Bấy
giờ có tám ngàn người ngoại đạo Giá La Ca Ba Lợi Bà La
Xà Ca thấy A Tu La nhẫn đến Tịnh Cư Thiên cúng dường được
thọ ký, và nghe tiếng tán thán, họ sanh lòng hi hữu. Họ
nghe pháp môn ấy, pháp mà họ chưa hề được nghe, họ sanh
nghi tự bạch đức Phật rằng : « Thưa Cù Ðàm ! Chúng
tôi nghe pháp mà từ trước chưa được nghe, nghe xong chúng
tôi không thích Giá La Ca Ba Lợi Bà la Xà Ca ngoại đạo, cũng
chẳng thích tại gia. Ở nơi pháp nầy, chúng tôi lại nghĩ
lự chẳng kính tin, do vì từ trước chưa hề được nghe.
Chúng tôi ở chỗ Cù Ðàm Sa Môn cũng có nhơn duyên, do nơi
Cù Ðàm làm thần thông biến hóa như vậy, chúng tôi được
thấy chư Thiên chư Thần được thân vi diệu, và thấy đại
chúng qui phục Cù Ðàm rất đông , nên biết vì Cù Ðàm rất
khéo thuyết pháp. Do đó ở nơi Cù Ðàm chúng tôi có chút
lòng tin.
Cù Ðàm lại
vì chúng trời Quảng Quả nói pháp rằng : « Tất cả
pháp là Như Lai ». Nơi pháp thuyết ấy chúng tôi rất nghi
lự : thế nào tất cả pháp gọi là Như Lai ?
Chúng tôi
ở nơi Cù Ðàm sanh lòng tin như vậy : chỉ có Cù Ðàm biết
được ý chúng tôi như vậy như vậy. Xin Cù Ðàm vì chúng
tôi mà giải nói cho chúng tôi hiểu nghĩa của pháp ngữ ấy
hầu được lìa lưới nghi ’’.
Ðức Thế
Tôn bảo chúng ấy rằng : “ Nay Phật hỏi lại các ông, tùy
ý các ông đáp ”.
Chúng ngoại
đạo thưa : “ Lành thay Cù Ðàm ! Ngài có hỏi chúng tôi xin
nói ”.
Ðức Thế
Tôn hỏi: “ Các ông có biết thế nào thai nhập bụng mẹ
chăng? ”.
- Thưa Cù
Ðàm ! trong luận của phái tôi có nói ba thứ nhơn duyên hòa
hiệp thai nhập bụng mẹ. Ðó là cha mẹ gần nhau sanh tham
nhiễm nghĩ đến sự dục, do nghĩ mà hành dục nên thai nhập
mà thành thai
Nầy các
ông ! Theo ý các ông thế nào, lúc cha mẹ nghĩ tưởng, tham
nhiễm ấy có phải từ nơi tâm mẹ mà phát khởi chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! không phải.
- Nầy các
ông ! Có phải từ mẹ nghĩ tưởng sanh khởi chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Không phải.
- Nầy các
ông ! Có phải từ nơi tâm cha phát khởi chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Không phải.
- Nầy các
ông ! Có phải từ cha nghĩ tưởng sanh khởi chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Không phải.
- Nầy các
ông !Tham dục ấy của cha có vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Không phải.
- Nầy các
ông ! Tâm người cha có vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm !Không phải.
- Nầy các
ông ! Sự phân biệt của cha có vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Không phải.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải từ thân trời chết rồi xuống vào
bụng mẹ chăng ?
Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải từ thân địa ngục chết rồi đến
vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải từ súc sanh chết rồi đến vào bụng
mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải từ ngạ quỉ chết rồi đến vào bụng
me chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải từ thân A Tu La chết rồi đến vào
bụng mẹ chăng?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải là phi sắc đến vào bụng mẹ chăng
?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải là sắc đến vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
- Nầy các
ông ! Thai ấy có phải là thọ tưởng hành và thức đến
vào bụng mẹ chăng ?
- Thưa Cù
Ðàm ! Chúng tôi chẳng biết được.
Ðức Thế
Tôn bảo chúng ngoại đạo : “ Nầy các ông ! Pháp ấy thậm
thâm tịch diệt vi diệu
Khó lường,
khó hiển thị được, chẳng phải cảnh giới tư lương, chẳng
phải các ông biết được. Các phái ngoại đạo dị kiến
dị nhẫn, ưa muốn dị chủng. Nơi pháp chẳng chánh thì tinh
tấn tu hành, nơi trong dị kiến thì quyết định xu hướng.
- Nầy các
ông ! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn gặp được thiện
tri thức thì ở trong pháp thậm thâm sanh được mắt sáng
tỏ.
Ví như có
người đau mắt lòa tối gặp được lương y chữa lành, họ
do nơi mắt lành sáng ấy mà hiện đời được thấy những
hình sắc từ trước chưa hề thấy.
Cũng vậy,
nầy các ông ! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn chẳng
có đủ các căn tính v.v…, họ gặp thiện tri thức nên huệ
nhãn thanh tịnh, do huệ nhãn nên thấy được thâm pháp.
Hàng ngoại
đạo các ông từ đêm dài xa xưa bị tà luận dối phỉnh
mà sanh dị kiến, ở nơi phi pháp lại cho là thiện pháp, nơi
phi giải thoát lại cho là giải thoát, nơi phi xuất thế lại
cho là xuất thế.
Thấy các
ông tự hư hỏng lại làm các ông hư hỏng. Như có người
mù bảo người mù khác rằng tôi dẫn anh đi. Người có trí
nên biết hai người mù ấy chắc sẽ trụy lạc nơi phi đạo
mà bị khổ.
Cũng vậy,
nầy các ông ! Hoặc Sa Môn, hoặc Bà La Môn thiệt chẳng phải
Ðạo Sư mà tự xưng Ðạo Sư, thiệt chẳng phải chánh
giác mà tự xưng chánh giác, thiệt chẳng biết đạo xuất
thế mà tự xưng là biết, thiệt chẳng thấy đạo xuất thế
mà tự xưng là thấy, thiệt chẳng biết chỗ cạn qua mà tự
xưng là biết, thiệt chẳng phải giáo sư mà tự xưng là giáo
sư, điều họ dạy bảo là tà giáo, là tá giác, là tà xuất,
là tà đạo, chẳng biết chỗ cạn tự xưng là biết rồi
đưa người , người được đưa qua trở lại càng khốn khổ
hơn.
Nầy các
ông ! Ví như kẻ chăn bò chẳng biết chỗ cạn lùa bầy bò
xuống nước, đưa đến chỗ nước sâu giữa dòng bị khốn
không ai cứu hộ. Ðó là do kẻ chăn bò chẳng biết chỗ nước
cạn vậy.
Cũng vậy,
Hàng ngoại đạo các ông chẳng phải Ðạo Sư mà tưởng
mình là Ðạo Sư, người được độ trở lại bị khốn khổ.
Nầy các
ông ! Phật là Ðạo Sư thiệt có khả năng hóa đạo, người
được hóa độ đều chánh được độ. Phật là chánh giác
lời nói chẳng hư, người được Phật giác ngộ đều được
chánh ngộ. Phật là năng xuất lời nói chẳng hư, người
được dạy xuất thì được chánh xuất. Phật thấy đạo
dạy đường chánh cho người. Phật biết chỗ cạn lời nói
chẳng hư , người được Phật độ thì được chánh độ.
Phật biết pháp giáo hóa hay giáo hóa người. Phật biết Phật
pháp hay giác ngộ người. Phật biết pháp xuất khiến người
được xuất. Do vì Phật chánh kiến nên hay chánh chỉ bảo
người. Phật biết chỗ độ qua được nên hay độ người,
người được dắt qua đều được đường tốt.
Ngoại đạo
các ông, người ưa giải thoát. Phật là Ðạo Sư nay ở trước
các ông đây, các ông nên đến. Phật là chánh ngộ hiểu
rõ pháp xuất ly, khéo thấy đạo xuất ly nên làm chỗ cạn
qua.
Các ông nhứt
tâm lắng nghe kỹ khéo suy nghĩ đều sanh ưa muốn chánh niệm
hiện tiền tâm sẽ lưu chú phát cần tinh tấn, vì chưa chứng
pháp khiến được chứng, vì chưa dến được pháp khiến
đến được., vì xưa chưa hành đạo khiến tiến hành , vì
xưa chưa đến chỗ khiến đến chỗ, vì chưa phục ma khiến
hàng phục, vì xưa chưa tìm bạn khiến cầu bạn lữ, vì chưa
được pháp phương tiện khiến được pháp phương tiện.
Nầy các
ông ! Như Phật đã nói ba pháp hòa hiệp được thọ thai.
Nay sẽ nói , các ông phải nhứt tâm nghe kỹ pháp môn thọ
thai.
Nầy các
ông ! Phật nói mẹ đó là quá khứ tác nghiệp ấy làm duyên.
Phật nói cha , đó là quá khứ tác nghiệp ấy làm nhơn. Phật
nói Càn Thát Bà, đó là nghiệp chiêu vời thức. Phật nói
Ca La Lã, đó là nghiệp an trí. Phật nói bụng mẹ, đó là
chỗ nơi mà nghiệp an trí thức. thức ở nơi bụng rồi thì
sanh mạng được tăng trưởng lần lần lớn rộng.
Nầy các
ông ! Vì như có thuốc rừng rậm nương đại địa mà được
tăng trưởng lần lần lớn rộng. Cũng vậy, thức ấy vào
bụng mẹ rồi tăng trưởng lớn rộng. Trong bụng mẹ ấy,
hài nhi trưởng thành mới được sản sanh , sanh rồi lần
tăng, đã được trưởng thành hành tánh thuở đời trước
theo chỗ đã chết mà đến, chỗ sở hành quá khứ kia, quen
tập phát khởi hiện tại đây. Cái ấy phải là trí mới
biết , chẳng phải ngu rõ được. Kết bạn cùng ở thường
quan sát luôn mới biết tánh ấy.
Các ông lắng
nghe đây ! Người ấy nếu từ địa ngục chết rồi đến
sanh trong loài người đây sẽ có tướng nầy mà người
trí phải biết : tiếng họ ré lên ồ ề, như tiếng con la,
tiếp gấp rút , tiếng kinh sợ, tiếng to tiếng nhỏ lòng
thường sợ sệt, luôn luôn run rẩy nổi ốc dựng lông trong
chiêm bao phần nhiều thấy lửa cháy lớn, hoặc thấy chạy
trên núi, hoặc thấy khối lửa, hoặc thấy nồi chảo nước
sôi trào, hoặc thấy có người cầm gậy gộc mà chạy, hoặc
thấy thân mình bị mâu xóc đâm, hoặc thấy la sát nữ, hoặc
thấy bầy chó dữ, hoặc thấy bảy voi dữ rượt, hoặc thấy
mình chạy bốn phương mà không có chỗ nương về, lòng họ
ít tin, không có thân hữu.
Nầy các
ông ! Vô lượng tướng cảnh như vậy nay Phật nói lượt
bấy nhiêu, đây gọi là từ địa ngục chết đến sanh trong
loài người, chẳng phải ngu lường được mà chỉ có trí
mới biết.
Nầy các
ông ! Người ấy nếu từ súc sanh chết rồi đến sanh trong
loài người, họ sẽ có những tướng dạng nầy, mà người
trí phải biết, họ ám độn ít trí lười biếng ăn nhiều,
thích ăn bùn đất, tánh họ khiếp nhược, ngôn ngữ chẳng
rành, họ thích làm bạn với kẻ ngu, ưa chỗ tối tăm , mến
thích nước đục, ưa nhăn cỏ cây, ưa lấy ngón chưn đào
khoét đất cát, ưa động đầu xua đuổi ruồi lằn, thường
cất cao đầu ngáp nhai không, thường ưa có chưn tùy nghi nằm
trên đất chẳng tránh ô uế, ưa ngửi không, ưa trần truồng,
ưa dối trá, nói khác làm khác ưa nói thêm bớt, họ thường
chiêm bao thấy lấy bùn trét lên mình, hoặc mộng thấy mình
ở đồng ruộng ăn cỏ, hoặc mộng thấy mình bị rắn quắn,
hoặc mộng thấy muình vào trong hang núi rừng rậm. Có vô
lượng tướng cảnh như vậy nay Phật nói lược các tướng
ấy, đây gọi là từ súc sanh chết đến sanh trong loài người.
Trí mới biết chẳng phải ngu lường được.
Nầy các
ông ! Người ấy nếu từ ngạ quỉ chết đến sanh trong loài
người thì sẽ có các tướng sau đây mà người trí phải
biết. Tóc họ vàng, giận trợn mắt nhìn, thường ưa nhịn
đói nhịn khát, tham lam bỏn xẻn ghen ghét, ưa tham ăn tham
uống, ưa nói lén người, thân nhiều lông, tròng mắt sáng
đỏ, nhiều nghĩ tưởng các thức ăn, ưa muốn tích tụ chẳng
muốn chia cho, chẳng thích thấy người lành tốt, thấy tài
vật liền sanh lòng trộm cắp nhẫn đến được chút ít cũng
liền mừng vui, thường cầu tài lợi, ưa ăn dơ, thấy người
có của cải liền ganh ghét, lại ở nơi của người tưởng
là của mình, thấy người thọ dùng thì tiếc lẫn, nghe nói
ăn ngon thì lòng chẳng ưa, nhẫn đến nơi xóm nơi đường
thấy trái cây rụng hay lúa đậu liền sanh lòng tham lượm
hái. Có vô lượng tướng cảnh như vậy nay Phật chỉ nói
lược các tướng ấy, đây gọi là từ ngạ quỉ chết đến
sanh trong loài người chẳng phải ngu lường được, chỉ trí
mới biết.
Nầy các
ông ! Nếu người ấy từ A Tu La chết đến sanh trong
loài người sẽ có những tướng sau đây mà người trí phải
biết :
Họ cao ngạo
ngã mạn, ưa giận dữ đấu tranh, oán hận chẳng quên, khởi
tăng thượng mạng, thân họ to mạnh, mắt trắng như mắt
chó, răng dài lộ ra ngoài, dũng kiện nhiều sức lực hay chiến
trận, cũng ưa lưỡng thiệt phá hoại kẻ khác, lòng họ cao
ngạo khinh miệt sách luận của người, người khác dầu biết
mà họ khéo dùng lời lẽ kín sâu, họ cũng có trí lực và
phiền não lực, thích tự dưỡng thân thể. Có vô lượng
tướng cảnh như vậy nay Phật nói lược những tướng ấy,
đây gọi là từ A Tu La chết đến sanh trong loài người, chẳng
phải ngu lường được, chỉ trí mới biết.
Nầy các
ông ! Nếu từ loài người chết rồi sanh trở lại trong loài
người thì có những tướng như sau mà người trí phải biết
: Người ấy hiền trực ưa gần người lành, chê trách kẻ
ác, mến tiếc dang vọng nhà mình , đốc hậu thủ kín, ưa
thích tiếng tâm và lời khen tặng, mến ưa nghề khéo, kính
trọng trí huệ, có tâm tàm sĩ, tâm tánh nhu nhuyến, biết
ơn dưỡng nơi các thiện hữu, lòng thuận không trái, ưa xả
thí, biết người hay dở, giỏi quan sát người có ích hay
vô ích, giỏi đối đáp lãnh hội ngôn nghĩa ấy, giỏi hòa
hiệp cùng giỏi trái lìa, giỏi làm sứ giả tuyên truyền
ngôn ngữ, nơi các thứ ngôn ngữ giỏi thông đạt ghi nhớ
chẳng quên, cũng biết được thị xứ phi xứ. Có vô lượng
tướng như vậy nay Phật nói lược các tướng ấy, đây gọi
là người từ loài người chết trở lại sanh trong loài người.
Chẳng phải ngu lường được, chỉ trí mới biết.
Nầy các
ông ! Nếu người ấy từ thân trời chết rồi sanh trong loài
người sẽ có các tướng sau đây mà người trí phải biết.
Người ấy đoan chánh thích thanh tịnh, hay mang vòng hoa
và ướp hương thoa hương nơi thân, thích tắm gội, thọ ngũ
dục thì chọn thứ đẹp tốt mà chẳng ưa thứ xấu, ưa âm
thanh và ca vũ, thuần giao hữu với các thượng nhơn , chẳng
kết bạn với hạ nhơn, ưa lầu các nhà cao phòng rộng, lòng
từ hòa mỉm cười không giận, lời nói dịu dàng đẹp
hay khiến người nghe đẹp dạ vui lòng, thích chuổi ngọc
và y phục trang sức, thường ưa đi ra vào, bước đi thong
dong nhàn nhã, làm việc chuyên cần chẳng biếng lười. Có
vô lượng tướng như vậy, nay Phật nói lược các tướng
ấy, đây gọi là người từ thân trời chết rồi sanh trong
loài người, chẳng phải ngu lường được, chỉ trí mới
biết.
Nầy các
ông ! Nếu thiện nam tử thiện nữ nhơn muốn siêu thoát các
tướng ấy thì phải gần gũi thiện tri thức, thuận theo ý
và làm theo chỗ làm của thiện tri thức. Thiện tri thức ấy
sẽ thuyết pháp để họ được siêu độ.
Nầy các
ông ! Người từ địa ngục chết sanh trong loài người ấy,
trước đời địa ngục lúc họ làm thân người họ tạo
những tội ác, vì họ sân khuể nên giết hại, do nghiệp
giết hại ấy dắt họ đọa địa ngục thọ nhiều thứ khổ,
sau đó sanh trong loài người vẫn còn tập khí.
Người ấy
đã biết tướng dạng như vậy rồi cần phải tự biết là
mình từ địa ngục đến sanh trong loài người. Vì bỏ lìa
nhơn duyên địa ngục, người ấy phải tìm thiện tri thức.
Gặp được thiện tri thức rồi cung kính thưa sự. Thiện
tri thức ấy vì trừ nghiệp sân hại mà dạy nói từ bi và
trợ đạo tương ưng từ bi. Do các pháp hành ấy trừ được
tập khí tàn thừa nhơn duyên địa ngục của người ấy.
Thiện tri thức ấy hoặc vì họ nói Thi la Ba la mật tương
ưng từ bi để trừ tội ác sân hại cho người ấy. Lúc người
ấy tu từ bi, sáu Ba la mật sẽ đầy đủ thêm lớn phước
đức.
Nầy các
ông ! Người từ súc sanh chết, sanh trong loài người, trước
đời súc sanh, lúc làm thân người, họ thật hành quen tập
pháp ngu si, do quen tập ngu si bèn làm ác nghiệp, do ác nghiệp
ấy sanh trong loài súc sanh, ăn ở chung chạ lâu ngày với các
súc sanh, hành động nghi thức súc sanh, nên nay làm thân người
vẫn còn những tướng theo tập khí súc sanh. Người ấy phải
tự biết sau khi thấy hành tưởng của mình, tôi từ súc sanh
chết đến sanh trong loài người đây. Vì bỏ rời nhơn duyên
súc sanh, họ phải tìm thiện tri thức. Vì trừ tập khí ngu
si. Thiện tri thức dạy họ mười hai nhơn duyên. Do pháp nhơn
duyên ấy mà trừ được ngu si. Thiện tri thức ấy hoặc vì
họ mà dạy Bát Nhã Ba la mật, do đó ngu si thể tánh tự lìa
dứt, bèn sanh trí huệ.
Nầy các
ông ! Người từ ngạ quỉ chết đến sanh trong loài người,
trước đời làm ngạ quỉ, lúc làm thân người, họ thật
hành chứa quen pháp xan tham, do nghiệp lực xan tham sanh trong
loài ngạ quỉ, cùng chung với các ngạ quỉ ăn ở, hành động
theo nghi thức ngạ quỉ. Người ấy quan sát thấy hành động
của mình phải tự biết rằng tôi vốn là ngạ quỉ chết
rồi đến sanh trong loài người nầy. Vì muốn bỏ rời hành
nghiệp ngạ quỉ, người ấy phải tìm thiện tri thức. Vì
trừ nghiệp xan tham của người ấy nên thiện tri thức dạy
họ pháp bố thí. Nhờ pháp bố thí mà nghiệp xan tham được
trừ. Hoặc thiện tri thức dạy họ pháp trợ Bồ đề tương
ưng với bố thí, hoặc dạy họ Ðàn na Ba la mật. Người
ấy tu Bàn na Ba la mật mà được đủ sáu Ba la mật. Thiện
tri thức hoặc dạy họ tất cả pháp đều bình đẳng. Người
ấy tu pháp bình đẳng nên được đủ Bát Nhã Ba La mật.
Vì tu Bát Nhã ba la mật nên lưu chú xu hướng Nhứt thiết
trí.
Nầy các
ông ! Người từ A Tu La chết đến sanh trong loài người, trước
đời A Tu La, lúc làm thân người, họ làm nhiều căn lành
mà kiêu mạn, do kiêu mạn mà tạo các nghiệp , do sức nghiệp
kiêu mạn tích tập mà sanh trong A Tu La cùng chung ăn ở với
chư A Tu La làm những nghiệp A Tu La. Từ A Tu La chết họ sanh
trong loài người đây nhưng tập khí nghiệp A Tu La vẫn còn.
Người ấy nghe pháp như vậy, quan sát hành động của mình
phải tự biết rằng tôi vốn từ A Tu La chết rồi sanh trong
loài người. Vì muốn bỏ rời hành nghiệp A Tu La nên người
ấy phải tìm thiện tri thức. Vì trừ nghiệp kiêu mạn cho
người ấy, thiện tri thức dạy họ thánh trụ xứ, do pháp
môn nầy khiến họ trừ được nghiệp kiêu mạn. Hoặc dạy
họ không pháp môn, do đây trừ được nghiệp kiêu mạn ngô
ngã mà được trí vô ngã. Hoặc dạy họ nhơn duyên hòa hiệp
mà có các pháp, do hòa hiệp mà có sở tác. Nếu không hòa
hiệp thì không sở tác. Quan sát như vậy thì kiêu mạn và
nghiệp đều tiêu trừ. Hoặc dạy các pháp nhứt tướng, tu
theo đây thì được đủ Bát Nhã Ba la mật mau chứng Nhứt
thiết trí trọn chẳng thối chuyển.
Nầy các
ông ! Người từ thân người chết rồi lại sanh trong loài
người, lúc đời trước làm thân người, họ tu hành tích
tập mười nghiệp đạo lành, do nghiệp lực luôn luôn tu hành
tích tập nghiệp đạo lành ấy mà lại sanh trong loài người
đây. Người ấy nghe pháp như vậy phải tự biết rằng tôi
vốn từ thân người chết rồi lại sanh trong loài người
nầy. Vì muốn siêu tập khí nghiệp người , họ phải tìm
thiện tri thức. Vì trừ tập khí ấy, thiện tri thức dạy
họ vô thường tưởng để trừ tập khí. Hoặc dạy họ sanh
từ lỗi khổ, Niết bàn rất vui. Nghe pháp ấy rồi, người
ấy được nhàm sanh tử lỗi khổ mà ưa thích Niết bàn vui.
Hoặc dạy họ sáu Ba la mật, do đó hoặc họ có thể phát
tâm Vô thượng Bồ đề. Hoặc dạy họ thiện phương tiện,
do đó họ có thể kiên trì sáu Ba la mật mau chứng Nhứt trí
trọn chẳng thối chuyển.
Nầy các
ông ! Người từ thân trời chết rồi đến sanh trong loài
người, trước đời làm thân trời, lúc làm thân người tu
phạm hạnh bố thí trì giới đều mong phước báu tương lai.
Tu hành tích tập thiện nghiệp như vậy dài lâu xong trọn,
do nghiệp lực ấy sanh thân trời, cùng chư Thiên chung ăn ở
quen nghi thức chư Thiên , từ thân trời chết, tập khí pháp
hành chư Thiên vẫn còn, khi được thân người rồi, nghe pháp
như vậy quan sát hành động của mình phải tự biết rằng
tôi vốn quyết từ thân trời chết đến sanh trong loài người.
Vì muốn siêu tập khí chư Thiên, người ấy phải tìm thiện
tri thức. Thiện tri thức ấy dạy họ tu trì phạm hạnh chẳng
cầu báo tương lai, dạy cho họ biết cầu phước báu là lầm
lỗi, dạy rõ tịnh tu phạm hạnh không chỗ y trước thì được
phước vô lượng. Dạy họ tu bố thí chẳng cầu phước báu,
nói cầu báo là lỗi lầm, dạy rõ bố thí không chỗ y trước
thì được phước vô lượng. Dạy họ tu trì giới chẳng
cầu phước báu tương lai, nói cầu báo là lỗi lầm, dạy
rõ trì giới không chỗ y trước thì công đức vô lượng.
Hoặc dạy họ thiện xảo phương tiện, do đó người ấy
có hành lục Ba la mật, đầy đủ lục Ba la mật mau chứng
Nhứt thiết trí trọn chẳng thối chuyển.
Nầy các
ông ! Người từ địa ngục chết đến sanh trong loài người
phải nương tựa thiện tri thức để được nghe pháp tam thế
chư Phật bình đẳng. Ðược nghe pháp bình đẳng rồi phải
phát cần tinh tấn y thành ấp tụ lạc cùng đại chúng chung
ở nơi đủ cả bốn bộ chúng cùng nhau luận lượng Phật
pháp học vấn nạn đáp, pháp tam thế bình đẳng được hiện
ra trước, hiểu tất cả pháp không có tự tánh. Do tu trí
hiểu nầy mà phiền não lần trừ.
Nầy các
ông ! Người từ súc sanh chết sanh trong loài người ấy phải
nương tựa thiện tri thức gần gũi người đa văn, do gần
người đa văn mà trừ lần ngu si. Người ấy dầu gần người
đa văn và các kinh luận mà quán tưởng chẳng phải có. Người
ấy quán tưởng chẳng phải có rồi tự nhiên hiểu chứng
pháp không tự tánh, do đây mà pháp tam thế bình đẳng tự
nhiên hiện tiền mau chứng Nhứt thiết trí chẳng có thối
chuyển.
Nầy các
ông ! Người từ ngạ quỉ chết sanh trong loài người ấy
phải nương tựa thiện tri thức tu hành bố thí để trừ
xan tham và làm các công đức. Do vì tu xả thí nên tâm họ
chằng tich tụ, do đó pháp tam thế bình đẳng tự nhiên hiện
tiền được nhứt tướng, tức là vô tướng. Người ấy
do tu trí hiểu vô tướng nầy nên mau chứng Nhứt thiết trí
trọn chẳng thối chuyển.
Nầy các
ông ! Người từ A Tu La chết đến sanh trong loài người phải
nương tựa thiện tri thức để cùng chiến đấu với phiền
não ma, đó là kiêu mạn. Bấy giờ người ấy nên quán sát
“ gì là mạn, ai mạn, ai bị khinh mạn, ai do mạn nầy mà
khởi phiền não xứ, ai bỏ mạn ấy ?”. Suy tìm như vậy
không có mạn để được, cũng chẳng thấy có ai nhiếp thọ
mạn ấy. Người ấy do quán sát nghĩa như vậy nên không có
mạn để được, không có người mạn, cảnh giới tương
ưng với mạn cũng chẳng có được, cũng chẳng thấy có ai
bỏ kiêu mạn. Quan sát như vậy, không một pháp có thể được.
Người ấy lại quan sát như vậy : “Do ác nhiếp thọ tự
phỉnh thân mình cũng phỉnh thân người ”. Lúc quan sát như
vậy có thể thấy các pháp không có tự tánh. Do thấy các
pháp đều không có tự tánh nên thấy pháp chẳng phải có,
do chẳng phải có nên biết chẳng thành tựu, do biết chẳng
thành tựu nên biết là chẳng sanh, vì biết là chẳng sanh
nên biết là chẳng diệt, đã chẳng sanh diệt thì đó là
bất khả thuyết. Nếu hiểu được bất khả thuyết thì nó
chẳng phải quá khứ chẳng phải hiện tại chẳng phải vị
lai tam thế bất khả đắc. Các pháp đã là tam thế bất khả
đắc thì nên biết chưa hề có được có mất, đây là tất
cả pháp bình đẳng. Do tất cả pháp bình đẳng nên biết
tất cả pháp là chơn như bất biến bất dị, Như Lai
cũng là chơn như bất biến bất dị, vì tất cả pháp tức
là chơn như.
Do đó nên
quan sát kiêu mạn được biết người ấy từ thân người
đời trước chết rồi lại sanh trong loài người, vì họ
có sức tập khí kiêu mạn. Nhẫn đến từ địa ngục chết
đến sanh trong loài người do có tập khí kiêu mạn nên biết
được tướng ấy. Nếu không tập khí kiêu mạn thì không
thể nói được là người ấy từ thân người đến hay nhẫn
đến từ trong địa ngục đến.
Nầy các
ông ! Ðây gọi là trí huệ lìa rời kiêu mạn. Tướng ấy
phải do đủ xảo phương tiện mới có thể biết được.
Lại do Bát Nhã Ba la mật gia trì nên người ấy mới biết
được ”.
Lúc ấy,
tám ngàn người ngoại đạo được nghe đức Phật thuyết
pháp liền được vô sanh pháp nhẫn. Chúng ấy được vô sanh
pháp nhẫn rồi liền đứng dậy đảnh lễ chưn Phật. Họ
đảnh lễ chưn Phật rồi đứng qua một phía khác miệng đồng
lời nói kệ tán thán đức Phật :
“Ðạo Sư
kiến lập sức trí huệ
Biết các
đạo thú chẳng do người
Biết các
chúng sanh đi các thú
Như thấy
trái cây cầm trong tay
Do các kiến
thủ trược thế gian
Thí như
mây mù chướng hư không
Do đây bầy
ngu thường lưu chuyển
Như bọn
người mù lạc đường chánh
Thế gian
là thường là vô thường
Lại nói
cũng thường cũng vô thường
Lại nói
phi thường phi vô thường
Họ như
voi đui đi vào thành
Nói đời
hữu biên hay vô biên
Nói cũng
hữu biên cũng vô biên
Nói phi hữu
biên phi vô biên
Do đây lưu
chuyển như chim lồng
Lại nói
tức thân là thần ngã
Hoặc nói
ly thân có thần ngã
Bị vọng
tưởng phân biệt trói buộc
như chim
sa lưới lòng sanh khổ
Lại nói
Trời Tự Tại hóa ra
Lại nói
sanh chẳng phải do nhơn
Chúng sanh
bị kiến thủ che lấp
Ví như mây
mù che khuất trăng
Như trứng
trong lồng nở ra chim
Theo các
lỗ trống thường muốn ra
Chúng sanh
bị kiến thủ làm ngu
Họ chẳng
giải thoát như chim lồng
Lại để
Phạm Vương và Thiên chúa
Lại để
đồng hài và phụ nhơn
Lại để
phương hải Tỳ Sa Môn
Như giặc
bị bắt cầu thần linh
Dường như
kẻ nghèo gặp chủ nợ
Cầu lập
bảo chứng cùng chủ nợ
Như vậy
người đời chấp kiến thủ
Ngu si cầu
trời mong dục lạc
Phật thấy
chúng sanh y chơn thiệt
Như thấy
năm ngón trên bàn tay
Ở trong
các thú chịu trăm khổ
Như bọn
giặc cướp vào lao ngục
Với họ
Thế Tôn lòng thương xót
Tu các đạo
hạnh biết các thú
Thế Tôn
đã dạy pháp xuất ngục
Như vua sanh
trai phóng đại xá
Thương đời
chẳng kể vô số kiếp
Tu các khổ
hạnh được Bồ đề
Kiến thủ
phá hoại bọn ngu si
Phật dạy
cho họ được giải thoát
Do đây Thiện
Thệ Thiên Nhơn Sư
Ở trong
các pháp được tự tại
Chúng tôi
kiến thủ nên lạc đường
Nơi kiến
thủ Phật cứu chúng tôi
Do đây Thế
Tôn có đại lực
Có đủ
vô úy không oán đối
Giữa chúng
đại hống như sư tử
Chúng tôi
cũng nguyện được pháp ấy
Vì nó hay
động cõi Ðại Thiên
Cũng dùng
pháp ấy chiếu khắp chốn
Dùng nó
thọ ký các chúng sanh
Cũng nguyện
chúng tôi gặp gỡ họ”.
Ðức Thế
Tôn biết chư ngoại đạo đã thâm tín nên hiện tướng mỉm
cười phóng ánh sáng.
Huệ Mạng
Mã Thắng nói kệ bạch hỏi đức Phật :
“Phật thương
thế gian hiện mỉm cười
Vì thấy
các chúng ngoại đạo ấy
Ngưỡng
mong Như Lai nói cớ cười
Phật hiện
mỉm cười có nghĩa chi
Ðấng khéo
hiểu nhơn chẳng không nhơn
Mà hiện
mỉm cười phóng ánh sáng
Lành thay
đấng hiện sáng mỉm cười
Ðại chúng
chiêm ngưỡng mong Phật nói
Ðại chúng
tại hội đều hoài nghi
Vì thấy
Phật hiện ánh sáng cười
Tất cả
đều như nhìn trăng tròn
Nhìn Phật
chờ nói cớ mỉm cười
Ai tại hôm
nay dâng cúng dường
Ai ngày nay
làm vui từ phụ
Nay ai có
được Phật công đức
Lành thay
Ðại Trí xin diễn nói
Ðại chúng
nghe nói chắc mừng vui
Ðều do
ngoại đạo được thọ ký
Ngưỡng
mong Ðạo Sư thương nói cho
Ở trong
thừa nào họ đắc đạo
Lành thay
Mâu Ni trừ chúng nghi
Do đây đại
chúng được mừng vui
Một bề
đến Phật không thối chuyển”.
Ðức Thế
Tôn nói kệ đáp Mã Thắng Tỳ kheo :
“ Lành
thay Mã Thắng khéo biết giờ
Hay hỏi
Như Lai hàng ma oán
Thương xót
thế gian nói lời ấy
Hay hỏi
Ðạo Sư Vô Thượng Sĩ
Phật sẽ
nói sự hiện mỉm cười
Ông phải
nhứt tâm nghe duyên cớ
Ông phải
vui mừng nghe Phật nói
Nay nói nghĩa
cớ Phật mỉm cười
Tám ngàn
ngoại đạo đều điều phục
Bỏ các
ác kiến trụ thiện kiến
Thấy thế
gian bị kiến thủ não
Họ khởi
bi tâm cầu Bồ đề
Tất cả
kiến thủ đều được bỏ
Vì họ đã
biết chánh kiến vậy
Từ Phật
được nghe ký vô ngại
Họ đều
ưa cầu Nhứt thiết trí
Chỗ Phật
quá khứ được ký rồi
Cúng dường
Ðại bi Lưỡng Túc Tôn
Ðầy đủ
chỗ hai ức chư Phật
Ðể được
lên Vô thượng Bồ đề
Chỗ Phật
tu thí cũng chẳng thiếu
Tu trì tịnh
giới tu thiền định
Tịnh tu
trí huệ phát tinh tấn
Nơi c ác
quần sanh tu nhẫn nhục
Thường
tu tập sáu Ba la mật
Lựa chọn
trí huệ cầu Bồ đề
Mã Thắng
thỉnh hỏi đấng hàng ma
Phát tâm
thích cầu Phật Bồ đề
Những khổ
não ấy do đảng ác
Y chỈ trong
chỗ có kiến thủ
Chúng ấy
nay thấy Thắng Ðạo Sư
Bỏ các
ác kiến đều không thừa
Do được
thiệt hiểu lời Phật dạy
Tùy thuận
Phật pháp khởi thâm tín
Họ có nhiều
ức Phật vị lai
Ðều siêng
cúng dường cầu Bồ đề
Ở đời
vị lai kiếp Tinh Tú
Ðều được
làm Phật đồng một hiệu
Hiệu Phổ
Văn Phật danh tiếng lớn
Phật ấy
đại trí độ thế gian
Quốc độ
Phật ấy rất thanh tịnh
Nhiều thứ
trang nghiêm không đâu bằng
Cõi ấy
chúng sanh không ác kiến
Thuần cầu
Bồ đề quả hiền thánh
Cõi ấy
chúng sanh không ác thú
Thuở ấy
cũng không tất cả nạn
Tất cả
Phật ấy thọ mạng lâu
Ðồng trụ
thế gian tám vạn tuổi
Chúng sanh
nghe được danh Phật ấy
Ðều được
bất thối thượng Bồ đề
Nếu những
người nữ nghe hiệu Phật
Tất cả
đều được thân nam nhi
Như vậy
Thế Tôn đấng hàng ma
Ðã thọ
ký cho chúng ngoại đạo
Tất cả
Trời Người nghe thọ ký
Thảy đều
mừng vui sanh kính tin”.