thượng Bồ đề, chúng ta phần đông thiếu thốn ngũ
dục lạc, thiếu những đồ cần để sống, nếu ông chẳng
cung cấp đủ cả cho tất cả chúng tôi thì ông chẳng được
Vô thượng Bồ đề.
Vì chẳng
được vừa ý nên các chúng sanh ấy đều ác khẩu mắng nhiếc
chửi rủa và dùng dao gậy ngói đá gia hại thân ta, lúc ấy
ta chẳng nên giận hờn, chẳng nên hối hận. Ta phải
tự điều phục tâm mình như vầy : Các chúng sanh ấy
ngu si chẳng biết sanh khởi nghiệp ngu si. Nếu đối
với các chúng sanh ngu si ấy mà ta khởi giận hờn thì có
khác gì họ là chẳng nhập đạo.
Nay ta nhập
đạo lành nơi các chúng sanh ấy lãnh nhận sự khổ chẳng
khởi sân nghiệp, lòng ta phải như mặt đất bình đẳng hứng
chịu các thứ tốt xấu.
Thuở
trước ta sâu thật hành nhẫn nhục như vậy.
Lại
này Ðại Mục Kiền Liên ! Từ lâu ta thường xem tất
cả chúng sanh như con một.
Như
trưởng giả giàu lớn tu trăm hạnh trai giới cầu sanh được
một con trai rất cưng yêu không biết chán đủ. Trưởng
giả ấy đối với con trai thường cầu sự tốt, thường
cho sự tốt, thường ban lợi ích, chẳng để suy não.
Cũng
vậy, này Ðại Mục Kiền Liên ! Từ lâu ta đối với
các chúng sanh thường xem như con một, thường vì các chúng
sanh mà cầu sự tốt để lợi ích cho họ chẳng để suy não.
Với
các chúng sanh thất đạo, các chúng sanh tà đạo, ta chỉ dạy
họ chánh đạo khiến họ an trụ trong chánh đạo.
Do cớ
ấy nên biết rằng đức Như Lai từ lâu đối với các chúng
sanh rất thương nhớ họ xem họ như con một.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Thuở quá khứ có đoàn người
đi buôn ban đêm lạc đường, vì đêm tối nên chẳng biết
phải đi hướng nào đều nói rằng : Chúng ta lạc đường
không ai cứu không chỗ về không nơi y chỉ, có ai hoặc Trời
hoặc Rồng hoặc Thần hoặc Nhơn, Phi Nhơn dẫn dắt chúng
tôi giữa đêm tối đến đường chánh, ai có thể thương
xót làm lợi ích chúng tôi, làm ánh sáng cho chúng tôi giữa
đêm tối tăm nơi đường hiểm này.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Bấy giờ trong rừng vắng có tiên nhơn
ở thảo am giữa đêm nghe đoàn người buôn kêu than ai oán
tự nghĩ rằng : Giữa đêm tối nới rừng vắng này đoàn
người bị lạc đường nếu ta chẳng cứu họ thì chẳng
phải. Hoặc họ sẽ bị các ác thú giết hại. Nghĩ
xong tiên nhơn kêu to bảo các người buôn rằng : Các người
chớ sợ, tôi sẽ cứu các người, tôi sẽ làm ánh sáng chỉ
con đường chánh.
Kêu
gọi an ủi đoàn người buôn xong, tiên nhơn ấy lấy áo lông
bó quấn hai tay nhúng đầy dầu rồi châm lửa đốt làm đuốc
sáng chỉ đường cho đoàn người buôn. Mọi người thấy
vậy đều nghĩ rằng : Nay tiên nhơn này thật hi hữu
vì cứu chúng ta mà chẳng tiếc thân mạng.
Lúc
tiên nhơn dùng ánh sáng nơi hai cánh tay chỉ đường cho đoàn
người buôn xong, đối với các chúng sanh lòng từ bi càng
tăng thêm nguyện rằng : Lúc tôi được Vô thượng Bồ đề,
với chúng sanh tà đạo, tôi sẽ làm ánh sáng pháp dạy họ
chánh đạo.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Thuở quá khứ ấy dầu đốt hai
tay mà thân tâm ta chẳng biến đổi. Tại sao ? Vì thâm tâm
của Bồ Tát ở nơi sự lợi ích cho người chẳng tham tiếc
thân mạng, do nhơn duyên dùng tâm thanh tịnh bố thí nên hai
cánh tay bình phục như cũ chẳng có thương tích. Ðoàn
người buôn được đường chánh đến sáng thấy hai cánh
tay tiên nhơn không bị thương tích liền sanh ý tưởng hi hữu
: Nay tiên nhơn này có đại thần lực, suốt đêm đốt hai
cánh tay soi sáng cho chúng ta được con đường chánh mà cả
hai tay đều không bị thương tích, chắc chắn đã nên hạnh
lớn, chắc chắn có đức lớn. Họ thưa tiên nhơn rằng
: Lành thay đại tiên, có thể làm khổ hạnh khó làm đệ
nhứt, nay dùng công hạnh này Ngài muốn nguyện điều chi ?
Tiên
nhơn nói với đoàn người buôn : Do sự việc này ta nguyện
khi được Vô thượng Bồ đề rồi sẽ độ các người ra
khỏi khổ s? sanh tử, với chúng sanh tà đạo sẽ vì họ mà
nói chánh đạo.
Ðoàn
người buôn đều rất vui mừng thưa rằng : Chúng tôi nên
dùng gì để báo đáp ơn đức của Ngài ?
Tiên
nhơn bảo : Các người nên chuyên làm điều lành chớ có phóng
dật.
Ðoàn
người buôn đồng thưa : Kính nghe lời dạy. Họ
đều vui mừng cung kính từ biệt mà đi.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Thuở quá khứ ấy, tiên nhơn đốt
hai cánh tay làm đuốc sáng soi đường chính là thân ta, còn
đoàn người buôn này là ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ
Kheo vậy.
Từ
lâu đức Như Lai đối với chúng sanh sợ hãi thì bố thí
vô uý cho họ. Ðối với chúng sanh tà đạo thì chỉ
con đường chánh. Với chúng sanh không mắt sáng thì khiến
họ được mắt thanh tịnh. Với chúng sanh bệnh nặng
thì chữa trị cho lành. Do duyên cớ ấy nên phải biết
rằng Như Lai từ lâu thường đối với các chúng sanh rất
có lòng đại bi.
Lại
này Ðại Mục Kiền Liên ! Quá khứ xa xưa, trong Diêm
Phù Ðề này đến kiếp bịnh tật lớn, khắp nơi chúng
sanh bị bịnh lớn làm khổ. Bấy giờ vua Diêm Phù Ðề
tên Ma Ha Tu Na có tám vạn bốn ngàn đại thành, vua có oai
thế tự tại. Phu nhân lớn nhất mang thai, nếu lấy tay
chạm đến ai thì người ấy liền lành bệnh. Ðầy tháng
sanh con trai. Vừa sanh xong hoàng nam ấy liền cất tiếng
nói : Tôi có thể chữa trị các người bịnh. Lại
lúc sanh, trong Diêm Phù Ðề chư Thiên quỉ thần đều xướng
lời rằng : Hoàng nam được sanh đây là nhơn dược.
Vì âm thanh ấy vang khắp nơi, mọi người đều nghe nên đặt
tên là Nhơn Dược.
Người
thời ấy đều tuần tự mang bịnh nhơn đến cho Vương Tử
điều trị. Khi bịnh nhơn đến, Vương Tử hoặc tay chạm
thân đụng thì bịnh liền lành an ổn khoái lạc.
Trong
ngàn năm Vương Tử Nhơn Dược trị bịnh cho mọi người,
sau đó mạng chung. Các người bịnh đến hay tin Vương
Tử đã chết đều buồn rầu khóc than : Ai là người cứu
khổ chúng tôi. Họ tìm đến chỗ thiêu thi hài lấy tro
xương tán mịn thoa lên thân tất cả bịnh liền lành.
Họ đồng xướng to rằng tro tàn của thi hài Vương Tử Nhơn
Dược còn có thể trị lành bệnh. Khi đã dùng hết tro
xương, mọi người lấy đất chỗ thiêu thi hài thoa lên thân
bịnh cũng được lành.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Vương Tử Nhơn Dược thuở xưa
dùng phương tiện trị bịnh cho người ở kiếp đại bịnh
ấy chính là thân ta vậy.
Ðối
với các chúng sanh bịnh tật không ai cứu không chỗ y tựa,
ta cứu trị cho họ. Nay ta được Vô thượng Bồ đề
cũng dùng thuốc đại trí huệ chữa trị cho các chúng sanh
cứu cánh hết khổ. Ta vì chúng sanh mà thọ thân, tùy
theo sự gì có thể lợi ích cho họ thì làm lợi ích.
Lại
này Ðại Mục Kiền Liên ! Quá khứ xa xưa ta từng di một
mình, có ác thú đến muốn ăn thịt. Lúc sắp chết lòng
ta phát nguyện rằng : Sau khi chết tôi sẽ sanh trong rừng vắng
này làm thân thú lớn, sẽ làm cho các ác thú sát hại tôi
đều được no đủ. Tại sao, vì các ác thú thường
bắt giết các thú nhỏ ăn mà chẳng được no đủ.
Sau
khi chết ta liền sanh làm thân thú to lớn ở tại rừng hoang
vắng ấy cho các ác thú uống máu ăn thịt, tất cả đều
được no đủ. Như vậy lần lượt đến trăm ngàn vạn
ức na do tha đời ấy ta cố ý thọ thân để làm lợi ích
các chúng sanh.
Này
Ðại Mục Kiền Liên ! Nếu ta tự nói lúc hành đạo Bồ Tát
đem thịt máu nơi thân mà bố thí cho chúng sanh được no đủ,
dầu nói đến cả một kiếp hay dưới một kiếp cũng chẳng
hết.
Với
các chúng sanh khổ não ta sanh lòng đại bi làm lợi ích cho
họ như vậy.
Lại
này Ðại Mục Kiền Liên ! Quá khứ xa xưa ta nhớ thân trước
của ta thấy các chúng sanh khổ não nên nghĩ rằng : Nay tôi
chẳng nên bỏ họ mà chẳng cứu. Liền đến chỗ họ
mà hỏi họ có sự khổ gì có cần muốn gì ? Họ đáp
: Chúng tôi rất đói khát. Hỏi : cần thứ gì để ăn uống
? Họ đáp : Nay chúng tôi chỉ muốn uống máu ăn thịt. Nếu
có thể đem thân máu thịt cho chúng tôi ăn uống thì chúng
tôi rất sung sướng không còn đau khổ nữa. Lúc ấy
ta hứa cho và liền cắt thịt hứng máu cho họ ăn uống.
Lòng ta chẳng hề hối hận chẳng sầu chẳng mê, chỉ suy
nghĩ rằng : Nay tôi cắt thịt cũng sứt được phần khổ
sanh tử cho họ. Tôi sẽ mãi mãi vui thích bố thí như
vậy. Bố thí như vậy rồi ta rất vui sướng.
Do duyên
cớ ấy mà biết rằng Như Lai đối với các chúng sanh có
lòng đại bi rất sâu vậy.
Lại
này Ðại Mục Kiền Liên ! Ta nhớ thuở quá khứ có Quốc
Vương tên Ðại Lực có đức lớn thiện căn dầy.
Nhà vua ấy nghĩ rằng : Nay ta sao chẳng lập hội đại thí
tha hồ kẻ đến cầu xin : cần ăn cho thức ăn, cần uống
cho thức uống, cần y phục cho y phục, cần ngọa cụ cho ngọa
cụ, cần thuốc men cho thuốc men, cần vàng bạc thất bửu
của cải đều cấp cho cả, đến tôi trai tớ gái xe cộ voi
ngựa bò dê ruộng đất sản nghiệp hương hoa phan lọng lục
vải cũng đều cung cấp đủ.
Bấy
giờ Thiên Ðế Thích nghĩ rằng : Sao ta chẳng làm sự chướng
ngại cho vua ấy chẳng trọn bố thí. Liền hóa làm Bà
La Môn đến hỏi vua Ðại Lực rằng nay hội thí này bố thí
thứ chi ? Vua đáp : Tôi có thứ gì đều bố thí
cả chẳng hối tiếc. Bà La Môn hỏi : Chí nguyện của
nhà vua như vậy, nay tôi có chỗ muốn cầu xin, có cho được
chăng ? Vua đáp : Tôi đã nói có gì đều cho cả.
Bà La Môn nói : Nhà vua đã bảo như vậy, nay tôi cần từng
phần thân của vua. Ðại Lực Vương nghĩ rằng :
Bà La Môn này chẳng cần của tiền đồ vật mà muốn phá
sự đại thí này. Nếu ta chẳng đem thân phần của ta
để cho ông ấy thì chính ta tự phá hội đại thí. Suy
nghĩ xong, vua bảo Bà La Môn : Tôi cho người thân phần của
tôi, người cứ chặt lấy mang đi. Bà La Môn hỏi : Nhà
vua nói như vậy mà chẳng hối hận ư ? Vua nói : Lòng
tôi chẳng hối tiếc. Chỉ vì hôm nay có nhiều người
từ bốn phương đến xin tôi đều phải cung cấp cho họ được
đầy đủ. Bà La Môn nói : Nay một mình tôi còn chẳng
đầy đủ luận chi đến người khác. Bấy giờ vua Ðại
Lực cầm dao bén tự chặt đứt cánh tay cho Bà La Môn nói
rằng : Người nên lấy một cánh tay này.
Lúc chặt
cánh tay, vua Ðại Lực không động tâm không hối hận, vì
nhứt tâm bố thí và vì hay xả bỏ tất cả nên cánh tay vua
bình phục như cũ. Thiên Ðế Thích do duyên cớ ấy mà
mất hết phước trời lòng nóng đốt khổ não kêu la, hiện
thân sa vào đại địa ngục A Tỳ.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Thuở xưa ấy vua Đại Lực đem thân
mình bố thí chính là thân ta. Còn Thiên Đế Thích muốn
chướng ngại hội đại thí là thân trước của Điều Đạt
vậy.
Thuở xưa
ấy, Điều Đạt si nhơn lòng ganh tị muốn phá hội đại
thí của ta mà chẳng phá được rồi bị đọa địa ngục
A Tỳ. Ngày nay ta được Vô thượng Bồ đề lập đại
pháp thí, Điều Đạt si nhơn vẫn còn ganh tị tham lợi dưỡng
cùng người hiệp mưu muốn giết ta. Trong lúc ta kinh hành
dưới núi Kỳ Xà Quật, Điều Đạt trèo lên núi dùng cơ
quan xeo lăn đá khối tự phá căn lành của mình sanh lòng ác
đối với ta mà phải mất lợi dưỡng thế lực tôn quí đọa
vào đại địa ngục A Tỳ.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Đối với Điều Đạt si nhơn từ nào
ta không có thân khẩu ý ác, mà ông ấy mãi oán thù ta, đời
đời muốn chướng ngại sự tu tập hạnh lành của ta, nhưng
vẫn chẳng chướng ngại được. Ta thường lấy đức
từ bi ban bố mà vẫn chẳng khiến được ông ấy có tình
thân với ta. Điều Đạt đời đời chẳng biết ơn ta,
cũng chẳng biết ơn Trời Người thế gian. Người như
vậy thì nhập vào hạng tà định
.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Sau này lúc sắp vào địa ngục A Tỳ,
đối với ta mới sanh lòng tốt sâu chắc, đó cũng lá do sức
oai thần của Như Lai.
Lúc sắp
sa vào địa ngục A Tỳ, Điều Đạt si nhơn chẳng biết ơn
ấy nghe có tiếng gọi to rằng : Điều Đạt si nhơn giận
thù đức Phật, nơi đấng chẳng thể giết hại được mà
muốn ngang khởi nhơn duyên giết hại, do tội ấy nên nay sa
vào đại địa ngục A Tỳ.
Nghe lời
xướng to ấy, Điều Đạt rất đỗi kinh sợ, lòng liền điều
phục mà nói rằng : Nay tôi đem cả cốt tủy nhứt tâm quy
mạng nơi Phật. Kêu lớn như vậy xong, lòng Điều Đạt
liền được an vui kính tin nơi Phật, liền sa vào địa ngục
A Tỳ. Do duyên lành ấy, sau này khi ra khỏi địa ngục
được sanh trong loài người xuất gia tu hành thành Bích Chi
Phật hiệu là Cốt Tủy.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Nay Phật thọ ký cho Điều Đạt được
làm Bích Chi Phật rồi thì đã thoát khổ sanh tử. Ta
độ cho Điều Đạt như bổn nguyện của ta. Đời trước
ta muốn độ Điều Đạt mà bảo rằng : Ta sẽ độ ngươi
mà không độ ai khác.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Điều Đạt chỉ ở chỗ ta mà gieo nhơn
duyên Niết bàn chớ chẳng gieo chỗ khác. Từ đây về
sau Điều Đạt cũng chẳng ở chỗ khác trồng căn lành mà
chỉ ở chỗ ta phát lòng tin thanh tịnh nói rằng quy mạng
Phật. Do nhơn duyên căn lành này nên ngày sau sẽ được
đạo Bích Chi Phật.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Ta thường từ lâu thương nhớ chúng
sanh như cha mẹ thương nhớ con một, thương họ côi cút nghèo
cùng không có tài vật, qua lại sanh tử ác đạo hiểm nạn
ngu si vô trí mù lòa không con mắt, ai dắt đường họ, ai
hay cứu họ, chỉ có một mình Phật phải dắt cứu họ.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Ta nghĩ tưởng như vậy rồi, nếu
có chúng sanh ác khẩu mắng ta ta chẳng mắng lại, trách chửi
ta ta chẳng chửi lại, giận thù ta ta trọn chẳng giận lại.
Tại sao ? Vì đối với tất cả chúng sanh ta phải thường
ban cho an vui trọn vẹn, phải thường trừ dứt tất cả khổ
não suy loạn mà chẳng nên làm khổ làm não họ. Đối
với các chúng sanh ấy, ai có thể nhẫn nhịn, chỉ có ta hay
nhẫn nhịn. Nay ta phải học pháp chúng sanh nhẫn, pháp
thiện tịch diệt, pháp nhu hòa thuận, phải như voi chúa điều
phục chớ chẳng như voi chẳng điều phục. Ví như voi chúa
điều phục lúc vào chiến trận lòng chẳng thối khuất có
thể chịu được tiếng trống tiếng loa tiếng sừng tiếng
hô to, nghe các thứ tiếng ghê rợn ấy chẳng kinh chẳng sợ,
có thể chịu đựng được lạnh nóng muỗi mòng độc trùng
gió mưa đói khát, có thể chịu được vết thương vì đao
kiếm cung nỏ roi gậy mà xông thẳng vào trận chiến chẳng
lui chẳng khuất. Voi lớn điều phục ấy chẳng có ý
nghĩ ta chẳng xông vào được trận giặc mà nó chỉ nghĩ
ta sẽ thắng giặc.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Lúc ta hành đạo Bồ Tát phát tâm nguyện
lớn cũng như vậy, đối với các chúng sanh ta điều
phục tâm mình. Nếu có ai ác khẩu chửi mắng ta chẳng
mắng lại, họ giận thù đánh giết tranh giành ta đều chẳng
báo oán. Ta luôn chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ
đề cũng chẳng phân biệt sự này chịu được sự kia chẳng
chịu được, đây nên thân cận, kia chẳng nên thân cận.
Trong tất cả sự không lo sầu không hối hận không giận
hờn. Lòng không hề chán rời sự Bồ Tát, chẳng bao
giờ có ý nghĩ ta chẳng vào được trận giặc lớn ma chướng
phiền não, mà chỉ nghĩ rằng ta có thể phá tan trận giặc
ác to lớn để được Vô thượng Bồ đề hầu cứu
độ vô lượng chúng sanh trong tam giói sanh tử khổ. Này
Đại Mục Kiền Liên ! Thuở ta làm đạo Bồ Tát trước
kia, ta tu hành nhẫn nhục, bao nhiêu sự từ bi đối với chúng
sanh, nếu dùng lời để nói thì không thể hết được.
Lại này
Đại Mục Kiền Liên ! Quá khứ xa xưa có ngoại đạo
tên Nhẫn Lực thọ pháp như vầy : Với các chúng sanh tôi
chẳng sanh lòng giận hờn.
Bây giờ
có ma tên Ác Ý nghĩ rằng nay ta sẽ đến chỗ tiên nhơn phá
hoại pháp nhẫn nhục khiến sanh sân hận hư mất tâm nhẫn
nhục. Ma liền sai ngàn người mắng chửi giỏi đến
vây quanh tiên nhơn buông lời ác chửi mắng, lúc đi cũng mắng,
vào tụ lạc cũng mắng, lúc ăn cũng mắng, ăn xong cũng mắng,
đứng dậy cũng mắng, ra khỏi tụ lạc cũng mắng, về đến
rừng cây chỗ cư ngụ cũng mắng, lúc đứng lúc ngồi nằm
lúc kinh hành đều mắng chửi, cho đến thở ra thở vào cũng
mắng, luôn theo mắng chửi không lúc nào nghỉ. Ngàn ngưòi
do ma sai khiến ấy mắng chửi suốt tám muôn bốn ngàn năm,
còn ma Ác Ý lúc tiên nhơn vào tụ lạc nó tự lấy cứt đái
đổ lên đầu lên bát lên y lên thân của tiên nhơn.
Tiên nhơn
Nhẫn Lực dấu bị mắng nhục cả tám vạn bốn ngàn năm
mà lòng chẳng hề giận hờn, chẳng hề có quan niệm lui bỏ
hạnh tu, chẳng tự nói tôi có tội lỗi gì, cũng chẳng dùng
ác nhãn nhìn ngó kẻ ác.
Sau tám vạn
bốn ngàn năm vây quanh mắng chửi tiên nhơn Nhẫn Lực, ngàn
người giỏi mắng ấy biết chẳng phá hoại được nên sanh
lòng tin thanh tịnh sám hối trừ tội và thưa rằng : Ngài
tu tập cầu được pháp gì chúng tôi cũng nguyện được pháp
ấy. Họ cung kính cúng dường tôn trọng khen tặng tiên
nhơn. Được cung kính cúng dường, Nhẫn Lực cũng chẳng
sanh lòng tham ái.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Tiên nhơn Nhẫn Lực thuở xưa chính là thân
ta. Thuở ấy ta tu pháp nhẫn nhục, ma Ác Ý sai sai ngàn
người mắng chửi làm nhục suốt tám vạn bốn ngàn năm cũng
chẳng khiến lòng ta đổi khác được. Ngàn người giỏi
mắng sau khi hối hận sanh lòng tin sám hối tội lỗi theo học
tiên nhơn phát tâm Vô thượng Bồ đề, an trụ trong Phật
pháp. Ngàn người ấy đầy đủ sáu Ba la mật thứ đệ
thành Phật đều đã nhập vô dư Niết bàn rồi. Còn
ma Ác Ý ấy chính là Điều Đạt vậy.
Lại này
Đại Mục Kiền Liên ! Ta nhớ đời quá khứ tự đem
thân bố thí cho chúng sanh vì người đời mà làm nô bộc.
Thuở ấy mọi người sai sử ta. Có người sai ta đổ
rửa phân tiểu, có người sai ta đổ đất, dọn cỏ, lấy
thóc gạo sữa bơ dầu mật, có người sai ta lấy củi than
nước lửa, bao nhiêu thứ dịch vụ như vậy đều sai ta làm.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Thuở ấy ta chẳng hề sanh tâm niệm
rằng có người sai khiến ta làm việc dơ dáy mà không tùy
theo, còn sai bảo lấy hoa hương châu báu vật thực dưa trái
thì liền tuân lời, ta cũng chẳng hề ham sự vụ tốt mà
chê sự vụ cực, ta cũng chẳng hề có quan niệm giai cấp
theo Sát Lợi chẳng theo Bà La Môn, theo Bà La Môn chẳng theo
Sát Lợi. theo Tỳ Xá chẳng theo Thủ Đà, theo Thủ Đà chẳng
theo Tỳ Xá, ta chẳng hề phân biệt người lớn người nhỏ,
theo kẻ này chẳng theo kẻ kia, hễ ai kêu ta trước thì ta
liền vui vẻ theo làm.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Thuở ta tu đạo Bồ Tát, ta chẳng nhớ
có ai sai ta làm sự việc đúng pháp mà ta chẳng làm dầu ta
trọn không có sức, không bao giờ làm việc gì mà không cứu
cánh, không bao giờ làm việc lành mà việc lành ấy chẳng
trọn vẹn.
Nói tóm lại,
thuở ta tu đạo Bồ Tát, ta chưa hề tham thân huống là tài
vật. Ở trong tài vật, ta chẳng có ý tưởng là tài
vật của mình, chỉ do nghiệp nhơn quả báo trước mà ta có
tài vật, ở nơi tài vật ấy ta quan niệm tài vật ấy nên
cùng chúng sanh dùng chung, ta có phần trong ấy thì chúng sanh
cũng có phần.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Ta tu đạo Bồ Tát được gần Phật
pháp thì ở trong ấy, vui chẳng tham trước chẳng nhiếp cũng
lấy, vui rời xa các pháp, chẳng ưa nhận lấy các pháp, vui
tất cả pháp không, chẳng ưa tất cả pháp có, vui tất cả
pháp tịch diệt, chẳng ưa tất cả pháp sự tướng, vui bổn
tánh vô sở hữu, chẳng ưa bổn tánh có sở hữu.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Ta nhớ thuở ta tu đạo Bồ Tát vô lượng
trăm ngàn vạn đời, trong đêm tối tăm ta tự đốt thân mình
để soi sáng dắt đường cho người đi lạc, tự cắt thịt
thân mình bố thí cho loài chúng sanh ăn thịt bị đói, tự
chích lấy máu mình thí cho loài chúng sanh uống máu khiến
chúng đều được no đủ vui sướng.
Nói tóm lại,
ở trong thế gian tất cả tài vật đồ dùng sanh sống cho
đến thân thể, đối với các chúng sanh ta trọn chẳng tham
tiếc, chẳng não chẳng hại chúng sanh, được ngưòi trí bằng
lòng, được hiền thánh khen ngợi, trong đêm trường ta thường
thật hành lòng bi sâu xa đối với các chúng sanh.
Lại này
Đại Mục Kiền Liên ! Ta nhớ thuở quá khứ làm chủ
đoàn buôn tên là Cát Lợi vào đại hải lấy được nhiều
châu báu an ổn ra khỏi biển trở lại bổn quốc vào thành
về đến trước cổng nhà. Hay tin, có nhiều kẻ ăn xin
đến vây quanh nói rằng : Lành thay đại thí chủ Cát Lợi,
chúng tôi có chỗ muốn xin, nếu ngài vui lòng chúng tôi sẽ
cầu xin. Cát Lợi nói : Mọi người cứ xin, nếu
tôi có thể cho được thì không hề tham tiếc. Chúng
ăn xin nói : Ngài Cát Lợi vào đại hải được bao nhiêu vật
báu quí xin cho hết chúng tôi, được vậy chúng tôi đều
được lợi tốt. Cát Lợi liền đem tất cả trân bửu
cho chúng ăn xin có đến tám mươi ức châu ma ni, mỗi châu
ma ni đều giá trị trăm ức lượng vàng. Bố thí xong,
Cát Lợi chẳng vào nhà mình mà trở lại vào biển tìm lấy
trân bửu. Sau khi vào đại hải được châu báu gấp
bội, hơn tám mươi năm mới về đến bổn quốc. Lúc
muốn vào thành thấy người phạm tội bị trói mang đi đến
chỗ giết. Kẻ tử tội xa thấy Cát Lợi liền kêu to
: Xin chủ đoàn buôn ban cho tôi sự vô úy cứu tôi khỏi tội
chết ban tôi mạng sống. Ngài là đại thí chủ người
tốt hiền lành. Cát Lợi nói với tử tội : Vâng, tôi
sẽ cứu người khỏi tội chết ban cho người sự vô úy.
Cát Lợi liền đến chỗ ban giám sát tặng mỗi người một
châu ma ni giá trị một ức lượng vàng để yêu cầu tạm
đình án lịnh chờ Cát Lợi vào tâu Quốc Vương. Cát
Lợi liền gấp rút vào thành tâu với Quốc Vương xin đem
trân bửu tốt mua mạng sống người ấy. Quốc Vương nói
: Tội người ấy chẳng tha thứ được, chẳng thể mua được.
Nếu quyết muốn mua thì có bao nhiêu tài vật ông phải nộp
hết cho ta và ông phải chịu chết mới tha người ấy được.
Cát Lợi nghe lời phán của Quốc Vương lòng rất vui mừng
mà nói rằng tôi được lợi lớn được sở mãn nguyện,
cứu được người ấy rất vừa ý tôi. Cát Lợi liền
đem tất cả tài sản và tất cả châu báu lấy được ở
đại hải kể có vô lượng ngàn ức vàng bạc châu báu nộp
cho Quốc Vương mà tâu rằng : Xin tha người ấy, tất cả
sở hữu của tôi đều hiện ở đây. Quốc Vương nhận tài
vật xong truyền đem Cát Lợi đi chém, tay cầm đao bén đưa
lên mà chém xuống chẳng được. Thị thấn cả kinh đem
Cát Lợi về triều tâu sự việc ấy lên Quốc Vương.
Nghe tâu, Quốc Vương liền tự cầm đao lên muốn chém xuống,
cả hai cánh tay vua liền rơi rụng xuống đất, quá đau tức,
vua kêu to lên mà chết.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Chủ đoàn buôn thuở ấy chính là thân
ta. Còn Quốc Vương kia là Điều Đạt người ngu si vậy.
Thuở xa xưa
ấy Điều Đạt muốn giết ta mà chẳng giết được.
Đến đời nay ta được Vô thượng Bồ đề, Điều Đạt
cũng muốn giết ta mà cũng chẳng được. Tại sao, vì
với Như Lai, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La không
ai có thể hại được, huống là người ngu si Điều Đạt.
Nay Điều Đạt mưu mô tập họp những kẻ ác đến muốn
giết ta, ông ấy cũng tự phương tiện muốn giết cho được
ta, do đó ông ấy phải mất lợi dưỡng danh tiếng thế lực,
thân sống sa thẳng vào địa ngục A Tỳ.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Lúc thật hành đạo Bồ Tát ta chẳng
thấy làm lợi ích cho ai bằng làm lợi ích cho Điều Đạt,
mà ông ấy chẳng biết ơn nghĩa.
Lúc tu đạo
Bồ Tát, ta đối với chúng sanh như cha mẹ, do đó mà biết
rằng tâm từ của Như Lai luôn luôn sâu đậm đối với chúng
sanh.
Lại này
Đại Mục Kiền Liên ! Thuở quá khứ xa xưa ở bên núi
Tuyết có bầy voi năm trăm con, trong đó có voi chúa lớn thân
hình khả ái sức mạnh có trí. Chỗ ở của bầy voi
rất hiểm trở chỉ có một con đường để đi ra. Bấy
giờ có thợ săn rình thấy bầy voi liền suốt đêm đào hố
sâu rộng giữa đường hiểm rồi xua đuổi bầy voi đến
bên hố, bầy voi không thể vượt qua hố được. Voi
chúa liền nằm ngang miệng hố làm cầu cho bầy voi chạy qua.
Bầy voi qua hết rồi voi chúa vọt mình qua khỏi hố.
Lúc ấy sơn
thần nói kệ rằng:
Kẻ
ác đào hố sâu
Bầy
voi có voi chúa
Độ
chúng cũng độ mình
Uổng
công đào hố sâu.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Thuở xưa voi chúa ấy chính là thân
ta, bầy voi năm trăm con ấy nay là năm trăm Tỳ Kheo bị Điều
Đạt khuyến dụ đó, thợ săn thuở ấy nay là bọn ông Điều
Đạt như Tỳ Kheo Kiển Đà Đạt Đa, Tỳ Kheo Ca Lâu La Đề
Xá, Tỳ Kheo Tam Văn Đà Đạt, Tỳ Kheo Câu La Lê Bà Đạt Đa.
Này Đại Mục Kiền Liên ! Từ lâu xa, thấy chúng sanh bị
bố úy, ta ban cho họ sự vô úy, thấy chúng sanh khổ não,
ta ban cho họ sự an vui, thấy chúng sanh nghèo cùng, ta ban cho
họ tài vật, thấy chúng sanh tà đạo, ta chỉ cho họ chánh
đạo, thấy chúng sanh bịnh khổ, ta trừ bịnh cho họ, thấy
chúng sanh đói khát, ta cho họ ăn uống, đem cả thân thể
mình cho các chúng sanh ăn thịt uống máu.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Khi ta phát nguyện gì, ta đều làm đúng
và trọn vẹn, khi ta đã hứa điều chi với chúng sanh thì
không bao giờ ta biếng trễ.
Này Đại
Mục Kiền Liên ! Từ lúc ta phát tâm Vô thượng Bồ đề
đến nay thành bực Vô thượng Chánh Đẳng Giác, trong thời
gian giữa, lời nói ra đều thành thiệt không hề đổi khác,
việc làm đều tinh tiến không hề giải đãi thôi bỏ.
Bao giờ ta cũng làm đúng như lời nói và lời nói đều đúng
như việc làm”.
( Hết Phẩm
Đại Bi)