Bấy
giờ Huệ Mạng Ma Ha Ca Diếp thấy các A Tu La Vương cúng ,
dường đức Phật rồi , sanh tâm hi hữu tự nghĩ rằng : Lúc
đức Thế Tôn tu hạnh Bồ Tát tạo căn lành gì mà nay được
quả báo ấy ? Ngài liền nhập như thiệt tam muội, do sức
tam muội trang nghiêm nơi tâm nên nhớ biết thuở quá khứ
vô số a tăng kỳ kiếp tất cả công đức mà Như Lai đã
tu tập trong các loài ấy, trong các đời ấy tu tập thiện
căn đều để làm đầy đủ vô thượng Bồ đề. Do các thiện
căn ấy mà được bực bất thối chuyển, các thiện căn ấy
đều nhớ biết.
Lúc Ngài
Ma Ha Ca Diếp nhớ thiện căn lớn của đức Như Lai, Ngài nghĩ
rằng như Phật đã tu tập căn lành rộng lớn, thiện căn
mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai , ví như hằng sa thế
giới quốc độ mười phương tất cả chúng sanh trong ấy
đều được thân người, rồi trong hằng sa kiếp cúng dường
chư Phật như A Tu La Vương. Mỗi mỗi chúng sanh trong hằng
sa kiếp cúng dường Phật rồi chẳng báo đáp được thiện
căn một lần phát tâm của đức Như Lai.Huệ Mạng Ma ha Ca
Diếp từ tam muội dậy tán thán rằng :
“ Mỗi mỗi
Như Lai đấng Mâu Ni
Phát tâm
rộng lớn hướng Bồ đề
Sự cúng
dường Phật các Tu La
Cũng chẳng
bằng một phần Ca La
Thế Tôn
Ứng Cúng Thầy Trời Người
Như khối
chiên đàn bằng núi chúa
Chỗ cúng
dường thù thắng Trời Người
Do nơi công
đức đến bỉ ngạn
Ðấng Thầy
Trời Người đáng thọ cúng
Hơn số
hằng hà sa đã thọ
Ví như biển
cả đầy nước trong
Nước thơm
hòa hiệp mà cúng dường
Ðầy đủ
công đức nên thọ cúng
Nhiều hơn
cả số hằng hà sa
Chứa đầy
khối hoa mà cúng dường
Dường như
núi Chướng Ca Bà La
Tự nhiên
Ðại Sĩ nên thọ cúng
Ngọn đèn
sáng như núi Tu Di
Biển cả
dùng làm bình đựng dầu
Ðem đèn
cúng dường chư Thế Tôn
Ðấn oai
thế nên thọ cúng dường
Nhiều hơn
số hằng hà sa
Tạo lập
tháp miếu mà cúng dường
Do nơi công
đức đến bỉ ngạn
Nhơn Thiê
Ðạo Sư nên thọ cúng
Ðem những
lọng báo lớn đẹp lạ
Mỗi lọng
che khắp cõi Ðại Thiên
Trải suốt
số kiếp na do tha
Ðấng Thế
Tôn thương xót thế gian
Công đức
vô biên nên thọ cúng
Ðem những
tràng báo để cúng dường
Ðầy khắp
thế giới trong mười phương
Nơi số
kiếp ức bất tư nghị
Ðem phan
rộng lớn mà cúng dường
Ðầy hằng
hà sa các thế giới
Trải qua
vô lượng ức kiếp số
Cúng dường
Như Lai Thiên Nhơn Sư
Phát khởi
phân biệt làm thí dụ
Ðại chúng
con của Ðại Luận Sư
Lắng nghe
lắng nghe các Trời Người
Tôi cùng
mọi người tại chúng nầy
Số đông
như số hằng hà sa
Bao nhiêu
đại chúng ở mười phương
Tất cả
đều sẽ được làm Phật
Ðầy đủ
thập lực đại Ðạo Sư
Số chư
Phật ấy như hằng sa
Mỗi mỗi
đều có hằng sa đầu
Nơi mỗi
mỗi đầu như hằng sa
Ðều có
đủ cả hằng sa miệng
Nơi mỗi
mỗi vô lượng miệng ấy
Ðều có
vô lượng vô số lưỡi
Dùng lưỡi
ca ngợi nơi Như Lai
Chư Như
Lai ấy nói chẳng hết
Công đức
bờ kia chẳng đến được
Nhứt thiết
chủng trí chẳng lường được
Do công đức
đến bỉ ngạn vậy ”.
Ðức Thế
Tôn bảo các Tỳ kheo: “ Lành thay, lành thay ! Nầy chư
Tỳ Kheo ! Chư Thanh Văn của ta lòng đoan trực có trí có pháp
như Phạm Thiên mới được vào trong biển công đức của
Phật. Tại
sao ? Vì Như Lai đầy đủ vô lượng công đức, đầy đủ
công đức chẳng nghĩ bàn. Khối công đức của Như Lai chẳng
thể nghĩ bàn.
Nầy chư
Tỳ Kheo ! Khối công đức của Như Lai nếu là hình sắc, thì
công đức mỗi mỗi lần phát tâm ấy, hằng sa thế giới
chẳng dung chứa được? Tại sao ?
Nầy chư
Tỳ Kheo ! Công đức mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai là
chỗ phan duyên của Nhứt thiết trí, như hằng sa chư Phật,
như hằng sa kiếp, chẳng thể suy lòng chẳng thể nói hết.
Tại sao ? Vì lúc Như Lai tu hạnh Bồ Tát thuở xưa không một
phát tâm nào là chẳng vì lợi ích tất cả chúng sanh, nhiếp
thuộc chúng sanh không một phát tâm nào là chẳng vì tất
cả chúng sanh, chúng sanh giới không biên tế, chúng sanh trong
đó cũng không biên tế, công đức mỗi mỗi lần phát tâm
của Như Lai cũng không biên tế. Tại sao ? Như chúng sanh giới
không biên tế, như chúng sanh giới chẳng lường được, khối
công đức mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai chẳng thể
cùng tận, đều vì thương xót lợi ích an lạc tất cả chúng
sanh mà phát tâm vậy. Giả sử tất cả chúng sanh đều cúng
dường chẳng thể báo đáp được công đức một lần phát
tâm của Như Lai. Tại sao ? Vì các chúng sanh ấy cúng dường
Như Lai đều vì hi vọng quả báo thế gian tạp thực vậy.Bồ
Tát phát tâm rời lìa nơi tâm tạp thực cầu báo thế gian
mà vì lợi ích an lạc chúng sanh, muốn khiến chúng sanh trái
sanh tử mà xu hướng Niết bàn.
Lúc Như Lai
tu hạnh Bồ Tát thuở xưa vì lợi ích an lạc chúng sanh, rời
lìa tạp thực chẳng cầu báo thế gian ”.
Ðức Phật
bảo chư Tỳ Kheo ; “ Thuở quá khứ, vô lượng vô biên lưu
chuyển sanh tử vô số bất khả tư nghì trong vô thỉ thế
giới bất khả thuyết kiếp có Phật hiệu Nhơn Ðà Tràng
Vương xuất thế đủ mười đức hiệu.
Nầy chư
Tỳ Kheo ! Lúc đức Nhơn Ðà Tràng Vương Như Lai thành Phật,
hằng sa thế giới đồng một quốc độ trang nghiêm thanh tịnh
không có các ác đạo và tám nạn, chúng sanh trong đó đều
an trụ chánh định tụ. Hoàn toàn không có chúng sanh tà định,
tăng thượng mạn. Tất cả đều không có thân nghiệp bất
tịnh, khẩu nghiệp bất tịnh, ý nghiệp bất tịnh, cũng không
có phiền não ác đạo, nghiệp ác đạo.
Tại sao ?
Vì đức Nhơn Ðà Tràng Vương Như Lai giáo hóa chúng sanh ấy
cho họ phát tâm dứt tất cả ác, đem pháp lành dạy cho họ
tu học.
Trong quốc
độ của đức Nhơn Ðà Tràng Vương Như Lai có năm thứ vui
: một là được dục lạc, hai là được vui xuất gia, ba là
được vui thiền định, bốn là được vui tam ma đề, năm
là được vui Vô thượng Bồ đề.
Các chúng
sanh ở quốc độ ấy dầu thọ lạc mà chẳng nhiễm trước
, như ong mật chi” lấy mật hoa mà chẳng lấy sắc hoa, như
chim bay đi trên không mà chẳng dừng dính hư không, chúng ấy
cũng vậy dầu thọ lạc mà chẳng nhiễm lạc. Các chúng sanh
ấy không có lo khổ chỉ có vui sướng, cũng không bất khổ
bất lạc thọ vì không ngu si vậy, chỉ có sự vui thích vừa
lòng. Tại sao ? Vì các chúng sanh vốn đã tu căn lành. Do vì
đức Phật ấy lúc tu hạnh Bồ Tát hiện các tướng hảo
khiến các chúng sanh ấy chẳng làm ác mà đặt để cho họ
tu tập pháp lành, họ lần lượt rời lìa ác đạo ở chỗ
lành vui, tất cả thứ nghiệp bất thiện họ đều không hẳn.
Lúc họ tạo nghiệp lành được quả báo an vui mà họ chẳng
tham luyến và không bao giờ sanh khổ thọ, vì chẳng tạo nghiệp
ác nên chẳng thọ quả khổ vậy.Vì không ngu si nên cũng không
bất khổ bất lạc thọ.
Trong quốc
độ ấy tất cả thời gian thường không có gió dữ mưa bạo,
cũng không có độc nhiệt, chúng sanh cõi ấy không có khổ
vì thời tiết thay đổi.
Lúc đức
Nhơn Ðà Tràng Vương Như Lai tu hạnh Bồ Tát, tất cả thân
nghiệp trí thượng thủ trí thuận chuyển diễn thuyết khai
thị chánh hiển, tất cả khẩu nghiệp trí thượng thủ trí
thuận chuyển diễn thuyết khai thị chánh hiển, tất cả ý
nghiệp trí thượng thủ tri thuận chuyển diễn thuyết khai
thị chánh hiển, tất cả chúng sanh trong quốc độ ấy theo
Bồ Tát nghe pháp rồi tất cả ba nghiệp thân khẩu ý nghiệp
trí thượng thủ trí thuận chuyển hồi hướng. Do nơi nghiệp
lành nên báo ngu si chẳng sanh. Do vì không ngu si nên chúng sanh
ấy không có khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Các chúng
sanh ấy lúc sanh quốc độ kia, đức Nhơn Ðà Tràng Vương
Như Lai giáo hóa rồi, họ kính trọng nơi pháp, nếu lúc du
hành họ suy lường nơi pháp yêu thích nơi pháp nhiễm trước
nơi pháp. Lúc du hành do họ yêu thích nhiễm trước nơi pháp
không có khổ thọ, đi đứng ngồi nằm ngủ thức đều không
có một chút khổ về oai nghi. Các chúng sanh trong quốc độ
ấy không có ác để thuận theo. Do vì không ác nên không
có khổ sanh và không chấp nơi lành. Do cớ ấy nên các chúng
sanh kia khéo thuận nơi không mà không có biến dịch khổ.
Ở trong các pháp chẳng sanh tham trước nên chẳng có hoại
khổ. Quốc độ ấy cũng không có hoán tắng hội khổ. Tại
sao ? Vì các chúng sanh ấy ở trong tất cả chúng sanh được
tâm an trụ bình đẳng hiện tiền nên không có oán tắng.
Cũng không có ái biệt ly khổ. Tại sao ? Vì các chúng sanh
ấy không ái trước tất cả pháp. Khổ ái biệt ly do nơi
ái mà sanh. Chúng sanh ấy không ái nhiễm nên không có ái biệt
ly khổ. Cũng không có khổ khổ. Tại sao ? Vì đối với lạc
thọ chẳng luyến trước vậy.Chỉ có hành khổ thôi, đó
là vô thường khổ. Tại sao ? Ðức Phật ấy chỉ nói đệ
nhứt nghĩa đế. Ðức Phật thọ hằng sa kiếp. Trong Phật
độ ấy không có một chúng sanh nào tranh luận với Phật
mà sanh trong cõi ấy. Tại sao ? Vì lúc làm Bồ Tát đã thành
thục xong chúng sanh vậy”.
Ðức Phật
bảo các Tỳ Kheo rằng : “ Nầy chư Tỳ Kheo ! Ý các ông thế
nào ? Có thể dùng hạ thiện căn, ít thiện căn những thiện
căn
Chẳng tập
giỏi, những thiện căn chẳng tương ưng, thiện căn chẳng
phải đại tinh tấn, thiện căn chẳng phải thiện thú, chẳng
phải thiện pháp, chẳng phải thiện hồi hướng mà có hể
làm lợi ích các chúng sanh ấy hay ban vui trừ khổ ư ? Có
thể nghiêm tịnh quốc độ quảng đại ấy ư ? Có thể thành
thục nhiều chúng sanh như vậy ư ? ” .
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể được ” .
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng :” Ý các ông thế nào ? Có thể
dùng tâm hạ liệt, tâm khiếp nhược, tâm tương ưng bất
thiện, tâm chẳng phải tinh tấn, tâm chẳng phải khéo tập
thiện căn, tâm chẳng phải thiện thú, tâm chẳng phải thiện
pháp, tâm chẳng phải thiện hồi hướng mà làm lợi ích an
lạc được các chúng sanh ấy, ban vui cứu khổ được và
nghiêm tịnh được Phật độ quảng đại như vậy, thành
thục được nhiều chúng snh như vậy chăng ? ”.
Chư Tỳ Kheo
bach rằng : “ Chẳng thể được ”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng :” Ý các ông thế nào ? có thể
dùng tin hạ liệt, tin ít, tin kém, tin khiếp nhược, tin tương
ưng bất thiện, tin chẳng phải tinh tấn, tin chẳng phải khéo
tập thiện căn, tin chẳng phải thiện thú, tin chẳng phải
thiện pháp, tin chẳng phải thiện hồi hướng mà lợi được
các chúng sanh ấy, có thể ban vui cứu khổ được và nghiêm
tịnh được Phật độ quảng đai như vậy, thành thục được
nhiều chúng sanh như vậy chăng?”.
Chư Tỳ Kheo
bạch Phật rằng :” Chẳng thể được ”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ý các ông thế nào ? Có thể
dùng giới hạ liệt, giới ít, giới kém, giới chẳng phải
tinh tấn, giới chẳng phải khéo tập thiện căn, giới chẳng
phải thiện thú, giới chẳng phải thiện pháp, giới chẳng
phải thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sanh
ấy, có thể ban vui cứu khổ dược và nghiêm tịnh được
Phật độ quảng đại như vậy, thành thục được nhiều
chúng sanh như vậy chăng ?” .
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể được”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ý các ông thế nào ? Có thể
dùng tinh tấn hạ liệt , tinh tấn ít, tinh tấn kém, tinh tấn
khiếp nhược, tinh tấn chẳng tương ưng, tinh tấn chẳng phải
tinh tấn, tinh tấn chẳng phải khéo tập thiện căn, tinh tấn
chẳng phải thiện thú, thiện pháp, thiện hồi hướng mà
lợi ích được
Các chúng
sanh ấy, có thể ban vui cứu khổ được và nghiêm tịnh được
Phật độ quảng đại như vậy, thành thục được nhiều
chúng sanh như vậy chăng ?”.
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể dược ”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ý các ông thế nào ? Có thể
dùng niệm hạ liệt, niệm ít, niệm kém , niệm khiếp nhược,
niệm chẳng tương ưng thiện căn, niệm chẳng tinh tấn, niệm
chẳng khéo tập thiện căn , niệm chẳng phải thiện thú,
thiện phát thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng
sanh ấy, có thể ban vui cứu khổ được và nghiêm tịnh được
Phật độ quảng đại như vậy, thành thục được nhiều
chúng sanh như vậy chăng ? ”.
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể được ”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ý các ông thế nào ? Có thể
dùng định hạ liệt, định ít, định kém, định khiếp nhuợc,
định chẳng tương ưng thiện căn, định chẳng tinh tấn,
định chẳng khéo tập thiện căn, định chẳng thiện thú,
thiện phát, thiện hồi hướng, mà lợi ích được các chúng
sanh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được quốc
độ quảng đại ấy, thành thục được nhiều chúng sanh như
vậy chăng ? ”.
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể được ”.
Ðức Phật
lại bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ý các ông thế nào ?
Có thể dùng huệ hạ liệt,huệ ít, huệ kém, huệ khiếp
nhược, huệ chẳng tương ưng thiện căn, huệ chẳng tinh tấn,
huệ chẳng khéo tập thiện căn, huệ chẳng thiện thú,
thiện pháp, thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng
sanh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được Phật
độ quảng đại ấy, thành thục được nhiều chúng sanh như
vậy chăng ?”.
Chư Tỳ Kheo
bạch rằng : “ Chẳng thể được ”.
Ðức Phật
bảo các Tỳ Kheo rằng : “Ðúng như vậy. Nầy các Tỳ Kheo
! Thiệt chẳng phải dùng ít thiện căn , ít giới, ít tín,
ít tinh tấn, ít niệm, ít định, ít huệ mà có thể lợi
ít được các chúng sanh, và có thể ban vui cứu khổ, nghiêm
tịnh được Phật độ quảng đại, thành thục, được nhiều
chúng sanh như vậy.
Nầy chư
Tỳ kheo ! Ý các ông thế nào ? Các ông có biết đức Phật
Nhơn Ðà Tràng Vương thuở quá khứ xa xưa ấy là ai chăng
? ”.
Ðức Phật
hỏi rồi mà chư Tỳ Kheo đều nín lặng chẳng đáp.
Ðương lúc
ấy, phương Ðông quá hằng sa thế giới tên Nguyệt Quang Trang
Nghiêm, hiện tại có Phật hiệu Cao Oai Ðức Vương Như Lai.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở tại chúng hội ấy biết tâm niệm
của Phật Thích ca Mâu Ni liền bạch đức Cao Oai Ðức Vương
Như Lai rằng : “ Bạch đức Thế Tôn! Nay Phật Thích Ca Mâu
Ni thuyết Pháp tại thế giới Ta Bà. Tôi qua đó đảnh lễ
cúng dường cung kính nghe pháp ”. Ðức Cao Oai Ðức Vương
Như Lai nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng : “Ông đi
tùy ý, nay đã phải lúc ”. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đầu
diện lễ đức Cao Oai Ðức Vương Như Lai đi nhiễu Phật ba
vòng rồi như thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay từ cõi Nguyệt
Quang Trang Nghiêm hiện ra trước đức Thích Ca mâu Ni Như Lai
lạy chân Phật rồi ngồi một bên mà bạch rằng : “ Bạch
Thế Tôn ! Ðức Nhơn Ðà Tràng Vương Như Lai thuở xưa ấy
tức là Thế Tôn vậy. Tại sao ? Do đức Thế Tôn đầy đủ
bất tư nghì các thiện phương tiện có thể thành thục chúng
sanh và nghiêm tịnh Phật độ luôn chẳng mỏi mệt cũng chẳng
chán nhàm. Ðức Thế Tôn an trí chúng sanh nơi Bồ Tát thừa
cũng chẳng mỏi nhàm. Nếu có người chơn thiệt ngữ nói
lời chánh đáng rằng : Thù thắng trong thù thắng, vi diệu
trong vi diệu, thượng thủ trong thượng thủ, tối thắng trong
tối thắng, nói đức Phật là như vậy, thì nên biết rằng
Thích Ca Mâu Ni chơn thiệt không khác ”.
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát nói kệ rằng :
“ Hùng mãnh
xảo phương tiện
Thương xót
các thế gian
Hiện đại
oai thần lực
Ðể thành
thục chúng sanh
Ðã ở thuở
quá khứ
Từng làm
tám ức Phật
Như tự
có thần lực
Vô tâm chứng
chánh giác
Sáu mươi
một Tam Thiên
Thanh tịnh
quốc độ Phật
Trí cạn
chẳng biết Phật
Mâu Ni xảo
phương tiện
Chẳng bỏ
sơ phát tâm
Các nơi
chỗ kia hiện
Lại ở
đời vị lai
Thị hiện
vô lượng Phật ”.