Ðức Phật
bảo ngài Xá Lợi Phất : “Thuở quá khứ xưa, đức Ðại
Uẩn Như Lai Ðẳng Chánh Giác vì Ðồng Tử Tinh Tấn Hành mà
nói rộng pháp tứ vô lượng và sáu Ba la mật rồi. Ðức
Ðại Uẩn Phật lại nói với Tinh Tấn Hành Ðồng Tử rằng
: Thế nào là đại Bồ Tát tùy nhiếp pháp chuyển? Ðại Bồ
Tát có đủ bốn nhiếp pháp , do đây mà đại Bồ Tát mãi
mãi nhiếp lấy chúng sanh.
Những gì
là bốn? Ðó là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Những nhiếp
pháp ấy thế nào ? Bố thí có hai thứ là tài thí và pháp
thí. Ái ngữ là đối với tất cả người đến cầu xin hoặc
muốn nghe pháp, Bồ Tát đều hay nói lời mến thương ủy
dụ. Lợi hành là hay làm đầy đủ theo ý thích ưa của mình
của người. Ðồng sự là tùy mình có những trí và công
đức vì người mà diễn nói nhiếp thọ xây dựng tất cả
chúng sanh cho họ an trụ hoặc nơi trí hoặc nơi pháp.
Lại nầy
Ðồng Tử! Ở nơi các chúng sanh đến cầu xin thì tâm ý thanh
tịnh, đây là bố thí. Dùng lời lành an ủi, đây là ái ngữ.
Làm cho đầy đủ thành tựu nghĩa lợi, đây là lợi
hành. Hiện hành tâm bình đẳng làm thành nghĩa lợi cho họ,
đây là đồng sự.
Lại nầy
Ðồng Tử! Bố thí là chư đại Bồ Tát phát ý hành xả.
Ái ngữ là phương tiện vô gián. Lợi hành là thâm tâm không
hối. Ðồng sự là hồi hướng Ðại thừa.
Lại bố
thí là theo từ tâm mà thật hành xả. Ái ngữ là thường
chẳng bỏ rời tâm hoan hỉ. Lợi hành là thành tựu đại
bi tâm thường ưa thích việc lợi ích chúng sanh. Ðồng sự
là tu xả bình đẳng không cao hạ tâm luôn hồi hướng
Nhứt thiết chủng trí.
Lại bố
thí là cầu tài đúng pháp thường nghĩ bố thí cứu nghèo
thiếu.
Ái ngữ
là đã bố thí rồi còn an trí họ ở nơi pháp nghĩa.
Lợi hành
là tự lợi lợi tha bình đẳng nhiếp lấy.
Ðồng sự
là vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh nên cứu cánh phát
tâm Nhứt thiết chủng trí.
Lại bố
thí là tất cả sở hữu trong ngoài đều xả ly cả.
Ái ngữ
là nơi tất cả công đức trí huệ không hề giấu tiếc.
Lợi hành
là xả tự lợi chuyên lo lợi tha.
Ðồng sự
là nhiếp tài vật như để trong bàn tay rồi tùy duyên ban
cho lòng không ưu sầu.
Lại pháp
thí là như pháp đã nghe nói rộng lại cho người .
Ái ngữ
là dùng tâm không ô nhiểm mà phân biệt khai thị.
Lợi hành
là dạy người đọc tụng nhẫn đến thuyết pháp không nhàm
mỏi.
Ðồng sự
là chẳng rời bỏ tâm Nhứt thiết trí mà đặt để chúng
sanh ở chánh pháp.
Lại pháp
thí là vì người đến lui cầu nghe pháp, thì dạy nói đúng
pháp của Phật mà chẳng tuyên nói tạp loạn.
Ái ngữ là
dùng âm thanh vi diệu khai thị chánh pháp.
Lợi hành
là đem y phục đồ uống ăn mền nệm thuốc men và những
đồ thiết dụng cấp thí cho người nghe pháp hoặc người
thuyết pháp mà thiếu thốn.
Ðồng sự
là thường phát khởi thâm tâm vô gián thuyết pháp.
Lại pháp
thí là vì biết rõ pháp thí là tối thượng trong bố thí
nên Bồ Tát thường thật hành pháp thí.
Ái ngữ
là những sự lợi ích được diễn thuyết.
Lợi hành
là diễn đạt nghĩa ấy chẳng y theo văn.
Ðồng sự
là muốn khiến viên mãn tất cả Phật pháp nên thường vì
chúng sanh theo đúng chỗ đáng dạy mà hóa độ họ.
Lại bố
thí là Ðàn na Ba la mật. Ái ngữ là Thi la Ba la mật và Sằn
đề Ba la mật. Lợi hành là Tỳ lê gia Ba la mạt. Ðồng sự
là Tĩnh lự Ba la mật và Bát Nhã Ba la mật.
Lại bố
thí là chư Bồ Tát sơ phát tâm. Ái ngữ là chư Bồ Tát
đã phát hạnh. Lợi hành là chư Bồ Tát bất thối chuyển.
Ðồng sự là chư Bồ Tát nhứt sanh bổ xứ.
Lại bố
thí là muốn vững chắc gốc rễ Bồ đề. Ái ngữ là muốn
thành tựu mầm mộng Bồ đề. Lợi hành là muốn khai phát
diệu hoa Bồ đề. Ðồng sự là muốn thành thục thắng quả
Bồ đề.
Nầy Tinh
Tấn Hành Ðồng Tử ! Ðây gọi là đại Bồ Tát bốn thứ
nhiếp pháp. Vì muốn tu hành đại Bồ đề nên đại Bồ đề
dùng bốn nhiếp pháp ấy ở trong đêm dài nhiếp thọ chúng
sanh. Ðây gọi là đại Bồ Tát tùy theo nhiếp pháp mà chuyển.
Nầy Ðồng
Tử ! Nhiếp pháp ấy có vô lượng vô biên đều gọi là đạo
Bồ đề vậy.
Ðức Ðại
Uẩn Như Lai khai thị đạo đại Bồ đề như vậy, Tinh Tấn
Hành Ðồng Tử ở chỗ Phật nghe pháp ấy rồi, lại nghe lời
khen ngợi tam thế chư Phật ; Ðồng Tử ấy rất vui mừng,
liền đem y phục thượng diệu, đồ uống ăn, mền nệm, thuốc
men và các vật cần dùng dưng cúng đức Phật Ðại Uẩn và
chư Thanh Văn Tăng. Trải qua chín mươi sáu câu chi năm cúng
dường cung kính tôn trọng tán thán Phật và tăng như vậy
và phát nguyện đại Bồ đề.
Dầu Ðồng
Tử ấy làm vô lượng công đức như vậy, mà đức Phật
Ðại Uẩn chưa thọ ký Vô thượng Bồ đề cho Ðồng
Tử ấy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ông có nghĩ Ðồng Tử Tinh Tấn Hành thưở xưa
kia là ai chăng ? Chính là thân ta vậy. Thuở ấy ta cúng dường,
phụng thờ Phật Ðại Uẩn và chư Tăng trải qua bao nhiêu
năm như vậy lại phát nguyện đại Bồ đề mà chưa được
thọ ký.
Từ sau đức
Ðại Uẩn Như Lai diệt độ trải qua vô số kiếp, có Phật
Bửu Tánh Như Lai xuất thế có tám mươi na do tha đệ tử
Thanh Văn đều là đại A La Hán chứng được Ðệ nhứt Ba
la mật.
Thời kỳ
ấy có Chuyễn Luân Thánh Vương tên Thiện Kiến đủ bảy
báu. Vua Thiện Kiến dùng luân bửu oai trấn tứ thiên hạ,
trị thế với chánh pháp nên hiệu là Pháp Vương, nhơn đức
nuôi người được dân chúng mến trọng, cõi nước nhơn dân
chỗ ở rộng rãi. Ðại thành của vua ngự trị tên Viên mãn
, Ðông Tây rộng mười hai do tuần. Nam Bắc rộng bảy do tuần,
an ổn giàu vui, nhơn dân đông mạnh, rất đáng mến thích,
có nhiều của báu, đồ dùng dư dật. Trong thành Viên mãn
ấy có Trưởng giả tên Thiện Huệ nhà giàu có lớn. Trưởng
giả ấy đã từng cúng dường chư Phật quá khứ gieo trồng
cội công đức.
Bấy giờ
Phật Bửu Tánh Như Lai quan sát Trưởng giả Thiện Huệ biết
Trưởng giả ấy thiện căn đã thục kham làm pháp thí đại
Bồ Tát tạng và là pháp khí chư Phật . Ðức Phật liền
đến nhà Trưởng giả ấy hiện đại thần biến, ngồi kiết
già trên không khai diễn đạo Bồ đề cho Trưởng giả ấy
và nói lời khen tặng tam thế chư Phật.
Nghe đức
Bửu Thắng Như Lai thuyết pháp khai thị và nghe lời khen ngợi
tam thế chư Phật, Trưởng giả Thiện Huệ được lòng tin
thanh tịnh vui mừng lớn, liền đem y phục thượng diệu đồ
uống ăn mền nệm thuốc men đồ cần dùng cúng dường Phật
và chư Tăng trải qua ngàn năm và phát nguyện đại Bồ
đề. Dầu vậy vẫn chưa được Phật Bửu Tánh thọ ký.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Trưởng giả Thiện Huệ thuở xưa ấy chính là
thân ta vậy. Thuở ấy ta cúng dường Phật và Tăng một ngàn
năm vẫn chưa được thọ ký thành Phật.
Sau khi Phật
Bửu Tánh nhập diệt vô số kiếp có đức Phật Phóng Quang
NHư Lai xuất thế. Tại sao đức Phật ấy hiệu là Phóng Quang
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thuở ấy nhà vua trị vì hiệu là Thắng Oán,
đô thành tên Thạnh Liên Hoa, an ổn giàu vui, nhơn dân đông
mạnh. Nhà vua có một đại thần dòng Bà La Môn tên Quang Chủ
rất được vua mến trọng. Thắng Oán Vương cắt một
phần tư nước phong vương cho đại thần Quang Chủ. Lúc sau
vua Quang Chủ sanh Thái Tử thân hình đoan chánh có đủ ba mươi
hai tướng đại trượng phu, mỗi thân phần đều phóng tia
sáng như mặt nhựt chói lọi, nhơn đó đặt tên là Phóng
Quang.
Quang Chủ
Vương triệu tập các nhà xem tướng giỏi vào cung rồi đưa
TháiTử ra cho họ xem tướng. Xem xong họ đồng quyết đoán
Vương Tử sẽ làm Phật. Sau đó ít lâu Thái Tử Phóng Quang
trưởng thành có trí huệ thông đạt.
Bấy giờ
Trời Tịnh Cư Sắc Cứu Cánh dùng sức thông trí biết Thái
Tử sắp lên ngôi Chánh giác, liền đến chỗ Thái Tử hữu
nhiễu xong, ở trước Thái Tử mà nói kệ rằng :
Chẳng phải
ở an trong Vương cung
Sanh được
công đức thắng thanh tịnh
Phải nhờ
xuất gia mặc ca sa
Chứng quả
Vô thượng diệu Bồ đề
Trẻ mạnh
qua mau như nước chảy
Lại còn
nhanh chóng hơn gió to
Già suy tồi
tệ chẳng nên ưa
Hư hoại
những gì người đời mến
Già suy hay
làm kém thế lực
Muốn được
xuất gia cũng khó được
Bồ Tát
ngày nay tuổi tráng niên
Phải nên
kịp thời phát tinh tấn
Lành thay
lành thay bực đại huệ
Lành thay
lành thay bực đại ngộ
Lành thay
lành thay mau xuất gia
Quyết thành
Vô thượng Ðẳng chánh giác.
Ðược trời
Tịnh cư khai ngộ, Phóng Quang Bồ Tát do lòng tin thanh tịnh
mà xuất gia. Ðương đêm xuất gia ấy liền thành Vô thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác lấy hiệu là Phóng Quang Như Lai đủ
mười đức hiệu được tất cả trời người kính thờ
Bấy giờ
Thắng Oán Vương đến bảo Quang Chủ Vương rằng : Ta nghe
con trai khanh xuất gia thành Phật. Chẳng rõ đức Thế Tôn
đại từ bi giáng lâm chăng ? Nếu đức Phật chẳng thương
xót đến nơi đây, thì ta sẽ mang bốn binh chủng đến
chỗ đức Như Lai để ta thân thờ cúng dường cung kính.
Quang Chủ
Vương liền hội đại thần tuyên rõ việc ấy. Chư đại
thần khuyên vua phải tự đến chỗ Phật để bạch hỏi sự
việc đức đại bi Thế Tôn luôn thương xót chúng sanh muốn
đến chỗ Thắng Oán Vương hay là chẳng đến.
Quang Chủ
Vương liền xa giá cùng quan quân qua chỗ đức Phật Phóng
Quang đảnh lễ chưn Phật rồi bạch sự việc ấy.
Phóng Quang
Như Lai nói với Phụ Vương rằng : Nay Phật sẽ đến chỗ
Thắng Oán Vương vì thương xót chúng sanh vậy !
Ðức Phóng
Quang Như Lai liền cùng hai mươi câu chi đại A La Hán đi qua
nước Thắng oán Vương. Phụ Vương Quang Chủ cũng mang quan
quân tùy tuần, sắm đủ thứ sự thường cúng dường Phật
và Tăng, đến biên giới nước được trị vì, Phụ Vương
lễ chưn Phật buồn khóc trở về.
Bấy giờ
Thắng Oán Vương nghe tin đức Phóng Quang Như Lai và đại chúng
sắp đến thành Thạnh Liên Hoa, liền truyền nghiêm sức đô
thành, trừ bỏ sỏi đá rác rưới , đường sá sửa sang bằng
phẳng sạch sẽ, lại rưới nước hương, rải hoa đẹp, trải
y báu, treo phan lọng, trổi âm nhạc. Vua lại truyền rao trong
và ngoài đô thành có bao nhiêu hương và hoa không ai được
đem dùng, nhà vua sẽ mua hết để cúng dường Phật và Tăng,
người nào vi lịnh sẽ bị nghiêm phạt.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thắng Oán Vương đem những vòng hoa, hương thoa
hương bột, y phục quý đẹp, tràng phan lọng báu, đánh trống
trổi nhạc, lai trần thiết nghi vệ oai thế đại vương ra
ngoài đô thành để được chiêm ngưỡng đức Phóng Quang
Như Lai và kính lễ cúng dường. Vua cùng quan quân và các hào
tộc Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ trong nội thành đồng đến
chỗ Phật. Ðã đến rồi, trước hết vua Thắng Oán đảnh
lễ chưn Phật đem hoa hương phan lọng cúng dường. Kế vua
truyền lịnh quan quân hào tộc dân chúng cùng đảnh lẽ cúng
dường đức Phật. Cúng dường xong vua Thắng Oán có đủ
tâm hoan hỉ, tâm diệu thiện, tâm ly cái chướng, tâm vui đẹp
cùng chư thần dân theo sau đức Phật.
Nầy Xá
Lợi Phất !Lúc ấy có một Bà La Môn tên Trân Bửu ở cạnh
núi Ðại Tuyết, năm trăm nho đồng tử làm đệ tử, Bà La
Môn Trân Bửu ấy được mọi người tôn trọng, danh đức
đồn xa, giỏi nghệ thuật, thong đạt cứu cánh ba kinh Tỳ
Ðà, sách Ni Kiền Trà, luận Kế La Bà, luận Phân Biệt Tự,
luận Ý Ðể Ha Bà, luận Ngũ Phần Ký, luận Tùy Thuận Thế,
luận Từ Tự Chủ, luận Trượng Phu Tướng, ở nơi tam minh
đại giáo của sự tông sư cũng hiểu rành lý thú khéo
biết khai giá. Trong năm trăm đệ tử có một nho đồng tên
Mê Già trí huệ thông đạt tài bằng với Thầy là Bà La Môn
Trân Bửu, kham làm đạo Thủ, Mê Già thưa cùng Thầy rằng
: Ðại Sư nên biết cho, tất cả kinh luận được học đều
đã thông đạt, nay tôi sẽ trở về sanh quán, làm sao báo
đền được ơn đức Ðại Sư ? Thầy bảo rằng : Nầy Mê
Già! Nếu đệ tử muốn báo ơn Thầy thì dùng của báu mới
rõ hậu ý. Ðó là những gì ? Nếu kiếm được đủ năm trăm
đồng vàng thì đủ để tỏ hết lòng.
Mê Già vâng
lời kính lễ từ Thầy mà đi. Nho đồng ấy du hành khắp
thôn thành đình quán quốc ấp vương đô, xứ xứ tìm cầu
của báu để tạ ơn thầy. Họp đủ số tiền ấy rồi toan
đem báo ơn, đi lần đến đô thành Thạnh Liên Hoa, xa trông
thấy đô thành trang trí nghiêm lệ, hỏi thăm được biết
ngày ấy có đức Phóng
Quang Như
Lai cùng hai mươi câu chi đại A La Hán và tám vạn bốn ngàn
Bồ Tát sắp nhập đô thành nên nhơn dân sắm sửa cúng dường
lớn, do đó mà đô thành được trang nghiêm như vậy.
Thoạt nghe
danh hiệu Phật, Nho đồng Mê Già được đại hoan hỉ phát
lòng tin thanh tịnh tự nghĩ rằng : Chư Phật Như Lai xuất
thế rất khó được gặp cũng rất khó như hoa ưu đàm, như
rùa mù đáy biển gặp được bọng cây nổi, cả trăm ngàn
đại kiếp hoặc được gặp một lần. Nay ta được gặp
thật là hy hữu, phải đem năm trăm đồng vàng nầy mua hoa
quí rải cúng dâng lên đức Phóng Quang Như Lai, rồi sẽ lại
kiếm tiền khác báo ơn thầy. Lúc ấy có một nữ nhơn tay
ôm bảy cành bông ưu bát la từ phía chợ đi lại. Mê Già
đón hỏi nơi nào có được hoa đẹp sanh dưới nước thế
nầy. Nữ nhơn đáp tôi ở tại chỗ bán vòng hoa mua những
hoa nầy với giá năm trăm đồng vàng. Mê Già nói nay tôi trả
lại cô số vàng ấy cô có chịu trao hoa chăng ? Nữ nhơn chẳng
chịu. Mê Già lại nói : Nay tôi có năm trăm đồng vàng đây
cô giữ lấy một mình. Còn bảy cành hoa nầy hai người cùng
có chung được chăng ? Nữ nhơn hỏi, anh muốn dùng hoa nầy
vào việc gì ? Mê
Già đáp
sẽ đem cúng dường đức Phóng Quang Như Lai. Nữ nhơn nói
cứ như lời anh thì từ nay về sau đời đời thường có
lòng thương tưởng làm chồng tôi. Nếu chịu như vậy tôi
sẽ giao cho anh hoa nầy. Mê Già nói : Thôi đi, cô chớ
nói như vậy. Tại sao ? Vì tánh nữ nhơn giao động nhẹ dạ
nhiều phóng túng, tôi không thể hứa nhận lời cô được.
Vả lại tôi sẽ ở trong vô số kiếp tu tập Phật pháp bố
thí rộng lớn, hoặc của tiền sản nghiệp, hoặc ngôi vua
thành ấp, hoặc vợ con, hoặc đầu mắt thịt xương, đại
khái là tất cả sở hữu trong thân ngoài thân, không vật
gì là chẳng đem bố thí. Hoặc có lúc sẽ bỏ cô mà vào
trong Phật pháp xuất gia. Tánh nữ nhơn giao động nhẹ dạ
phóng túng, lúc tôi tu bố thí lớn cô có thể làm chướng
ngại hạnh đại xả của tôi. Nữ nhơn ấy đáp : Thiệt như
lời anh nói thì có lợi ích lớn cho tôi. Dầu cho hiện nay
anh có dem thân của tôi đây bán lấy một đồng vàng, lòng
tôi cũng không hối, quyết chẳng làm ngại sự bố thí của
anh. Hoặc chặt thân tôi ra từng đoạn để xả thí, quyết
cũng không đổi lòng làm trở ngại sự tu tập Phật pháp
của anh. Mê Già nói nếu cô có thể bằng lòng như vậy thì
được. Cô nên mau trao hoa cho tôi. Nữ nhơn cầm hoa trao cho
Mê Già.
Ðược hoa
Mê Già tức thì đi đến chỗ Phật, xa trông thấy Ðức Phóng
Quang Như Lai cùng vô lượng đại chúng oai nghi tường tự
vô lượng trăm ngàn công đức trang nghiêm từ đầu kia đi
lại.
Thấy đức
Phật Thế Tôn, Mê Già sanh lòng tin thanh tịnh vô lượng hoan
hỉ kính mến đến trước Phật kính lạy chẳng xiết vui
mừng. Lại thấy nhiều người trải y vô giá để cúng dường
Phật. Mê Già tự nghĩ rằng nay tôi không có y tốt, chỉ có
cái y da hươu xấu này nên trải giữa đường đở chưn đức
Phật. Liền cởi y trải trên đất.
Lúc ấy
mọi người đua nhau đến lấy y da đem bỏ ngoài xa và đều
cười trách rằng sao lại vì đấng báu quí nhứt trong đời
mà lại trải cái y da hươu xấu ấy. Mê Già Nho đồng vội
chạy lượm y da rồi đem trải trên chỗ bùn ướt bên đường
ngã tư mà nghĩ rằng Phóng Quang Như Lai, đấng đại từ bi
thương xót tôi mắt thấy khắp của Phật và trí biết khắp
của Phật thấy biết việc nầy mong Phật lấy chưn đạp
lên y da hươu của tôi.
Phóng Quang
Như Lai cảm thương bèn lấy gót chưn dẫm lên y da hươu. Thấy
vậy, Mê Già lòng vui mừng hớn hở liền đem hoa ưu bát la
ném lên không phiá trên đức Phật. Trên hư không lại có
vô lượng chư Thiên đồng thời rải hoa trời mạn đà la,
ưu bát la, bát đầu ma, câu vật đầu, phân đà lợi, và các
thứ hương trời : chiên đàn, hương bột. Âm nhạc trời,
thanh ca trời vang khắp hư không cùng cúng dường Phật. Hoa
của Mê Già ở riêng một chỗ trên không biến thành vô lượng
ngàn hoa ưu bát la, cánh hoa đều thòng xuống hiệp thành lộng
hoa bay theo trên Phật.
Thấy như
vậy, Mê Già thêm hớn hở phát khởi lòng tin thanh tịnh ở
trước Phật tháo mở búi tóc màu hoàng kim mười hai năm để
trải trên đất và phát nguyện Vô thượng đại Bồ đề
: đời sau nếu tôi được thành Phật, thì nay xin được đức
Phóng Quang Như Lai đưa tay an ủi. Lại phát thệ lớn kiên
cố rằng : Nếu đức Phật gót chẳng đạp trên tóc tôi,
tay chẳng đưa an ủi tôi, chẳng thọ ký Bồ đề cho tôi,
thì tôi quyết chẳng đứng dậy mà chết khô trên chỗ đất
nầy.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Phóng Quang Như Lai Ứng Cúng Ðẳng chánh Giác có
mắt thấy khắp, có trí biết khắp, trong ba đời không sự
việc gì mà chẳng thấu tỏ, biết rõ dục giải của Mê Già
nên đức Phật cất gót dẫm lên tóc Mê Già rồi, ngoái ngó
bên hữu bảo chư Thanh Văn đại chúng rằng : chư Tỳ kheo
chớ đạp tóc nầy. Tại sao ? Vì nho đồng nầy sau đây vô
số kiếp sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Lúc ấy Mê Già nghe Phật thọ ký hớn hở vui
mừng liền bay lên hư không cao bảy cây đa la, chứng được
trăm ngàn câu chi na do tha chánh định vô động, do thần thông
trí lực xem thấy phương đông có hằng sa vô lượng chư Phật
đều thọ ký cho mình rằng.Nầy nho đồng ! Sau đây vô số
kiếp, ngươi sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni . Ba phương
kia và bốn hướng thượng hạ mười phương chư Phật thọ
ký cũng như vậy.
Ðược chư
Phật thọ ký an ủi rồi, Mê Già từ trên không xuống đến
chỗ Phật do lòng tin mà xuất gia tu tập phạm hạnh kiên cố
thanh tịnh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nho đồng Mê Già thuở ấy chính là thân ta vậy.
Nếu có đại Bồ Tát muốn sớm được Phật thọ ký thì
nên ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nghe tụng hiểu
biết nghĩa dạy lại người, lại nên tu hành chánh hạnh vô
tướng. Tại sao ? Vì ta nhớ lúc trước gặp đức Phóng Quang
Như Lai, không có pháp hạnh bạch tịnh nào mà ta chẳng tu
hành. Dầu vô lượng cần khổ như vậy nhưng chẳng được
Phật thọ ký. Tại sao ? Vì là hữu tướng tu. Sau đó ta mới
ở nơi pháp môn vi diệu đại Bồ Tát tạng nghe học an trụ
chánh hạnh, đó là vô tướng hạnh, vô công dụng hạnh, vô
sở đắc hạnh. Tu hạnh vô tướng như vậy nên được
đức Phóng Quang Như Lai thọ ký.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ta nhớ lúc đầu mới gặp đức Phóng Quang Như
Lai ta được siêu quả tất cả hạnh hữu tướng hữu công
dụng. Lúc mới thấy Phật ta được tùy giác tánh tất cả
pháp , lại được thông đạt tự tánh vô sanh của tất cả
pháp. Kế đó đức Phật thọ ký cho ta rằng Mê Già nho đồng
sau đây vô số kiếp sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Ðương lúc Phật thọ ký, ta chứng được vô sanh pháp nhẫn.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chứng được những vô sanh pháp nhẫn gì ?
Ta chứng
được : Tất cả sắc pháp vô sở đắc nhẫn,tất cả thọ
tưởng hành và thức vô sở đắc nhẫn, tất cả pháp uẩn
xứ giới vô sở đắc nhẫn.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nói được nhẫn là nhẫn thọ các pháp đều vô sở
đắc. Tại sao ? Vì chẳng phải lúc chứng được nhẫn như
vậy mà pháp thế gian còn hiện hành, chẳng phải pháp dị
sanh , pháp hữu học, pháp vô học, pháp Ðộc Giác, pháp Bồ
Tát, Pháp Phật mà còn hiện hành. Tại sao ? Vì do tất cả
pháp thế gian xuất thế gian chẳng hiện hành mà nói là đắc
nhẫn, do tất cả pháp cứu cánh không được cũng không bị
được nên gọi là đắc nhẫn. Lại nhẫn ấy, trong một sát
na tận hết tất cả tướng và các sở duyên nên gọi là
đắc nhẫn. Lại nhẫn ấy chẳng nhẫn thọ nhẫn cũng chẳng
hoại mất nhẫn và các sở duyên nên gọi là đắc nhẫn,
chẳng nhẫn thọ nhĩ tỷ thiệt thân và ý cũng chẳng hoại
mất nhĩ tỷ thiệt thân và ý cùng các cảnh duyên nên gọi
là đắc nhẫn.
Nhẫn ấy
không tận hết cảnh giới cũng chẳng xu đến cảnh giới
nên gọi là đắc nhẫn.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vì thế nên đại Bồ Tát muốn mau được Phật
thọ ký chứng vô sanh pháp nhẫn ấy, thì phải ở nơi pháp
môn vi diệu Bồ Tát tạng nầy ân trọng nghe học thọ trì
đọc tụng thông đạt nghĩa thú rộng giảng dạy người,
an trụ chánh hạnh, đó là hạnh vô tướng, hạnh vô công
dụng, hạnh vô sở đắc, các hạnh ấy gọi là chánh hạnh
vậy”.
Bấy giờ
trong đại chúng có trưởng giả tử tên Na La Ðạt Ða nghe
đức Thế Tôn nói pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng, lại
nghe tán thán công đức của chư Phật chư Bồ Tát rồi liền
rời chỗ ngồi trạch vai hữu, gối hữu chấm đất, hướng
Phật đảnh lễ cung kính chấp tay mà bạch Phật rằng : “
Bạch Ðức Thế Tôn, trước vì chư trưởng giả nói rộng
các pháp tương tục bất tuyệt khai thị như vậy, giáo đạo
như vậy làm cho đều chứng quả A La Hán, tức tại đời
nầy tận hết mé sanh tử, mà chưa từng nghe và nói pháp môn
vi diệu đại Bồ Tát tạng và khen ngợi công đức của chư
Phật, chư Bồ Tát. nay tôi may mắn được nghe, được lợi
ích lớn nên phát sanh quan niệm rằng : Ðại thừa như vậy
là tôn là thắng là thượng là diệu, là vô thượng là vô
quá thượng, đó là Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nay tôi hiện
tiền được thân nghe đức Phật nói thọ trì lãnh ngộ mở
tỏ các pháp. Các pháp ấy là phân biệt các pháp không chỗ
nương nắm, không ngã không ngã sở, không có nhiếp thọ
Bạch đức
Thế Tôn ! Nay tôi nghĩ rằng : Trong tất cả thừa mà vô thượng
đó là Phật thừa . Chư Phật Như Lai cũng nói thừa ấy là
tối đệ nhứt, là tối vô thượng. Từ ngày nay tôi phát
khởi tâm Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì muốn làm
lợi ích an lạc các chúng sanh, vì muốn xót thương các thế
gian . Như đức Phật xây dựng chư đại Bồ Tát bao nhiêu
học xứ, nay tôi sẽ đều y theo học hết cả “.
Ðức Phật
bảo trưởng giả tử Na La Ðạt La : “ Lành thay ! lành thay
! Nầy thiện nam tử ! Vô thượng Bồ đề rất khó tin khó
chứng, rất khó tu khó học. Nay ông có thể phát được tâm
ấy”.
Trưởng
giả tử Na La Ðạt La bạch đức Phật : “ Vô thượng Bồ
đề dầu rất khó tin khó chứng, rất khó tu tập, nhưng nay
tôi phát khởi tâm dũng mãnh tinh tấn quyết sẽ tu tập Vô
thượng Bồ đề chẳng lấy làm khó, lại ở nơi Vô thượng
Bồ đề ấy tôi phụng tu mạnh chắc quyết không thối chuyển.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nay tôi phát hoằng thệ :
Giả sử
phát tâm Bồ đề như số cát sông Hằng mới chứng được
Vô thượng Bồ đề, ở nơi sự ấy tôi càng tinh tấn thêm
mỗi mỗi đều phát tâm như vậy trải qua số kiếp như hằng
sa nhẫn đến tùy theo chỗ phát tâm ấy, mỗi mỗi chỗ phát
phải do chặt đứt hằng sa thân phần đầu mình mới
phát khởi được tâm Bồ đề ấy, tôi ở trong sự cần khổ
ấy càng thêm tinh tấn trọn chẳng buông bỏ Vô thượng Bồ
đề. Tại sao ? Vì mặc dầu gặp phải những sự đau khổ
ấy vẫn phải tu tập nhờ duyên ấy tất chứng Bồ đề.
Huống là chứng Vô thượng Bồ đề thọ các an lạc mà chẳng
tu học . Tại sao ? Vì Vô thượng Bồ đề tánh nó cao rộng
đầy đủ lớn khắp. Phật pháp vô thượng chẳng thể nghĩ
bàn chẳng thể cân lường không có bờ mé chẳng thể tuyên
nói. Dầu là vô ngại trí của chư Phật trải trăm ngàn câu
chi na do tha kiếp dùng các ngôn âm tuyên nói Bồ đề ấy chẳng
dễ hết được.
Trưởng
giả tử Na La Ðạt Ða ở trước Phật nói kệ rằng
:
“Trăm ngàn
câu chi kiếp
Mới phát
Bồ đề tâm
Dầu nhiều
khổ bức hại
Chẳng bỏ
chúng sanh giới
Lúc phát
tâm Bồ đề
Cần chặt
thân và đạo
Khối lượng
bằng Tu Di
Tôi cũng
kham nhẫn được
Tôi an trụ
Bồ đề
Vì lợi
lạc chúng sanh
Nguyện cho
tôi đời sau
Như Thế
Tôn ngày nay
Xa thừa
Thanh Văn kia
Gồm cứu
người hạ thừa
Nguyện tôi
ở đời sau
Như Thế
Tôn ngày nay
Thừa đây
là đại thừa
Ðược chư
Phật khen tặng
Tôi thấy
không gì bằng
Nên tôi
thích Bồ đề
vì cứu
vớt nguy ách
Vì thoát
ba ác đạo
Vì cầu
Như Lai đây
Xuất thế
hiện thành Phật “,
Nói kệ
rồi, Trưởng giả Na La Ðạt Ða nghĩ rằng : Nay tôi minh đạt
Phật pháp quảng đại sao tôi chẳng đem giáo hóa vợ con quyến
thuộc. Trưởng giả liền đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu
ba vòng rồi
mau về nhà sắm đồ cúng dường cùng vợ con trai con
gái và tôi trai tớ gái tất cả đồng có bảy người, mang
bảy cặp y phục thượng diệu và những hoa hương đồ cúng
dường với năm trăm nhạc công cùng nhau đi vội
ra khỏi thành Vương Xá để được phụng kiến đức Thế
Tôn.
Thấy vậy
có nhiều người hỏi . Trưởng giả tử ấy bảo mọi người
rằng: Nay có đức Phật Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác ở núi
Linh Thứu, vô lượng trăm ngàn trời người đại chúng
cùng hội. Ðức Phật dùng vô lượng phương tiện vì chúng
sanh mà tuyên nói khai thị Phật Pháp quảng đại , nên tôi
đem quyến thuộc đến chỗ đức Phật ngự để cầu Phật
pháp quảng đại ấy, để cầu thành tựu Phật trí huệ chẳng
nghĩ bàn chẳng cân lượng được ấy , vì muốn gieo trồng
cội lành Vô thượng Bồ đề. Các người nếu muốn thành
tựu Phật pháp quảng đại thì nên cùng nhau đi đến chỗ
đức Phật Như Lai sẽ cùng gieo trồng cội lành Phật pháp
vô thượng quảng đại ấy.
Nghe xong
có mười ngàn người ở thành Vương Xá đều muốn đi theo
trưởng giả tử đến chỗ đức Phật ngự.
Trưởng giả
tử Na La Ðạt Ða cùng quyến thuộc và mười ngàn người
đồng đến chỗ Phật, đảnh lễ chưn Phật rồi ở qua một
bên. Trưởng giả tử cùng đại chúng tùy tùng đem hoa hương
y phục phan lọng trỗi nhạc ca tụng cúng dường đức Như
Lai, và đem y phục báu đẹp trùm lên mình Phật. Cúng dường
xong , Trưởng giả tử vui mừng vô lượng liền ở trước
Phật ca tụng ngợi khen nói kệ rằng :
“Ðấng
trượng phu vi diệu đệ nhứt
Chứng thanh
tịnh Vô thượng Bồ đề
Phát khởi
vô biên thắng trí kiến
Nay tôi cúng
dường đức Như Lai
Xưa vô lượng
kiếp nhiều tu hành
Vì lợi
chúng sanh cầu đại giác
Chứng pháp
tự tại hiện thành Phật
Nay tôi cúng
dường đức Như Lai
Tôi cùng
vợ con chúng quyến thuộc
Vì lợi
chúng sanh cầu Bồ đề
Và cùng
mười ngàn nhơn dân chúng.
Ðồng chung
qui y đấng Ðại giác ”.
Trưởng
giả tử nói kệ xong bạch đức Phật : “ Bạch đức Thế
Tôn! Nay tôi cùng đại chúng đây đến trước đức Như Lai,
tất cả đều đã an trụ Vô thượng Bồ đề. Xin đức Thế
Tôn vì thương xót mà lại thuyết pháp cho họ chẳng còn thối
chuyển Vô thượng đạo. Nay tôi muốn ở chỗ Phật trồng
cội lành xin đức Thế Tôn hiện chứng cho tôi. Sẽ khiến
sức thiện căn ấy làm cho chúng sanh bình đẳng mau chứng
Vô thượng Bồ đề, lại được vô lượng Phật pháp quảng
đại như đức Phật hiện nay.
Trưởng
giả tử cùng quyến thuộc và năm trăm nhạc công mười ngàn
nhơn chúng nhứt tâm đồng thanh bạch Phật : “ Bạch đức
Thế Tôn ! Chúng tôi nay ở trước đức Như lai đồng chí
thành quy y với Phật, quy y với Pháp, quy y với Tăng. Xin đức
Thế Tôn ghi nhớ chúng tôi là Ưu Bà Tắc bắt đầu ngày nay
nhẫn đến thọ chung, thà bỏ thân mạng chớ chẳng bỏ tâm
tin thanh tịnh quy y. Lại xin đức thế Tôn ghi nhớ chúng
tôi , bắt đầu ngày nay cho đến Bồ đề , vì Vô thượng
Bồ đề mà phát khởi tâm tăng thượng dũng mãnh. Lại xin
đức Thế Tôn ghi nhớ cho chúng tôi, nguyện mau chứng Vô thượng
Bồ đề vì các chúng sanh tuyên nói chánh pháp như đức Phật
hiện nay. Lại xin đức Thế Tôn ghi nhớ cho chúng tôi, nguyện
đời sau lúc thành Phật, đại chúng vây quanh như Phật hiện
nay. Lại xin đức Thế Tôn ghi nhớ cho chúng tôi, nguyện đời
sau độ thoát vô lượng chúng sanh khổ bức như Phật hiện
nay.
Phát thệ
xong, Trưởng giả tử cùng đại chúng và các nhạc công lại
đem các thứ âm nhạc vi diệu cúng dường đức Phật
Vì thương
đại chúng ấy nên đức Phật bay lên hư không ngồi kiết
già. Năm trăm nhạc công thấy Phật hiện thần biến càng
sanh tín tâm đối với đức Phật. Do oai lực của Phật, các
nhạc khí chẳng cần nhiếp trì tự nhiên bay vọt lên hư không
trỗi các bản nhạc âm thanh hữu nhiễu đức Như Lai.
Thấy thần
biến ấy, Trưởng giả tử và đại chúng đều cho là chưa
từng có vui mừng hớn hở , đồng chấp tay kính lễ đức
Như Lai.
Bấy giờ
trên hư không giáp vòng đúng một do tuần lại có vô lượng
trăm ngàn nhạc khí tự nhiên hiện ra như ổ ong treo lơ lửng
không ai cầm giữ , nhạc khí ấy đồng hòa tấu âm điệu
vi diệu.
Trưởng
giả tử cùng quyến thuộc, năm trăm nhạc công, mười ngàn
người thành Vương Xá, vá pháp hội đại chúng sáu mươi
ngàn người, chư Tỳ kheo ngàn hai trăm năm mươi người, do
oai lực Phật đều bay vọt lên hư không. Lại do thần lực
của Phật, trên hư không hiện ra năm trăm nhạc đài, trong
đài ấy đều nói diệu pháp. Lại có bốn đài nhạc lớn
hiện trước Phật trang nghiêm điêu sức đẹp lạ khác thế
gian. Lại có vô lượng trăm ngàn câu chi chư Thiên chúng đứng
trên không rải hoa mạn đà la trên đức Phật. Do thần lực
của Phật, hoa ấy ở trên không hóa thành tám vạn đài báu
cao đẹp. Ðại chúng thấy trong đài trên ấy có những trang
nghiêm rộng lớn như vậy, nên đối với đức Như Lai càng
thêm sanh lòng tin mến kính khen chưa từng có.
Ðức Thế
Tôn biết đại chúng tâm tưởng thanh tịnh, lại biết rõ
Trưởng giả tử Na La Ðạt Ða và chúng mới đến có ý nguyện
thanh tịnh rồi , đức Phật hiện mĩm cười, nơi điện môn
của đức Phật phóng ra vô lượng tia sáng báu đẹp chiếu
suốt mười phương vô lượng chư Phật quốc độ rộng làm
Phật sự rồi quay về nhập vào đảnh đức Phật.
Trưởng
lão A Nan liền trịch y vai hữu hướng Phật chấp tay cung kính
làm lễ bạch đức Phật : “ Bạch dức Thế Tôn ! Có nhơn
duyên gì mà đức Phật hiện mĩm cười ? Tôi nghĩ rằng đức
Như Lai hiện thần biến tất có nhơn duyên ”.
Ðức Phật
phán dạy : “ Nầy A Nan ! Trưởng giả tử Na La Ðạt Ða và
vợ con trai con gái tôi trai tớ gái, ba mươi sáu người nầy
do sức thiện căn cúng dường Phật, đời tương
lai
trải ngàn câu chi kiếp chẳng đọa ác đạo mà qua lại sanh
trong trời người hưởng thọ khoái lạc. Qua khỏi kiếp ấy
gặp Phật Thương Chủ xuất thế đủ mười đức hiệu. Ở
nơi đức Phật ấy họ cúng dường cung kính tôn trọng tán
thán rộng tu phạm hạnh. Sau đó trải qua hai mươi câu chi
kiếp chẳng đọa ác đạo.
Nầy A Nan
! Bảy người vợ bảy con gái và bảy tớ gái của Trưởng
giả tử ấy từ thân nầy mạng chung bèn bỏ thân gái được
thành thân nam tử hằng chẳng rời Na La Ðạt Ða cùng tu Bồ
Tát đạo, đời đương lai đồng ở trong một kiếp thành
Vô thượng Bồ đề.
Na La Ðạt
Ða đại Bồ Tát thành Phật hiệu Bình Ðẳng Tâm Như Lai đủ
mười đức hiệu . Tất cả quyến thuộc sẽ thành Phật đều
đồng hiệu A Nhã Mạt Nhã Như lai đủ mười đức hiệu.
Năm trăm nhạc công đời sau trải vô số kiếp chẳng
đọa ác đạo, lại trải qua làm dực tùng mãn ngàn câu chi
Chuyển Luân Vương , Ðại lược mà nói, năm trăm nhạc công
nầy ở trong kiếp ấy gặp mười ngàn đức Phật đều được
gần gũi cúng dường không sót, sau đó đồng ở trong một
kiếp thành Vô thượng Bồ đề đều hiệu Mỹ Âm Như Lai
đủ mười đức hiệu. Mười ngàn người thành Vương Xá
đây do sức thiện căn cúng dường Phật. Bốn trăm nguời
trong số đó sẽ gặp Từ Thị Như Lai và đều tu phạm hạnh
được lậu tận mà nhập Niết bàn. Số người còn lại trải
qua số kiếp hằng sa chẳng đọa ác đạo, lần lược được
gặp ngàn câu chi đức Phật và rộng tu Bồ Tát hạnh, sau
đó tất cả được thành Vô thượng Bồ đề đều đồng
một hiệu Thậm Hi Hữu Như Lai đủ mười đức hiệu.
Nầy A Nan
! Trong chúng hội sáu vạn đây có một ngàn người sau khi
ta diệt độ chánh pháp đã hết, lại qua khỏi kiếp đao binh
. Từ Thị Như Lai chưa xuất thế , thời kỳ chúng sanh thọ
mạng lần tăng trưởng, Thiện Bộ Châu có tám vạn Ðộc
Giác xuất thế, ngàn người ấy đều được gặp và cúng
dường tu pháp lành, sau đó gặp Từ Thị Như Lai và cúng dường
, sau đó trải qua hai mươi lăm câu chi kiếp chẳng đọa ác
đạo, thân tối hậu làm người do sức thiện căn phát khởi
tỉnh ngộ lòng tin thanh tịnh xuất gia chứng ngộ Duyên Giác
Bồ đề. Trong đại chúng ấy có mười ngàn người phát sanh
thành kiến , ngoài ra đồng phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Lại còn có sáu mươi na do tha Thiên Tử xa trần rời cấu
sanh pháp nhãn thanh tịnh đối với các pháp.
Nầy A Nan!
Có ai được thấy thắng lợi đặc biệt nầy mà chẳng phát
khởi lòng tin thanh tịnh mến ưa cung kính phát tâm hi hữu
đối với đức Như Lai. Chỉ trừ người ngu si bất tiếu
. Tại sao ? Vì những đại chúng ấy ở nơi đức Như Lai chỉ
tu căn lành nhỏ mà được lợi ích lớn như vậy, hoặc lại
chứng nhập Vô thượng Bồ đề”.
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghiã ấy mà nói kệ rằng :
“Ở chỗ
Phật tu những cúng dường
Ðược công
đức thù thắng như đây
Nếu có
mong cầu quả cao lớn
Nên cúng
dường chư đại Ðạo Sư
Hoặc Phật
hiện tại tu cúng dường
Hoặc thời
kỳ Phật đã Niết bàn
Cúng dường
Xá Lợi như hột cải
Thường
được hầu kề chư Như Lai
Nếu lại
muốn tu các cúng dường
Như Lai ở
đời hoặc Niết bàn
Cúng dường
Xá lợi như hột cải
Hành tâm
bình đẳng quả bình đẳng
Nếu người
có tu tâm bình đẳng
Cúng dường
đấng thượng trong bình đẳng
Sẽ thành
báo thù thắng bình đẳng
Và chứng
diệu Bồ đề bình đẳng
Nếu người
muốn nhiếp các thiện đạo
Ngăn chướng
trừ tuyệt các ác đạo
Và muốn
xu hướng đường Niết Bàn
Sẽ được
như vậy chẳng là khó
Phật có
đủ thi la thanh tịnh
Phật có
đủ tam muội thanh tịnh
Người sanh
lòng tin thắng thanh tịnh
Sẽ được
quả Như Lai tối thắng
Nếu tu tối
thắng các cúng dường
Mau lên thiện
đạo tối thù thắng
Và chứng
chánh kiến đấng tối thắng
Tuyên nói
pháp vi diệu tối thắng
Nếu thích
làm người trí sáng suốt
Thân trì
Phật chánh pháp thanh tịnh
Nên tu nguyện
muốn chánh mãnh lợi
Ða văn như
lý chánh tư duy
Có người
được làm Chuyển Luân Vương
Hoặc làm
Ðế Thích Phạm Thiên Vương
Rộng tu
vô lượng thắng công đức
Quyết được
vô dư đại Niết Bàn”.
Ðức Thế
Tôn nói tụng kệ xong, bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Nếu
có thiện nam tử , thiện nữ nhân an trụ Ðại Thừa muốn
mau chứng được Vô thượng Bồ Ðề, phải ở nơi pháp môn
vi diệu Bồ Tát tạng phát khởi nguyện muốn nghe học thanh
tịnh mãnh lợi ân trọng, nghe rồi thọ trì đọc tụng
thông đạt nghĩa thú rộng giảng dạy mọi người. Tại sao?
Vì ở nơi kinh này mà nghe học thọ trì nhẫn đến rộng giảng
dạy mọi người thì hay khiến Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt,
thường chẳng xa rời bốn hạnh vô lượng, thường siêng
tu tập sáu Ba la mật, thường chánh phương tiện dùng bốn
nhiếp pháp nhiếp hóa chúng sanh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Pháp môn vi diệu Ðại thừa đại Bồ Tát tạng
tức là Bồ Tát đạo, vì kinh điển này hay nhiếp trì Vô
thượng Bồ đề vậy.
Này Xá Lợi
Phất ! Kinh này là thánh trân bửu tạng của chư Bồ Tát.
Ta y theo kinh này chánh tu học rồi, cứu cánh chứng được
sanh tử dứt hẳn và chứng tất cả Ba la mật. Do chứng như
vậy nên ta hiệu là đấng Chánh đẳng Chánh Giác vô thượng.
Này Xá Lợi
Phất! Ðức Như Lai ở nơi tất cả Ba la mật đều đã
cứu cánh. Ðức Như Lai ở nơi tất cả việc làm đều đã
lặng dứt. Ðức Như Lai ở nơi tất cả địa đều đã chứng
được và còn chứng được địa vô biên. Tại sao ? Do đức
Phật chứng các Ba la mật ấy nên hay cứu cánh an trụ tất
cả pháp Ba la mật.
Vì thế
nên chư đại Bồ tát phải ở nơi pháp môn vi diệu đại
Bồ tát tạng này mà tinh tấn tu hành như chỗ Phật đã chứng
được”.
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng:
“Nơi nghiệp
phải biết nghiệp
Nơi báo
phải biết báo
Không nghiệp
cũng không báo
Là Niết
bàn an ổn
Các hữu
vi đều khổ
Trong ấy
không có trí
Thế nên
trí sanh rồi
Hữu vi đều
giải thoát”.
Ðức Thế
Tôn nói kệ xong, Trưởng Lảo Xá Lợi Phất và các Tỳ Kheo,
cùng Thiên Nhơn Bát Bộ tất cả đại chúng nghe lời Phật
nói đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
Pháp hội
Bồ tát tạng thứ mười hai
HẾT TẬP
III