Như
vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở tại nước Ca Tỳ
La Vệ rừng Ni Cư Đà, cùng với chúng đại Tỳ Kheo ngàn
hai trăm năm mươi người câu hội. Tên các Ngài là
Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp,
Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, tất
cả đều là đại A La Hán các lậu đã hết không còn
phiền não, tâm tự tại, tâm thiện giải thoát, huệ
thiện giải thoát, như đại long tượng, chỗ làm đã
xong, đều bỏ gánh nặng đến được tự lợi hết
các kiết sử ở trong chánh giáo tâm được thiện giải,
nơi tất cả pháp tâm không chỗ ngại, đến nơi bờ kia,
tự được giải thoát và giải thoát quyến thuộc, tự
được điều phục và điều phục kiến thuộc, tự
được tịch định và tịch định quyến thuộc, tự được
độ thoát và độ thoát quyến thuộc, tự đến bờ
kia và làm quyến thuộc đến bờ, tự đến lục địa
và làm quyến thuộc đến lục địa, tự được an ổn
và an ổn quyến thuộc, tự được tịch diệt và tịch
diệt quyến thuộc, tự phá phiền não và phá phiền
não cho quyến thuộc, tự được Sa Môn và Sa Môn quyến
thuộc, tự được dứt ác và dứt ác quyến thuộc,
tự được Bà La Môn và Bà La Môn quyến thuộc, tự
trừ ác pháp và trừ ác pháp quyến thuộc, tự biết
rõ các pháp và làm quyến thuộc biết rõ, tự mình
đắc độ và hay đắc độ quyến thuộc, tự đủ các
đức và làm quyến thuộc đủ các đức, tự không
phiền não và làm không phiền não cho quyến thuộc,
tự lìa năm chi và làm quyến thuộc lìa năm chi, tự
được lìa chướng và làm quyến thuộc lìa chướng,
tự được tịnh ý và làm quyến thuộc được tịnh
ý, tự được lục thông và làm quyến thuộc đủ lục
thông, tự lìa ghét yêu giải thoát và làm quyến thuộc
lìa ghét yêu giải thoát, tự thủ hộ nhất tâm và làm
quyến thuộc thủ hộ nhất tâm, tự niệm môn cụ túc
và làm quyến thuộc niệm môn cụ túc, tự y tứ y và
làm quyến thuộc y tứ y, tự rời lìa các kiến chấp
và làm cho quyến thuộc lìa kiến chấp, tự bỏ các
hi vọng và làm cho quyến thuộc bỏ hi vọng, tự được
tận hành và làm cho quyến thuộc tận hành, tự được
sự việc xong và làm cho quyến thuộc sự việc xong,
tự tu và làm cho quyến thuộc tự tu, tự không trược
niệm và làm cho quyến thuộc không trược niệm, tự
đoạn dứt hữu giác và làm cho quyến thuộc đoạn hữu
giác, tự nương thân hành và làm cho quyến thuộc nương
thân hành, tự được thích bất động và làm cho quyến
thuộc thích bất động, tự tâm thiện giải thoát và
làm cho quyến thuộc tâm thiện giải thoát, tự huệ
thiện giải thoát và làm cho quyến thuộc huệ thiện
giải thoát, tự được hiền thánh và làm cho quyến
thuộc được hiền thánh, các bực như vậy đượcc
rời lìa nhánh lá trù bỏ da thứa, chỉ có tâm thiệt
an trú mà an trụ.
Bấy giờ
đức Thế Tôn vào lúc cuối đêm ngồi ngoài đất trống,
chúng Tỳ Kheo vây quanh bốn mặt.
Đức Thế
Tôn quan sát chúng Tỳ Kheo rồi bảo rằng : "Các ông
dò tìm một người có thể đến giáo hóa Tịnh Phạn
Vương".
Huệ Mạng
A Nhã Kiều Trần Như đứng dậy trịch y vai hữu gối
hữu chấm đất chắp tay tác lễ rồi bạch Phật rằng
: "Bạch đức Thế Tôn !
Tôi đến
giáo hóa Tịnh Phạn Vương được chăng ?".
Đức Phật
nói : "Thôi, nầy Kiều Trần Như ! Nay ông đầy
đủ đức của bực đại sư chẳng nên đến đó".
Các Ngài
Huệ Mạng Bà Sáp Mô, Gia Du Đà, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp,
Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên đều
lần lượt bạch Phật rằng : "Bạch đức Thế Tôn
! Tôi có thể đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương".
Đức Phật
nói : "Thôi, các ông đều đầy đủ pháp tôn trọng
của bực đại sư chẳng nên đến đó giáo hóa".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên tự nghĩ nay đức Thế Tôn muốn
ai đến giáo hóa Tịnh Phạn vương ? Nghĩ xong liền
nhập như thiệt tam muội, dùng sức tam muội trang nghiêm
tâm mình liền thấy được ý của Phật muốn Huệ
Mạng Ca Lưu Đà Di đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương.
Ví như trong cửa sổ lầu gác nhiều từng, ánh sáng
mặt nhựt chiếu vào vách phía Tây, Đại Mục Kiền
Liên thấy tâm của Phật chuyên ở Ca Lưu Đà Di muốn
bảo đi giáo hóa phụ vương cũng như vậy.
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên xuất định đến chỗ Tôn giả Ca
Lưu Đà Di mà nói rằng : "Tâm niệm của Thế Tôn
biết Ngài có thể giáo hóa Tịnh Phạn Vương, nay Ngài
phát đại dũng mãnh mau đến giáo hóa".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Thứ dân còn khó giáo hóa huống
là quốc vương. Tại sao ? Đại Vương dòng Sát
Lợi Quán Đảnh có sức tự tại khó giáo hóa được.
Ví như chứa họp củi khô hoặc hai năm ba năm đến ngàn
năm, củi tích chứa lâu năm như vậy rất là khô ráo,
bấy giờ có người phóng hỏa đốt thành ngọn lửa
lớn. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Khối lửa
ấy chừng có lớn chăng ?".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Rất lớn".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Nếu lại có người đem vô lượng
dầu tô tưới vào, khối lửa ấy có thêm thạnh chăng
?".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Càng thạnh hơn gấp bội".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Có thể đến gần khối lửa
ấy chăng ?".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Khó gần được".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Đại Vương dòng Sát Lợi Quán
Đảnh ấy, khó có thể giáo hóa, khó đến gần cũng
như vậy.
Thưa Ngài
Đại Mục Kiền Liên ! Ví như ngà của voi cuồng có
nên đụng chạm được chăng ?".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Chẳng nên đụng chạm".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Đại Vương dòng Sát Lợi Quán
Đảnh khó giáo hóa được cũng như vậy".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Đức Thế Tôn tâm niệm
biết Ngài có khả năng đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương
vậy".
Tôn giả
Ca Lưu Đà Di nói : "Có thiệt đức Thế Tôn nghĩ
rằng tôi có khả năng đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương
chăng ?".
Tôn giả
Đại Mục Kiền Liên nói : "Đức Thế Tôn thiệt
nghĩ đến Ngài cho rằng Ngài có khả năng giáo hóa
được Phụ Vương”.
Bấy giờ
Ðức Thế Tôn bảo Ca Lưu Ðà Di rằng: “Ông nên vào thành
giáo hóa Phụ Vương. Chỉ có Phật và ông là có thể
giáo hóa được Tịnh Phạn Vương thôi.
Nầy Ca Lưu
Đà Di ! Trong hàng Thanh Văn đệ tử Phật, ông là
người có khả năng đệ nhứt về việc giáo hóa các
ấp tụ lạc".
Đức Thế
Tôn liền nói kệ tụng bảo Ca Lưu Đà Di rằng :
"Lắng nghe
Ưu Đà Di
Ông hay giáo
hóa giỏi
Quyết khiến
dòng Thích mừng
Đến hóa
Tối Thắng Vương
Lúc vua
được tỏ ngộ
Lợi ích
hàng Trời Người
Quyết được
đến bờ kia
Ông nên
mau đến hóa
Tịnh Phạn
Vương dòng Thích
Nay lòng
hờn loạn trược
Niệm huệ
chẳng hiện hành
Dường
như té gộp cao
Luyến tiếc
nơi ngôi cao
Tâm huệ
mê mất hết
hư người
buôn mất vốn
Vói nhớ
sanh khổ nhiều
Như trời
mất cung điện
Luyến nhớ
ngũ dục lạc
Chưa biết
Phật chánh pháp
Buồn rầu
rất não loạn
Tự nghĩ
mất thất bửu
Và bốn
cấp nhơn gian
Nhớ đến
ngôi Thánh Vương
Miệng thốt
lời phi pháp
Có lúc
vua buồn loạn
Chẳng biết
mình và người
Như quỉ
đoạt tinh hồn
Nắm giữ
lấy thân người
Như tại
núi Kê La
Tất cả
không chỗ thấy
Não hận
ấy che chướng
Nên thấy
lại chẳng thấy
Cũng như
ngủ mê chết
Tâm mình
chẳng tự biết
Bị lo hờn
mê chướng
Vua chẳng
biết tự mừng
Như người
vợ chết chồng
Buồn khóc
sanh lo khổ
Nay vua si
não loạn
Buồn thương
sanh khổ lớn
Ông có
phương tiện giỏi
Đến hóa
Tịnh Phạn Vương
Xô ngã
tràng tà mạn
Kiến lập
đèn chánh pháp
Không còn
ai hóa được
Tịnh Phạn
Đại Vương ấy
Chỉ có
Ưu Bà Di
Thuở trước
từng đồng hành
Ưu Bà Di
nên biết
Từng có
đại Quốc Vương
Tên là
Tăng Trưởng Thiệt
Danh tiếng
chấn mười phương
Như pháp
làm Quốc Vương
Tất cả
đều quy hóa
Dùng chánh
pháp trị dân
Vua lãnh
tứ thiên hạ
Trong ấy
đầy thành ấp
Vườn tược
bông trái thơm
Nhiều những
chúng hiền thánh
Không có
người tạp ác
Rừng tốt
rất trù mật
Đất sạch
không gai góc
Rất nhiều
thứ tịnh diệu
Ao hoa trang
nghiêm đẹp
Nhơn dân
rất đông giầu
Bỏ ác
ăn ở lành
Đóng các
cửa ác thú
Quyết lên
thiên đạo tốt
Xưa vua ấy
có con
Từng cúng
dường nhiều Phật
Tu đủ các
căn lành
Tròn đầy
những công đức
Tên là
Diệu Kiên Huệ
Được
nhiều người hầu hạ
Thường
thấy lỗi ngũ dục
Bỏ nhà
ưa nhàn tĩnh
Phụ Vương
bảo Vương Tử
Con nên thọ
ngũ dục
Thể nữ
tự vui chơi
Ở cung
điện báu đẹp
Cha sắm
sửa cho con
Đồ chơi
không hề thiếu
Sao con chẳng
thọ vui
Con nên nói
ý con
Biết các
loài lành tốt
Trong cung
báu của con
Gái báu
thường vây quanh
Cảnh tốt
rất đáng vui
Chư tiên
nhơn ở rừng
Còn bỏ
trở về nhà
Thọ các
vui nữ sắc
Huống con
không thiếu thốn
Chúng thể
nữ vây quanh
Vua quan đều
tùy tùng
Cung điện
như thiên cung
Nên thọ
ngũ dục lạc
Cung nữ
rất đẹp xinh
Chẳng khác
gì thiên nữ
Múa ca đánh
nhạc hay
Có thể
tùy ý vui
Mắt như
lá ưu ba
Môi đỏ
như ngậm son
Mặt tròn
mày rộng đen
Trán bằng
cổ cao ngấn
Tay thẳng
đầy tròn trịa
Đẹp như
vòi tượng vương
Bàn tay
màu hoa sen
Ngón tròn
vót mềm đẹp
Lưỡi mỏng
rộng đỏ hồng
Lời hay
như cam lộ
Răng trắng
trong kín đều
Chuỗi ngọc
y phục báu
Rún sâu
chẳng hiện bụng
Lưng như
chày kim cương
Vế đùi
mêm tròn thẳng
Không khác
đùi lộc vương
Bước đi
như nga vương
Thảy đều
nhìn ngó con
Tuổi trai
tráng đáng yêu
Có thể
nối dòng dõi
Con và các
người đẹp
Như hoa xuân
nở tốt
Trai tráng
tuổi chưa gìa
Phải mau
thọ dục lạc
Kiên Huệ
bạch Phụ Vương
Cha nói
phi chánh lý
Nếu có
lời đúng pháp
Truyền
bảo chẳng dám trái
Nay cha nghe
con nói
Lời lành
và chơn thiệt
Nhẫn đến
trong giấc mơ
Chẳng có
ý tưởng dục
Nay lời
nói của cha
Người
trí chẳng bằng lòng
Kẻ ngu thích
dục lạc
Người
sáng thì thường nhàm
Sao có người
mắt sáng
Khen người
mù dẫn đường
Đâu có
người giải thoát
Mà lại
ưa ngục tù
Đâu có
người an lạc
Lại khen
tặng sự khổ
Ý con xem
Phụ Vương
Như kẻ
mù chìm tù
Như mộng
thọ ngũ dục
Lại bị
dục nhận chìm
Phụ Vương
như đui mù
Mắt con
sáng thấy rõ
Cha bị dục
cuốn trôi
Nay con rất
nhàm chán
Dục như
chén thuốc độc
Cũng như
đầu rắn độc
Như mũi
dao gươm bén
Cũng như
khối lửa lớn
Lúc vua
quan khuyên bảo
Kiên Huệ
đều chẳng nghe
Bỏ cha và
quốc độ
Rời dục
mà xuất gia
Như rắn
lột da cũ
Cũng như
bỏ mũi dãi
Rời xa
những lỗi ác
Tuyệt hi
vọng xuất gia
Lúc Kiên
Huệ bỏ tục
Có một
quan chức trẻ
Người
ấy tên Nguyệt Thí
Bỏ nhà
theo Kiên Huệ
Đồng tử
xuất gia rồi
Và cùng
quan trẻ kia
Thành tựu
bốn phạm trụ
Đầy đủ
ngũ thần thông
Thấy rõ
lỗi ngũ dục
Siêu tuyệt
nơi dục giới
Chuyển
chánh diệu pháp luân
Sanh chẳng
lên Phạm Thiên
Đồng tử
xuất gia rồi
Phụ Vương
lòng ghét giận
Nguyệt
Thí đến chỗ vua
Giáo hóa
cho vua mừng
Ưu Đà
Di nên biết
Thuở xưa
kia Kiên Huệ
Rời xa
nơi ngũ dục
Nay chính
là thân ta
Ưu Đà
Di nên biết
Vua Tăng
Thiệt xưa kia
Đâu phải
ai xa lạ
Là Tịnh
Phạn Vương vậy
Ưu Đà
Di nên biết
Người
theo ta xuất gia
Nguyệt
Thí là thân ông
Đã từng
hóa Tăng Thiệt
Thế nên
Ưu Đà Di
Nay nên hóa
Phụ Vương
Quyết có
lợi ích lớn
Vì xưa
đã giáo hóa".
Tôn giả
Ưu Đà Di nghe lời phán dạy của Phật liền nín lặng
lãnh nhận.
Lúc đó
Ưu Đà Di qua đêm đến sáng vào giờ khất thực đắp
y mang bát đi vào thành Ca Tỳ La. Có hơn ngàn người
dòng thích Ca tập họp tại vương môn đều có chỗ cần.
Vua Tịnh
Phạn Vương nghe Phật Như Lai đến thành Ca Tỳ La tại rừng
Ni Cư, Vương sanh lòng ghét hờn rằng : Đức con ấy
xuất gia chối bỏ chủng tộc giàu sang ta. Nếu nó
ở nhà sẽ nối ngôi Kim Luân cai trị tứ thiên hạ thống
lãnh đúng pháp nhơn dân không nghịch mạng, đầy đủ
bảy báu : luân bửu, tượng bửu, mã bửu, ma ni bửu,
nữ bửu, chủ tạng thần bửu, đạo sư bửu, ngàn con
trai dũng kiện, dung nhan xinh đẹp có khả năng dẹp cường
địch bảo hộ tứ thiên hạ, chẳng dùng vũ khí ngự
trị quốc độ, chỉ trị chánh đúng pháp tự nhiên thái
bình. Ta được làm Luân Vương tự tại khoái lạc,
họ phải tôn trọng cúng dường cho ta, vì đức con ấy
xuất gia nên những sự đáng lẽ được ấy mà đều
mất cả.
Tịnh Phạn
Vương nghĩ như vậy rồi truyền cho dòng Thích : Tất
cả mọi người chẳng được đến chỗ con ta ở kính
tin nghe pháp, nếu có ai phạm sẽ chém đầu.
Bấy giờ
có người dòng Thích tên Hỉ Diện chẳng ở trong chúng
chẳng nghe lệnh Vương, thấy Tôn giả Ưu Đà Di liền
đến cúi đầu thưa : "Tôn giả mới đến, được
bình an chăng ? Đức Thế Tôn an vui ít bịnh ít não
đi đứng nhanh nhẹ đi đường chẳng mệt ăn uống chẳng
thiếu chăng ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di báo Hỉ Diện rằng : "Đức Như Lai an lạc
ít bịnh ít não đi đứng nhanh nhẹ đi đường chẳng
mệt uống ăn chẳng thiếu".
Có người
dòng Thích tên Thiện Giác thấy Hỉ Diện cùng Tôn giả
Ưu Đà Di tại chỗ vắng nói chuyện, cũng đến thưa
rằng : "Đại Đức từ xa đến được an lành chăng
? Đức Thế Tôn đi đứng an lạc ít bịnh ít não
đi đường chẳng mệt ăn uống chẳng thiếu chăng ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di báo Thiện Giác rằng : "Đức Như Lai thánh
ngự an lạc ít bịnh ít não đi đường chẳng mệt ăn
uống chẳng thiếu".
Lại có
hai người dòng Thích tên Vô Ưu và Ly Ưu thấy Hỉ Diện
và Thiện Giác cùng Ưu Đà Di ở chỗ vắng nói chuyện,
hai người cũng đến chào đón hỏi thăm như trên rồi
tiếp hỏi : "Bạch Đại Đức ! Đức Như Lai ở
trên đường đi cớ sao không thiếu ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di báo với Vô Ưu và Ly Ưu rằng : "Do Tứ
Thiên Vương, Thiên Đế Thích, Phạm Thiên Vương và chư
Thiên thường đến cúng dường nên chẳng thiếu vậy".
Các người
dòng Thích ấy đồng thưa rằng : "Bạch Đại Đức
Ưu Đà Di ! Chúng tôi đều muốn đến chỗ đức
Phật Thế Tôn cúng dường nghe pháp mà sợ chẳng được.
Vì Tịnh Phạn Vương có sắc lịnh nghiêm cấm tất cả
người dòng Thích. Nếu ai vi phạm sẽ bị chém đầu".
Tôn giả
Ưu Đà Di nghe nói bèn nghĩ rằng đây là Phụ Vương rất
oán hận, tôi phải dùng phương tiện để đến chỗ
vương.
Tôn giả
Ưu Đà Di liền nhập như thiệt tam muội, dùng sức tam
muội trang nghiêm tâm mình, lại dùng thần lực bay cao
bằng bảy cây đa la, ngồi kiết già trên hư không rồi
bay đến chỗ Tịnh Phạn Vương. Nhà vua ngó thấy
liền rời chỗ ngồi chắp tay cung kính hướng về Ưu
Đà Di mà nói kệ rằng :
"Đại Sư
ca sa từ đâu đến
Thành tựu
oai nghi khó được thấy
Nếu có
cần gì xin nói mau
Nay tôi thành
tâm quyết phụng cấp".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp Vương rằng :
"Tôi là
con của con Đại Vương
Đại Vương
là Tổ phụ của tôi
Tôi vì Như
Lai đi khất thực
Được đồ
ăn sẽ về dâng Phật
Hôm nay Đại
Vương được lợi lành
Con vua là
đấng Tối Tôn Thượng
Oai đức
quang minh chiếu mười phương
Như trăng
rằm mặt nhựt giữa trưa
Như mặt
nhựt không gian chẳng mây mù
Ánh sánh
chói chang đều chiếu khắp
Đấng Tối
Thắng con trai Đại Vương
Oai đức
danh tiếng vang mười phương
Dường trăng
đêm thu lúc mới mọc
Che lấp
lửa đóm khắp soi sáng
Đấng Tối
Thắng con trai Đại Vương
Hàng phục
ngoại đạo riêng chói sáng
Như giữa
trưa mặt nhựt chói chang
Tinh tú bị
lấn nên chẳng hiện
Đấng Tối
Thắng con trai Đại Vương
Hàng phục
ngoại đạo tự mình sáng
Như giữa
trưa mặt nhựt lấn trăng
Làm mặt
nguyệt mất sáng chẳng hiện
Con trai Đại
Vương phục ngoại đạo
Như mặt
nhựt sáng làm trăng ẩn
Như cầm
thú nghe sư tử rống
Thủy lục
không hành tan về hang
Sợ chạy
đào tẩu mê phương hướng
Vì tiếng
sư tử khó chịu đựng
Đại Thánh
Như Lai lúc gầm rống
Tà ngoại
được nghe tiếng vô ngã
Dầu kẻ
vô tri đến hữu đảnh
Nghe tiếng
vô ngã thảy đều sợ
Trong Nhơn
Thiên kẻ ngu si mù
Như Lai mắt
sáng chỉ đường họ
Vì họ làm
đèn trừ tối tăm
Phát khởi
trí sáng tối vô thượng
Chánh tà
bình đẳng chẳng bình đẳng
Dạy bảo
thế gian đạo phi đạo
Vì người
lạc đường chỉ đúng đường
Từ bùn
dục nhiễm vớt ra khỏi
Như mây bao
phủ ao khô cạn
Mưa tuôn
đầy tràn ruộng ướt đều
Con trai Đại
Vương đấng Tối Thắng
Gầy dựng
mưa pháp nhuận Trời Người
Như nước
thấm đất và núi sông
Cùng trăm
giống cỏ rừng cây cối
Cỏ thuốc
cây cành và dây leo
Hoa thơm đua
nở khắp núi đẹp
Đấng đủ
thập lực tứ vô úy
Đầy đủ
mười tám pháp bất cộng
Trái Nhứt
thiết trí hoa trang nghiêm
Con trai Đại
Vương thân vi diệu
Như núi
Tu Di ở giữa biển
Nghiêm tốt
bất động trời thích ở
Con trai Đại
Vương đấng Thiện Thệ
Trong biển
Sa Môn tối đệ nhứt
Đao Lợi
Thiên Chúa Xá Chỉ Phu
Trong chúng
chư Thiên kỳ diệu nhứt
Con trai Đại
Vương đấng Thế Tôn
Trong chúng
Sa Môn kỳ diệu nhứt
Tuyên nói
bí áo pháp thậm thâm
Dùng điện
đại bi chiếu khắp chỗ
Như Lai Long
Vương tuôn mưa pháp
Niệm xứ
nước ao chảy chậm xuống
Oai đức
trì giới như mặt nhựt
Dùng sức
tam muội trừ mê tối
Sáng trí
huệ dứt phiền não ái
Mặt nhựt
Đại Thánh chiếu thế gian
Đầy đủ
niệm xứ báu ma ni
Thuyền bè
giới định qua bỉ ngạn
Giác chi
gươm báu thiền tràn đầy
Lại cầu
vô ưu vào biển Phật
Rễ giới
thanh tịnh chắc khó động
Tam muội
lá cây cành niệm xứ
Thất giác
hoa không thân cây cứng
Vô ngã kiên
cố thành cây Phật
Đi trong rừng
giới người đại lực
Tam muội
điều phục nương núi đức
Ba môn giải
thoát làm cảnh giới
Phật thập
trí lực là Vương Tử
Chánh kiến
vô trước đấng Thế Tôn
Hàng phục
cường địch đại Pháp Vương
Khủng bố
tất cả các ngoại đạo
Con trai Đại
Vương đấng vô úy
Tịnh giới
đức tạng diệu trang nghiêm
Thiền định
tịch diệt y phục báu
Thế Tôn
đủ trí cảnh giải thoát
Bố thí
tài vật như trưởng giả
Xa lìa các
ác họp những lành
Gốc thiện
huệ diệt các phiền não
Trí huệ
thí phát cho Trời Người
Con trai Đại
Vương đấng chói sáng
Mây giới
trời huệ dùng làm chớp
Tám sợi
tơ mưa hay nhuần thấm
Thế Tôn
giúp ích mầm mạ tốt
Vương Tử
dường như rồng lớn mưa".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Thắng Sĩ
đến đây an lạc chăng
Đến như
uống ăn không thiếu thốn
Thân không
mỏi mệt giường nệm chiếu
Như hoa bờ
sông chẳng héo úa ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Cảnh giới
thiền định đủ thần lực
Thân tâm
an lạc khắp đầy đủ
Thế Tôn
tinh thần trụ tịch tĩnh
Dường như
sen vàng chẳng khô khan".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Xưa dùng
cờ trống tự cảnh tỉnh
Âm nhạc
tranh sắc cùng tiêu sáo
Kỹ nữ
xinh đẹp để tự vui
Nay ở rừng
vắng chẳng khổ ư ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Thiền định
tịch tĩnh làm cảnh giới
Khéo hay
tu học tam muội vui
Đi đứng
ngồi nằm tu pháp lành
Tâm thường
mừng vui không khổ não".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Giường
báu vô giá thường nằm an
Lúc ngủ
gái đẹp luôn hầu cạnh
Giáp vòng
trần thiết nhiều đèn sáng
Vậy sao
nằm tối chẳng buồn bực ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Lúc ngủ
Thế Tôn nằm giường thánh
Nệm êm
là từ gối mềm bi
Phật an
trụ hỉ tâm thường vui
Bỏ ba cõi
khổ chẳng buồn bực".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Hàng Thích
chủng mạnh thường vây quanh
Học rộng
thông thái dùng làm bạn
Lớn khôn
trong cung điện nguy nga
Vậy sao
ngày nay thích rừng vắng ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Như pháp
sanh con luôn kề cận
Đồng tu
chỉ định ở tại bên
Lòng ưa
rừng vắng tu thiền định
Đạo sư
vô úy thích nuí rừng".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Đồng tử
ngày xưa lúc ở cung
Dùng ao tắm
trời để tắm gội
Cũng dùng
dầu thơm thoa thân mình
Nay ở trong
rừng ai tắm cho ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Nước ao
các pháp bờ giới lành
Thế Tôn
tự tắm và tắm người
Mình cùng
các con nổi chẳng ướt
Tự độ
đã xong độ quần sanh".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Ngày xưa
hương thơm thường ướp thân
Chỉ vàng
châu ngọc để trang nghiêm
Thường
mặc thiên tử báu
Nay ở trong
rừng trang sức gì ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Tràng hoa
công đức hương ướp giới
Anh lạc thiền
định y tàm quí
Trí huệ
giải thoát tự trang nghiêm
Ánh sáng
oai đức chiếu khắp rừng".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ hỏi rằng :
"Xưa dùng
dao gươm cung tên mâu
Dũng sĩ
cầm mang luôn phòng vệ
Cũng dùng
lọng báu thường chen trên
Nay ở rừng
vắng ai hộ vệ ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Từ bi nhẫn
nhục tự phòng vệ
Đệ tử
Thanh Văn quyến thuộc mạnh
Dùng công
đức lành quyết không sợ
Thập lực
hùng mãnh tứ vô úy".
Tịnh Phạn
Vương nói kệ khen rằng :
"Lành thay
khéo nói đức con tôi
Lâu tu pháp
lành chẳng thối chuyển
Ngài lấy
bát xong mang bát về
Tôi cũng
đi đến chỗ Thế Tôn".
Tôn giả
Ưu Đà Di lại thưa vua rằng : "Tâu Đại Vương !
Đức Bà Già Bà là Thầy đại chúng hay ngự phục chúng
sanh, là đại tiên nhơn hay khéo an trụ, trong chúng Sa Môn
là vua Sa Môn, ánh sánh chiếu khắp. Như trăng đêm
rằm muôn sao vây quanh ánh trăng rất sáng chiếu khắp
nơi, đức Thế Tôn cũng vậy, ở trong chúng Sa Môn ánh
sáng chiếu khắp. Như trăng mùa thu ở trong hư không
chẳng có mây che, đức Bà Già Bà cũng vậy, ở trong
đại chúng ánh sáng chiếu khắp. Như Thiên Đế
Thích là vua chư Thiên ở Thiện pháp đường, trong hàng
chư Thiên ánh sáng rực rỡ, đức Bà Già Bà ở trong
đại chúng ánh sáng rực rờ cũng như vậy. Như
Dạ Ma Thiên Vương, Đâu Xuất Đà Thiên Vương, Hóa Lạc
Thiên Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương ở trong chúng
chư Thiên ánh sáng rực rỡ oai đức độc tôn, đấng
Bà Già Bà ở trong đại chúng oai đức độc tôn cũng
như vậy. Như Đại Phạm Thiên Vương chúa thế giới
Ta Bà trăm ức chúng Phạm Thiên vây quanh ánh sáng rực
rỡ oai đức độc tôn, đấng Bà Già Bà ở trong chúng
Sa Môn oai đức hiển hích độc tôn cũng vậy".
Nghe nói
đạo đức của đấng Bà Già Bà xong, Tịnh Phạn Vương
tự nghĩ rằng Sa Môn nầy là đệ tử Thanh văn còn
có đại thần thông đại oai đức như vậy, huống là
đức Như Lai. Vua lại nhớ lúc Thái Tử vừa sanh
thì cả đại địa chấn động sáu cách mười tám tướng
: động, biến động, đẳng biến động, dũng, biến
dũng, đẳng biến dũng, khởi, biến khởi, đẳng biến
khởi, chấn, biến chấn, đẳng biến chấn, hống, biến
hống, đẳng biến hống, kích, biến kích, đẳng biến
kích, phóng ánh sánh lớn, không ai đỡ dìu mà tự
đi bảy bước, trên không có hai đường nước chảy xuống
tắm gội thân thể, tự nhiên có thánh tọa bằng chơn
kim, trong hư không hóa thành lọng trời, chư Thiên lễ bái,
từ đó đến ngày chưa xuất gia chẳng bị ngũ dục
mê hoặc, phàm có làm điều gì thì quyết định chẳng
bỏ dở, nói gì thì làm được nấy, trong tất cả
thời gian kiên cố đại lực, chẳng nói dối, chẳng
trái tín hành, từng có lời rằng tôi thành Vô thượng
Bồ đề tự độ mình rồi sẽ độ Phụ Vương.
Tịnh Phạn
Vương nhớ Phật lúc còn là Thái Tử Bồ Tát đã
có bốn thệ nguyện nên vua nói kệ rằng :
"Nếu có
người sơ sanh
Trí sáng
nói chẳng luống
Lời cùng
việc chẳng khác
Người trí
ai chẳng tin
Nếu người
lúc sơ sanh
Đối cha
nói thành Phật
Quyết làm
bực Thế Tôn
Người trí
ai chẳng tin
Nếu có
người chẳng tiếc
Khối báu
bằng núi Tuyết
Rời lìa
những tham lẫn
Người trí
ai chẳng tin
Nếu người
trong giấc mộng
Chẳng nói
lời hư vọng
Như lời
mà tu hành
Người trí
ai chẳng tin
Lời nói
như gươm dao
Chẳng não
cũng khiến giận
Người rời
sự giận hờn
Người trí
ai chẳng tin
Không có
ai khi được
Tham sân cũng
chẳng nhiễm
Vua đầy
đủ trí huệ
Người trí
ai chẳng tin
Tất cả
ngù dục lạc
Và cùng
những sang giàu
Đều không
cột trói được
Người trí
ai chẳng tin
Các thứ
sự hi hữu
Và cùng
những vật tốt
Không làm
động lòng được
Người trí
ai chẳng tin
Dùng những
lời ngọt ngon
Thông minh
lời khéo nói
Không làm
mê hoặc được
Người trí
ai chẳng tin
Dùng những
lời thuận nghĩa
Những câu
muốn quyết định
Cũng chẳng
buộc ràng đưọc
Người trí
ai chẳng tin
Quân lực
bố trí mạnh
Cùng nhiều
cách canh phòng
Vẫn vượt
khỏi hoàng thành
Người trí
ai chẳng tin
Rời bỏ
ngũ dục lạc
Để cầu
hạnh cam lộ
Hi vọng được
Bồ đề
Người trí
ai chẳng tin
Sáu năm
tu khổ hạnh
Dũng mãnh
không ai bằng
Cầu được
thắng Bồ đề
Người trí
ai chẳng tin
Sáu năm
ăn thô ít
Cầu được
thắng Bồ đề
Lợi an các
thế gian
Người trí
ai chẳng tin
Sáu năm
bị ma nhiễu
Nối nhau
tìm lỗi dở
Vẫn chẳng
gặp được dịp
Người trí
ai chẳng tin
Rời xa lỗi
ngũ dục
Chẳng cầu
vật người khác
Thường
lợi ích thế gian
Người trí
ai chẳng tin
Chẳng nghe
pháp nơi người
Tự nhiên
thành Bồ đề
Tịch định
khó biết được
Người trí
ai chẳng tin
Phạm Vương
đến khuyến thỉnh
Cần cầu
Phật Thế Tôn
Như thỉnh
mà diễn thuyết
Người trí
ai chẳng tin
Vì thương
xót nhớ tôi
Nên đến
vườn Ni Câu
Vì độ
các Thích chủng
Người trí
ai chẳng tin
Như Lai tự
độ rồi
Độ tôi
khỏi biển khổ
Ghi nhớ
thệ nguyện xưa
Người trí
ai chẳng tin
Nay là lúc
được lợi
Biết Phật
Nhứt thiết trí
Vì thương
xót đến tôi
Người trí
ai chẳng tin
Nay tôi sẽ
đến đó
Thấy thân
đấng Đạo Sư
Lúc nghĩ
suy như vậy
Biết mình
là Nhơn Vương".
Tịnh Phạn
Vương suy gẫm xong nói với Tôn giả Ưu Đà Di : "Thưa
Đại Đức ! Ngài đến đây còn cần thứ gì ?".
Tôn giả
Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :
"Vốn vì
lợi ích cho Đại Vương
Tôi dùng
thần thông bay đến đây
Nếu nơi
thập lực một niệm tin
Nam nữ đều
được đến đường lành
Thập lực
công đức vô biên tế
Thế Tôn
vì Thích chủng mà đến
Sự đáng
mừng vui nay mới tới
Nhơn chúa
phải nên phát lòng tin
Đại Vương
danh tiếng quyết thêm lớn
Đầy khắp
cõi tam thiên Đại Thiên
Con vua đã
là kho của vua
Đầy đủ
thập lực tâm từ bi
Du hành mười
phương tâm vô ngại
Như sen ở
nước chẳng dính nước
Tự độ
tứ lưu các cõi rồi
Cũng độ
Trời người bốn sông dữ
An trí trên
bờ đất vô úy
Đại Vương
phải nên tin Đạo Sư
Nhổ khỏi
tứ lưu ba tên độc
Cũng làm
quần sanh thắng y sư
Trong chúng
y sư tôn thượng nhứt
Đại Vương
phải nên kính tin sâu
Cũng hay
hàng phục các quân ma
Ma Vương
quyến thuộc bè đảng ác
Chứng được
tịch diệt đại Bồ đề
Đại Vương
phải nên kính tin sâu
Nhơn Vương
Thiên Vương đều khuyến thỉnh
Vì độ
chúng sanh nói diệu pháp
Diễn bày
vô thượng thuốc cam lộ
Là đấng
Pháp Vương phải nên tin
Che lấp
tất cả chúng ngoại đạo
Chuyển diệu
pháp luân quá cân lường
Hóa độ
vô lượng ức chúng sanh
Đại hùng
Nhơn Vương phải nên tin
Vô minh phủ
dầy trong hắc ám
Mắt mình
trong sáng sáng mắt người
Thuyết pháp
trừ được những mù lòa
Đại hùng
Nhơn Vương phải nên tin
Lão bịnh
tử khổ bức bách người
Nói pháp
trừ được lão bịnh tử
Khiến chúng
thế gian lên đường lành
Đại hùng
Nhơn Vương phải nên tin
Ba lửa đốt
cháy chúng thế gian
Như đất
cháy hồng dùng nước tắt
Nói Bát
chánh đạo Phật vì người
Đại hùng
Nhơn Vương phải nên tin
Dứt hết
ba uế trừ các ác
Hay rời
thế gian ba cấu trược
Du hành mười
phương rất kỳ diệu
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Như cha yêu
con thương thế gian
Thập lực
đại từ tâm nhuần khắp
Phát khởi
đại bi độ chúng sanh
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Khó điều
điều được đức Thế Tôn
Người đáng
được độ nay đều độ
Hay dứt
lửa phừng các phiền não
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Chúng sanh
đọa trong biển ba cõi
Phật như
thuyền tầu hay tế độ
Thập lực
đại bi cứu thế gian
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Thân đoan
chánh vô lượng công đức
Đại bi du
hành hóa thế gian
Khiến tâm
trược lâu được thanh tịnh
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Như nhọc
ma ni lắng nước trong
Đi trong đời
làm sạch chúng sanh
Trừ dứt
bầy mê đua loạn trược
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Như châu
ma ni tánh thanh tịnh
Hay khiến
người trí lòng vui đẹp
Thế Tôn
rời ác tâm sáng sạch
Khiến những
người trí hâm mộ thích
Nơi đức
Thế Tôn khởi tín tâm
Hay khiến
Trời Người lìa gánh khổ
Bỏ báu
sanh tử được tịnh diệt
Dũng mãnh
Đại Vương phải nên tin
Trong khối
công đức nói ít phần
Như giữa
không gian một dấu chim
Bờ Phật
công đức tôi chẳng biết
Đại Vương
phải nên kính tin sâu".
Tịnh Phạn
Vương nghe Tôn giả Ưu Đà Di khéo nói công đức được
tu lúc đức Phật còn làm Bồ Tát, vua liền tự
nhớ bổn thệ của Như Lai : Tôi được độ rồi
sẽ độ Phụ Vương. Vì nhớ như vậy nên vua rất
kính tin và nói với Tôn giả Ưu Đà Di rằng :
"Nầy Tỳ Kheo ! Nay Ngài chính là con của con trai tôi,
Ngài nên ăn rồi mau về chỗ đức Phật đem cơm dưng
lên, nay tôi cũng phải đến ra mắt đức Thế Tôn".
Tôn giả
Ưu Đà Di biết lòng vua đã kính tin, ăn cơm xong, Tôn giả
bưng cơm canh về dưng lên đức Phật.
Đức Thế
Tôn bảo các Tỳ Kheo rằng : "Ưu Đà Di giáo hóa Tịnh
Phạn Vương được chánh tín. Hôm nay chư Thiên và người
đời được lợi ích rất lớn".
Đức Thế
Tôn khen ngợi Tôn giả Ưu Đà Di rằng : "Lành thay
! Lành thay ! Nay ông được phước đức lớn,
vì đã làm cho Tịnh Phạn Vương kính tin vậy".
Đức Thế
Tôn lại bảo chư Tỳ Kheo rằng : "Ưu Đà Di giáo hóa
Tịnh Phạn vương được công đức, nếu là có sắc
thì hằng sa thế giới mười phương chẳng dung thọ được,
vì khối công đức ấy rộng lớn vô lượng vậy".