Ðức
Phật bảo Ngài Phú Lâu Na : "Bồ Tát thành tựu bốn pháp có
thể chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Những
gì là bốn ?
Một là Bồ
Tát nghe pháp chưa nghe suy nghĩ nghĩa lý chẳng vội liền nói
là sai, do đây chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.
Nghe
pháp chưa được nghe
Lòng
Bồ Tát chẳng nghịch
Suy
lường nghĩa lý ấy
Chẳng
vội nói phi pháp
Nếu
nghe nói pháp không
Thường
tìm nghĩa lý ấy
Vì
thế trí huệ tăng
Phật
pháp từ đây sanh
Nghe
pháp chưa từng nghe
Phải
tìm cầu nghĩa lý
Chẳng
thối chuyển Bồ đề
Trí
huệ được tăng trưởng
Nghe
pháp chưa từng nghe
Chẳng
sanh lòng ghét khinh
Chẳng
sanh lòng siểm khúc
Sanh
thì trái Bồ đề
Nghe
pháp chưa từng nghe
Phải
tìm hiểu nghĩa ấy
Trước
dầu chưa từng nghe
Phải
nhứt tâm suy gẫm
Lúc
người này cầu pháp
Thì
được nghe chánh pháp
Thường
được gặp chư Phật
Chẳng thối thất Bồ đề
Ðã được thấy Phật rồi
Thì có thể thỉnh hỏi
Người Thanh Văn được nghe
Ðều lấy làm vui mừng
Người này rất hi hữu
Có thể hỏi như vậy
Chúng tôi còn vô tâm
Huống được nghe sự ấy
Thanh Văn khen hi hữu
Thiên thần đều vui mừng
Chư Phật khen tên hiệu
Ðây là quả đa văn
Nếu có lúc thưa hỏi
Phật đáp được lời hỏi
Vô lượng các đại chúng
Ðều được lợi ích lớn
Ðược nghe nơi Bồ Tát
Ða văn này hỏi đáp
Vô lượng chúng đều được
Pháp nhãn tối vô thượng.
Này
Phú Lâu Na ! Do nhơn duyên ấy phải biết Bồ Tát nghe
pháp chưa nghe tin nhận chẳng trái, chánh tâm suy gẫm chẳng
vội nói sai thì có thể lợi ích vô lượng chúng sanh.
Này
Phú Lâu Na ! Quá khứ xưa vô lượng vô biên bất tư nghị
a tăng kỳ kiếp, bấy giờ có Phập hiệu là Nhứt Thiết Công
Ðức Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư,
Phật, Thế Tôn, thọ tám mươi ức tuổi, hội thứ nhứt độ
chúng Thanh Văn đệ tử chẳng thọ một pháp lậu tận giải
thoát số đông như số cát sông Hằng chẳng tính đếm được,
chúng Bồ Tát cũng đông nhiều như vậy. Sau khi Phật
ấy diệt độ, chánh pháp trụ thế sáu vạn năm, vì lúc ấy
Phật sắp nhập Niết bàn có trăm ức Bồ Tát đồng hưng
khởi thần lực để hộ pháp đều khắp trăm ức Diêm Phù
Ðề, trong mỗi Diêm Phù Ðề đều có một Bồ Tát.
Này Phú Lâu
Na ! Sau khi Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương
nhập diệt, chúng đệ tử lần lần giải đãi, chẳng còn
tụng trì kinh sâu diệu như vậy. Kinh Chư Pháp Không
kinh Tịnh Giới Ðầu Ðà đều lần lượt diệt mất, vì chúng
chẳng có thể đọc tụng diễn nói vậy. Pháp ấy rộng
lớn có tám trăm bốn vạn pháp tạng. Mỗi pháp tạng
có sáu mươi tám trăm vạn ức na do tha tu đa la. Mỗi
tu đa la có ba vạn sáu ngàn ưu đà na. Mỗi ưu đà na
có bảy trăm sáu vạn ức kệ. Lúc tối hậu pháp sắp
diệt ở trong ngần ấy pháp tạng còn dư lại chỉ có một
tu đa la ưu đà na, bấy giờ có một Tì Kheo Pháp Sư tên Na
La Diên ở trong Diêm Phù Ðề này được Phật ban thần lực
để hộ pháp. Pháp Sư Na La Diên ấy đa văn rộng rãi
giỏi thuyết pháp nghiêm sức văn từ nghĩa lý rõ ràng,
thường ưa nói pháp chưa từng nghe. Lúc thuyết pháp có
đa số thính chúng trái nghịch huỷ báng. Pháp Sư Na La
Diên liền nghĩ rằng, nơi pháp chưa từng nghe này thính chúng
đây nghe chẳng tin được, chẳng thích nghe nhận, nếu nghe
mà chẳng hiểu thì lòng họ chẳng tuỳ thuận trái nghịch
phá hoại mà cho là chẳng phải Phật nói, chẳng phải Ðại
Sư dạy, tại sao, vì chúng nó chưa từng được nghe Sư Trưởng
Hòa Thượng nói kinh như vậy, lại các hàng Trưởng Lão Tỳ
Kheo cũng lại chẳng nói là được xoay vần nghe nơi Sư Trưởng
Hòa Thượng, nay chư Tỳ Kheo chỉ còn dư một tu đa la ưu đà
na, tại sao tôi chẳng ở riêng mình nơi rảnh rang vắng vẻ.
Pháp
Sư Na La Diên suy nghĩ như vậy rồi, một mình vào thâm sơn.
Bấy
giờ trong Diêm Phù Ðề từ kiếp sơ đến nay có sáu vạn
tám ngàn thành lớn, thành dài mười hai do tuần, rộng bảy
do tuần trang nghiêm đẹp, đường sá tương đương nhân
dân đông đúc an ổn giàu vui. Sau đó nối tiếp tạo
tám mươi bốn ức thành nhỏ, có thành rộng bảy do tuần,
hoặc rộng sáu năm bốn ba hoặc hai do tuần, thành nhỏ nhứt
rộng một do tuần.
Lúc ấy trong
Diêm Phù Ðề có một thành lớn tên là An Lạc, trong thành
ấy có một Trưởng Giả tên là Xà Nặc, ông này có một
con trai tên là Ma Ha Nựu Ma Ðà. Có một thiên thần đến
nói với Trưởng Giả tử Ma Ha Nựu Ma Ðà rằng :
Ngài phải siêng cầu pháp
Cầu rồi chánh tư duy
Công Ðức Vương Như Lai
Ðã ký ngài làm Phật.
Thiên
thần nói kệ xong liền ẩn mất. Trưởng Giả tử đến
thưa với cha rằng : Tôi muốn xuất gia ở trong pháp của
Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương tu phạm hạnh.
Xà Nặc Trưởng
Giả nói kệ đáp rằng :
Nhà ta nhiều của báu
Bạc vàng vô số lượng
Diêm Phù Ðề không có
Mà nhà ta có đủ
Ta tìm cầu của báu
Cho con hưởng dục lạc
Sao con đi xuất gia
Bị đời họ khinh miệt.
Ma Ha
Nựu Ma Ðà nói kệ đáp cha :
Tôi ưa thích cầu pháp
Cầu rồi chánh tư duy
Chẳng thích thọ giàu sang
Sẽ làm Phật trong đời
Chẳng cần gia nghiệp giàu
Tôi muốn tìm thiểu dục
Sản xuất những pháp tài
Nay phải đi xuất gia
Chư Phật xuất thế khó
Phật thuyết pháp cũng khó
Nay tôi gặp Phật pháp
Sao lại rời bỏ pháp.
Trưởng
Giả tử đầu mặt lạy chưn cha, rồi đi ra mà nói kệ rằng
:
Dầu có một ức cha
Và có trăm ức mẹ
Còn chẳng ngăn được tôi
Lòng tôi quyết xuất gia
Tôi bỏ thân thọ mạng
Cha me, thân tộc, của
Chỉ chẳng bỏ Phật pháp
Sẽ xuất gia cầu đạo.
Nói kệ xong
Trưởng Giả tử xuất gia hành đạo, đến Pháp Sư Na La Diên
cầu muốn nghe pháp. Pháp Sư liền giảng nói kinh chưa
từng nghe.
Tỳ Kheo Ma
Ha Nựu Ma Ðà nghe kinh chưa từng nghe rồi thưa hỏi Pháp Sư
Na La Diên rằng kinh này từ trước chưa từng nghe, ai đọc,
ai tụng, ai thọ trì, từ đâu Ngài được nghe ?
Pháp
Sư Na La Diên nói : Ta do túc mạng thiện căn và cũng nhờ thần
lực của Phật Công Ðức Vương nên kinh thâm diệu ấy tự
nhiên tại tâm.
Nghe Pháp
Sư nói như vậy, Tỳ Kheo Ma Ðà chuyên lòng suy gẫm liền sanh
trí huệ, dùng sức phương tiện đại trí huệ gạn hỏi Pháp
Sư Na La Diên. Pháp Sư ấy theo nghĩa giải đáp xong bảo Tỳ
Kheo Ma Ðà rằng thời kỳ Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang
Minh Vương có một Tỳ Kheo hỏi Phật về sự ấy như lời
ông vừa hỏi và Phật cũng giải đáp như vậy. Tỳ Kheo
Ma Ðà nghe nói vui mừng lại thưa hỏi pháp sư, giải đáp
xong Pháp Sư cũng bảo là xưa kia thuở Phật Công Ðức Vương
có một Tỳ Kheo hỏi như vậy và Phật cũng giải đáp
như vậy. Nghe xong Tỳ Kheo Ma Ðà vui mừng rồi lại bạch
hỏi Pháp Sư, giải đáp xong Pháp Sư lại cũng bảo là thuở
Phật Công Ðức Vương cũng có một Tỳ Kheo hỏi như vậy
và Phật cũng giải đáp như vậy. Nghe Pháp Sư nói Ma
Ðà vui mừng bạch rằng thuở trước ngài theo Phật nghe được
bao nhiêu sự vấn đáp như vậy.
Pháp Sư Na
La Diên nói thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin, những người chưa
thiệt chứng pháp tăng thượng cũng khó tin.
Tỳ Kheo Ma
Ðà lại hỏi như vậy lần thứ hai thứ ba. Pháp Sư Na
La Diên bảo thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin. Nay bất đắc
dĩ dùng thí dụ nói cho ông. Các người có trí do thí
dụ mà được hiểu.
Này Tỳ Kheo
! Ở chỗ Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương, ta được
nghe tánh chúng sanh nhiều hơn địa chủng. Giả sử tất
cả chúng sanh trong cõi tam thiên Ðại Thiên, hoặc loài có
sắc không sắc, loài có tưởng không tưởng, loài chẳng phải
có tưởng chẳng phải không tưởng, đều làm cho tất cả
đều được thân người đều có sức trí huệ, mỗi mỗi
chúng sanh ấy trong khoảng khảy ngón tay có thể khởi hằng
hà sa lời hỏi khác nhau. Này Tỳ Kheo ! Cứ như vậy lần
lượt đến vô dư thế giới mười phương, tất cả chúng
sanh hoặc một kiếp hoặc hơn một kiếp phát khởi lời hỏi
khác nhau. Lại có một người, có khả năng trong thời
gian khảy ngón tay phát khởi ngần ấy lời hỏi của tất
cả mọi người trước. Một người như vậy lần lượt
lại hết tất cả vô dư chúng sanh hoặc một kiếp hoặc dưới
một kiếp phát khởi các lời hỏi sai khác.
Này Tỳ Kheo
! Ý ông thế nào, những lời hỏi trên ấy có nhiều chăng
?
-Bạch Pháp
Sư ! Rất nhiều, chẳng phải thí dụ mà có thể thí
dụ được.
-Này Tỳ
Kheo ! Nay ta nói rõ với ông, chớ có nghi hối. Như tất
cả vô dư chúng sanh ấy phát khởi lời hỏi sai khác hoặc
trong một kiếp hoặc dưới một kiếp, ta theo Phật nghe lời
hỏi đáp trong một pháp môn còn nhiều hơn. Như vậy
hai môn ba môn đến muôn ngàn trăm ức môn. Này Tỳ Kheo
! Ta sẽ lược nói tất cả bao nhiêu toán số danh tự vô lượng
vô tận chẳng thể nghĩ bàn còn hơn các số này, ta đều
tụng trì cả. Này Tỳ Kheo ! Các lời đáp ấy đều
ở trong một pháp môn, ta đều biết rõ. Ðó là đức
Phật Công Ðức Quang Minh Vương nói những câu đạo, câu môn,
câu ấn, câu bổn sự, câu kim cương, câu trọng, câu bất
khả động, câu khó thấu đáo.
Này Tỳ Kheo
! Trong một môn nhiếp tất cả pháp, đó là môn vô tác.
Môn này là gốc của tất cả pháp tất cả câu, tất cả
đều vào môn này. Tất cả tu đa la ưu đà na đều
vào môn câu, phân biệt một chữ hay vào nhiều chữ.
Này Tỳ Kheo ! Như vậy, hay vào bảy vạn tám ngàn môn
đà la ni, trong ấy có chín vạn hai ngàn các căn sai biệt.
Trong môn chúng sanh hành ấy có tám vạn ức hình sắc
nơi các loài sai khác. Các hình sắc ấy, ta biết tên
nó. Trong mỗi mỗi sắc ta biết trăm tên hai trăm tên
ba trăm tên nhẫn đến biết ngàn tên đều ở tại Diêm Phù
Ðề , và lại khắp đến mười phương Phật quốc, trong ấy
có những duyên những danh tự ta đều biết được cả.
Tóm lại,
bao nhiêu trí lực của Phật ở trong các pháp có những sai
biệt hỏi đáp khác nhau ta đều biết được cả, đó là
sức oai thần của Phật Công Ðức Quang Minh Vương gia bị
cho ta vậy.
Bấy giờ
Tỳ Kheo Ma Ðà thưa Pháp Sư Na La Diên rằng : "Ngưỡng mong
Chánh Sĩ trở lại thành ấp tụ lạc để chuyển pháp luân
của Phật Công Ðức Quang Minh Vương, tôi sẽ hộ vệ để
được lãnh thọ giáo pháp.
Pháp Sư Na
La Diên bảo : Thôi chớ có thỉnh ta. Ðời nay Tỳ Kheo
phần nhiều giải đãi, không có ai quyết muốn chứa họp
pháp lành.
Tỳ Kheo Ma
Ðà thưa từ này tôi ở nơi pháp lành quyết mong muốn chẳng
dám giải đãi, mong Pháp Sư trở vào tụ lạc thuyết pháp,
tôi sẽ theo hộ vệ thưa hỏi để được nghe kinh chưa từng
nghe.
Này Phú Lâu
Na ! Ma Ðà Tỳ Kheo thuở ấy được phần đông đại
chúng cúng dường cung kính. Thời nhơn gọi ông là
người trì giới đa văn tối thượng công đức vô lượng.
Bấy giờ
Tỳ Kheo Ma Ðà vào thành ấp tụ lạc khen ngợi Pháp Sư Na
La Diên để khiến chúng sanh vào chánh pháp, và cũng khiến
Phật pháp được lưu bố khắp mọi nơi. Ma Ðà dắt
dẫn nhiều người cúng dường cung kính hộ vệ Pháp Sư Na
La Diên để được nghe pháp. Sau đó, Pháp Sư Na La Diên
được Ma Ðà thủ hộ rồi vào thành ấp tụ lạc nói rộng
đạo Bồ đề của Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương
đã tu tập trong a tăng kỳ kiếp khiến lưu bố khắp nơi.
Tỳ Kheo Ma Ðà suốt trong một trăm năm thường theo Pháp Sư
Na La Diên thưa hỏi chánh pháp thường là mới lạ chưa bao
giờ nói lập lại. Nhờ Tỳ Kheo Ma Ðà hộ trợ, Pháp
Sư Na La Diên khiến vô lượng chúng sanh an trụ trong chánh
pháp, vô lượng chúng sanh an trụ Phật Bồ đề.
Này Phú Lâu
Na ! Pháp Sư Na La Diên khéo giữ gìn chánh pháp khéo thuyết
pháp thuở quá khứ ấy chính là Di Lặc Bồ Tát hiện
nay vậy. Còn Tỳ Kheo Ma Ðà hộ vệ Pháp Sư tá trợ thưa
hỏi, do năng lực phước đức ấy sau khi mạng chung liền
sanh nước Phật Thượng Chúng tại thế giới thứ mười ở
Hạ phương. Ở trước Phật Thượng Chúng ấy, ông hỏi
kinh Ðoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi. Phật ấy nhiều
lời khen lành thay tốt thay rồi vì ông ấy mà nói kinh Ðoạn
Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi, lúc thuyết kinh ấy khiến vô lượng
chúng sanh sơ phát tâm Bồ đề liền nhập vào chánh định
tụ. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Tu Di Sơn thưa hỏi
kinh Nhiếp Xuất Nhứt Thiết Pháp Môn khiến vô lượng chúng
sanh chánh định tụ đều được Vô thượng Bồ đề.
Sau đó ông ấy lại gặp Phật Sơn Vương thỉnh hỏi kinh Chư
Pháp Môn khiến vô lượng chúng sanh quyết định nơi Vô thượng
Bồ đề. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Phạm Âm Thanh
thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết Pháp khiến vô lượng chúng
sanh quyết định Vô thượng Bồ đề. Lần lượt như
vậy, Tỳ Kheo Ma Ðà gặp chư Phật thỉnh hỏi kinh pháp làm
cho vô lượng vô số chúng sanh an trụ Vô thượng Bồ đề,
nếu ta có dùng một kiếp hay hơn một kiếp để thuật nói
danh hiệu chư Phật ấy và những chúng sanh được an
trụ Vô thượng Bồ đề cũng chẳng thể hết được.
Này Phú Lâu
Na ! Vì thế nên biết rằng đại Bồ Tát nghe kinh pháp chưa
từng nghe mà suy gẫm nghĩa lý thì được công đức lợi ích
lớn như vậy.
Này Phú Lâu
Na ! Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Ðà theo Pháp Sư Na La Diên nghe
kinh pháp chưa từng nghe tùy thuận nghĩa thú ấy nay chính là
Kiều Việt Ðâu Bồ Tát vậy.
Thuở ấy
Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Ðà thủ hộ chánh pháp nghe kinh chưa từng
nghe tùy thuận nghĩa thú chẳng chấp ngôn từ, do đó mà gặp
vô lượng Phật được nghe vô lượng kinh thâm diệu.
Do nơi thiện căn thuở xưa ấy nên nay ở trước ta, Phật
Thích Ca Mâu Ni, cũng thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết PháP
Ðại Hải Pháp Môn. Lúc ta thuyết kinh ấy có vô lượng
chúng sanh được lợi ích lớn".
Ðức Thế
Tôn muốn utyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
"Bồ Tát nghe chưa nghe
Phải suy nghĩa lý kinh
Chẳng nên vội nói rằng
Từ truước tôi chưa nghe
Nghe pháp chưa từng nghe
Chánh niệm suy nghĩa lý
Do đó trí huệ tăng
Như biển nhận các dòng
Ða văn càng tăng thượng
Trí huệ tăng cũng vậy
Ðược nghe các Phật sự
Rộng lợi ích chúng sanh
Họp đa văn như biển
Trí huệ không cùng tận
Giỏi biết được chương cú
Hạng nhứt trong sai biệt
Thế nên phải nên nghe
Pháp chưa từng được nghe
Cầu pháp chưa từng nghe
Ðược quả báo vô thượng.
Lại này
Phú Lâu Na ! Hai là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn, Bồ Tát
thành tựu pháp này thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ
đề. Ðại Bồ Tát ở nơi sự cầu đa văn sanh lòng rất
mong muốn, ở nơi sự rảnh rang vắng vẻ sanh lòng rất ưa
thích, nhứt tâm siêng cầu Vô thượng Bồ đề, cầu rồi
vì dứt sân khuể mà tu tập từ quán, vì dứt tham dục mà
tu tập bất tịnh quán, vì dứt ngu si mà tu tập nhơn duyên
quán.
Này Phú Lâu
Na ! Những gì là Bồ Tát tinh tấn, Bồ Tát tu tập tinh
tấn thế nào ?
Này Phú Lâu
Na ! Bồ Tát hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp,
hoặc đi hoặc ngồi thường phát tinh tấn. Ðây chẳng
gọi là chơn thiệt tinh tấn.
Có Bồ Tát
hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp tu hành tịnh giới
khổ hạnh khó làm, đầy đủ đầu đà, tùy sở duyên sự
sanh lòng nguyện cầu sâu mà rời lìa thiệt tướng các
pháp, đây chẳng gọi là chơn thiệt tinh tấn.
-Bạch Ðức
Thế Tôn ! Thế nào là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn được
chư Phật khen, người trí thế tục chẳng chê ghét?
-Này Phú
Lâu Na ! Ở nơi kinh chưa từng nghe đúng pháp không sâu diệu
không có chút tướng dạng hiệp đệ nhứt nghĩa, Bồ Tát
chẳng trái chẳng nghịch biết rõ nghĩa ấy siêng phát tinh
tấn lòng chẳng lui mất nghe nhận đọc tụng giải thuyết
cho người. Ðây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn.
Vì nghe kinh thâm diệu thông đạt nghĩa lý chẳng trái chẳng
nghịch, tinh tấn như vậy được chư Phật khen ngợi người
trí thế gian chẳng chê trách được.
Thế nên
Bồ Tát phát trang nghiêm như vầy : Chỗ mà chúng sanh
thế gian chẳng thể thấu đáo được thì tôi ở trong ấy
sẽ thấu đáo hết, chỗ mà chúng sanh thế gian có thể bị
chìm mất tôi ở trong ấy chẳng nên để bị chìm, chỗ mà
chúng sanh thế gian phải kinh sợ tôi ở trong ấy chẳng nên
kinh sợ. Tại saỏ Vì tôi phát trang nghiêm chẳng hiệp
với thế gian, vì rời lìa thế pháp mà tôi phát trang nghiêm
chớ chẳng phải đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm,
vì chẳng đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm chớ chẳng
phải vì tùy theo thế pháp mà tôi phát trang nghiêm, vì chuyển
thế pháp mà tôi phát trang nghiêm.
Này Phú Lâu
Na ! Ðây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn. Bồ Tát
thành tựu pháp thứ hai này thì chẳng thối chuyển Vô thượng
Bồ đề vậy".
Thế Tôn
muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
"Bồ Tát cầu thâm pháp
Thường siêng phát tinh tấn
Suy gẫm nghĩa lý ấy
Chẳng theo nơi âm thanh
Bồ Tát chẳng theo lời
Biết nói điều hư dối
Vì biết các pháp không
Chỉ cầu nơi lời lành
Nếu trong ngàn vạn ức
Vô lượng các kiếp số
Ngày đêm luôn đi ngồi
Chuyên tâm
tu khổ hạnh
Mà chẳng tin thâm kinh
Thì chẳng phải tinh tấn
Thấu đáo nghĩa lý sâu
Chẳng gọi là giải đãi
Tinh tấn được như vậy
Là chỗ khen của Phật
Thế gian chẳng thấu đáo
Bồ Tát thấu đáo được
Thế gian bị sợ mất
Bồ Tát chẳng sợ mất
Chuyên tâm thường mong cầu
Pháp không
tịch chơn diệu
Trong pháp không vô uý
Cũng không có lui mất
Vì trụ tướng ngã pháp
Nên sanh lòng sợ mất
Tán hoại tất cả pháp
Ðây gọi đạo Bồ đề
Chuyên tâm phát tinh tấn
Mau thành biển đa văn.
Lại này
Phú Lâu Na ! Ba là Bồ Tát khéo biết ngũ ấm, khéo biết
mười hai nhập, khéo biết thập bát giới, khéo biết mười
hai nhơn duyên, vì khéo biết các pháp nên thành tựu trí vô
y chỉ, vì được trí vô y chỉ nên ở nơi tất cả pháp chẳng
niệm chẳng phân biệt, vì chẳng niệm chẳng phân biệt nên
thuyết pháp cho chúng sanh phá tất cả kiến chấp khiến trừ
thân kiến.
Bồ Tát thành
tựu pháp thứ ba này thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ
đề".
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
"Bồ Tát biết ngũ ấm
Mười hai nhập đều không
Biết rõ thập bát giới
Thông đạt mười hai duyên
Chẳng tùy theo năm ấm
Biết thân này hư dối
Nơi các nội ngoại nhập
Ðều biết
nó tánh không
Biết các pháp như vậy
Biết rồi nói với người
Vì thế nên Bồ Tát
Trí huệ càng cao lớn.
Lại này
Phú Lâu Na ! Bốn là đại Bồ Tát như sở kiết giới
như sở thuyết giới đều khéo theo học không có khuyết phạm.
Những gì là Bồ Tát học giới ?
Học tất
cả pháp là Bồ Tát học giới. Tại sao, vì Bồ Tát học
tất cả pháp nên được trí tất cả pháp, do pháp trí ấy
mà được vô phân biệt huệ, do huệ vô phân biệt ấy mà
biết được tất cả sự. Biết tất cả sự thế nào
? Bồ Tát biết hết tất cả nội sự, tất cả ngoại sự
tất cả nội ngoại sự.
Cớ chi gọi
là nội tên nội ? Phàm bao nhiêu chỗ thọ có thể tham
trước thì gọi là nội thân, từ mười hai nhơn duyên sanh,
trong ấy chỉ có thế tục giả danh, đó là mắt này, tai này,
mũi này, lưỡi này, thân này, ý này. Ðây gọi là nội.
Vì pháp này được phàm phu tham trước nên gọi là nội, họ
bảo rằng tôi sẽ được mắt như vậy, được tai mũi lưỡi
thân và ý như vậy chẳng làm tai mũi lưỡi thân và ý như
vậy. Trong ấy chỉ do nghiệp duyên đã khởi mà có quả
báo sanh nên gọi là nội, trong ấy sai biệt mà phàm phu tham
trước gọi là mắt là tai mũi lưỡi thân ý đều gọi là
nội cả.
Này Phú Lâu
Na ! Nội gọi là hai. Sự ấy hư dối. Những người
phàm phu tham trước nhận lấy nó mà sanh tranh cãi.
Nơi ấy,
đức Như Lai từ trước đến nay biết nó đúng thiệt nên
chẳng tham trước. Thế nào biết rằng đức Như Lai biết
nó đúng thiệt mà chẳng tham trước ? Ðức Như Lai ở
trong pháp ấy chẳng làm về nương. Ai chẳng làm về
nương ? Ðó là ái kiết. Mắt chẳng làm về nương,
rời mắt chẳng làm về nương. Tai mũi lưỡi thân ý
chẳng làm về nương, rời tai mũi lưỡi thân ý chẳng làm
về nương. Tại sao, vì nơi các pháp, đức Như Lai chẳng được
nội chẳng được ngoại, thế nên trong pháp ấy đức Như
Lai chẳng làm về nương.
Ðức Như
Lai là đấng nói lời chơn thiệt, bảo các Tỳ Kheo rằng mắt
chẳng phải là các ông cũng chẳng phải người khác.
Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc nên pháp nào là mắt,
mắt ấy thuộc ai, pháp nào là tai mùi lưỡi thân ý, thuộc
về ai. Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc vậy.
Này Phú Lâu
Na ! Mắt ấy, nay nên suy kiểm, tai mũi lưỡi thân và
ý ấy, nay nên suy kiểm. Nơi pháp không chỗ tham thọ
được. Tại sao, nếu có pháp nhận thọ thì sanh khổ
não, vì sanh khổ não nên không có vui. Vì thế nên nơi
pháp mà có nhận thọ thì đều thọ khổ não, nếu thọ khổ
não thì chẳng rời lìa khổ. Ðây gọi là suy kiểm mắt
suy kiểm tai mũi lưỡi thân và ý, không có nhập xứ, tại
sao, vì nếu có chỗ nhập thì có chỗ xuất. Thế nên
đức Như Lai nói mắt là không vô ngã vô ngã sở bổn tánh
nó tự như vậy, tai mũi lưỡi thân ý không vô ngã vô ngã
sở bổn tánh nó tự như vậy. Tánh ấy không có tánh,
không có tánh như vậy thì không tác không hoại. Pháp
tánh như vậy, hoặc chư Phật xuất thế hay chẳng xuất thế,
tánh ấy luôn thường trụ. Ở nơi các pháp sanh, đức
Như Lai biết là chẳng sanh, nên Như Lai là đấng nói lời
chơn thiệt mà nói rằng hoặc có Phật hay không có Phật tánh
ấy thường trụ.
Này Phú Lâu
Na ! Thế nào gọi là vô sanh, thế nào gọi là trí vô sanh
? Này Phú Lâu Na ! Các pháp bình đẳng gọi là vô
sanh, đạo gọi là trí vô sanh. Khổ hêt gọi là vô sanh,
đạo gọi là trí vô sanh. Ðây là Như Lai nói có hai đế
: thế đế và đệ nhứt nghĩa đế.
Này Phú Lâu
Na ! Như Lai nói tướng khổ tức là nói vô tướng.
Thế nào gọi là tướng khổ, đó là tướng vô vi, vô vi tức
là vô tướng, người trí biết vô vi là vô tướng.
Này Phú
Lâu Na ! Người trí thế nào biết vô vi là vô tướng ?
Ðó là biết vô vi pháp không, biết là tịch diệt, biết là
chỗ về, biết là lợi ích đệ nhứt, biết là không có nhiệt
não. Người trí biết vô vi là như vậy, trong trí biết
ấy cũng chẳng sanh tướng.
Này Phú Lâu
Na ! Nếu người có tác thì có hoại, nếu không tác thì không
hoại. Tướng không hoại là không, tướng không hoại
là vô tướng, tướng không hoại là không nguyện.
Này Phú Lâu
Na ! Không pháp không có người tác không có người hoại.
Vô tướng và vô nguyện cũng không có người tác người hoại.
Ðây gọi
là tướng bất hoại là Vô thượng Bồ đề của chư Phật.
Những gì là Vô thượng Bồ đề của chư Phật, đó là chư
Phật sở bất đắc vậy.
-Bạch Thế
Tôn ! Những pháp gì là chư Phật sở bất đắc ?
-Này Phú
Lâu Na ! Tất cả pháp là chư Phật sở bất đắc.
-Bạch Thế
Tôn ! Vì lẽ ấy mà tất cả pháp là Vô thượng Bồ đề
của chư Phật chăng ?
-Này Phú
Lâu Na ! Ðúng như vậy, tất cả pháp là Vô thượng Bồ đề
của chư Phật đó chỉ là thế tục giả danh ngôn để nói
thôi. Người chẳng tinh tấn khó hiểu khó biết.
Tại sao, vì người chẳng tinh tấn chẳng tu tập được các
pháp bình đẳng. Nếu bất bình đẳng thì trái chống
với chư Phật.
Này Phú Lâu
Na ! Người nào chẳng tu tập bình đẳng được ?
Này Phú Lâu
Na ! Tất cả thế gian hành bất bình đẳng. Trong Bồ đề
của chư Phật không có đẳng cũng không có bất đẳng.
Ta do đạo ấy mà được Vô thượng Bồ đề. Do nhơn
duyên ấy mà trong kinh Phật nói tất cả pháp ở trong chánh
vị đều nhập tất định, đây gọi là môn tất định nhập
Bồ đề. Vì thế nên, này Phú Lâu Na, tất cả pháp đều
là Bồ đề vậy".
Bấy giờ
Huệ Mạng Phú Lâu Na bạch rằng: "Hi hữu Thế Tôn! Vô thượng
Bồ đề của chư Phật cũng định cũng bất định, cũng vào
văn tự cũng chẳng vào văn tự, cùng vào ngữ ngôn cũng chẳng
vào ngữ ngôn. Tại sao, bạch Thế Tôn, nay tôi theo Phật
nghe nói kinh này, ở nơi các pháp tôi được quyết định
quang minh. Tôi ở trong các pháp được quyết định quang
minh như vậy, tôi ở trong một sự biết tất cả sự, ở
trong tất cả sự biết một sự".
Ðức Phật
khen Ngài Phú Lâu Na rằng : "Lành thay, tốt thay, này Phú Lâu
Na, ông có thể mau nhập được tất cả pháp lợi của chư
Phật như vậy, phải biết thuở đời quá khứ ông đã từng
cúng dường chư Phật gieo trồng các căn lành, hầu gần thỉnh
hỏi. Này Phú Lâu Na !
Ta nhớ thuở
quá khứ ở trong phần hư không của cõi đất này, ông đã
từng ở chỗ sáu vạn tám ngàn đức Phật được nghe nói
kinh này, do vì thiện căn công đức ấy nên nay ông ở nơi
các pháp được khắp quyết định quang minh.
-Bạch Thế
Tôn ! Nếu tôi đã ở nơi chư Phật ấy được nghe kinh này,
tại sao tôi lại chẳng dùng một niệm phát Vô thượng Bồ
đề ?
Này Phú Lâu
Na ! Ta nhớ thuở quá khứ ông đã có một kiếp phát
tâm Vô thượng Bồ đề mà chẳng rời lìa các tâm khác nên
lại thối thất. Do vì phước đức ấy, nay ta nói ông
ở trong các Pháp Sư là tối đệ nhứt.
Bạch Thế
Tôn ! Tôi khi trước làm tội chướng gì nên trong một
kiếp phát tâm Bồ đề lại thối thất ?
Này Phú Lâu
Na! Do vì theo y chỉ ác tri thức, lại vì chẳng có thể
lưu bố rộng chánh pháp nên ông thối thất tâm Bồ đề.
Này Phú Lâu
Na ! Có bốn pháp thối thất tâm Vô thượng Bồ đề mà thành
Thanh Văn thừa. Những gì là bốn ?
Một là vì
Bồ Tát thân cận ác tri thức nên có thể ở nơi thiện căn
tăng thêm ác niệm viễn ly mà nói rằng : Cần gì phát tâm
Bồ đề như vậy, sanh tử dài lâu vô lượng khổ não qua
lại trong năm loài được không nạn rất khó, gặp Phật càng
khó mà sanh lòng tịnh tín lại khó hơn, dầu được gặp Phật
nhưng xuất gia lại khó, đời nay ngươi được gặp không
nạn chớ để mất, nơi chư Phật người chưa được thọ
ký thiện căn chưa nhứt định, nếu chẳng được Niết bàn
thì phải luân chuyển năm loài. Người ấy nghe lời của
ác tri thức nói trên đây rồi sanh lòng thối thất đạo Bồ
đề giải đài chẳng an vui. Ðây là pháp ban đầu mà
do đó Bồ Tát thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa.
Hai là Bồ
Tát chẳng nghe các kinh đúng với Bồ Tát, đó là các kinh
Bồ Tát Tạng, kinh Phát Bồ Ðề Tâm, ,kinh Nhiếp Bồ Tát Sự,
kinh đúng sáu Ba la mật, do vì chẳng nghe nên chẳng hành Bồ
Tát hạnh chẳng học Bồ Tát đạo. Người này chẳng
biết Bồ Tát nên thân cận pháp gì nên xa rời pháp gì, pháp
nào nên thọ pháp nào chẳng nên thọ, pháp gì là Bồ Tát
pháp, pháp gì là Thanh Văn pháp. Vì chẳng biết rõ ràng
nên với pháp nên thân cận mà chẳng thân cận trở lại thân
cận pháp chẳng nên thân cận, do đó nên thối thất đạo
Vô thượng Bồ đề tâm giải đãi nhàm yếu bỏ phế
bổn nguyện. Có pháp thứ hai này thì Bồ Tát thối thất
Bồ đề thành Thanh Văn thừa.
Ba là Bồ
Tát chấp được các tham trước ngô ngã hành tà kiến sa vào
biên kiến chìm trong ác kiến khó cứu khỏi. Người này
được nghe kinh sâu diệu đúng đệ nhứt nghĩa không có mảy
tướng dạng thì trái nghịch chẳng tin chẳng thông đạt được
gây tội phá pháp, do đó mà sanh tại chỗ nạn chẳng gặp
được Phật chẳng được nghe pháp, vì chẳng nghe pháp nên
chẳng gặp giáo pháp chư Phật nên chẳng được gặp thiện
tri thức, vì chẳng gặp thiện tri thức nên mất chỗ vô nạn
mà sanh tại chỗ nạn, vì sanh chỗ nạn nên rời lìa thiện
tri thức gặp ác tri thức, vì cùng tùng sự với ác tri thức
nên quên mất bổn niệm, vì mất bổn niệm nên bỏ tâm Bồ
Tát bỏ Bồ Tát thừa mà thối chuyển mất tâm Bồ đề chỉ
làm pháp sanh tử chẳng tu tập được hành pháp Ðại thừa.
Có pháp thứ ba này thì Bồ Tát thối thất Bồ đề thành
Thanh Văn thừa.
Bốn là
Bồ Tát được nghe các kinh thâm diệu mà chẳng thâm tâm giáo
hóa người khác, tâm niệm thối thất chỉ thích tu một mình
lòng tham tiếc chẳng muốn tuyên nói, chẳng có thể dùng Chánh
pháp nhiếp nhiều người, do căn bất thiện này mà mất trí
niệm huệ, đã mất trí huệ niệm chẳng cùng người đọc
tụng Ðại thừa kinh chẳng đem pháp Ðại thừa cùng người
cộng đồng, người này chuyển thân đời khác, mất tâm Bồ
Tát quên niệm Bồ Tát. Có pháp thứ tư này thì Bồ Tát
thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa".
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên rõ lại sự ấy mà nói kệ rằng :
"Thân cận ác tri thức
Giải đãi nơi Bồ đề
Do vì duyên
cớ ấy
Mất tâm thượng Bồ đề
Sâu sanh ác ngã kiến
Sa vào biên tà kiến
Mà gây tội phá pháp
Sanh tại nơi nạn xứ
Sanh nơi nạn xứ rồi
Thì dứt tâm Bồ đề
Quên mất bổn niệm trước
Do đó mất Bồ đề
Người này chẳng nghe được
Pháp sanh Bồ đề tâm
Tâm ấy nếu tăng trưởng
Thì thành được Bồ đề
Ðược pháp diệu quảng đại
Tham lẫn chẳng muốn nói
Do vì duyên cớ ấy
Mà thối thất Bồ đề
Bồ Tát cầu Ðại thừa
Phải biết bốn pháp ấy
Nếu biết bốn pháp ấy
Bồ đề sẽ được sanh
Vì thế nên xa rời
Bốn pháp ác như vậy
Siêng tu hành pháp không
Ðược gần
thiện tri thức
Ðược kinh thâm diệu rồi
Chẳng nên tham bỏn xẻn
Lòng siêng nói dạy người
Do đây sanh Bồ đề.
Lại này
Phú Lâu Na! Bồ Tát thành tựu bốn pháp tùy hồi hướng
Bồ đề tâm chẳng mất, tùy hồi hướng các thiện căn cũng
chẳng mất. Những gì là bốn ?
Bồ Tát trì
giới thanh tịnh, ức niệm thành tựu có niệm an huệ, tâm
siêng tinh tấn mà chẳng lười bỏ, thành tựu đa văn sanh
huệ.
Bồ Tát có
bốn pháp ấy thì tùy hồi hướng tâm Bồ đề chẳng mất,
tùy hồi hướng các thiện căn cũng chẳng mất".
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên rõ lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
"Bồ Tát đủ trì giới
Chỗ ghi nhớ sâu xa
Tâm siêng thường tinh tấn
Ða văn trang nghiêm huệ
Bồ Tát
thường thân cận
Bốn pháp như trên ấy
Tùy ý muốn khởi sự
Ðều có
thể thành tựu
Vì thế phải thường trì
Tịnh giới siêng tinh tấn
Chẳng dứt pháp ức niệm
Thường siêng cầu đa văn
Trì giới tịnh chỗ sanh
Ức niệm tịnh đại trí
Tinh tấn tịnh Phật pháp
Ða văn sanh đại huệ
Vì thế các Bồ Tát
Phải học bốn pháp trên
Học bốn pháp trên rồi
Sẽ chuyển vô thương luân.
Lại này
Phú Lâu Na ! Bồ Tát có bốn pháp thì có thể lợi ích
Bồ đề : Trì giới là pháp lợi ích Bồ đề, nhẫn
nhục là pháp lợi ích Bồ đề, tinh tấn là pháp lợi ích
Bồ đề, đa văn là pháp lợi ích Bồ đề".
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên rõ nghĩa mà nói kệ rằng :
"Bồ Tát tịnh trì giới
Lợi ích cho Bồ đề
Nhẫn nhục và tinh tấn
Ða văn cũng như vậy
Người trì giới thanh tịnh
Sở nguyện đều được thành
Giới tịnh nhiều lợi ích
Bồ đề được chẳng khó
Bồ Tát tu nhẫn nhục
Thân tướng trí huệ thành
Nên tu hành nhẫn nhục
Cầu Phật tướng trí huệ
Tinh tấn cũng có thể
Lợi ích
nhiều Bồ đề
Người luôn tu tinh tấn
Ðược Bồ
đề chẳng khó
Ða văn cũng
lợi ích
Nghe rồi
được gần pháp
Xa rời các
phi pháp
Ðược Bồ
đề chẳng khó
Bốn pháp là chủng tử
Từ đó sanh Bồ đề
Thế nên chư Bồ Tát
Phải gần bốn pháp ấy.
Lại này
Phú Lâu Na ! Ðại Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì được
thân sắc đầy đủ, tài vật đầy đủ, quyến thuộc đầy
đủ, mạng chung thường chẳng sanh xứ ác nạn, thường gặp
chư Phật, được chư Phật khen. Những gì là bốn :
Một là Bồ
Tát hành từ chẳng sân chẳng não tất cả chúng sanh.
Thế nào là Bồ Tát hành từ chẳng sân chẳng não tất cả
chúng sanh ? Này Phú Lâu Na ! Bồ Tát hành từ đối với
chúng sanh phát khởi ý tưởng tôi thương mến cứu độ họ.
Thấy chúng sanh thân khổ tâm khổ thì nghĩ rằng tôi phải
siêng tu tinh tấn độ các chúng sanh ấy khỏi khổ sanh tử
ban cho họ an vui. Bồ Tát phát tâm ấy rồi siêng tu tinh
tấn, tu sáu Ba la mật : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định và trí huệ.
Này Phú Lâu
Na ! Bồ Tát nhơn Bát Nhã Ba la mật mà tròn đủ sáu Ba la mật.
Những gì là Bồ Tát Bát Nhã Ba la mật, tại sao Bồ Tát do
Bát Nhã Ba la mật mà siêng phát tinh tấn ?
Bồ Tát suy
gẫm : Pháp gì là ngã, pháp gì là ngã sở. Lúc suy như
vậy, Bồ Tát chẳng thấy pháp là ngã, chẳng thấy pháp là
ngã sở. Ở trong pháp ấy không ngã pháp không ngã sở
pháp. Vì rời lìa ngã, ngã sở nên Bồ Tát biết thân
không, vì thân không nên chúng sanh không. Tại sao, vì
trong các pháp ngã và ngã sở còn không huống là chúng sanh.
Bồ Tát vì lìa rời ngã ngã sở như vậy nên biết chúng sanh
không. Vì chúng sanh không nên biết sắc ấm không. Vì
sắc ấm không nên thọ tưởng hành thức bốn ấm cũng đều
không. Vì biết các ấm không nên biết đại chủng không,
đó là địa thủy hỏa phong hư không và thức đại chủng
đều không. Ðại chủng ấy không có tác giả không có
ai sai tạo tác. Nếu không tác giả thì pháp ấy là không.
Vì biết các đại chủng tướng các đại chủng không nên
Bồ Tát biết các nhập không, vì các nhập không nên tướng
các nhập không. Các nhập không tác giả không ai sai tạo
tác, nếu không tác giả thì pháp ấy là không.
Này Phú Lâu
Na ! Bồ Tát quán tất cả pháp không như vậy. Lúc quán tất
cả pháp không chẳng thấy bổn thể các pháp chỗ có thể
sanh được sân.
Ðây gọi
là Bồ Tát đại từ, là từ biết thân không, là từ chúng
sanh không, là từ ấm nhập đại chủng không. Bồ Tát
có thể hành đức từ như vậy thì gọi là hành tất cả
pháp không từ. Ðây là Bồ Tát hành nơi đại từ. Bồ
Tát nầy rời lìa tâm ngã ngã sở rất sanh lòng cầu
muốn Vô thượng Bồ đề, sanh lòng đại từ đối với chúng
sanh. Nếu có chúng sanh chẳng biết được thiệt tướng
như vậy nên Bồ Tát phát đại trang nghiêm. Tôi cứu
họ nên gọi là từ, tôi làm nên gọi là bi. Bồ Tát
thành tựu đại từ như vậy thì có thể ở nơi các chúng
sanh có thể làm cứu độ làm chỗ về làm nhà làm chỗ ở
có thể làm cứu cánh. Thế nên Bồ Tát phải tu hành
đại từ như vậy chẳng tham trước nơi chúng sanh cũng chẳng
sân hận. Ðây gọi là Bồ Tát chúng sanh không từ chẳng
có sân hận.
Này Phú Lâu
Na ! Nếu Bồ Tát nhơn nơi đức từ nhơn nơi lợi ích nhơn
nơi pháp không có thể vào tất cả pháp bất sanh bất diệt
thì gọi là Bồ Tát thường hành đại từ.
Bồ Tát thông
đạt các pháp như vậy thì các ma, ma dân và ma sở sử đều
chẳng phá hoại được.
Bồ Tát thành
tựu pháp ban đầu này thì có thể dứt được triền phược
trong tất cả công đức, do đây được Bình đẳng Ba la mật".
Ðức Thế
Tôn muốn sáng tỏ sự ấy mà nói kệ rằng:
"Bồ Tát thường tu từ
Mà quán không như vậy
Biết ấm nhập giới ly
Trong đây không có ngã
Hai pháp ngã ngã sở
Cũng quyết định chẳng có
Vì chẳng được các pháp
Mà tu hành từ tâm
Chẳng y chỉ các pháp
Cũng chẳng phải chẳng y
Ðây gọi các Phật đạo
Các pháp chẳng y chỉ
Hay được vô thượng nhẫn
Nhẫn thiệt tướng các pháp
Các pháp không sanh diệt
Hay thông đạt lý ấy
Những người có trí lớn
Thân cận nơi pháp ấy
Thường được thân sắc đẹp
Cũng được lạc thuyết biện
Thường được gặp chư Phật
Biết nghĩa lợi các pháp
Vì thế Bồ Tát này
Ðược đạo thượng vô vi.
Lại
này Phú Lâu Na ! Hai là đại Bồ Tát chuyên cần cúng
dường cung kính chùa tháp chư Phật, dùng hương quí hoa đẹp
thơm các chuỗi ngọc phan lọng kỹ nhạc các loại đồ cúng
để cúng dường. Bồ Tát thành tựu pháp thứ hai này
thì có thể đầy đủ tất cả công đức".
Ðức
Thế Tôn muốn sáng tỏ nghĩa này mà nói kệ rằng :
"Bồ Tát
dùng hoa hương
Và phan lọng thượng diệu
Cúng dường
chùa tháp Phật
Ðể cầu thượng trí huệ
Do duyên công đức này
Báo thân thường đoan chánh
Của nhiều châu báu đủ
Quyến thuộc đều thành tựu
Quyết định nơi Bồ đề
Thường an trụ nơi pháp
Nơi nơi chỗ thọ sanh
Công đức càng cao thêm
Các vua chúa đều kính
Trời Rồng Thần thường mến
Tất cả các chúng sanh
Cũng đều chung cung kính
Nếu người
cúng dường Phật
Hiện tại hoặc nhập diệt
Sanh ra được cúng dường
Thường ở chỗ không nạn.
Lại này
Phú Lâu Na ! Ba là đại Bồ Tát thường phải chuyên cần cúng
dường chánh pháp. Sao gọi là chánh pháp ? Thế nào gọi
là cúng dường chánh pháp ?
Ðó là Tứ
niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ thiền, Ngũ căn,
Ngũ lực, Thất giác ý, Bát chánh đạo, Chỉ quán, Minh giải
thoát, Ba giải thoát môn, Tận trí vô sanh trí, đây gọi là
chánh pháp.
Ở trong các
pháp ấy đúng như lời mà thật hành tùy thuận chẳng trái
nghịch sanh dục nguyện tinh tấn đầy đủ tu tập, đây gọi
là cúng dường chánh pháp.
Lại chánh
pháp là các kinh như vậy. Cúng dường pháp là tin hiểu
suy tư phân biệt tùy thuận tâm chẳng trái nghịch.
Bồ Tát thành
tựu pháp thứ ba này thì có thể được thành tựu đầy đủ
tất cả công đức".
Ðức Thế
Tôn muốn sáng tỏ nghĩa này mà nói kệ rằng:
"Thường siêng cúng dường pháp
An trụ đúng như lời
Nghe pháp không thâm diệu
Tâm thuận không trái nghịch
Do đó thân đoan chánh
Ðược lạc thuyết biện tài
Như pháp
được Phật khen
Do đây càng cao thêm.
Lại này
Phú Lâu Na ! Bốn là đại Bồ Tát chuyên cần cúng dường
Thánh chúng đệ tử Như Lai. Dùng hương hoa chuỗi ngọc
phan lọng y phục thức ăn uống đồ nằm y dược các vật
cần dùng hoặc xây Tăng phòng, hoặc lập vườn rừng, hoặc
dọn chỗ kinh hành, hoặc sắm ao tắm, hoặc là giếng suối,
hoặc người giúp việc, đem các thứ như vậy cúng dường
Thánh chúng.
Bồ Tát thành
tựu pháp thứ tư này thì có thể được đầy đủ tất cả
công đức".
Ðức Thế
Tôn muốn sáng tỏ nghĩa này mà nói kệ rằng :
"Ðồ cúng dường vô thượng
Ðem cúng dường thánh chúng
Do duyên công đức này
Sanh ra được giàu có
Thân sắc thường đoan chánh
Cũng được lạc thuyết biện
Ðầy đủ các công đức
Trí huệ càng cao thêm
Tâm cúng
dường chánh trực
Không có ngã ngã sở
Do nhơn duyên trí này
Sanh ra được cúng dường
Ðược chư
Phật khen ngợi
Thường thân cận bốn pháp
Sanh ra thường tôn quí
Công đức càng cao thêm".