Vì chẳng
thủ trước tất cả pháp nên rời lìa hư vọng phân biệt.
Vì khiến người thuyết pháp không lo buồn nên hoan hỉ khen
thiện tai. Vì muốn người thuyết pháp không luống công nên
trừ bỏ chướng cái mà cung kính nghe pháp. Vì muốn trang nghiêm
Bồ đề thọ nên phụng thí vườn rừng thanh tịnh cho chư
Phật. Vì muốn trang nghiêm Phật đạo tràng nên tu đủ các
thiện căn không thối chuyển. Vì muốn trừ sạch pháp sanh
tử nên chẳng nhiễm tất cả nghiệp phiền não. Vì muốn
được tay trân bửu nên bố thí tất cả trân bửu. Vì muốn
được của vô tận và tạng vô tận nên đem vật ái trọng
bố thí trước. Vì muốn khiến các chúng sanh tạm thấy
mình thì liền sanh lòng tin thanh tịnh nên vui vẻ hỏi thăm
trước xa rời vẻ âu sầu. Vì muốn được tướng bàn tay
bằng phẳng nên đối với chúng sanh sự chiếu cố bình đẳng.
Vì muốn phóng vô biên màn tia sáng nên đối với các chúng
sanh không học thức lòng chẳng khinh miệt và chẳng bỏ rơi.
Vì muốn thọ sanh được thanh tịnh thường gìn
chứa giới phước thanh tịnh.Vì muốn thai tạng được thanh
tịnh nên ở nơi các hủy phạm khéo có thể thanh tịnh.
Vì muốn sanh trong người trên trời nên tu tập thanh tịnh
mườinghiệp đạo lành. Vì rời xa sự đi đứng qua lại vô
tri , nên ở nơi các sự dạy bảo không vọng phân biệt. Vì
được pháp tài giàu dư tự tại nên đối với pháp thâm
áo không giấu tiếc. Vì muốn được thế gian chiêm ngưỡng
nên sửa trau thanh tịnh dục giải tăng thượng.Vì muốn được
pháp thắng giải quảng đại nên các hạnh vi diệu đều chứng
cả. Vì muốn nhiếp thọ tất cả phước nên tâm hằng tư
duy đấng Nhứt thiết trí. Vì muốn viên mãn bảy thánh tài
nên ở nơi Phật pháp chánh tín là tiền đạo. Vì muốn nhiếp
thọ các tịnh pháp nên đối với thân mạng mình không hề
đoái đến. Vì được thế gian ủy nhiệm nên có hứa điều
gì quyết làm xong . Vì muốn cho tất cả Phật diệu pháp được
viên mãn tu tập tất cả Phật pháp.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nếu đại Bồ Tát đầy đủ thành tựu những tướng
ấy thì gọi là đại Bồ Tát phước đức tư lương thiện
xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát trí đức tư lương
thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, đại bồ Tát ấy
vì an trụ các pháp nhơn duyên như vậy nên nhiếp thủ được
trí, đây gọi là trí đức tư lương.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nhiếp trí như vậy lấy pháp gì làm nhơn làm duyên
?
Nầy Xá
Lợi Phất! nên biết đại Bồ Tát nguyện dục không nhàm
mỏi, tinh tấn tìm cầu tánh trí tùy hành, gần gũi thiện
hữu xu hướng Phật trí mà chẳng xu hướng trí Thanh Văn,
Ðộc Giác. Ðối với thiện hữu ấy lòng không giải đãi
khinh mạn mà cung kính mến trọng như bực đại sư. Bồ Tát
biết thiện hữu ấy có đủ dục giải nên không có phần
ít ngôn thuyết thuận trí nào mà chẳng thưa hỏi để học.
Thiện hữu ấy lại biết Bồ Tát ấy là pháp khí liền tuyên
nói không tạm gián đoạn. Bồ Tát nghe nói hạnh tương ưng
với chánh pháp tư lương liền tinh tấn tầm tư phương tiện
tu tập. Ðây gọi là chánh hạnh tương ưng trí đức tư lương.
Thế nào
là chánh hạnh tương ưng chánh pháp tư lương ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chánh pháp tư lương là đại Bồ Tát vì tu tập
chánh hạnh nên với sự uống ăn khéo có thể tiết kiệm.
Với các duyên sự khéo có thể giảm ước. Với chuyện trò
đàm thoại khéo có thể xa rời. Với các âm thanh khéo có
thể vứt bỏ. Ðầu hôm cuối đêm không ngủ nghỉ mà siêng
tu tập chánh hạnh tương ưng. Ðại Bồ Tát ấy vì cân lường
nghĩa lý trịnh trọng tầm tư nên lòng không uế trược. Vì
hiện trừ nghi hối nên không chỗ truy cầu. Vì bền tu chánh
hạnh nên tùy thuận chánh pháp xu hướng chánh pháp thích đến
chánh pháp. Vì nơi pháp dũng mãnh thường như cứu khăn đầu
bị cháy nên siêng cầu diệu trí không tạm thôi nghỉ. Vì
chẳng ở hắc ám nên không lười biếng.Vì chẳng bỏ việc
lành nên xa rời ồn náo. Thường hay ở một mình nên ngồi
lặng tư duy. Vì thánh chủng trí đức nên chẳng bỏ những
công đức đầu đà. Vì yêu thích pháp lạc nên thường ưa
tìm cầu pháp xuất thế mà chẳng nghĩ đến trân bửu. Vì
tùy thuận thế gian văn chương chú thuật nên thành tựu chánh
niệm. Vì chẳng quên mất chánh niệm nên đủ nghĩa thậm
thâm. Vì khéo tùy hành nghĩa thậm thâm nên có được diệu
huệ. Vì tùy thuận chánh đạo kiên cố nên dũng mãnh. Vì
phòng vệ ngoại duyên nên trong lòng hổ thẹn. Vì trang nghiêm
tàm úy nên làm theo Phật lý. Vì rời lìa phi trí nên bỏ màn
ngu si. Vì huệ nhãn thanh tịnh khéo giác ngộ nên giác huệ
rộng rãi. Vì giác huệ ấy không hẹp kém nên dịu huệ sáng
tỏ chứng hiện trí vậy.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát ấy chỗ có công đức chẳng tùy theo
người. Với tự công đức chẳng tăng thượng mạn. Với
tha công đức chẳng ganh ghét chẳng chê bai, khéo tu hành nghiệp
lành chẳng khinh nghiệp báo, vì thế nên đầy đủ thành mãn
nghiệp thanh tịnh trí.
Nầy Xa Lợi
Phất ! đầy đủ thành mãn những tướng ấy thì gọi là
trí đức tư lương thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có trí đức tư lương thiện
xảo. Ðó là có thể đầy đủ bốn pháp bố thí thì thành
tựu được trí đức tư lương . Những gì là bốn ?
Ðại Bồ
Tát nếu thấy biên chép kinh điển nầy thì cung cấp giấy
mực viết các vật cần dùng. Ðây là pháp thí thứ nhứt
Ðại Bồ
Tát thỉnh pháp sư diễn nói nghĩa thâm diệu. Ðây là pháp
thí thứ hai.
Ðại Bồ
Tát đem những lợi dưỡng cung kính danh văn tán tụng khen
tặng dâng lên pháp sư. Ðây là pháp thí thứ ba.
Ðại Bồ
Tát ở nơi pháp sư nhiếp thọ chánh pháp không siễm khúc.
Khen tặng cho vui lòng mà nói thiện tai thiện tai. Ðây là pháp
thí thứ tư.
Ðại Bồ
Tát làm đủ bốn pháp thí ấy thì khéo có thể chứa họp
trí đức tư lương thiện xảo
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ tích tập vô
tận trí đức tư lương. Những gì là bốn ?
Một là
đại Bồ Tát khéo thủ hộ thân mạng pháp sư.
Hai là khéo
thủ hộ những thiện pháp đã có.
Ba là khéo
thủ hộ chỗ ở của pháp sư.
Bốn là
khéo thủ hộ đồ chúng của pháp sư.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ nhiệm trì trí
đức tư lương thiện xảo. Những gì là bốn ? Ðó là ở
nơi pháp sư, Bồ Tát dùng pháp để nhiệm trì, dùng trí để
nhiệm trì , dùng của vật để nhiệm trì và dùng công đức
để nhiệm trì vậy.
Lại nầy
Xá lợi Phất ! Ðại bồ Tát còn có năm thắng lực hay làm
trí đức tư lương thiện xảo. Những gì là năm ? Ðó
là đại Bồ Tát có đủ tín lực để thành tựu tâm tín
giải. Có đủ tấn lực để cầu thiện tri thức thành tựu
đa văn,. Có đủ niệm lực để tâm Bồ đề không quên mất.
Có đủ định lực để suy gẫm quan sát bình đẳng giác tánh.
Có đủ huệ lực do vì từ lâu đã tu tập sức lực đa văn
vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ thi la thanh tịnh
hay tích tập trí đức tư lương. Những gì là bốn ? Ðó là
đại Bồ Tát có thi la thích chánh pháp, có thi la cầu chánh
pháp, có thi la quán chánh pháp và có thi la hồi hướng Bồ
đề vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ pháp nhẫn hay
làm trí đức tư lương thiện xảo. Những gì là bốn ?
Một là
lúc đại Bồ Tát cần cầu chánh pháp, khéo nhẫn chịu được
tất cả lời lẽ thô ác phi pháp.
Hai là lúc
đại Bồ Tát cần cầu chánh pháp, khéo nhẫn chịu được
tất cả gió nắng rét nóng đói khát.
Ba là lúc
đại Bồ Tát cần cầu chánh pháp nơi hai đại sư Hòa Thượng
và A Xà Lê có dạy bảo thì đều đảnh đới lãnh thọ.
Bốn là
lúc đại Bồ Tát cần cầu chánh pháp, khéo tin hiểu được
pháp không, vô tướng, vô nguyện.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lại còn có bốn thứ tinh tấn
hay làm trí đức tư lương tinh tấn. Những gì là bốn ? Ðó
là đại Bồ Tát kiên cố tinh tấn lắng nghe chánh pháp , kiên
cố tinh tấn nhiệm trì chánh pháp, kiên cố tinh tấn diễn
thuyết chánh pháp và kiên cố tinh tấn tu hành chánh hạnh
vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ tĩnh lự tu
tập chánh pháp hay làm trí đức tư lương thiện xảo. Những
gì là bốn ? Ðó là đại Bồ Tát thường thích thực hành
pháp viễn ly, thích ở một mình nơi 4núi rừng yên tĩnh, thường
thích tìm cầu thần thông tĩnh lự và thường siêng tu Phật
trí quảng đại.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ chánh pháp trí
huệ quang minh hay làm trí đức tư lương thiện xảo. Những
gì là bốn ? Ðó là đại Bồ Tát tu hành trí huệ quang minh
ấy : chẳng an trụ nơi đoạn, chẳng nói nơi thường, chẳng
trái duyên khởi và tin hiểu vô ngã vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn thứ chánh pháp vô
thượng phương tiện hay làm trí đức tư lương thiện xảo.
Những gì là bốn ? Ðó là đại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã
Ba la mật mà tùy thuận thế gian, tùy thuận kinh điển, tùy
thuận diệu pháp và tùy thuận tịnh trí vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát có thể tiến đến bốn thứ
pháp đạo hay làm trí đức tư lương thiện xảo. Những gì
là bốn ? Ðó là đại Bồ Tát do y Bát Nhã Ba la mật nên đầy
đủ tu hành đạo đến bỉ ngạn, đạo thất giác phần, đạo
bát chánh chi và đạo xu hướng nhất thiết chủng trí vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bốn pháp không chán đủ
hay chứa họp trí đức tư lương thiện xảo. Những gì la
Bốn ? Ðó là đại Bồ Tát do tu hành bát Nhã Ba la mật nên
phụng trì chánh pháp vô lượng nghe pháp không chán đủ, vì
người thuyết pháp không chán đủ, quan sát lý nghĩa không
chán đủ và trí huệ phương tiện không chán đủ vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát có trí đức tư lương thiện
xảo như vậy liền vào khắp tất cả chánh hạnh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nên biết rằng bố thí do trí tư lương mà thành
tựu, trì giới nhẫn tấn định huệ cũng đều do trí tư
lương mà thành tựu vậy. Nhẫn đến từ bi hỉ xả tất cả
thiện pháp đều do trí đức tư lương mà thành tựu cả.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát phát khởi bao nhiêu chánh hạnh kiên cố
đều y chỉ nơi trí. Tất cả chánh hạnh đều do trí làm
tiền đạo. Vì đại Bồ Tát có đại trí nên được các
người vô trí quy về, tất cả ác ma không được dịệp
tiện, chư Phật Như Lai đồng gia hộ, sẽ được xu nhập
nhứt thiết chủng trí.
Ðây là
đại Bồ Tát trí đức tư lương thiện xảo vậy.
Nếu chư
Ðại Bồ Tát có đủ hai thứ phước đức và trí đức tư
lương thiện xảo, nên biết là do tu hành Bát Nhã Ba la mật
mà được công lực tư lương thiện xảo như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào là đại Bồ Tát niệm trụ thiện
xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát y Bát Nhã Ba la mật tu tập đầy
đủ bốn thứ niệm trụ thì có thể thành tựu phương tiện
thiện xảo. Những gì là bốn ? Một là ở nơi thân theo thân
quán sát tu tập niệm trụ. Hai là ở nơi thọ theo thọ quan
sát tu tập niệm trụ. Ba là ở nơi tâm theo tâm quan sát tu
tập niệm trụ. Bốn là ở nơi pháp theo pháp quan sát tu tập
niệm trụ.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Tu hành Bát Nhã Ba la mật, thế nào Ðại Bồ Tát ở
nơi thân theo thân quan sát tu tập niệm trụ ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Bồ Tát ở nơi thân trụ theo thân mà niệm, quan
sát thân nầy từ tiền tế có tội lỗi. Bồ Tát nghĩ
rằng : Thân nầy do nghiệp điên đảo phát khởi từ nhơn
duyên mà sanh không có chủ tế không chỗ nhiếp thọ. Như
những cây cỏ kia từ nhơn duyên sanh không có chủ tế không
chỗ nhiếp thọ. Thân thể nầy lại như nhà cửa dựng lên
do cây gổ tường vách các duyên chung họp mà thành. Thân thể
nầy cũng vậy, chỉ do uẩn xứ giới chung họp nhiếp trì
mà bổn tánh nó vốn không ngã không ngã sở, không thường
không hằng không ở bền, chẳng phải là pháp chẳng biến
đổi. Nay tôi chẳng nên ở nơi thân thể nầy mà vọng chấp.
Nay tôi nên đem thân chẳng bền nầy đổi lấy thân bền chắc.
Thân Như Lai là thân bền chắc vậy.
Tôi quan
sát thân thể nầy rất là hư ngụy cần phải tạo nên thân
Như Lai . Vì thân Như Lai là thân pháp giới, là thân kim cương
, là thân chẳng bị hoại, là thân kiên cố, là thân tối
thắng siêu tam giới. Thân thể tôi đây có vô lượng tội
lỗi làm tạp nhiễm. Tôi phải cầu chứng thân Như Lai rời
lìa tội lỗi tạp nhiễm.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy dùng các năng lực giác huệ
quan sát thân thể do tứ đại nhiếp trì, là hang ổ của các
phiến não, vì thế nên nay tôi nên đem thân nầy cung cấp
hầu hạ các chúng sanh. Tại sao? Ví như bốn đại chủng ngoài
là địa thủy hỏa và phong vô lượng phương cách tư tài
vật dụng sai biệt làm lợi ích dưỡng dục tất cả chúng
sanh. Nay tôi cũng đem thân do tứ đại hiệp thành nầy dùng
nhiều phương tiện cảnh giới của cải cho chúng sanh thọ
dụng.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Do y Bát Nhã Ba la mật quan sát thân thể nầy có
đại nghĩa dụng như vậy, nên đại Bồ Tát dầu quan sát
thân này thể tánh nó là khổ mà chẳng chán sợ thân khổ
ấy, dầu quan sát thân nầy tánh nó cứu cánh tận mà chẳng
chán sợ lưu chuyển thọ sanh, dầu quan sát thân nầy tánh
nó vô ngã mà không chán mỏi với sự thành thục chúng sanh,
dầu quan sát thân nầy tánh nó tịch diệt mà chẳng rơi vào
chỗ bỏ rời vĩnh viễn tịch diệt, dầu quán sát thân nầy
là không vô tướng viễn ly, mà chẳng rơi vào biên tế viễn
ly
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát ở nơi thân thể nầy an trụ pháp, quán
nơi thân, quán sát thân ấy không thiệt không bền. Với nội
thân thì an trụ pháp quán theo thân thấy biết ở trong chỗ
chẳng dung thọ các phiền não , với ngoại thân an trụ pháp
quán theo thân thấy biết ở ngoài chẳng cùng chung với phiền
não.
Nầy Xá
Lợi Phất ! đại Bồ Tát ấy thành tựu thân niệm trụ rồi,
thì thân thanh tịnh không có nhiễm ô, đầy đủ tất cả
thân nghiệp thanh tịnh, được thân trang nghiêm với tướng
thanh tịnh. Vì có thân trang nghiêm nên được trời người
quy ngưỡng.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba La mật, nơi thân thể theo
thân quan sát tu tập thân niệm trụ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, thế nào là
đại Bồ Tát ở nơi thọ theo thọ quán sát tu tập thọ niệm
trụ ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát nghĩ rằng bao nhiêu thọ đều
là khổ. Nay tôi có năng lực giác huệ ở nơi thọ ấy nên
khéo quan sát, dùng trí quan sát dùng huệ quan sát, dùng phương
tiện quan sát. Vì có năng lực quan sát thù thắng như vậy
nên đại Bồ Tát ấy dầu thọ sự vui, đương lúc thọ vui
liền đối với chúng sanh ở thiện đạo phát khởi tâm đại
từ, chẳng bị phiền não tham dục làm não; dầu thọ sự
khổ, đương lúc thọ khổ liền đối với chúng sanh ở ác
đạo phát khởi tâm đại bi, chẳng bị phiền não sân khuể
làm não ; dầu thọ sự chẳng khổ chẳng vui, đương lúc thọ
chẳng khổ vui ấy chẳng bị phiền não ngu si làm não.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Do y Bát Nhã Ba la mật có đủ năng lực quan sát
thấy biết như vậy, nên đại Bồ Tát theo thọ mà quan sát
tu tập niệm trụ, đương lúc cảm xúc các thọ : hoặc khổ
hoặc vui hoặc chẳng khổ chẳng vui liền khéo quan sát được
các thọ xuất ly, lại có thể làm cho chúng sanh chứng được
pháp thọ biến trí tịch diệt. Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng
các chúng sanh ấy vì có đủ phiền não nên không có trí huệ
chẳng biết được các thọ xuất ly. Lúc thọ vui họ sanh
tham ái , lúc thọ khổ họ sanh sân khuể, lúc thọ chẳng vui
chẳng khổ họ khởi ngu si. Chúng ta là hàng Bồ Tát có trí
huệ, bao nhiêu lỗi lầm do thọ đều đã dứt diệt, há lại
đương lúc cảm thọ mà sanh phiền não. Nay tôi phải phát
khởi đủ phương tiện thiện xảo và đại bi để nhiếp
các chúng sanh, cho họ dứt diệt các xúc thọ.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Các Bồ Tát ấy do nhơn duyên gì ở nơi các thọ mà
nói chẳng thối đọa ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðó là ở các thọ có trí huệ quan sát hay dẫn
sanh vui mà chẳng dẫn sanh khổ. Trí huệ quan sát thế nào
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Bồ Tát quan sát trong ấy không năng thọ mà chỉ
có thọ, đó là chấp thọ, nhiếp thọ, thủ thọ, hữu đắc
thọ, điên đảo thọ, phân biệt thọ, kiến phiền não thọ,
chỉ có thọ do nhãn tưởng sanh, nhẫn đến thọ do ý tưởng
sanh, thọ do sắc tưởng sanh, nhẫn đến thọ do pháp tưởng
sanh, và các thứ nhãn xúc nhẫn đến ý xúc sanh ra thọ, hoặc
nội pháp hoặc ngoại pháp nhẫn các xúc duyên sanh ra thọ,
hoặc khổ hoặc lạc hoặc chẳng khổ chẳng lạc, các tướng
như vậy thì gọi là thọ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Chư Phật Như Lai phân biệt các thọ có vô
lượng tướng. Có lúc nói một thọ , đó là nhứt tâm liễu
biệt các cảnh. Hoặc nói hai thọ là nội và ngoại. Hoặc
nói ba thọ là quá khứ liễu biệt, vị lai liễu biệt và
hiện tại liễu biệt. Hoặc nói bốn thọ là địa thủy hỏa
và phong liễu biệt sai khác. Hoặc nói năm thọ là tư duy năm
uẩn. Hoặc nói sáu thọ là phân biệt sáu xứ. Hoặc nói bảy
thọ là bảy thức trụ. Hoặc nói tám thọ là tướng tám
tà phương
tiện. Hoặc
nói chín thọ là chín chỗ ở của chúng sanh. Hoặc nói mười
thọ là mười nghiệp đạo lành. Như vậy nhẫn đến vô lượng
tất cả các thọ. Theo cảnh sở duyên, theo chỗ tác ý có
bao nhiêu thì có bấy nhiêu thọ. Nhưng chư Như Lai nói thọ
vô lượng, tại sao, vì chúng sanh vô lượng. Tùy các chúng
sanh đều riêng có vô lượng thọ như vậy.
Ðại Bồ
Tát ở nơi thọ an trụ tùy thọ quán thế nào ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát dùng trí thanh tịnh phương tiện
khéo nhiếp bao nhiêu thọ sanh trụ dị diệt của tất cả
chúng sanh và khéo biết rõ bao nhiêu thọ trí của tất cả
chúng sanh thiện và bất thiện. Nếu tùy quán như vậy thì
gọi là quan sát đủ nơi thọ.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật ở nơi thọ
theo thọ quan sát tu tập thọ niệm trụ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, đại Bồ Tát
ở nơi tâm theo tâm quan sát tu tập tâm niệm trụ thế nào
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát không vọng niệm, phòng thủ giữ
kín rời lìa tán loạn, quan sát nơi tâm sanh diệt tan hư niệm
niệm chẳng dừng , ở trong ở ngoài chẳng trụ chẳng
chuyển. Ðây gọi là đại Bồ Tát chánh quan sát nơi tâm.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng tôi nhớ lúc tối sơ
đã từng phát tâm, các tâm ấy phát sanh rồi liền diệt nó
ly tán biến hoại chẳng biết được nó đến phương nào.
Tôi lại có vô lượng tâm chứa họp thiện căn, nó sanh rời
liền diệt đi tán biến hoại không có phương sở. Tôi lại
có vô lượng tâm tướng hồi hướng Bồ đề mà tâm thể
tướng chẳng tự biết được làm sao tâm ấy nghĩ được
rằng tôi sẽ chứng vô thượng Bồ đề. Tại sao ? Vì tâm
thể ấy chẳng biết được tâm chẳng quán được tâm chẳng
thông đạt được tự tâm vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy lại nghĩ rằng nếu tâm Bồ
đề
do tâm thiện căn mà không mất, thì tâm thiện căn do tâm hồi
hướng mà không mê mất, nếu tâm hồi hướng do Bồ đề
mà không mất thì Vô thượng Bồ đề là không mất vậy.
Quan sát như vậy rồi, ở nơi mê mất, đại Bồ Tát không
e sợ và lại nghĩ rằng : pháp duyên khởi ấy nhơn quả chẳng
hư hoại. Dầu tâm pháp tánh ấy không có tự tánh không có
tác dụng, không có chủ thể, nhưng các pháp ấy y chỉ nhơn
duyên mà được sanh khởi. Tôi phải tùy theo chí nguyện mà
chứa họp thiện căn.
Ðã chứa
họp rồi tu công hạnh tương ưng trọn chẳng bỏ rời tâm
pháp tánh ấy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! tướng chứa họp trong ấy thế nào ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát quan sát tướng chứa họp như vầy
: Bổn tánh tâm ấy như huyển hóa không có một pháp bố thí
được mà tâm pháp tánh ấy hay bố thí cho tất cả chúng
sanh hồi hướng chứa họp trang nghiêm Phật độ, đây gọi
là chứa họp thiện căn.
Tâm bổn
tánh ấy như cảnh mộng tướng nó tịch tĩnh mà tâm pháp
tánh ấy hay gìn giữ thi la đều hồi hướng tác dụng thần
thông, đây gọi là chứa họp thiện căn.
Tâm bổn
tánh ấy như dương diệm cứu cánh tận diệt mà tâm pháp
tánh ấy hay tu tập tất cả năng lực nhẫn nhục đáng ưa
thích hồi hướng trang nghiêm Bồ đề, đây gọi là chứa
họp thiện căn.
Tâm bổn
tánh ấy như trăng trong nước cứu cánh xa rời tướng chứa
họp mà tâm pháp tánh ấy phát khởi tất cả chánh cần hồi
hướng thành thục vô lượng Phật pháp, đây gọi là chứa
họp thiện căn.
Tâm bổn
tánh ấy chẳng thủ đắc được chẳng quan kiến được,
mà tâm pháp tánh ấy hay tu tập tất cả tĩnh lự giải thoát
tam ma địa tam ma bát đề hồi hướng chư Phật thắng tam
ma địa, đây gọi là chứa họp thiện căn .
Quan sát
tâm tánh ấy vốn chẳng phải sắc tướng không kiến không
đối chẳng rõ biết được, mà tâm pháp tánh ấy hay tu tập
tất cả huệ
cú và trí
thuyết sai biệt hồi hướng viên mãn chư Phật trí huệ, đây
gọi là chứa họp thiện căn.
Tâm không
sở duyên không sanh không khởi, mà tâm pháp tánh ấy kiến
lập được vô lượng thiện pháp nhiếp thọ sắc tướng,
đây gọi là chứa họp thiện căn.
Tâm không
sở nhơn cũng không sở sanh, mà tâm pháp tánh ấy hay nhiếp
thọ giác phần pháp nhân, đây gọi là chứa họp thiện căn.
Tâm tánh
xa rời sáu thứ cảnh giới cũng chẳng sanh khởi, mà tâm pháp
tánh hay dẫn phát cảnh giới Bồ đề làm nhơn sanh khởi tâm,
đây gọi là chứa họp thiện căn.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát do y Bát Nhã Ba la mật nên ở nơi tất cả
tâm tùy theo tâm quan sát tu tập tâm niệm trụ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Do y Bát Nhã Ba la mật, nên đại Bồ Tát ở
nơi tất cả tâm trụ theo tâm quan sát, vì cầu chứng được
thắng thần thông nên nhiếp cột tâm mình tu tập thông trí,
được thần thông rồi chỉ dùng một tâm mà khéo biết được
tất cả tâm tướng, đã biết rõ rồi y nơi tâm tự thể
mà tuyên nói các pháp.
Nầy Xá
Lợi Phất ! An trụ tùy tâm quán ấy, đại Bồ Tát dùng sức
đại bi chế ngự tâm mình để thành thục chúng sanh không
hề nhàm mỏi.
Do Bồ Tát
tùy tâm quán nên chẳng bị tâm tận chẳng bị tâm diệt mà
an trụ nơi tâm, chỉ khiến tâm xa rời kiết phược sanh tử
tương tục mà an trụ tâm. Lại đem năng lực chư tâm niệm
trí để an trụ nơi các pháp không sanh không khởi tánh chánh
quyết định không thối đọa vào trong bực Thanh Văn, Ðộc
Giác. Lại dùng năng lực niệm trí ấy giữ tâm tương tục
đến thành mãn tất cả Phật pháp, một sát na tâm tương
ưng diệu huệ giác ngộ Vô thượng Bồ đề. Ðây gọi là
đại Bồ Tát y Bát Nhã Ba la mật ở nơi tất cả tâm theo
tâm quan sát tu tập tâm nìệm trụ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, đại Bồ Tát
ở nơi pháp tùy theo pháp quan sát tu tập pháp niệm trụ thế
nào ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy dùng thánh huệ nhãn nhìn thấy
các pháp nhẫn đến ngồi đạo tràng, chặng giữa không hề
mê mất. Bồ Tát ấy ở nơi tất cả pháp an trụ theo pháp
quan sát chẳng thấy chút pháp nào xa rời không vô tướng
vô nguyện vô trụ vô khởi vô gia hạnh. Lại quan sát nữa
chẳng thấy chút pháp nào xa rời duyên khởi. Ðại Bồ Tát
ấy do an trụ nơi tùy pháp quán ấy nên chẳng quán pháp và
phi pháp. Trong đây lấy gì làm pháp, đó là nghĩa vô nghĩa
gọi là nghĩa của pháp, nghĩa không hữu tình không mạn giả
không nhơn là nghĩacủa pháp. Lại lấy những gì làm nghĩa
phi pháp, đó là ngã kiến hữu tình kiến mạn giả kiến nhơn
kiến là nghĩa của phi pháp, đoạn kiến thường kiến hữu
kiến vô kiến gọi là phi pháp. Tóm lại mà nói, tất cả
các pháp hoặc gọi là pháp, hoặc gọi là phi pháp. Nếu biết
rõ được các pháp đều không vô tướng vô nguyện thì tất
cả pháp đều gọi là pháp. Nếu kế chấp ngã và ngã sở
cùng các kiến phiền não thì tất cả pháp đều gọi là phi
pháp.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát y Bát Nhã Ba la mật an trụ tùy pháp quán
rồi chẳng thấy một pháp nào là chẳng phải Phật pháp là
chẳng phải Phật, là chẳng phải đạo, là chẳng phải giải
thoát, là chẳng phải xuất ly. Ðã biết các pháp đều là
xuất ly rồi, đại Bồ Tát ấy lại được đại bi vô chướng
quan sát bao nhiêu phiền não của các chúng sanh đều do vọng
tưởng mà phát sanh, biết các phiền não thể tánh nó tự
ly. Tại sao ? Vì các phiền não đồng về nơi liễu nghĩa,
không có chút phiền não nào tích được tập được, tùy
quán như vậy thì Bồ đề phiền não tánh là Bồ đề tánh.
Bồ Tát ấy dầu an trụ niệm mà không chỗ an trụ, chẳng
nhớ chẳng quên mà biết rõ được chỗ an trụ của niệm.Tại
sao? Chỗ an trụ niệm tức là pháp giới. Nếu an trụ pháp
giới thì tức là an trụ hữu tình giới. Nếu an trụ hữu
tình giới tức an trụ hư không giới. Do đây nên nói các
pháp cùng hư không bình đẳng.
Nầy Xá
Lợi Phất ! An trụ tùy pháp quán như vậy, đại bồ Tát do
y xu Phật pháp nên tin hiểu các pháp tức là Phật pháp.
Dầu lại phát khởi tận trí như vậy nhưng ở nơi pháp vô
vi tận diệt có thể chẳng tác chứng. Dầu lại phát khởi
trí vô sanh nhưng thương các chúng sanh mà thọ sanh vẫn chẳng
rời bỏ thiệt tế vô sanh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy ở trong các pháp vì an trụ
niệm nên nhiếp thọ được khắp các pháp nhị thừa. Dầu
ở nơi tất cả pháp giả lập an trụ nơi niệm, mà chánh
niệm ấy không tán không thất nhẫn đến tận hậu tế ở
nơi tất cả các pháp tùy theo pháp quan sát tu tập niệm trụ,
có thể đem vô lượng ngôn thuyết sở thuyết những cảnh
bất bình đẳng mà bình đẳng xu nhập tất cả Phật pháp,
hay khiến lòng tất cả chúng sanh vui mừng, hay xô dẹp tất
cả quân ma kiên cố, do đó chứng được tự nhiên đại trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy do tu hành Bát Nhã Ba la mật
nên ở nơi tất cả pháp theo pháp quán sát tu tập niệm trụ.
Ðây gọi
là bốn thứ niệm trụ thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật phải nên
tu tập thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát tứ chánh cần thiện
xảo?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát do tu bát Nhã Ba la mật nên đạo có bốn
thứ. Những gì là bốn ?
Một là
với pháp ác bất thiện chưa sanh, vì chẳng sanh nên sanh dục
lạc dũng mãnh cố gắng phát siêng tinh tấn nhiếp trì nơi
tâm bình đẳng an trụ.
Hai là với
pháp ác bất thiện đã sanh, vì dứt vĩnh viễn nên sanh dục
lạc dũng mãnh cố gắng phát sanh tinh tấn nhiếp trì nơi tâm
bình đẳng an trụ.
Ba là với
pháp thiện chưa sanh, vì sanh khởi nên sanh dục lạc dũng mãnh
cố gắng phát siêng tinh tấn nhiếp trì nơi tâm bình đẳng
an trụ.
Bốn là
với pháp thiện đã sanh , vì khiến còn chẳng quên tu tập
viên mãn nên sanh dục lạc dũng mãnh cố gắng phát siêng tinh
tấn nhiếp trì nơi tâm bình đẳng an trụ.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Bốn thứ đạo ấy cũng gọi là bốn thứ chánh
thắng, cũng gọi là bốn thứ chánh cần tinh tấn vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đạo thắng thứ nhất ?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nói rằng với pháp ác bất thiện chưa sanh vì chẳng
sanh nên sanh dục lạc dũng mãnh cố gắng, đó là nói như
lý tác ý vậy. Còn nói phát siêng tinh tấn, đó là nói chẳng
bỏ như lý tác ý vậy. Còn nói phát siêng tinh tấn, đó là
nói chẳng bỏ như lý tác ý vậy. Còn nói nhiếp trì nơi tâm
bình đẳng an trụ, đó là như lý quan sát vậy. Tại sao ?
Vì do như lý phương tiện nên pháp ác bất thiện chẳng còn
hiện hành.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Những gì gọi là pháp ác bất thiện? Do nghĩa
gì mà pháp ác bất thiện chẳng còn hiện hành.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Pháp ác bất thiện là những pháp bị đối trị
của giới thi la, của định của huệ.
Thế nào
gọi là bị đối trị của giới?
Nói bị
đối trị đó là nói phạm giới và những pháp phát xu hủy
phạm thi la, là những thứ bị đối trị của các khối diệu
giới. Ðây gọi là bị đối trị của giới
Những gì
gọi là bị đối trị của định ? Ðó là vi phạm quỹ tắc
và những pháp dẫn tâm tán lọan, những pháp đối trị của
các khối diệu định. Ðây là bị đối trị của định.
Những gì
gọi là bị đối trị của huệ ? Ðó là hủy phạm chánh
kiến và những pháp hay dẫn những kiến triền chướng cái,
bị đối trị của các khối diệu huệ. Ðây gọi là bị
đối trị của huệ.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Các pháp như vậy đều gọi là pháp ác bất thiện.
Nếu có những như lý tác ý chẳng cho các pháp ác bất thiện
ấy được sanh khởi, thì gọi là pháp ác bất thiện chẳng
còn hiện hành.
Ðây là
đại Bồ Tát chánh thắng thứ nhất.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đạo chánh thắng thứ hai ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu các pháp ác bất thiện chứa họp nơi tâm
không phương không xứ và các pháp ác bất thiện hiện hành,
tâm giác quán y chỉ nơi nhơn duyên sở duyên cảnh mà được
sanh khởi. Thế nào gọi là duyên cảnh sanh khởi ? Ðó là
nhơn tướng tịnh diệu mà khởi tâm tham, nhơn tướng tổn
hoại mà khởi tâm sân, nhơn tướng vô minh mà khởi tâm si.
Bấy giờ Bồ Tát liền an trụ như lý tư duy như vầy : Do
tướng bất tịnh mà tham dục tịch tĩnh, do tướng từ mẫn
nên sanh sân khuể tịch tĩnh, do tướng duyên khởi nên ngu
si tịch tĩnh. Các phiền não ấy dầu do như lý tác ý nên
dứt diệt hẳn nhưng giả lập ngôn thuyết mà gọi là tịch
tĩnh. Còn thiệt tịch tĩnh thì không gì có được khác mà
chỉ là tánh đoạn diệt bình đẳng. Hiện quán các pháp,
tức lấy pháp nầy mà gọi là chánh thắng. Ðây là đại
Bồ Tát chánh thắng thứ hai.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đạo chánh thắng thứ Ba ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Về nghĩa của pháp thiện, văn cú vô lượng ;
Tại sao ? Vì đại Bồ Tát vô lượng pháp thiện đều phải
chứa họp, do đó mà văn cú vô lượng.
Nầy Xá
Lợi Phất ! nên biết tất cả thiện căn của Bồ Tát lấy
lạc dục làm gốc, do tinh tấn mà có thể chứa họp tất
cả thiện căn. Tại sao ? Vì do pháp ấy nhiếp trì an trụ
nên tất cả thiện căn đều được cứu cánh. Ðây gọi là
đại Bồ Tát đạo chánh thắng thứ ba.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đạo chánh thắng thứ tư ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! nghĩa ấy nên biết tức là hồi hướng Vô thượng
Bồ đề. Tại sao ? Vì do hồi hướng nên bao nhiêu thiện căn
đã có chẳng còn hư mất. Tại sao ? Vì đại Bồ Tát chẳng
y tam giới mà phát tâm.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư đại Bồ Tát đã chẳng y tam giới mà
tu tập thiện căn lại còn hồi hướng Nhứt thiết chủng
trí, nên biết bao nhiêu thiện căn đã có thì là cứu cánh
vô tận vậy. Ðây gọi là đại Bồ Tát đạo chánh thắng
thứ tư.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì tu hành Bát Nhã Ba la mật nên
tinh tấn tu tập bốn đạo phần thiện xảo như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào là đại Bồ Tát năm phần đại thiện
xảo?
Những gì
là năm ? Ðó là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn
và huệ căn. Thế nào là đại Bồ Tát tín căn?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát có bốn pháp tín :
Một là
tin ở trong sanh tử như vậy có chánh kiến thế gian, do điều
tin nầy mà đại Bồ Tát nương ở nghiệp báo dầu có đến
phải mất mạng cũng chẳng hề tác ý gây tạo ác nghiệp.
Hai là tin
nơi những Bồ Tát hạnh, do điều tin nầy mà đại Bồ Tát
tu chánh hạnh chẳng hề khởi ý thích chứng nhị thừa.
Ba là tin
thắng nghĩa liễu nghĩa duyên khởi thậm thâm như vậy, tất
cả các pháp không ngã không hữu tình chỉ là giả lập
do ngôn thuyết, chỉ là tướng không vô tướng vô nguyện,
do điều tin nầy mà chấp kiến hữu tình và các phiền não
chẳng còn tăng trưởng.
Bốn là
tin những lực vô úy tất cả Phật pháp , đã tin rồi thì
rời lìa nghi hoặc mà tu tập tất cả Phật pháp dã có.
Những tưởng
như vậy goi là đại Bồ Tát tín căn.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát tinh tấn căn ? Ðó là
những pháp được tín do tinh tấn mà sanh khởi, tức là lấy
phap ấy mà gọi là tinh tấn căn vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát niệm căn ? Ðó là các
pháp do sức tinh tấn chứa họp rồi do sức niệm căn
mà chẳng hư mất tức là lấy pháp nầy mà làm niệm căn
vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát định căn ? Ðó là
các pháp đã do sức niệm căn nên không hư mất , chính
các pháp ấy do sức định căn ở một cảnh duyên, tức là
lấy pháp nầy mà gọi là định căn vậy.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát huệ căn ? Ðó là các pháp
do sức định căn nhiếp ở một duyên, các pháp ấy do sức
huệ căn mà thấy suốt tỏ rõ nên gọi là huệ căn vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát có đủ năm căn tăng thượng ấy
nối luôn không hở tu hành chánh hạnh có thể mau viên mãn
tất cả Phật pháp cũng mau xu nhập nhãn lực thọ ký.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ví như ngoại đạo ngũ thông tiên nhơn kia, nếu
trong thai tạng hai hình nam nữ còn chưa sanh khởi thì tiên
nhơn trọn chẳng ký biệt cho họ.
Cũng vậy,
nếu chư Bồ Tát chưa đủ thành tựu năm căn tăng thượng
nối luôn không hở ấy, thì đức Như Lai trọn chẳng thọ
ký cho họ vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Những tưởng như vậy gọi là đại Bồ Tát năm
phần đạo pháp. Ðại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba
la mật nên có thể tu tập năm phần đạo thiện xảo như
vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát đạo thiện xảo lại còn có
năm phần. Ðó là tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, dịnh
lực và huệ lực.
Thế nào
gọi là đại Bồ Tát tín lực ? Các Bồ Tát ấy thắng giải
thanh tịnh tín thọ quyết định kiên cố khó hư chẳng bị
chế phục. Giả sử có ác ma giả làm tượng Phật đến chỗ
Bồ Tát để làm chướng ngại muốn khiến Bồ Tát ở nơi
chánh trí và thắng giải thoát xa rời chẳng ưa, ma lại nói
pháp ấy chẳng phải Phật chánh giáo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Giả sử tánh tứ đại chuyển biến lẫn nhau
cũng trọn chẳng thể khiến Bồ Tát đã thành tựu tín lực
thắng giải bị ma ảo hoặc mà tín lực bị lay động. Ðây
gọi là đại Bồ Tát tín lực.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát tinh tấn lực ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát phát cần tinh tấn phương tiện
tu tập tất cả thiện pháp , nơi đó được sức kiên cố
trụ trì , do sức lực ấy , những sự được làm chưa đến
cứu cánh, không có tất cả chư thiên hay thế gian nào
làm cho dời động được sức trụ trì của Bồ Tát ấy khiến
chẳng ở tại bổn xứ . Ðây gọi là đại Bồ Tát tinh tấn
lực vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát niệm lực ?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Chư đại Bồ Tát ở nơi các pháp ấy do niệm an trụ
nên khiến tâm an trụ không có gì làm dời động tán loạn
được. Do sức niệm gia trì nên đại Bồ Tát ấy có thể
xô dẹp tất cả phiền não mà không có gì chế phụ được
niệm ấy. Ðây gọi là đại Bồ Tát niệm lực.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát dịnh lực ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát an trụ xa rời các chi thiền, dầu
quan sát tất cả âm thanh các đạo ngữ nghiệp và âm thanh
văn tự mà vẫn có thể chẳng chướng sơ thiển. Bồ
Tát ấy dầu đem tất cả thiện pháp như vầy tầm từ suy
cầu vô lượng pháp mà vẫn có thể chẳng chướng đệ nhị
thiền. Bồ Tát ấy dầu an trụ nơi hoan hỉ được sanh mà
vẫn có thể chẳng chướng đệ tam thiền. Bồ Tát ấy dầu
vì thành thục tất cả chúng sanh mà nhiếp thọ chánh pháp
chẳng trụ nơi xả mà vẫn có thể chẳng chướng đệ tứ
thiền. Bồ Tát an trụ bốn thứ tĩnh lự ấy, tất cả pháp
bị đối trị của tĩnh lự chẳng thể chế phục được.
Bồ Tát ấy dầu an trụ chánh định chẳng bỏ mà chẳng theo
định lực ấy thọ sanh . Ðây gọi là đại Bồ Tát định
lực.
Lại nầy
Xá Lợi PHất ! Thế nào là đại Bồ Tát huệ lực ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Sức trí huệ ấy kiên cố khó lay động. Tất
cả thế gian và xuất thế chẳng có gì chế phục được
trí lực ấy. Bồ Tát đời đời sanh ra chỗ nào, nhẫn đến
tất cả chánh hạnh công nghiệp thiện xảo thế gian khó làm
khó hiểu , mà Bồ Tát ấy chẳng do thầy dạy đều hiện
tiền biết rõ tất cả.
Lại ở
nơi pháp xuất thế, đó là hay cứu độ các thế gian, đại
Bồ Tát do sức trí huệ đều nhiếp thọ được cả mà chẳng
bị tất cả thế gian trời người chế phục. Ðây gọi là
đại Bồ Tát huệ lực.
Các tướng
như vậy gọi là đại Bồ Tát năm phần đạo thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã ba la mật
nên tinh cần tu tập năm phần đạo thiện xảo như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát còn có bảy thứ giác phần.
Ðó là niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác
phần hỉ giác phần, an giác phần, đẳng trí giác phần
và xả giác phần.
Thế nào
là đại Bồ Tát niệm giác phần ? Ðó là chư Bồ Tát y do
nơi sức chánh niệm mà tùy giác các pháp, quan sát các pháp,
tầm tư các pháp, biết rõ các pháp, giản trạch các pháp,
soi xét các pháp, do sứ chánh niệm, Bồ Tát tùy giác thể
tướng của các pháp.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào gọi là trí liễu đạt tự thể tướng
của tất cả pháp ? Ðó là do dịnh lực của giác sát của
pháp tu thể tướng không. Bồ Tát thông đạt thể tướng
không ấy thì gọi là niệm giác phần.
Thế nào
gọi là trạch pháp giác phần ? Ðó là Bồ Tát có trí giản
trạch tám vạn bốn ngàn pháp tạng, theo các pháp tạng ấy
phải nên giản trạch, như vậy gọi là liễu nghĩa. Liễu
nghĩa ấy do bất liễu nghĩa. Bất liễu nghĩa ấy do thế tục
nghĩa. Thế tục nghĩa ấy do nghĩa thắng nghĩa. Nghĩa thắng
nghĩa do giả thi thiết. Giả thi thiết ấy do thắng quyết
trạch . Thắng quyết trạch ấy gọi là giản trạch. Bồ Tát
thành tựu giản trạch ấy thì gọi là trạch pháp giác phần
vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát tinh tấn giác
phần?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Tức ở nơi niệm trạch tấn hỉ an định xả trí
ấy, đại Bồ Tát nhiếp thọ ưa vui thế lực dũng mãnh, lạc
dục không lui giảm tinh tấn cố gắng chẳng bỏ pháp lành
, vì đạo hiện quán mà phát khởi chánh cần. Bồ Tát thành
tựu pháp quán chánh cần như vậy thì gọi là tinh tấn
giác phần.Lại nầy Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại
Bồ Tát hỉ giác phần ?
Do vì Bồ
Tát ở nơi pháp sanh hỉ bèn vui thích nơi pháp. Do vui thích
nơi pháp nên tâm chẳng trầm lặng do tâm chẳng trầm lặng
nên phát sanh thanh tịnh hỉ. Do hỉ thanh tịnh nên thân tâm
an ổn rời lìa phiền não. Ðây gọi là hỉ giác phần.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát an giác phần ?
Bồ Tát
do thân an nên được tâm an. Do tâm an nên dứt các phiền não
rời xa tất cả chướng cái. Nơi cảnh sở duyên tâm ấy liền
an trụ mà nhập các chánh định . Bồ Tát thành tựu pháp
ấy thì gọi là an giác phần.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát tam ma địa
giác phần?
Bồ Tát dùng
định tâm ấy giác trú nơi pháp mà chẳng phải là tâm bất
định . Tại sao ? Vì nếu tâm được định mà giác trí các
pháp thì chẳng hề phát khởi các tà giác triền chướng ái
kiến v.v... chi trừ ở nơi thiệt tánh bình đẳng của pháp,
tâm định xu nhập giác tri tánh bình đẳng của tất cả pháp.
Bồ Tát thành tựu noi đây thì gọi là định giác phần.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát xả giác phần
?
Bồ Tát
hay thuận nơi pháp hỉ duyệt tâm không chấp trước , nên
các pháp thế tục tâm chẳng nhiếp thọ, chẳng cao chẳng
hạ an trụ bất động, không mừng không chán không yêu không
giận, chỉ hay tùy thuận tu tập thánh đạo. Ðây gọi là
Bồ Tát xả giác phần.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát muốn ở nơi bảng giác phần ấy
thông đạt thiện xảo , thì thích tu hành Bát Nhã Ba la mật
chuyên cần tu tập giác phần thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát có tám thánh đạo phần. Ðó
là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh tam ma địa.
Thế nào
gọi là Bồ Tát chánh kiến ? Dó là xuất thế kiến của chư
Hiền Thánh ? Kiến ấy chẳng phải ngã kiến khởi, chẳng
phải hữu tình kiến khởi, chẳng phải mạng giả kiến khởi,
chẳng phải chơn kiến khởi, chẳng phải đoạn kiến khởi
, chẳng phải thường kiến khởi, chẳng phải hữu kiến khởi,
chẳng phải vô kiến khởi, chẳng phải thiện kiến khởi,
chẳng phải bất thiện kiến khởi, nhẫn đến chẳng phải
Niết bàn kiến khởi.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu Bồ Tát rời lìa những kiến ấy thì
gọi là Bồ Tát chánh kiến.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là Bồ Tát chánh tư duy ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu là tư duy hay phát khởi tất cả phiền não
tham sân si v.v...Bồ Tát chẳng hề phát khởi. Nếu là tư duy
hay sanh trưởng những khối công đức giới định , huệ,
giải thoát, giải thoát tri kiến v.v...Bồ Tát hằng thường
phát khởi ? Ðây gọi là đại Bồ Tát chánh tư duy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là Bồ Tát chánh ngữ ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ngữ ngôn của Bồ Tát chẳng tự tổn não chẳng
tổn não tha, chẳng
tranh cãi
với chúng sanh. Do thành tựu ngữ ngôn ấy mà Bồ Tát hay nhập
chứng thánh đạo nên gọi là Bồ Tát chánh ngữ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát chánh nghiệp ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát chẳng hề tạo tác những hắc nghiệp
hay cảm hắc báo. Nếu là những nghiệp hay cảm báo bạch
tịnh , nếu là nghiệp hay dứt hết tất cả nghiệp , Bồ
Tát phương tiện phát khởi và lấy những nghiệp ấy làm
sự nghiệp của mình. Nương nghiệp ấy, Bồ Tát
phương tiện tu nghiệp bình đẳng. Ðây gọi là Bồ Tát chánh
nghiệp.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát chánh mạng
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát bao nhiêu thánh chúng đã có , công
đức đầu đà, chẳng siễm cầu chẳng lừa dối, với sự
khất cầu tánh không quan thiết, dễ đủ dễ nuôi, với luật
nghi thì kính thờ tu hành chẳng lười biếng, với lợi dưỡng
của người thì chẳng ganh ghét, với lợi dưỡng của mình
thì biết vừa đủ, với chỗ Phật khai cho thì chẳng nhiễm
trước lắm mà thường thanh tịnh tự giữ hạnh chánh
mạng. Ðây gọi là Bồ Tát chánh mạng.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát chánh tinh tấn ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu là những tà đạo những phiền não tham sân
si v.v... mà phát khởi tinh tấn thì Bồ Tát chẳng hề
ưa thích . Nếu là những chánh cần nhiếp trong thánh
đế, xu nhập thánh đạo, hay đến Niết bàn, dẫn phát chánh
hạnh thì Bồ Tát ưa thích tu học phát khởi tinh tấn . Ðây
gọi là Bồ Tát chánh tinh tấn .
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát chánh niệm ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Có những niệm rất thiện tánh chẳng hạ liệt
làm cho tâm lành chánh trực không tà khúc, hay quan sát
lỗi hại của sanh tử, hay làm con đường về đại Niết
bàn. Nếu chư Bồ Tát giữ luôn được những niệm ấy khiến
chẳng quên mất thánh đạo thì gọi là Bồ Tát chánh niệm.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát chánh tam ma địa
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tam ma địa là, nếu ở nơi chánh tánh bình đẳng
thì ở nơi tất cả pháp bình đẳng , chư Bồ Tát an trụ
tam ma địa ấy rồi vì muốn giải thoát tất cả chúng sanh
nên
xu nhập chánh
tánh. Chánh định ấy là vô tận đạo mà tam thế chư Phật
tuyên nói khai thị cho chư Bồ Tát chứng hiện quán. Ðây
gọi là đại Bồ Tát chánh định.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðây gọi là đại Bồ Tát tám thánh đạo phần.
Chư đại Bồ Tát nếu muốn tu hành Bát Nhã Ba la mật, thì
nên siêng tu tám thánh đạo phần như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba la mật nên
tu học đạo thiện xảo. Ðạo thiện xảo ấy còn có hai thứ
: đó là xa ma tha và tỳ bát xá na.
Thế nào
gọi là xa ma tha đạo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát tâm an tĩnh, rất tột tịch tĩnh,
tối thắng tịch tĩnh, không tán loạn, các căn điềm đạm,
chẳng điệu cử, không tháo nhiễu, không hôn trầm , an tĩnh
giũ kín không siễm khúc, điều thuận siêng giỏi, ưa thường
ở một mình rời lìa huyên náo thích hạnh viễn ly, thân không
nhiễm trần, tâm không mê loạn, nơi môn tịch tĩnh tư duy
tác ý rời các dục không hy vọng, xa các đại dục, vui thích
trí túc, chánh mạng thanh tịnh , chánh hạnh viên mãn, giữ
kín oai nghi biết thời biết phần dễ nuôi dễ đủ, khéo
biết chừng
lượng thường
ưa tư duy quan sát không cao không hạ, tánh hay nhịn chịu được
lời thô tiếng xấu, nơi môn tương ưng thì phát tâm an trụ,
ưa ở nhà rảnh vắng, nơi phần tĩnh lự thì tác ý duyên
niệm, sanh khởi đại từ dẫn phát đại bi, an trụ đại
hỉ, tu tập đại xả, từ sơ thiền đến bát định thủ
đệ chứng nhập. Ðây gọi là Bồ Tát xa ma tha đạo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Lại còn có vô lượng xa ma tha chánh hạnh. Chư
Bồ Tát ở nơi những tư lương chánh hạnh ấy phương tiện
xu nhập , như vậy lại gọi là Bồ Tát xa ma tha đạo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là tỳ bát xá na đạo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư Bồ Tát ở nơi diệu huệ phần mà tu tập
thánh đạo. Trong các pháp, Bồ Tát phát khởi vô tác quán
trí, lại phát khởi vô ngã quán trí, vô hữu tình quán trí,
vô mạng giả quán trí, vô nhơn quán trí . Trong các uẩn, phát
khởi pháp quán trí , trong các giới phát khởi pháp giới quán
trí , trong các xứ phát khởi không quán trí, trong các nhãn
phát khởi chiếu liễu quán trí, trong duyên khởi phát khởi
bất tương vi quán trí, nơi các chấp kiến phát khởi viễn
ly quán trí, nơi các nhơn quả phát khởi nghiệp báo quán trí,
nơi quả đáng được phát khởi tác chứng quán trí, nơi chánh
tánh được nhập phát khởi xu nhập quán trí.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Tỳ bát xá na là ở trong các pháp phát khởi như lý
kiến, chơn thiệt kiến, bất biến dị kiến, không kiến,
vô tướng kiến, vô nguyện kiến.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tỳ bát xá na là chẳng phải do nhơn có mà quán,
chẳng phải do nhơn mà quán, chẳng phải do sanh trụ diệt
mà quán, chẳng do nhơn hữu sở đắc mà quán.Tại sao ? Vì
đại Bồ Tát ở nơi các nhơn ấy đều không chỗ thấy, mà
lại quan sát chẳng thấy mà thấy, thấy mà chẳng thấy.
Nầy Xá
Lơi Phất ! Nếu chư đại Bồ Tát khởi quán như vậy thì
gọi là như thiệt quán, là chơn thiệt quán,, cũng gọi là
chứng được tỳ bát xá na thiện xảo phương tiện.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ở trong quán nầy dầu phát khởi
quán giải như vậy mà chẳng sa vào chỗ không làm, cũng chẳng
xa rời thiện căn gia hạnh. Ðây gọi là đại Bồ Tát tỳ
bát xá na.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát nhã Ba la mật
nên tinh cần tu tập xa ma tha, tỳ bát xá na đạo pháp thiện
xảo.
Lại nầy
Xá Lợi ! Ðạo tràng của đại Bồ Tát tu hành như vậy, nếu
nói lược thì chỉ có một xu đạo thiện xảo. Ðó là đại
Bồ Tát riêng lộ giữa đại chúng không ai bằng chẳng nhờ
bạn giúp vì chứng Vô thượng Bồ đề nên do mình tiếp thọ
thế lực tinh tấn dục giải thanh tịnh mà mặc áo giáp kiên
cố. Tại sao ? Vì đại Bồ Tát chẳng do người mà giác ngộ,
chẳng duyên nơi người, tự mình xây dựng tự lực phát khởi
quan niệm rằng áo giáp ấy tất cả chúng sanh chẳng
ai mặc được, chỉ riêng tôi mặc, áo giáp ấy tất cả Hiền
Thánh hàng tấn phát ý và chư Bồ Tát chưa an trụ chánh vị
chưa từng được mặc, nay riêng tôi mặc. Bồ Tát lại nghĩ
rằng nay tôi trang bị thế nầy há lại để bố thí tự tại
độ tôi, mà tôi phải tự tại độ bố thí ấy, há lại
để những trì giới nhẫn nhục tấn định Bát Nhã tự tại
độ tôi, mà tôi phải tự tại độ trì giới nhẫn tấn định
Bát Nhã ấy. Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng nay tôi lại để
Ba la mật phát khởi tôi, mà tôi phải phát khởi Ba la mật,
nhẫn đến tất cả thiện căn đều sẽ nhơn nơi tôi mà được
phát khởi, chẳng để thiện căn phát khởi tôi. Nếu chư
đại Bồ Tát ở nơi pháp ấy chẳng nhờ bạn giúp tự
có thể xây dựng tôi là độc nhứt không ai bằng, tôi sẽ
ngồi tòa kim cương kiên cố thù thắng dùng thế lực mình
xô dẹp quân ma, dùng một sát na tương ưng huệ chứng Vô
thượng Bồ đề
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu đại Bồ Tát phát khởi dục giải phương
tiện quyết định quan sát như vậy thì gọi là đại Bồ
Tát phát một đạo thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì muốn tu hạnh Bát Nhã Ba la mật
nên tu tập phát xu một đạo thiện xảo như vậy.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Chư Bồ Tát y Bát Nhã Ba la mật tu tập duyên khởi
, ở tịnh thất kín suy nghĩ như vậy : khối thuần khổ lớn
của thế gian như vậy, từ chỗ nào mà nó được tập họp
phát khởi ? Liền tự biết khối khổ ấy do tác ý bất như
lý tập khởi nên vô minh do vô minh tập khởi nên hành
tập khởi , do các hành tập khởi nên các thức tập khởi,
do thức tập khởi nên danh sắc tập khởi, do danh sắc tập
khởi nên luc xứ tập khởi , do lục xứ tập khởi nên các
xúc tập khởi, do xúc tập khởi nên các thọ tập khởi, do
thọ tập khởi nên các ái tập khởi, do ái tập khởi nên
các thủ tập khởi, do thủ tập khởi nên các hữu tập khởi,
do hữu tập khởi nên sanh tập khởi, do sanh tập khởi nên
lão tử ưu sầu bi khổ bức não đều tập khởi.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng dầu các pháp ấy
tập khởi như vậy nhưng là vô tác vô dụng không có chủ
tể. Các pháp ấy thập thiện làm nhơn, bất động làm nhơn,
Niết bàn làm nhơn, các pháp ấy do duyên sanh khởi cũng không
có chủ tể. Nếu là các chúng sanh , hạ căn làm nhơn , trung
căn làm nhơn , thượng căn làm nhơn , các nghiệp làm nhơn,
nhơn quả lưu
chuyển cũng
làm chủ tể.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tất cả bao nhiêu pháp như vậy do nhơn duyên hòa
hiệp mà được tập khởi, đại Bồ Tát đều biết rõ cả.
Ðây gọi là duyên khởi thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng do gì diệt mà các
pháp nầy dứt diệt ? Liền tự biết rằng do bất như lý
tác ý diệt nên vô minh diệt, do vô minh diệt nên các hành
diệt , do các hành diệt nên các thức diệt, nhẫn đến do
sanh diệt nên lão tử ưu bi khối thuần khổ lớn diệt. Có
trí biết như đây gọi là duyên khởi thiện xảo.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng nhơn y nơi chánh pháp
y chỉ các duyên y chỉ hòa hiệp mà được tu các thiện pháp.
Thiện pháp ấy đã y chỉ hòa hiệp y chỉ các duyên thì nó
chẳng y nơi ngã nó chẳng y chỉ nơi hữu tình nơi thọ mạng
nơi nhơn, như vậy thì các pháp lành ấy chẳng cân lường
được. Như lý quán sát như vậy thì gọi là duyên khởi thiện
xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lại quan sát tất cả Phật pháp
đều là tướng Bồ đề, là tướng do duyên phát khởi , quan
sát các duyên khởi, đều là tướng tận diệt. Do vì hay quan
sát chẳng bỏ chúng sanh nên chẳng xu nhập vào cứu cánh
tịch diệt. Ðây cũng gọi là duyên khởi thiện xảo vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư đại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba la
mật nên tu tập duyên khởi thiện xảo như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát nhứt thiết pháp
thiện xảo ?
Này Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba la mật nên ở nơi
tất cả pháp nhiếp khắp tất cả hữu vi và vô vi. Ðại
Bồ Tát nên tu thiện xảo nơi tất cả pháp ấy.
Này Xá Lợi
Phất ! Thế nào là Bồ tát hữu vi thiện xảo? Ðó là thân
hành diệu thiện, ngữ hành diệu thiện, ý hành diệu thiện,
đây gọi là hữu vi thiện xảo.
Thế nào
là vô vi thiện xảo? Tức là đem thân ngữ ý hành thiện xảo
ấy hồi hướng cứu cánh vô vi Bồ đề, hồi hướng diệu
quán vô vi Bồ đề , lại hồi hướng nhất thiết chủng trí.
Ðây gọi là vô vi thiện xảo.
Lại này
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ tát hữu vi thiện xảo tức là tích
tập năm Ba la mật: Bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tấn
và tĩnh tự Ba la mật. Nếu do trí vô vi Bát Nhã Ba la
mật thì năm ba la mật ấy chẳng đè phá được diệu trí
này, lại còn có thể tích tập được các ba la mật thì các
ba la mật tư lương thiện pháp, tín giải vô lậu Vô thượng
Bồ đề và hồi hướng Nhứt thiết chủng trí. Ðây gọi
là vô vi thiện xảo.
Lại này
Xá Lợi Phất : Ðại Bồ Tát hữu vi thiện xảo là dùng ánh
sáng vô ngại chiếu các chúng sanh, dùng tứ nhiếp pháp nhiếp
các chúng sanh, đây gọi là hữu vi. Nếu quan sát các pháp
vô ngã vô hữu tình vô thủ vô chấp, ở nơi tứ nhiếp pháp
phương tiện thiện xảo mến thích tin nhận những trí quán
vô vi và hồi hướng Nhứt thiết chủng trí. Ðây gọi là
vô vi thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát hữu vi thiện xảo là chẳng đoạn
dứt kiết tục hay khiến sanh tử tương tục mà lại dứt
đoạn hẳn phiền não hay khiến sanh tử tương tục. Nhiệm
vận chấp trì tướng phược Bồ đề kiết phược, một phần
kiết phược chẳng còn hiện hành. Ðây gọi là hữu vi thiện
xảo. Nếu lại tu tập các pháp chánh trí như không, vô tướng,
vô nguyện, vô tác, vô khởi, hiện quán thiện xảo Vô thượng
Bồ đề chẳng do tha duyên mà tự tác chứng nơi pháp
vô vi. Ðây gọi là vô vi thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát hữu vi thiện xảo là chư đại
Bồ Tát đi trong tam giới mà chẳng bị tam giới ô nhiểm.
Còn đại Bồ Tát dầu có thông đạt tất cả pháp xuất ly
tam giới mà chẳng trụy đọa trong xuất ly giới, thì gọi
là vô vi thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất! Ðại Bồ Tát nhứt thiết pháp thiện xảo thì
gọi là Nhứt thiết chủng
trí. Nếu
đại Bồ Tát viên mãn chứng nhập Nhứt thiết chủng trí
thì tất cả thời gian trí huệ thiện xảo, đây gọi là nhứt
thiết pháp thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất! Ðại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba la mật
nên tu tập nhứt thiết pháp thiện xảo như vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất! Ðại Bồ Tát y nơi Bồ Tát tạng vì muốn tu hành
Bát Nhã Ba la mật nên y theo huệ phân biệt thiện xảo thong
đạt tu tập mười thứ thiện xảo như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là đại Bồ Tát diệu huệ? Thế
nào là nghĩa Ba la mật !
Nầy Xá
Lợi Phất ! Huệ hay hiểu rõ tất cả pháp lành là hiện kiến
huệ vì tùy thuận thông đạt tất cả pháp. Là chơn lượng
huệ vì như thiệt thông đạt tất cả pháp. Là thông đạt
huệ vì tất cả chỗ thấy đến các pháp phiền trược chẳng
làm chướng ngại. Là ly nguyện huệ vì xa rời tất cả nguyện
dục cầu. Là an duyệt huệ , vì dứt hẳn tất cả các nhiệt
não. Là hoan hỉ huệ vì duyên pháp hỉ lạc không đoạn tuyệt.
Là y xu huệ vì ở nơi các nghĩa trí đều hiện thấy. Là
kiến lập huệ vì kiến lập tất cả pháp giác phẩm. Là
chứng tướng huệ vì tùy theo thừa được tu mà chứng được
đạo quả. Là liễu tướng huệ vì khéo chìếu rõ được
trí tánh ấy. Là tế độ huệ vì cứu độ tất cả các bạo
lưu. Là xu nhập huệ vì hay xu nhập pháp chánh tánh vô sanh.
Là sách lệ huệ vì chấn phát tất cả các pháp lành . Là
thanh trừng huệ vì rời xa lìa phiền não trược. Là tối
thắng huệ vì trèo lên đảnh tất cả pháp. Là vi diệu huệ
vì dùng trí tự nhiên tùy giác các pháp. Là ly hành huệ vì
không còn tạp nhiễm pháp tam giới. Là nhiếp thọ huệ vì
là của hiền thánh nhiếp thọ. Là đoạn nguyện huệ vì trừ
khiến tất cả tướng phân biệt. Là xả dật huệ vì xa rời
tất cả ngu si hắc ám. Là phương tiện huệ vì an trụ chỗ
thành tựu của tất cả du già sư địa. Là phát xu huệ vì
sẽ an trụ nhứt thiết chánh trí đạo. Là chiếu minh huệ
vì trừ diệt tất cả màn lòa tối vô minh bạo lưu. Là thí
nhãn huệ vì khai đạo tất cả như mặt sáng. Là vô lậu
huệ vì huệ nhãn siêu quá đường tà tịch. Là thắng nghĩa
huệ vì chiếu rõ đại thánh đế ấy. Là vô biệt huệ vì
khéo điều thuận. Là quang minh huệ vì là cửa của các trí.
Là vô tận huệ vì khắp tất cả chỗ tùy hành chiếu soi.
Là vô diệt huệ vì thường thấy rộng. Là giải thoát đạo
huệ vì dứt hẳn tất cả chấp thủ. Là bất ly xứ huệ
vì chẳng đồng ở với tất cả phiền não chướng pháp.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Huệ tướng ấy nay Phật lược nói, nên biết đại
Bồ Tát còn có vô lượng vô biên huệ. Tại sao ? Như bao nhiêu
tâm hành mà tất cả chúng sanh có, thì nên biết đại Bồ
Tát cũng có bấy nhiêu huệ nghiệp trí hành. Như tất cả
chúng sanh có bao nhiêu dục giải, nên biết đại Bồ Tát cũng
có bấy nhiêu trí huệ quan sát. Như tất cả chúng
sanh có bao nhiêu phiền não, nên biết đại Bồ Tát cũng có
bấy nhiêu quảng đại huệ. Như tất cả Thanh Văn, Ðộc Giác
và Ðẳng Giác có bao nhiêu biến trí, nên biết đại Bồ Tát
cũng có bấy nhiêu chỗ huệ sở hành.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tất cả huệ xứ như vậy, chư đại Bồ Tát
ở trong ấy đều tinh cần tu học. Ðây gọi là đại Bồ
Tát diệu huệ vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là nghĩa Ba la mật.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nhẫn đến tất cả chỗ biết các pháp diệu
thiện được đến bờ kia, nên biết đều là nghĩa Ba la mật
;
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tất cả huệ cú đã rộng nói ở trên, nên biết
đều là nghĩa Ba la mật.
Chư đại
Bồ Tát tu hành nghĩa sai biệt viên mãn, nên biết đều là
nghĩa Ba la mật.
Nghĩa Nhứt
thiết chủng trí viên mãn, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa không
chấp trước tất cả pháp hữu vi vô vi, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa khéo
giác ngộ được tội lỗi lớn của vô lượng sanh tử, là
nghĩa Ba la mật.
Nghĩa hay
khai ngộ bất giác nơi tất cả pháp, là nghĩa Ba la mật.
Hay khai thị
pháp bữu tạng nghĩa vô cùng tận, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa vô
chướng giải thoát viên mãn, là nghĩa Ba la mật.
Giác ngộ
nghĩa bình đẳng của thí giới nhẫn tấn định huệ, là
nghĩa Ba la mật.
Nghĩa tối
thắng quyết trạch thiện xảo, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa đi
khắp chúng sanh giới, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa vô
sanh pháp nhẫn viên mãn, là nghĩa Ba la mật .
Nghĩa bất
thối chuyễn địa cứu cánh viên mãn, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa thanh
tịnh tu trị chư Phật độ, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa thành
thục tất cả chúng sanh, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa qua
đến đạo tràng lên ngồi tòa Bồ đề, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa cứu
cánh xô dẹp tất cả quân ma, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa tất
cả Phật pháp đều viên mãn, là nghĩa Ba la mật.
Nghĩa chánh
an trụ pháp môn sai biệt Bồ Tát tạng, là nghĩa Ba la mật.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng chánh tu
giác ngộ rồi, đức Phật nói đó đều được cứu cánh
nơi tất cả Ba la mật.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn an trụ
Ðại thừa phải nên thỉnh cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát
tạng rồi thọ trì đọc tụng thông đạt nghĩa lý giảng
dạy mọi người. Tại sao? Vì nếu có ai ở nơi kinh Bồ Tát
tạng mà ân trọng lắng nghe thọ trì đọc tụng thông
đạt nghĩa lý giảng dạy mọi người, thì người ấy
quyết định được mười thứ công đức xưng tán lợi ích.
Những gì là mười ?
Một là
những chỗ được sanh đều cứu cánh thông đạt tất cả
công xảo nghiệp vi diệu.
Hai là sanh
tại xứ nào đều ở dòng tộc cao vinh vọng đương đời.
Ba là sanh
tại xứ nào đều có oai nghiêm lớn thế lực tự tại.
Bốn là
có lời nói ra mọi người đều tin phục nghe theo.
Năm là sanh
tại xứ nào đều được giàu sang lớn.
Sáu là sanh
tại xứ nào đều được trời người thường kính mến.
Bảy là
sanh trong người thì làm Chuyễn Luân Vương được đại tự
tại.
Tám là sanh
cõi trời thường làm Thiên Ðế Thích.
Chín là
nếu sanh cõi sắc thì làm Ðại Phạm Vương.
Mười là
sanh làm chỗ nào thường chẳng xa rời tâm Bồ đề.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thiện nam tử thiện nữ nhơn ấy lại còn
được mười thứ công đức xưng tán lợi ích. Những gì
là mười ?
Một là chẳng tạp loạn với tà luận ngoại đạo luận.
Hai là chẳng phát khởi ngã kiến.
Ba là không có hữu tình kiến.
Bốn là không có mạng giả kiến.
Năm là không có sát thủ thú kiến.
Sáu là không phát khởi đoạn kiến.
Bảy là không phát khởi thường kiến.
Tám là lòng không có cập tất cả sự đời.
Chín là hằng phát tâm thù thắng thích muốn xuất gia.
Mười là nếu nghe kinh điển thi mau thọ trì ngộ hiểu thâm
nghĩa.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Người thọ trì nhẫn đến giảng dạy
kinh Bồ Tát tạng nầy còn được mười thứ công đức xưng
tán lợi ích. Những gì là mười ?
Một là thành tựu chánh niệm.
Hai là thành tựu chánh giác.
Ba là thành tựu chánh xu.
Bốn là thành tựu chí dũng.
Năm là thành tựu chánh huệ.
Sáu là được đủ không chướng nạn.
Bảy là nhớ sự việc các đời trước.
Tám là tánh
mỏng tham dục không tham mạnh nhiều chẳng bị tham nặng nhiễu
loạn khổ não.
Chín là
tánh mỏng tham sân không sân mạnh nhiều chẳng bị sân nặng
nhiễu loạn khổ não.
Mười là
tánh mỏng ngu si không si mạnh nhiều chẳng bị ngu si nặng
nhiễu loạn khổ não.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Các người ấy còn được mười công đức
lợi ích. Những gì là mười ?
Một là
thành tựu cơ tốc huệ.
Hai là thành
tựu thiệp biện huệ.
Ba là thành
tựu mãnh lợi huệ.
Bốn là
thành tựu tấn tật huệ.
Năm là thành
tựu quảng bác huệ.
Sáu là thành
tựu thậm thâm huệ.
Bảy là
thành tựu thông đạt huệ.
Tám là thành
tựu vô trước huệ.
Chín là
thường hiện tiền thấy chư Như Lai và dùng lời đẹp ca
ngợi Phật.
Mười là
khéo như lý thỉnh hỏi Phật, lại hay như lý khai thích nghi
vấn.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Các người ấy lại còn được mười công
đức. Những gì là mười ?
Một là
thường muốn xa rời các bất thiện hữu.
Hai là thường
thích thân cận với các thiện trí thức.
Ba là hay
tháo các thứ trói buộc của ma.
Bốn là
hay dẹp trừ các quân trận của ma.
Năm là hay
khéo quở chán tất cả phiền nảo.
Sáu là với
tất cả hành lòng luôn rời bỏ.
Bảy là
vì bội tất cả con đường hướng đến ác đạo.
Tám là hướng
về tất cả đường đến Niết bàn.
Chín là
khéo nói tất cả hạnh bố thí thanh tịnh vượt qua sanh tử.
Mười là
hay khéo theo học tất cả quỹ tắc của Bồ Tát làm , lại
hay phụng hành lời chư Phật dạy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn ở nơi pháp
môn vi diệu đại Bồ Tát tạng nầy mà có thể ân trọng
lắng nghe thọ trì đọc tụng nghiên tầm nghĩa lý thông đạt
rõ ràng lại giảng dạy mọi người, nên biết những người
ấy được những công đức xưng tán lợi ích như trên
».
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
« Người
thông sáng có huệ vô biên
Hay khéo
thông đạt pháp và nghĩa
Văn từ
tôn thắng khéo tròn đủ
Do thọ trì
được kinh vương nầy
Thường
được giàu nhiều tạng pháp bửu
Hằng vui
đẹp dạ làm pháp thí
Phát sanh
sự vui tối thượng thắng
Do thọ trì
được kinh vương nầy
Nhiều chúng
sanh nghe thuyết pháp ấy
Chứng công
đức thắng rộng lớn nầy
Phật sẽ
tuyên bày công đức ấy
Như người
trì kinh đã được có
Người được
huệ tối thắng như đây
Ở nơi chánh
pháp không hề hư
Do niệm
phát sanh trí vi diệu
Nói chỗ
nương của vô thượng trí
Siêng cầu
khéo nói câu chánh pháp
Chỗ được
ngợi khen của chúng thánh
Thường nghe
phát khởi hạnh siêu thắng
Do trì đọc
giảng kinh vương nầy
Người trí
nghe rồi trì thâm nghĩa
Ở nơi văn
cú không vọng chấp
Thường
theo nghĩa lý để quán chiếu
Tăng trưởng
diệu trí vô biên nghĩa
Vô biên
diệu trá vô biên nghĩa
Nghĩa giải
đệ nhứt khó nghĩ bàn
Ði khắp
mười phương rộng khen ngợi
Nghe kinh
được lợi không cùng tận
Rất khéo
làm mỏng tham sân si
Mau được
đệ nhứt tâm thanh tịnh
Do nghe kinh
Bồ Tát tạng nầy
Công đức
thắng lợi vô biên tế
Dầu được
thắng tài không phóng dật
So lý với
của gì kiên cố
Biết thấu
của đời chẳng bền thiệt
Không luyến
của đời đi xuất gia
Ra đến
chỗ vắng ở núi rừng
Hôn trầm
kia thường xa rời hẳn
Lắng nghe
tịnh pháp không hề nhàm
Chánh giáo
tĩnh lự không lẫn tiếc
Thỉnh hỏi
quyết nghi nơi Ðạo Sư
Nghe rồi
vì người dạy rộng lại
Do đây tăng
trưởng trí vi diệu
Nơi pháp
bạch tịnh không hề mất.
Nầy Xá
Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba la
mật nên ở nơi kinh điển đại Bồ Tát tạng nầy tinh tấn
tu học thật hành Bồ Tát hạnh.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát ở nơi Bát Nhã Ba la mật phương tiện tu
học pháp yếu”.
Pháp
Bồ Tát tạng
Phẩm
Bát Nhã Ba la mật
Thứ
mười một
Hết