Ðức Phật
bảo ngài Xá Lợi Phất : « Thế nào là đại Bồ Tát
Bát Nhã Ba la mật mà Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề
nên y theo đó siêng tu hành Bồ Tát hạnh ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì thật hành Bát Nh ã Ba la mật.
Nên đối với pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng ân cần trịnh
trọng nghe học thọ trì, hoặc đọc hoặc tụng suy gẫm nghĩa
lý, tự mình được thông đạt rồi cũng vì người mà giảng
dạy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu có đại Bồ Tát nghe Phật nói rồi theo đúng
pháp mà phụng hành, đối với pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng
ân cần trịnh trọng nghe học thọ trì đọc tụng nghiên tầm
thông đạt nghĩa lý và giảng dạy cho người, phải biết
người ấy chứng được tướng vô tận huệ như vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Huệ ấy có những tướng gì, thế nào nhập chứng
?
Nầy Xá
LợiPhất ! Nói là huệ ấy lấy nghe làm tướng , Bồ Tát
đúng như lý mà chứng nhập nên gọi là tướng vô tận huệ.
Những tướng ấy Phật sẽ nói rộng.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì cầu chánh pháp nên lấy dục
lạc làm tướng, dục giải làm tướng, phương tiện làm tướng
, thiện hữu làm tướng , không kiêu mạn làm tướng, với
người đa văn cung kính làm tướng, tôn trọng làm tướng,
quanh quẩn làm tướng, khiêm cung làm tướng , gần gũi làm
tướng , nghe kỹ làm tướng , tôn thờ làm tướng, tư duy
làm tướng, chẳng loạn làm tướng, tưởng như trân bửu
làm tướng, tưởng là lương dược làm tướng, tưởng dứt
hết bịnh làm tướng, chánh niệm làm tướng, xu hướng Bồ
đề làm tướng, thích đại huệ làm tướng, chứng nhập
Bồ đề làm tướng, nghe không nhàm đủ làm tướng, xả thêm
lớn làm tướng, điều thuận làm tướng, thân căn người
đa văn làm tướng, với những việc làm mến vui làm tướng,
thân điều thích làm tướng, thân dũng nhuệ làm tướng.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát đối với cúng thính pháp, lắng
nghe không mỏi làm tướng, nghe chánh nghĩa làm , nghe chánh
pháp làm tướng, nghe chánh hạnh làm tướng, nghe chứng trí
làm tướng, nghe Ba la mật làm tướng, nghe pháp Bồ Tát tạng
làm tướng, nghe các nhiếp pháp làm tướng, nghe phương tiện
thiện xảo làm tướng, nghe phạm trụ làm tướng, nghe thần
thông làm tướng, nghe chánh niệm chánh trí làm tướng, nghe
niệm trụ làm tướng, nghe chánh thắng làm tướng, nghe thần
túc làm tướng, nghe duyên khởi làm tướng, nghe vô thường
làm tướng, nghe khổ làm tướng, nghe vô ngã làm tướng, nghe
tịch tĩnh làm tướng, nghe không làm tướng, nghe vô tướng
làm tướng, nghe vô nguyện làm tướng, nghe không gia hạnh
làm tướng, nghe thiện căn gia hạnh làm tướng.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Tự tại làm tướng, nghe pháp làm tướng,
đối trị tạp nhiễm làm tướng, chế phục tất cả phiền
não làm tướng, khen ngợi người trí làm tướng, gần kề
bực thánh làm tướng, rời xa kẻ phi thánh làm tướng, lắng
nghe bực thánh làm tướng, nghe các căn làm tướng, nghe tu
tập tùy niệm làm tướng, nghe giác phần làm tướng,nghe bát
chánh đạo làm tướng, nghe Phật lực, vô sở úy , vô ngại
biện, đại từ đại bi đại hỉ đại xả, mười tám Phật
pháp bất cộng làm tướng.
Nầy Xá
Lợi Phất phải biết đại Bồ Tát nếu ở nơi ấy lắng
nghe thì ở nơi ấy hiểu rõ, nếu ở nơi ấy hiểu rõ thì
ở nơi ấy hành động đúng. Tại sao ? Vì nếu đại Bồ Tát
ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nghe tướng rồi hướng
vào thì có vô lượng phương tiện. Nay Phật lược nói bốn
mươi mốt phương tiện.
Một là
nếu có đại Bồ Tát ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng
ấy mà sanh dục lạc, phải biết tức là lắng nghe, nghe liền
hiểu rõ, đã hiểu rõ thì thật hành chánh hạnh.
Hai là nếu
có Bồ Tát ở nơi pháp môn ấy mà sanh dục giải, phải biết
tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba là nếu
có Bồ Tát ở nơi pháp môn ấy phương tiện xu nhập, phải
biết tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Bốn là
nếu có Bồ Tát gần gũi thiện hữu, tức là lắng nghe hiểu
rõ tu chánh hạnh.
Năm là nếu
có Bồ Tát ở nơi người đa văn, tâm không khinh mạn tức
là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Sáu là nếu
có Bồ Tát cung kính người đa văn, tức là lắng nghe hiểu
rõ tu chánh hạnh.
Bảy là
nếu có Bồ Tát tôn trọng người đa văn, tức là lắng nghe
hiểu rõ tu chánh hạnh.
Tám là nếu
có Bồ Tát quây quần cung phụng người đa văn, tức là lắng
nghe hiểu rõ tu chánh hạnh .
Chín là
nếu có Bồ Tát khiêm hạ đối với người đa văn, tức là
lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười là
nếu có Bồ Tát gần kề người đa văn, tức là lắng nghe
hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười một
là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn mà lắng tai để
nghe, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh
Mười hai
là nếu có Bồ Tát đối với người đa văn mà hầu hạ tiếp
rước, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười ba,
là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn, tư duy nghĩa lý
tâm định chẳng loạn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh
hạnh.
Mười Bốnlà
nếu Bồ Tát ở nơi người đa văn có ý tưởng là trân bửu,
tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười lăm
là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn có ý tưởng là
lương dược, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười Sáu
là nếu Bồ Tát ở nơi người đa văn có ý tưởng dứt diệt
tham sân si, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười bảy
là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn nghe rồi hay thọ
trì, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười tám
là nếu có Bồ Tát xu hướng giác ngộ nơi pháp , tức là
lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Mười chín
là nếu có bồ Tát thích trí huệ của người đa văn, tức
là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh .
Hai mươi
là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn được nghe rồi
giác ngộ, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
mốt lá nếu có Bồ Tát lắng nghe chẳng nhàm đủ, tức là
lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
hai là nếu có Bồ Tát nghe nói Ðàn na thì tăng trưởng xả,
tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
ba là nếu có Bồ Tát nghe nói Thi la thì thủ hộ giới, tức
là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh .
Hai mươi
bốn la nếu có Bồ Tát nghe nói Sằn đề thì hay tu hạnh nhẫn
nhục, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
lăm là nếu có Bồ Tát nghe nói Tỳ lê gia thì phát khởi tinh
tấn không mỏi, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
sáu là nếu có bồ Tát nghe nói Tĩnh lự thì nhập chánh định
tâm chẳng tán, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh
Hai mươi
bảy là nếu có Bồ Tát nghe nói Bát Nhã tâm liền tu trí huệ
dứt phiền não, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
tám là nếu có Bồ Tát ở nơi người đa văn lòng rất vui
mừng, người nầy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Hai mươi
chín là nếu có Bồ Tát được nghe pháp trồi thân thể điều
thích, Bồ Tát ấy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi là
nếu có Bồ Tát được nghe pháp rồi tâm liền dũng nhuệ,
tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
mốt la nếu có Bồ Tát được nghe kinh Ðại thừa tâm sanh
tín nguyện, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
hai là nếu có bồ Tát nghe nhiếp pháp rồi tâm liền xu nhập
, tức lá lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
ba là nếu có Bồ Tát nghe nói niệm trụ liền quán thân thọ
tâm pháp, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh
Ba mươi
bốn là nếu có Bồ Tát nghe nói chánh cần liền dứt bỏ,
với pháp lành sanh trưởng, tức là lắng nghe hiểu rõ
tu chánh hạnh.
Ba mươi
lăm là nếu có Bồ Tát nghe nói thần túc liền phụng hành
sanh thân khinh tánh, dục khinh tánh. Bồ Tát ấy tức là lắng
nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
sáu là nếu co Bồ Tát nghe nói tĩnh lự thì yên tĩnh tư duy
tâm xu nhập, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
bảy là nếu có Bồ Tát nghe hạnh bất khinh trong các pháp
, bèn đối với chúng sanh phát khởi đại từ tâm, với
kẻ thọ khổ phát khởi đại bi tâm, với chánh pháp khởi
đại hỉ tâm , với bất thiện khởi đại xả tâm, tức là
lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Ba mươi
tám là nếu có Bồ Tát nghe nói các căn liền xu nhập các
căn ấy, đó là tín căn, tinh tấn căn , niệm căn, huệ căn
và định căn, Bồ Tát ấy tức là lắng nghe hiễu rõ tu chánh
hạnh.
Ba mươi
chín là nếu có Bồ Tát nghe nói giác phần tâm liền xu nhập
giác ngộ pháp tánh, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Bốn mươi
là nếu có Bồ Tát nghe nói đạo chi tâm liền xu nhập
Niết bàn chánh lộ, tức là là lắng nghe hiểu rõ tu chánh
hạnh.
Bốn mươì
mốt là nếu có Bồ Tát nghe nói Phật lực vô úy, vô ngại
trí, đại từ đại bi đại hỉ đại xả, mười tám pháp
bất cộng và vô lượng Phật pháp, đều xu nhập Vô thượng
Bồ đề, Bồ Tát ấy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Phật đã nói bốn mươi mốt pháp về tướng
dạng xu nhập văn huệ. Chư đại Bồ Tát phải nên học.
Ðây gọi
là bổn tướng đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật văn
huệ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại BồTát tu Bát Nhã Ba la mật thực hành
Bồ Tát hạnh, phải ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng
trịnh trọng lắng nghe thọ trì đọc tụng suy gẫm nghĩa lý
thông đạt chỉ thú lại giảng dạy cho người về chánh hạnh
tư lương ấy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát ở pháp ấy mà khởi
chánh hạnh?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ở pháp ấy mà khởi chánh hạnh
là : đúng như lời nói mà tu hành kiến lập mà an trụ, đây
là khởi chánh hạnh. Nếu có thể chẳng lấy tất cả, đây
là khởi chánh hạnh. Tại sao ? Vì nếu lấy pháp thì gọi
là người tà hạnh chấp lấy pháp không xứ không vị. Không
bao giờ do pháp tà hạnh ấy mà được xuất ly. Tại sao ?
Vì người không lấy pháp hành ở nơi pháp không hành còn
phải sanh nghi, vì không tác dụng. Huống là lấy pháp hành
mà chẳng phải tà hạnh. Vì thế nên phải chẳng lấy các
pháp mà làm chánh hạnh.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu ở nơi các pháp không có chướng ngại
thì gọi là chánh hạnh. Nếu ở nơi các pháp không khinh miệt
thì gọi là chánh hạnh. Nếu ở nơi các pháp chẳng lấy chẳng
bỏ chẳng sanh chẳng diệt thì gọi là chánh hạnh. Nhẩn đến
nếu ở nơi các pháp không hiệp không tan thì gọi là chánh
hạnh.
Lại nầy
Xá Lợi Phất !Như Phật đã nói : Nếu có là đúng phải thì
không có một chút pháp nào có thể thấy được nghe được
cũng không thể nói được, các pháp như vậy chẳng phải
có thể thấy được, chẳng phải có thể nắm lấy được.
Tại sao ? Vì tất cả các pháp đều là một tướng, đó là
vô tướng.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Tất cả các pháp tánh nó vốn vô tướng.
Nếu có Bồ Tát nói nơi vô tướng thì vô tướng trở lại
lẽ ra là nói được. Tại sao ? Vì vô tướng và hữu tướng
đều là vô tướng cả. Chẳng nên nói rằng đây hữu tướng,
đây vô tướng.
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu có Bồ Tát tỏ ngộ được tất cả pháp
tướng như vậy tức là vô tướng chẳng thể thấy được,
chẳng thể nắm lấy được, biết rõ đúng như pháp thì gọi
là chánh hạnh.
Ðại Bồ
Tát siêng tu chánh pháp hạnh ấy rồi ở nơi các pháp sẽ
chứng nhập huệ vô chướng chiếu minh.
Ðây gọi
là tướng dạng chánh hạnh Bát Nhã Ba la mật của đại Bồ
Tát.
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
Người sáng
suốt an trụ chánh hạnh
Với Bồ
Tát tạng khéo quyết định
Nói pháp
người ấy chẳng khởi chấp
Hành tướng
không chấp thủ như vậy
Chứng được
các pháp chẳng là không
Chẳng phải
các pháp bình đẳng không
Chẳng phải
pháp không có sở chấp
Tướng chánh
hạnh không chấp như vậy
Nơi pháp
không thủ cũng không xả
Cũng chẳng
lấy pháp để làm pháp
Không lấy
gọi là các pháp tướng
Chánh hạnh
không lấy tướng như vậy
Nơi các
pháp nếu trí vô ngại
Trí ấy
không gì chẳng đốt cháy
Nơi trí
đốt cháy không nắm lấy
Chánh hạnh
các pháp tướng như vậy
Người trí
an trụ đức viễn ly
Với pháp
phải khởi siêng tinh tấn
Nếu hay
y chỉ quỹ tắc hành
Bấy giờ
sẽ nhập môn thanh tịnh
Môn thanh
tịnh ấy thông các pháp
Cũng biết
dục giải của hữu tình
Người trí
dầu biết không chổ thấy
Mà hay diễn
tuyên pháp như vậy
Nơi pháp
thậm thâm rõ thắng nghĩa
Nơi thắng
nghĩa sâu thường biết rõ
Vọt hiện
vô biên công đức hạnh
Trí sáng
đa văn như đại hải
Nơi các
văn nghĩa được nói kia
Cứu cánh
không ai chứng được đó
Bởi văn
nghĩa kia đều vô biên
Chánh hạnh
chơn thiệt luôn bất động.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Lúc đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật,
với pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng ân cần lắng nghe nhẫn
đến giảng dạy cho người rồi, phải biết đại Bồ Tát
ấy ở nơi tất cả pháp được quang minh lớn hay phá tất
cả hắc ám vô minh và các màn lòa. Quang minh ấy tức là trí
huệ. Tại sao? Vì biết rõ đứng thiệt các pháp thiện bất
thiện vậy. Ðại Bồ Tát tu pháp ấy được minh huệ rồi,
dầu có gặp nạn khổ đến chết cũng không tạo các pháp
bất thiện.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vì muốn đứt hẳn các pháp bất thiện nên đại
Bồ Tát tùy nghe được chánh pháp thì rất khéo thông đạt.
Ðã thông đạt rồi thì nói là mâu ni tịch tĩnh .
Ðây gọi
là tướng chánh hạnh lúc đại Bồ Tát tu Bát Nhã Ba la mật.
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
Như người
vào nhà tối
Che bít tuyệt
ánh sáng
Dầu có
các sắc tượng
Mắt sáng
cũng chẳng thấy
Như vậy
tùy có người
Tâm đủ
các minh giải
Chẳng được
nghe chánh pháp
Sao hiểu
được thiện ác
Ða văn hiểu
rõ pháp
Ða văn chẳng
tạo ác
Ða văn bỏ
vô nghĩa
Ða văn được
Niết bàn
Khéo nghe
thêm lớn văn
Ða văn thêm
lớn huệ
Huệ hay
tu tịnh nghĩa
Ðược nghĩa
thì cảm vui
Thông huệ
được nghĩa rồi
Chứng hiện
pháp Niết bàn
Tương ưng
pháp tịnh giác
Chứng được
vui đệ nhứt
Nghe Bồ
Tát tạng rồi
Khéo an trụ
chánh pháp
Làm quang
minh cho đời
Tu diệu
hạnh Bồ Tát.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì tu hành Bát Nhã Ba la mật
nên ở nơi người chánh hạnh hay thọ trì kinh Bồ Tát tạng
lòng rất cung kính có ý tưởng là thiện tri thức, và càng
tìm cầu pháp môn vi diệu đại Bồ Tát tạng cho pháp môn
ấy càng thêm sáng sạch.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vì cầu Bồ Tát tạng nên Bồ Tát ấy phát sanh
tín dục sách lệ tinh tấn kiểm nhiếp tâm mình khiến an trụ
chánh định. Ðại Bồ Tát ấy phương tiện tu hành tứ chánh
cần, được không chướng ngại trong tất cả pháp.
Ðây là
tướng chánh hạnh Bát Nhã Ba la mật của đại Bồ Tát.
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
Quan niệm
ngươi thuyết pháp
Tức là
thiện tri thức
Cung kính
lắng nghe pháp
An trụ nơi
chánh hạnh
Dục giải
thường không thối
Tinh tấn
thường cao dũng
Tịnh huệ
thường sữa trau
Nơi trí
thường an trụ
Tự nhiên
đạt các pháp
Chẳng theo
nơi tín hành
Dùng trí
quán các pháp
Ðây là
lời Phật dạy
Người trí
phân biệt câu
Lý nghĩa
khéo siêng học
Nơi pháp
thiện bất thiện
Thường
tu thường viễn ly
Tâm không
hề nhàm mỏi
Nơi pháp
không quên mất
Thân dục
đều khinh an
Mau được
tâm tinh tấn
Do nghe pháp
thêm trí
Trí thêm
niệm không thối
Trí luôn
y niệm trụ
Biết rõ
pháp tịnh uế
Học nơi
pháp vô thượng
Ðược sức
niệm huệ thắng
Biết chúng
sanh dục giải
Tự học
thời gian lâu
Học pháp
đã thăng tiến
Cực tiến
trí thanh tịnh
Biết chúng
sanh dục giải
Theo cơ bèn
khai thị.
Lại này
Xá Lợi Phật ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba La Mật, đại Bồ Tát
tìm cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng như vậy thông đạt
giác huệ y theo thiện pháp minh môn thanh tịnh ấy. Bồ Tát
phải thường tu học như vậy.
Này Xá Lợi
Phất ! Nếu có Bồ Tát tu học nơi pháp thì phải suy
nghĩ hai nhơn duyên có thể phát sanh chánh kiến. Những gì
là hai? Ðó là nghe âm thanh nơi người khác và tự mình tác
ý đúng lý.
Bồ Tát
ấy lại suy nghĩ nghe âm thanh nơi người và tác ý đúng lý
có những tướng gì ? Liền lại suy nghĩ nếu có tướng thích
chánh định mà tu thì nên thật hành pháp môn vi diệu Bồ
Tát tạng mà chư Bồ Tát chưa từng được nghe.
Lại nếu
chẳng được nghe Phật pháp luật giáo chỉ ở trong tam ma
địa mà sanh ý tưởng đủ rồi, nên biết người ấy do sức
ngạo mạn mà phát khởi tăng thượng mạn. Phật nói người
ấy chẳng có thể giải thoát sanh già bịnh chết sầu ưu
khổ não. Ðã chẳng thoát được các khổnhiệt não, há lại
thoát được năm môn sanh tử kia, bị nó nhận chìm trôi lăn
chẳng dứt.
Người ấy
thiệt chẳng phải giải thoát mà tự nói tôi đã giải thoát.
Thiệt chưa khỏi khổ mà tự nói tôi đã khỏi khổ. Vì thế
nên đức Như Lai y cứ người ấy mà thuyết pháp như thiệt,
nếu có thể từ nơi người khác mà tùy thuận lắng nghe thì
giải thoát được các lão tử khổ não. Bồ Tát ấy lại
nghĩ rằng như tôi trước kia nghe đức thế Tôn nói :
Ða văn biết
rõ pháp
Ða văn chẳng
tạo ác
Ða văn bỏ
vô nghĩa
Ða văn được
Niết bàn
Nghe pháp
thêm lớn văn
Văn hay thêm
lớn huệ
Huệ hay
tu tịnh nghĩa
Ðược nghĩa
hay cảm vui
Thông huệ
dược nghĩa rồi
Chúng hiện
pháp Niết bàn
Nghe pháp
được tịnh huệ
Chứng được
vui đệ nhứt
Nầy Xá
Lợi Phất !Vì thế nên chư đại Bồ Tát suy nghĩ như vậy
rồi nên đối với pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng và Phật
pháp luật giáo mà ân cần trịnh trọng lắng nghe thọ trì
đọc tụng giảng dạy cho người.
Lại này
Xá Lợi Phất ! Nếu các hữu tình ở nơi pháp môn vi diệu
Bồ Tát tạng dầu được nghe mà chẳng có thể phương tiện
tác ý đúng lý. Phải biết người ấy chẳng thể tu chánh
hạnh nói thánh đạo. Vì thế nên đức Như Lai y cứ
nơi người ấy mà nói pháp yếu rằng : Nếu muốn giải thoát
sanh lão bệnh tử thì phải có tự mình suy nghĩ đúng lý.
Chư đại Bồ Tát phải học như vậy. Nầy Xá Lợi Phất !
Thế nào gọi là phương tiện đúng lý ? Những gì là Bồ
Tát tác ý đúng lý mà có thể tu học ?
Này Xá Lợi
Phất ! Thế nào gọi là phương tiện đúng lý ? Những gì
là Bồ Tát tác ý đúng lý mà có thể tu học.
Nầy Xá
Lợi Phất ! phương tiện đúng lý là không có một pháp nào
hoặc hiệp hay ly cả.
Tại sao ?
Vì phương tiện đúng lý là chẳng phải phương tiện vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu Bồ Tát có an trụ phương tiện và tác ý
đúng lý, phải biết tướng ấy chỉ là âm thanh, mà âm thanh
ấy, tánh nó không bị phát khởi cũng chẳng chuyển khởi
và do nơi kia mà phát âm thanh. Tại sao ? Vì tất cả đều
bất khả đắc vậy.
Bồ Tát
lại quan sát âm thanh ấy, tiền tế hậu tế từ gì mà sanh,
qua đâu mà diệt. Quan sát như vậy trọn bất khả đắc.
Lại suy
tìm âm thanh ấy là tại đã nói, là tại nay nói, là tại
sẽ nói ?
Lại suy
tìm âm thanh ấy là hoặc đã bị nói, hoặc nay bị nói, hoặc
sẽ bị nói ? Âm thanh ấy là vì đoạn dứt nên đã nói, vì
đoạn dứt nên nay nói, vì đoạn dứt nên sẽ nói ? Âm thanh
ấy là vì chứng nhập nên đã nói , vì chứng nhập nên nay
nói, vì chứng nhập nên sẽ nói.
Tất cả
lẽ tìm cầu âm thanh như vậy rồi trọn không có được.
Rồi lại quan sát hoặc tướng quá khứ, hoặc tướng vị
lai, hoặc tướng hiện tại cũng đều không có được.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Lúc đại Bồ Tát chánh quan sát thì gọi là phương
tiện tác ý đúng lý. Chư đại Bồ Tát phải học như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát quan sát đúng
lý ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ tát quan sát tất cả pháp, tự tánh
nó tịch diệt. Ðây gọi là quan sát đúng lý. Nếu quan sát
các pháp tự tánh nó tịch tĩnh. Ðây gọi là quan sát đúng
lý. Nếu quan sát các pháp , tự tánh nó không tịch. Ðây gọi
là quan sát đúng lý. Nếu quan sát các pháp vào tánh bình đẳng.
Ðây gọi là quan sát đúng lý. Nếu quán các pháp cứu cánh
vô sanh, , nếu quán các pháp cứu cánh bất sanh, nếu quán
các pháp cứu cánh bất khởi, nếu quán các pháp cứu cánh
tịch diệt, đều gọi là quán sát đúng lý vậy.
Lúc quán
sát như vậy, đại Bồ Tát cũng chẳng thấy có người hay
quan sát. Phải nên quan sát như vậy, đó là chẳng phải quan
sát chẳng phải chẳng quan sát vậy.
Nếu có
Bồ Tát quan sát như vậy thì gọi là quan sát đúng lý, nếu
quan sát khác đây thì gọi là quan sát chẳng đúng lý.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát phải nên học phương
tiện đúng lý như vậy ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Phương tiện đúng lý của đại Bồ Tát là :
Chẳng phải
đối với chút ít pháp có ngu mê. chẳng phải đối với chút
it pháp có chướng ngại. Không có chút ít pháp nào mà chẳng
phải là môn giải thoát. Không có vì đoạn dứt một phần
ít phát khỏi tinh tấn. Chẳng phải vì chứng một phần ít
pháp mà dũng mãnh tinh tấn. Trên đây đều là phương tiện
đúng lý vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất! Ðại Bồ Tát phải dùng chánh kiến như vậy
để chánh quan sát các pháp như chỗ chánh kiến ấy.
Thế nào
gọi là quan sát các pháp như chỗ chánh kiến ấy ?
Nầy Xá
Lợi Phất không chỗ thấy thì gọi là quan sát các pháp
. Những gì là không chỗ thấy?
Nầy Xá
Lợi Phất ! không chỗ thấy ấy gọi là vô sanh . Nói vô sanh
ấy là vô khởi. Nói vô khởi ấy là không chỗ chiếu . Y
cứ chánh pháp ấy mà đức Như Lai nói rằng : Nếu có Bồ
Tát lúc quan sát các pháp ấy vô sanh, tức là xu nhập chánh
tánh quyết định. Luận về chánh kiến, đó là xu nhập chánh
tánh quyết định.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát suy nghĩ như vầy : Do nhân duyên
gì sẽ được xu nhập chánh tánh quyết định ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát phải học như vầy :
Nếu quan
sát ngã kiến là bình đẳng thì tất cả pháp bình đẳng.
Quan sát như vậy gọi là xu nhập chánh tánh quyết định.
Vì thế
nên chư đại Bồ Tát muốn xu nhập chánh tánh quyết định
thì phải ở nơi pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng ân cần lắng
nghe thọ trì đọc tụng nghiên cứu nghĩa lý lại giảng dạy
rộng cho người thì sẽ ở nơi pháp môn ấy phương tiện
tác ý tu học đúng lý.
Ðây gọi
là Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật vì Vô thượng Bồ đề
thực hành bồ Tát hạnh..
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật,
vì cầu giác huệ rất thanh bạch, nên do pháp minh môn diệu
thiện thanh tịnh mà chuyên cần phương tiện chứng nhập đúng
lý quan sát câu đúng lý.
Thế nào
là chứng nhập đúng lý và những gì là câu đúng lý
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát chứng nhập đúng lý là :
Y xa ma tha
chứng nhập. Y tỳ bát xá na chứng nhập. . Chánh hạnh chứng
nhập. Như lý chứng nhập. Thân viễn ly chứng nhập. Tâm điều
thuận chứng nhập. Phi đoạn chứng nhập. Phi thường chứng
nhập. Nhơn duyên chứng nhập. Duyên khởi chứng nhập. Vô
ngã, vô nhơn, vô thọ mạng chứng nhập. Chưa đến đã đến
hoặc có hoặc không chứng nhập. Không có chuyển dời nhơn
quả chẳng hoại chứng nhập. Dầu tu tập không vô tướng,
vô nguyện chứng nhập mà chẳng lấy không vô tướng vô nguyện
chứng vậy. Dầu ở nơi tam ma địa tam ma bát đề chứng nhập
mà chẳng lấy sức lực ấy thọ sanh chứng vậy. Dầu lấy
thần thông trí chứng nhập mà chẳng tận các lậu chứng
vậy. Dầu quán sát vô sanh chứng nhập mà chẳng chánh xu quyết
định chứng vậy. Dầu quán chúng sanh vô ngã chứng nhập
mà chẳng bỏ đại bi chứng vậy. Dầu quán tất cả chúng
sanh đáng sợ chứng nhập, mà cố ý lấy các cõi chứng vậy.
Dầu ở nơi ly dục tịch diệt chứng nhập mà ở nơi pháp
ly dục chẳng tác chứng vậy. Dầu bỏ lạc diệu
dục chứng
nhập mà chẳng bỏ lạc pháp chứng vậy. Dầu bỏ tất cả
các hí luận tự giác chứng nhập mà chẳng bỏ thiện xảo
phương tiện chứng vậy. Trên đây gọi là chứng nhập đúng
lý . Ðại Bồ Tát muốn được chứng nhập đúng lý như vậy
thì phải học Bát Nhã Ba la mật.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, đại Bồ Tát
học câu chánh pháp đúng lý thế nào?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát phải như vầy mà biết câu đúng
lý, đó là những câu : Xuất sanh, xu lý, pháp môn, diện môn,
thị nhơn, tích tập, bất tương vi, vô chứng luận, thị xả,
vô chấp thủ, vô khí xả, vô hí luận, vô xả, vô phỉ báng,
vô khinh miệt, tùy túc, vô tranh, vô thối chuyển, vô đối
trị.
Nầy Xá
Lợi Phất ! câu đúng lý là câu thiệt tánh, câu như tánh,
câu phi bất như tánh , câu chơn như , câu như lý, câu tam thế
bình đẳng, câu ly phân biệt.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Câu đúng lý là câu sắc thức không y trụ,
câu thọ thức tưởng thức hành thức và thức thức đều
không y trụ, câu nhãn sắc nhãn sắc tánh không y trụ, câu
nhĩ thanh nhĩ thức tánh không y trụ, câu tỷ hương tĩ
thức tánh không y trụ, câu thiệt vị thiệt thức tánh không
y trụ, câu thân xúc thân thức tánh không y trụ, câu ý pháp
ý thức tánh không y trụ.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! câu đúng lý là câu y nghĩa, câu y pháp, câu
y trí, câu y liễu nghĩa. Vô lượng pháp môn như vậy gọi
là câu đúng lý.
Vì thế
nên đại BồTát chứng nhập tinh tấn phương tiện đúng lý
lúc quan sát như vậy cũng chẳng thấy có người hay quan sát.
Tại sao ? Vì chẳng phải quan sát chẳng phải chẳng quan sát
vậy. Quan sát như đây thì gọi là như lý quán, nếu quan sát
khác thì gọi là phi lý quán.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba La mật, đại Bồ Tát
phải học chánh quán đúng lý thế nào ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy phải chánh quán như vầy :
Vì ta như
lý thì quan sát các pháp đều như lý. Vì ta vô ngã thì quán
sá t các pháp cũng không có ngã . Vì chúng sanh vô ngã thì
quan sát các pháp cũng đều không có ngã.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát quan sát như vậy gọi là như lý quán.
Thế nào là đại Bồ Tát tu hành như lý phương tiện ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nên biết rằng đại Bồ Tát chẳng quan sát tánh
sanh tử như cùng tánh Niết bàn như lý chung xen tạp nhau, quán
như vậy thì gọi là phương tiện như lý.
Ðại Bồ
Tát quán tánh sanh tử cùng tánh Niết bàn đồng một hiệp
tướng không sai khác cũng chẳng phân biệt là tương ưng hay
vi bội.
Quán như
vậy thì gọi là phương tiện như lý, cũng được gọi là
chánh quán như lý.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nên biết rằng đại Bồ Tát có bao nhiêu phương
tiên như lý đều ở chỗ vô lượng chúng sanh mà phát khởi.
Nếu chỗ chúng sanh chẳng vứt bỏ, nơi các pháp chẳng phá
hoại, thì gọi là Bồ Tát phương tiện như lý.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát phải biết tướng như vậy, văn
như vậy, chứng nhập đúng lý như vậy, quan sát đúng lý
như vậy, chánh kiến đẳng lưu đúng lý như vậy . Ðây gọi
là Bồ Tát chánh huệ.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát phải tu hành chánh hạnh như vậy để
thành mãn bát Nhã Ba la mật.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật,
chỗ có Bát Nhã tự tánh thanh tịnh chẳng chung lộn với tất
cả pháp hữu vi. Chẳng chung lộn với những pháp gì ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Bát Nhã ấy chẳng chung lộn với vô minh, chẳng
chung lộn với hành, nhẫn đến chẳng chung lộn với lão tử
Bát nhã
ấy chẳng ấy chẳng chung lộn với thân kiến, nhẫn đến
chẳng chung lộn với sáu mươi hai kiến chấp.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với cao mạn, chẳng chung lộn với hạ
liệt, chẳng chung lộn với tám pháp thế gian.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với ngũ uẫn thập nhị xứ thập bát
giới nhẫn đến chẳng chung lộn với tất cả sở duyên
tác ý, chẳng chung lộn với mạn, hạ mạn , tà mạn, nhẫn
đến chẳng chung lộn với hai mươi mốt tùy phiền não.
Bát Nhã ấy
chẳng chung lộn với vi tế hạ trung thượng phẩm tham nhẫn
đến chẳng chung lộn với tất cả phiền não.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với ngu tối màn lòa che chướng các triền,
nhẫn đến chẳng chung lộn với các pháp tùy thuận thối
chuyển phần.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với ma phiền não dục tranh uế trược,
chẳng chung lộn với uẩn ma, tử ma, nhẫn đến chẳng chung
lộn với tất cả ma nghiệp. Bát Nhã ấy chẳng chung lộn
với ma phiền não đuc tranh uế trược, chẳng chung lộn với
uẩn ma, tử ma, thiên ma, nhẫn đến chẳnfg chung lộn với
tất cả ma nghiệp.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với chấp ngã, chúng sanh, thọ mạng,
sát thủ thú, dưỡng dục, ý sanh , trí giả, kiến giả, nhẫn
đến chẳng cùng chung lộn với các pháp ở nơi ngã kiến.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với nghiệp chướng, báo chướng, phiền
não chướng, pháp chướng, kiêén chướng, trí chướng, nhẫn
đến chẳng chung lộn với tất cả tùy tục tập khí Bát
Nhã ấy chẳng chung lộn với tư duy phân biệt, chẳng chung
lộn với tướng mạo, sở duyên, kiến, văn, niệm thức, nhẫn
đến chẳng chung lộn với tất cả kiết phược tăng ích.
Bát Nhã
ấy
chẳng chung lộn với xan xả, trì phạm, nhẫn giận, siêng
lười, tán định, ngu huệ, nhẫn đến chẳng chung lộn với
tất cả Ba la mật, năng trị sở trị các pháp trí tánh.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với viễn ly, chẳng chung lộn với trụ
bất viễn ly, tà tánh, chánh tánh, thiện bất thiện, hữu
tội vô tội, sanh tử Niết bàn, nhẫn đến chẳng chung lộn
với tất cả pháp đối trị
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với các thứ tánh sai biệt, tánh quốc
độ sai biệt, tánh chư Phật sai biệt, tánh hữu tình sai biệt,
tánh các pháp sai biệt. Tất cả tánh sai biệt đều không
chung lộn.
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với vô trí, chẳng chung lộn với trí
thức, thế tục, thắng nghĩa, nhẫn đến chẳng chung lộn
với tất cả hữu tình tướng mạo tác ý
Bát Nhã
ấy chẳng chung lộn với huệ chẳng hiện hành, chẳng chung
lộn với vô thân, vô hình vô tướng, vô vi, nhẫn đến chẳng
chung lộn với các pháp tư duy, tâm, ý,thức , an trụ v.v…
Nầy Xá
Lợi Phất ! Lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật, đại Bồ Tát có
được Bát nhã rất vi diệu thanh tịnh, chẳng chung lộn với
vô lượng vô biên pháp hữu vi như vậy.
Ðây gọi
là tu hành Bát Nhã Ba la mật, tướng đại Bồ Tát Bát Nhã.
Phải nên học như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát an trụ Ðại thừa đại Bồ
Tát tạng lúc tu hành Bát Nhã Ba la mật được Bát Nhã phân
biệt thiện xảo. Nên biết đại Bồ Tát ấy liền ở trong
các pháp dùng Bát Nhã ấy sáng rõ thông đạt được thiện
xảo.
Thế nào
gọi là Bát Nhã ấy phân biệt thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thiện xảo ấy có vô lượng vô biên, nay Phật
sẽ lược nói mười thứ. Ðó là uẩn pháp thiện xảo, giới
pháp thiện xảo, xứ pháp thiện xảo, đế pháp thiện xảo,
vô ngại giải thiện xảo, y xu thiện xảo, tư lương thiện
xảo, đạo pháp thiện xảo, duyên khởi thiện xảo và nhất
thiết pháp thiện xảo. Mười thứ thiện xảo vi diệu ấy
có bao nhiêu phân biệt, nếu thông đạt được thì gọi là
Bát Nhã phân biệt. Ðại Bồ Tát phải nên học như vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát do tu Bát Nhã Ba la mật
nên có thể thông đạt uẩn pháp thiện xảo ?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Uẩn pháp thiện xảo là y cứ uẩn pháp mà phát khởi
ngôn thuyết. Những ngôn thuyết gì ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ngôn thuyết ấy như ảo, hóa, dương diệm, mộng,
ảnh , hưởng. Do đó đức Như Lai dùng vô ngại biện vì chúng
sanh mà nói pháp ấy.
Nầy Xá
lợi Phất ! Phật nói sắc ấy như khối bọt nước .
Chính khối bọt ấy vốn không có ngã, nhơn, chúng sanh, thọ
giả. Bởi tánh khối bọt là tự tánh sắc. Ðại Bồ Tát
ở nơi pháp ấy thiện xảo biết rõ, thì gọi là uẩn pháp
thiện xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Phật nói thọ ấy như bóng nước. Chính bóng
nước ấy vốn không ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bởi
tánh bóng nước là thọ tự tánh. Ðại Bồ Tát ở nơi pháp
ấy biết rõ thiện xảo thì gọi là uẩn pháp thiện xảo
vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Phật nói tưởng ấy như dương diệm.Chính
dương diệm ấy vốn không ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.
Bởi tánh dương diệm là tự tánh tưởng. Ðại Bồ Tát ở
nơi pháp ấy thiện xảo biết rõ thì gọi là uẩn pháp thiện
xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Phật nói hành ấy như cây chuối. Chính cây
chuối ấy vốn không ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bởi
tánh cây chuối ấy là tự tánh hành. Ðại Bồ Tát ở nơi
pháp ấy thiện xảo biết rõ thì gọi là uẩn pháp thiện
xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Phật nói thức ấy như sự ảo thuật. Chính
sự ảo ấy vốn không ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bởi
tánh sự ảo thuật ấy là tự tánh thức. Ðại Bồ Tát ở
nơi pháp ấy thiện xảo biết rõ thì gọi là uẩn pháp thiện
xảo vậy.
Nầy xá
Lợi Phất ! Nói là uẩn ấy có tên thế gian. Pháp thế gian
tức là tướng bại hoại. Vì thế nên biết tánh thế gian
là tự tánh uẩn.
Những gì
là tánh thế gian ? Ðó là tánh vô thường, tánh khổ, tánh
vô ngã. Những tánh ấy là tánh uẩn. Tánh uẩn ấy tức là
tánh thế gian. Ðại Bồ Tát ở trong đó nếu thiện xảo biết
rõ thì gọi là uẩn pháp thiện xảo vậy. Ðại Bồ Tát tu
Bát Nhã Ba la Mật phải nên tu học như vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã
Ba la mật mà có thể thông đạt giới pháp thiện xảo ?
Nầy Xá Lợi
Phất ! Giới pháp thiện xảo là nói pháp giới tức là địa
giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy chẳng phải tướng cứng
rắn vậy.
Lại pháp
giới tức là thủy giới, tại sao ? vì pháp giới ấy chẳng
phải tướng ướt nhuần vậy.
Lại pháp
giới tức là hỏa giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy chẳng
phải tướng thành thục vậy.
Lại pháp
giới tức là phong giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy chẳng
phải tướng giao động vậy.
Nầy Xá
lợi phất ! Ở trong đây, nếu đại Bồ Tát biết rõ như
thiệt, thì gọi là giới pháp thiện xảo vậy.
Lại này
Xá Lợi Phất ! Nói pháp giới tức là nhãn thức giới,
tại sao ? Vì pháp giới ấy chẳng phải tướng soi sáng vậy.
Lại pháp
giới tức là nhĩ thức giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy
chẳng phải tướng nghe tiếng vậy.
Lại pháp
giới tức là tỷ thức giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy
chẳng phải tướng ngửi hương vậy.
Lại pháp
giới tức là thiệt thức giới , tại sao ?Vì pháp giới ấy
chẳng phải tướng nếm vị vậy.
Lại pháp
giới tức là thân thức giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy
chẳng phải tướng giác xúc vậy.
Lại pháp
giới tức là ý thức giới, tại sao ? Vì pháp giới ấy chẳng
phải tướng phân biệt vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu đại Bồ Tát ở trong đây biết rõ như thiệt,
thì gọi là giới pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ngã giới cùng pháp giới bình đẳng. Hữu
tình giới cùng pháp giới bình đẳng. Dục giới sắc giới
vô sắc giới cùng pháp giới bình đẳng. Sanh tử giới Niết
bàn giới cùng pháp giới bình đẳng . Nhẫn đến hư không
giới cùng pháp giới bình đẳng.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Do nghĩa gì mà được bình đẳng ?
Nghĩa là
do không bình đẳng nên tất cả pháp bình đẳng. Do vô biến
dị bình đẳng nên tất cả pháp bình đẳng.
Nầy Xá
Lợi Phật ! Nếu tuyên nói hữu vi giới chứng nhập, vô vi
giới chứng nhập thì có vô lượng vô biên. Nếu chư đại
Bồ Tát quan sát chứng nhập pháp giới thì gọi là giới pháp
thiện xảo.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba la mật, phải
nên siêng tu giới pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba
la mật nên thông đạt được xứ pháp thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nhãn là không, không có ngã ngã sở, đại Bồ
Tát biết rõ nhãn tánh như vậy. Nhẫn đến ý là không,
không có ngã ngã sở, đại BồTát biết rõ ý tánh như vậy.
Ðại Bồ Tát dầu ở nơi các xứ pháp chẳng chứa họp bất
thiện mà chứa họp thiện, nhưng ở trong thiện và bất thiện
chẳng phát khởi hai tướng. Biết rõ như vậy thì gọi là
xứ pháp thiện xảo.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát ở nơi nhãn
xứ sắc xứ hay thông đạt thiện xảo biết rõ ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ở nơi nhãn sắc quan sát thấy ly
dục , nhưng ở nơi ly dục cũng chẳng tác chứng . Biết rõ
như vậy thì gọi là xứ pháp thiện xảo.
Ở nơi nhĩ
thanh, tỷ hương, thiệt vị, thân xúc và ý pháp, đại Bồ
Tát quan sát thấy ly dục , nhưng ở nơi ly dục cũng chẳng
tác chứng . Biết rõ như vậy thì gọi là xứ pháp thiện
xảo.
Lại này
Xá Lợi Phất ! Chư Phật Như Lai nói pháp vi diệu, hoặc nói
thánh xứ, hoặc nói phi thánh xứ.Thánh xứ là kham thọ đạo
pháp. Phi thánh xứ là rời xa đạo pháp. Ðại Bồ Tát an trụ
nơi đạo, đối với các chúng sanh xa rời đạo, đại Bồ
Tát được đạo xứ đại bi chẳng bỏ chúng sanh.
Nếu biết
rõ khéo thông đạt như vậy thì gọi là đại Bồ Tát xứ
pháp thiện xảo.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát vì muốn tu hành Bát Nhã Ba la mật
phải nên siêng tu học xứ pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã
Ba la mật mà hay thông đạt đế pháp thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nên biết đại Bồ Tát có bốn thứ hạnh nhập
vào đế pháp thiện xảo. Ðó là khổ trí, tập trí, diệt
trí và đạo trí.
Thế nào
là khổ trí đến đạo trí ?
Nơi các
uẩn vốn vô sanh . Trí ấy gọi là khổ trí.
Nơi nhiễm
ái vĩnh viễn đoạn diệt. Trí ấy gọi là tập trí.
Nơi tất
cả vô sanh vô diệt. Trí ấy gọi là diệt trí.
Nơi tất
cả thời gian đối với các pháp sở duyên không tổn ích.
Trí ấy gọi là đạo trí.
Ðại Bồ
Tát ở nơi tứ đế ấy dùng các trí huệ như vậy biết rõ
như thiệt, dầu thông đạt nhưng chẳng tác chứng. Tại sao
? Vì muốn thành thục các chúng sanh vậy.
Ðầy đủ
như vậy thì gọi là đế thiện xảo.
Lại có
ba thứ đế thiện xảo. Ðó là thế tục đế, thắng nghĩa
đế và tướng đế.
Thế gian
có bao nhiêu văn tự ngữ ngôn âm thanh giả thuyết v.v…gọi
là thế tục đế.
Ở chỗ
ấy còn chẳng phải tâm hành huống là văn tự mà có thể
trình bày nói lên được. Các pháp như vậy gọi là thắng
nghĩa đế.
Các tướng
tức là nhứt tướng. Nhứt tướng ấy tức là vô tướng.
Ðây gọi là tướng đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ở nơi thế tục đế,vì chúng sanh
nên giảng nói không nhàm mỏi. Ở nơi thắng nghĩa đế tác
chứng không lui mất. Nơi tướng đế, sâu đạt bổn tánh
biết rõ vô tướng. Ðây gọi là đại Bồ Tát đế pháp thiện
xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát chuyên cần tu học đế thiện
xảo phải biết lại có một đế không có đế thứ hai, đó
là điệt đế.
Chư Phật
Như Lai ở nơi đế duy nhứt ấy thông đạt rõ ràng không
có tăng ích. Thông đạt rồi vì muốn thông ích cho các chúng
sanh mà tuyên nói đế duy nhứt ấy khiến họ tu học tỏ ngộ
không tăng ích.
Ðại Bồ
Tát biết rõ như vậy thì gọi là đế pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðế thiện xảo là khéo thông đạt các thánh
đế. Thế nào là thông đạt thánh đế ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Khổ thánh đế là nói ngũ uẩn tánh nó thiệt
khổ nên gọi là khổ đế. Ở trong đế nầy, đại bồ Tát
thông đạt năm uẩn đều là tướng khổ. Luận về tướng
khổ tức là tướng không, đây gọi là khổ thánh đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tập thánh đế là nói tùy miên ái kiến làm nhơn
cho năm uẩn, đây gọi là tập đế. Ở trong nhơn tập này,
hoặc ái hoặc kiến , đại Bồ Tát không có tăng ích hoặc
lấy hoặc mê mà thông đạt rõ ràng, đây gọi là Tập thánh
đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Diệt thánh đế là nói năm uẩn cứu cánh dứt
hết, đây gọi là diệt đế. Ðại Bồ Tát quan sát đế ấy,
tiền tế chẳng sanh, hậu tế chẳng đến, hiện tại chẳng
trụ, thông đạt rõ ràng như vậy thì gọi là diệt thánh
đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðạo thánh đế là y cứ đạo ấy mà chứng được
khổ trí tập trí và diệt trí không có trí nào khác, đây
gọi là đạo đế. Ở nơi đế ấy, đại Bồ Tát thông đạt
rõ ràng không có phân biệt, đây gọi là Ðạo thánh đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nơi đế này , đại Bồ Tát dùng trí quan sát
cùng khiến chúng sanh quan sát hiểu rõ. Ðây gọi là đại
Bồ Tát đế pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðối với đế ấy, đại Bồ Tát lại phải
quan sát biết bốn đế như vầy :
Nơi tất
cả năng thọ sở thọ đều là khổ đế. Trong ấy phải khéo
biết rõ, chính trí tánh khéo biết rõ ấy thông đạt rõ ràng
thì gọi là Bồ Tát khổ thánh đế.
Từ nơi
nhơn ấy mà các uẩn tập họp phát khởi, đây đều là tập
đế. Nơi nhơn ấy biết rõ như thiệt thì gọi là Bồ Tát
khổ tập thánh đế.
Các thọ
dứt hẳn không chỗ giác thọ, đây gọi là diệt đế. Dầu
quan sát thọ diệt mà chẳng tác chứng, thông đạt như vậy
thì gọi là Bồ Tát khổ diệt thánh đế.
Khéo tu hành
thánh đạo rời lìa thọ, đây gọi là đạo đế. Ví như
thuyền bè, chẳng lấy cầu nơi thọ cũng chẳng lấy cầu
nơi đạo thì gọi là Bồ Tát khổ diệt đạo thánh đế.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu có đại Bồ Tát hiện quán như vậy, y cứ
chánh định tịch tĩnh phát khởi bốn chánh kiến, mà ở nơi
bốn chánh kiến ấy cũng chẳng tác chứng. Thông đạt được
pháp ấy thì gọi là Bồ Tát đế pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát thiện xảo thông đạt nơi đế
pháp ấy, nếu chúng diệt đế thì khổ chẳng sanh, trí quán
vô sanh thì gọi là khổ trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Hữu là sanh duyên. Quan sát hữu ấy chẳng có
chẳng không, trí nầy gọi là tập trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tất cả sanh đều là vô sanh , đã vô sanh thì
đều vô diệt. Trí vô diệt ấy gọi là tận diệt trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thánh đạo ấy không chỗ cân lường, không chỗ
lấy tìm , không chỗ quan sát, đây gọi là trí quảng đại.
Trí ấy gọi là đạo trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nơi đế pháp ấy đại Bồ Tát khéo kiến lập
được, mà ở nơi đế trí không chỗ trụ trước. Ðây gọi
là đại Bồ Tát đế pháp thiện xảo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã
Ba la mật, nên được vô ngại giải thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu học đầy đủ Bát Nhã Ba la
mật nên được bốn thứ vô chướng ngại giải. Ðó là nghĩa
vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải và
biện vô ngại giải.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Những gì là nghĩa vô ngại giải ?
Chư đại
Bồ Tát y cứ Bát Nhã Ba la mật nên được nghĩa vô ngại
giải. Ðó là nhứt thiết pháp thắng nghĩa xứ trí . Quan sát
trí ấy tức là nghĩa vô ngại giải. Như là những giác trí,
nhơn trí, duyên trí, hòa hiệp trí , biến tùy hành trí, quãng
đại duyên sanh trí , pháp tánh vô tạp trí, Như Lai tùy nhập
trí, an trụ thiết tế tạp chí.Như Lai tùy nhập trí, an trụ
thiệt tế trí ở trong pháp không tùy giác quán trí, ở trong
pháp vô tướng như sở quán trí, ở trong pháp vô nguyện khởi
nguyện hành trí, ở nơi không gia hạnh khởi gia hành trí,
nơi không gia hạnh khởi gia hạnh trí, nơi lý thú nhứt quán
nhập chứng trí, nơi không hữu tình quán nhập chứng trí,
nơi không ngã pháp quán nhập chứng trí, nơi hông thọ mạng
nhứt hướng nhập trí, nơi không sát thủ thú quán thắng
nghĩa trí, nơi quá khứ thế quán vô ngại trí, nơi vị lai
thế quán vô biên trí, nơi hiện tại thế quán nhứt thiết
xứ trí, nơi các uẩn pháp quán như ảo hóa trí , nơi các
giới pháp quán đồng độc xà trí, nơi các xứ pháp quán
như hư không trí, nơi các nội pháp quán tịch tĩnh trí, nơi
các ngoại pháp quán vô sở hành trí, nơi các cảnh giới quán
vô sở hữu trí, nơi các niệm trụ quán an trụ trí, nơi các
thú đạo quán tùy hành trí, nơi các duyên khởi quán hiện
kiến trí, nơi các đế pháp quán thông đạt trí, nơi tất
cả khổ quán vô sanh trí, nơi tất cả tập quán không
gia hạnh trí, nơi tất cả diệt quán ly tướng trí, nơi tất
cả đạo quán cứu tế trí, ở trong tất cả pháp, quán phân
tích trí, nơi các căn pháp quán chứng nhập trí, nơi các lực
pháp quán không khuất phục trí, nơi xa ma tha quán sở y xứ
trí, nơi tỳ bát xá na quán minh chiếu trí, nơi các ảo sự
quán hư tập trí, nơi các dương diệm quán mê loạn trí, nơi
các mộng sự quán hư kiến trí, nơi tiếng vang quán duyên
hiệp trí, nơi bóng sáng quán vô động trí, nơi tướng sai
biệt quán nhứt tướng trí, nơi các hệ phược quán ly phược
trí, nơi các tương tục quán không tương tục trí, nơi trí
Thanh Văn quán tùy thanh nhập trí, nơi trí Ðộc Giác quán duyên
sanh rộng lớn nhập nhứt cảnh trí, nơi Phật Ðại thừa
quán biết tất cả thiện căn tư lương hay tích tập trí.
Tất cả các quán trí như vậy gọi là đại Bồ Tát nghĩa
vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại bồ Tát còn có nghĩa vô ngại giải.
Ðó là nghĩa y thú nơi lý thú, vì là chỗ y thú của các pháp
tánh. Tại sao ? Vì tất cả pháp đều là không, nghĩa tánh
không gọi là nghĩa. Vì tất cả pháp đều vô tướng, nghĩa
vô tướng gọi là nghĩa. Vì tất cả pháp đều vô nguyện,
nghĩa vô nguyện gọi là nghĩa. Vì tất cả pháp đều viễn
ly, nghĩa viễn ly gọi là nghĩa. Vì tất cả pháp không hữu
tình không thọ mạng không sát thủ thú, nghĩa không hữu tình
thọ mạng sát thủ thú gọI là nghĩa.
Ðại Bồ
Tát tùy nhập được nghĩa tướng như vậy thì gọi là nghĩa
vô ngại giải.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu có Bồ Tát nói nghĩa như vậy, nên biết
đó là nói pháp vô trụ, nói pháp vô tận , là nói tất cả
chỗ được nói rõ, là nói những nghĩa của bực nhứt thiết
trí dung vô ngại giải đã biết rõ. Nên biết Bồ Tát được
sự ấn khả tùy hỉ của chư Phật Thế Tôn. Nên biết trí
ấy là chơn huệ, là thiệt huệ là vô dị huệ, là vô ngại
huệ.
Ðại Bồ
Tát biết rõ như vậy thì gọi là nghĩa vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát pháp vô ngại giải
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba la mật nên
được pháp vô ngại giải . Ðó là ở trong các pháp, tùy
chứng nhập trí. Những gì gọi là tùy chứng nhập trí ? Ðó
là ở trong các pháp có chỗ chứng nhập. Những pháp gì ?
Ðó là những pháp : thiện bất thiện, hữu tội vô tội,
hữu lậu vô lậu, thế gian xuất thế gian, hữu vi vô vi, nhiễm
ô thanh tịnh, sanh tử Niết bàn. Ở trong các pháp ấy theo
đó có thể chứng nhập pháp tánh bình đẳng, bồ đề bình
đẳng. Trí tánh như vậy gọi là pháp vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Pháp vô ngại giải là : Ðại Bồ Tát
dùng pháp vô ngại giải ấy, tâm trí chứng nhập tham hành
như vầy; nhập chứng giả lập tham hành, phương tiện tham
hành, kiên cố tham hành , vi bạc tham hành, phi xứ tham hành,
doanh cầu tham hành, túc thế tham hành, vô biên dị tướng
tham hành, hiện tại chúng duyên tham hành. Tất cả tướng
tham hành ấy đều chứng nhập.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát rõ biết những tướng tham của
các hữu tình : Hoặc có chúng sanh nội tham chẳng phải ngoại
tham, hoặc ngoại tham chẳng phải nội tham, hoặc nội ngoại
tham.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham sắc chẳng tham thanh,
hoặc tham thanh chẳng tham sắc, hoặc tham sắc thanh.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc chẳng tham hương, hoặc tham hương chẳng
tham sắc, hoặc tham sắc hương.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc chẳng tham vị, hoặc tham vị chẳng tham
sắc, hoặc tham sắc vị.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc chẳng tham xúc, hoặc tham xúc chẳng tham
sắc, hoặc tham sắc xúc.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham thanh chẳng tham
hương, hoặc tham hương chẳng tham thanh, hoặc tham thanh hương.
Hoặc có
chúng sanh tham thanh chẳng tham vị, hoặc tham vị chẳng tham
thanh, hoặc tham thanh vị.
Hoặc có
chúng sanh tham thanh chẳng tham xúc, hoặc tham xúc chẳng tham
thanh, hoặc tham thanh xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham hương chẳng tham vị,
hoặc tham vị chẳng tham hương , hoặc tham hương vị.
Hoặc có
chúng sanh tham hương chẳng tham xúc, hoặc tham xúc chẳng tham
hương, hoặc tham hương xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham vị chẳng tham xúc,
hoặc tham xúc chẳng tham vị, hoặc tham vị xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham sắc thanh chẳng tham
hương , hoặc tham hương chẳng tham sắc thanh , hoặc tham sắc
thanh hương.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc thanh chẳng tham vị, hoặc tham vị chẳng
tham sắc thanh, hoặc tham sắc thanh vị.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc thanh chẳng tham xúc, hoặc tham xúc chẳng
tham sắc thanh, hoặc tham sắc thanh xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham thanh hương chẳng tham
vị, hoặc tham vị chẳng tham thanh hương, hoặc tham thanh hương
vị.
Hoặc có
chúng sanh tham thanh hương chẳng tham xúc, hoặc tham xúc chẳng
tham thanh hương; hoặc tham thanh hương xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham hương vị chẳng tham
xúc, hoặc tham xúc chẳng tham hương vị, hoặc tham hương vị
xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! hoặc có chúng sanh tham sắc thanh hương chẳng
tham vị, hoặc tham vị chẳng tham sắc thanh hương , hoặc tham
sắc thanh hương vị.
Hoặc có
chúng sanh tham sắc thanh hương chẳng tham xúc, hoặc tham xúc
chẳng tham sắc thanh hương, hoặc tham sắc thanh hương xúc.
Lại nầy
Xá lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham thanh hương vị chẳng
tham xúc, hoặc tham xúc chẳng tham sắc thanh hương vị, hoặc
tham thanh hương vị xúc.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Hoặc có chúng sanh tham sắc thanh hương vị
chẳng tham xúc, hoặc xúc chẳng tham sắc thanh hươngvị, hoặc
tham sắc thanh hương vị xúc.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vô lượng chúng sanh ấy đều riêng phát khởi
vô lượng tướng tham nhập vào tham hành, đại Bồ Tát do
chứng nhập pháp vô ngại giải nên nhập vào hai vạn một
ngàn tham hành, hai vạn một ngàn sân hành, hai vạn một ngàn
si hành,, hai vạn một ngàn đẳng phần hành phiền não của
chúng sanh.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát chứng nhập tám vạn bốn ngàn phiền
não hành môn ấy, nên biết đại Bồ Tát nầy đầy đủ thành
tựu tâm quảng đại trí, tùy hành thuyết trí, bất tăng bất
giảm thuyết trí, bất quá thời thuyết trí, căn khí sai biệt
trí, lập ngôn bất hư thuyết trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vì đại Bồ Tát có đủ những trí thù thắng
như vậy, nên gọi là đại Bồ Tát pháp vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát từ vô ngại giải
?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba la mật nên
có đủ từ vô ngại giải. Ðó là trí chứng nhập các ngôn
từ.
Ðược trí
nầy rồi thì hay biết rõ ngôn từ của chư Thiên chư Long,
Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La,Khẩn Na La, Ma Hầu La
già, Nhơn và ngôn từ của các Phi nhơn, nhẫn đến tất cả
hữu tình trong ngũ đạo có bao nhiêu ngôn từ âm thanh nói
bàn, đại Bồ Tát đều dùng trí ấy chứng nhập, lại có
thể dùng các ngôn từ âm thanh ấy tùy theo các hữu tình mà
nói pháp. Ðây gọi là Bồ Tát từ vô ngại giải
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Chư đại bồ Tát khéo biết rõ ngôn từ ấy
chỉ nên hiển bày pháp ấy, ngôn từ ấy chỉ nên tùy biện
pháp ấy, ngôn từ ấy nên dùng chữ ấy ẩn chứa pháp ấy.
Ðại Bồ
Tát dùng trí ấy biết rõ là một danh ngôn, là hai danh ngôn,
là nhiều danh ngôn. lại biết rõ là danh ngôn nữ danh ngôn
nam, danh ngôn phi nam phi nữ. Lại biết rõ là danh ngôn lược
danh ngôn rộng, danh ngôn tốt danh ngôn xấu. Lại biết rõ
là danh ngôn quá khứ danh ngôn vị lai, danh ngôn hiện tại.
Lại biết rõ các tướng như vậy một chữ tăng ích.
Biết rõ
như vậy thì gọi là đại Bồ Tát từ vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Chư đại Bồ Tát phát ra ngôn từ, đó là
do vô lượng công đức họp lại thành. Tại sao ? Vì ngôn
từ được đại Bồ Tát phát ra không nhỏ yếu, chính ngôn
từ ấy rất khéo sắp đặt, không phiền trọng, không gấp
mau, lời rất rõ ràng, văn nghĩa tròn đủ, thuận đẹp lòng
đại chúng, các thứ mỹ diệu bày rõ thâm áo, trang nghiêm
với những thế tục và thắng nghĩa, tự tâm trí kiến thông
đạt vô ngại, chư Phật ấn khả, làm vui đẹp chúng sanh.
Ðầy đủ
như vậy thì gọi là đại Bồ Tát từ vô ngại giải.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát biện vô ngại
giải?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba La mật nên
được ngôn từ vô ngại biện, biện nói ký biệt không trệ,
biện nói tuyên dương không dứt, biện nhanh biện mau biện
nhanh chóng, biện chẳng ai động được, biện chẳng vấp
chậm, biện đáp theo lời hỏi, biện chẳng khiếp lui, biện
chẳng tương vi, biện chẳng tranh luận, biện pháp đáng thích,
biện an trụ sức nhẫn, biện vi diệu rất sâu, biện các
thứ sai biệt, biện các thứ vi diệu, biện thế tục thắng
nghĩa, biện nói xây dựng tất cả công hạnh bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tĩnh lự Bát Nhã, biện nói xây
dựng tất cả niệm trụ chánh cần thần túc căn lực giác
phần chánh đạo xa ma tha và tỳ bát xá na, biện nói xây dựng
tất cả tĩnh lự giải thoát tam ma địa tam ma bát để, biện
quảng đại trí, biện sở thừa của tất cả thánh nhơn,
biện tâm hành của tất cả chúng sanh, biện nói không ngọng
nghịu, biện nói không cứng nghẹn, biện nói không liến thoắng,
biện nói không thô cộc, biện nói giọng nhuần mến, biện
nói giọng trong sạch, biện nói giọng bàng bạc, biện nói
không chấp dính, biện nói dạy bảo, biện nói đại tự tại,
biện nói diệu tương ưng, biện nói không khóa chặt, biện
nói giọng mỹ diệu, biện nói giọng mềm trơn, biện nói
không gây ra sự quở trách, biện nói được chư thánh khen
ngợi.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðại Bồ Tát dùng bao nhiêu ngôn biện như vậy tuyên
cáo khắp vô lượng vô biên quốc độ chư Phật mười phương.
Ngôn âm được đại Bồ Tát phát ra vượt hơn tất cả
ngôn từ phạm âm. Ngôn âm ấy sáng tỏ trong sạch được
sự ấn khả của chư Phật. Ðại Bồ Tát có đủ tài biện,
thương các hữu tình nên dùng ngôn âm ấy tuyên nói rộng
chánh pháp vi diệu khiến họ xuất ly sanh tử hết hẳn các
sự khổ. Ðây gọi là đại Bồ Tát vô ngại biện.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Như trên ấy gọi là vô ngại giải thiện
xảo. Do vô ngại giảI thiện xảo ấy mà đại Bồ Tát tu
hành Bát Nhã Ba La mật chuyên cần tu tập vô ngại giải thiện
xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát y xu thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát nhã Ba La mật nên
khéo hay đầy đủ bốn thứ y xu. Ðó là y xu nơi nghĩa mà
chẳng y xu nơi văn, y xu nơi trí mà chẳng y xu nơi thức, y
xu nơi kinh liễu nghĩa mà chẳng y xu nơi kinh chẳng liễu nghĩa,
y xu nơi pháp mà chẳng y xu nơi nhơn.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là y xu nơi nghĩa mà chẳng y
xu nơi văn? Và những gì là văn là nghĩa ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Văn là nói văn từ truyền quen theo tác dụng của
pháp thế gian. Nghĩa là nói chỗ thông đạt pháp xuất thế.
Văn là ngôn
từ tuyên bày bố thí điều thuận tịch tĩnh đáng ưa thích.
Nghĩa là trí quyết định biết rõ sự bố thí điều thuận
tịch tĩnh ấy.
Văn là ngôn
từ phân biệt quở trách sanh tử. Nghĩa là chẳng nhiễm
sanh tử thấy suốt pháp tánh.
Văn là ngôn
từ ca ngợi công đức Niết bàn. Nghĩa là pháp tánh Niết
bàn tánh không sai biệt.
Văn là tùy
thuận các thừa mà kiến lập ngôn thuyết. Nghĩa là trí khéo
thông đạt pháp nhứt lý.
Văn là tuyên
nói bỏ rời các pháp sở hữu. Nghĩa là tam luân ấy cứu
cánh thanh tịnh.
Văn là tuyên
nói luật nghi thân ngữ ý nghiệp thọ trì công đức học
xứ đầu đà. Nghĩa là thân ngữ ý nghiệp đều bất khả
đắc, chẳng do gia hạnh giới luật thanh tịnh.
Văn là tuyên
nói nhịn chịu sân khuể bớt dứt giận kiêu mạn phóng dật,
làm được hạnh nhẫn ấy gọi là thiện trượng phu. Nghĩa
là khéo chứng được vô sanh pháp nhẫn.
Văn là diễn
tả các thiện căn phát khởi tinh tấn. Nghĩa là vô thủ vô
xả vô trụ tinh tấn.
Văn là tuyên
nói tĩnh lự giải thoát đẳng tri đẳng chí. Nghĩa là trí
diệt tận định.
Văn là tất
cả văn trì các huệ căn bổn. Nghĩa là nghĩa bất khả thuyết.
Văn là hay
khai thị ba mươi bảy phần trợ đạo thánh pháp. Nghĩa là
chứng được quả của chánh hạnh Bồ đề phần pháp.
Văn là hay
khai thị phổ tập đạo đế. Nghĩa là tác chứng diệt đế.
Văn là hay
khai thị vô minh đến lão tử. Nghĩa là vô minh diệt đến
lão tử diệt.
Văn là tuyên
nói chánh pháp chỉ quán tư lương. Nghĩa là sáng giải thoát
trí.
Văn là tuyên
nói hành pháp tham sân si và đẳng phần. Nghĩa là tâm vô phân
biệt trí giải thoát.
Văn là khai
thị tất cả pháp chướng ngại. Nghĩa là trí giải thoát
vô chướng ngại.
Văn là khai
thị Tam Bảo ca ngợi công đức. Nghĩa là pháp tánh ly dục
công đức chánh hạnh vô vi vô trước.
Văn là tuyên
nói công đức tu học phát khởi chánh hạnh của Bồ Tát sơ
phát tâm đến ngồi đạo tràng . Nghĩa là sát na tâm tương
ưng chứng nhập nhứt thiết chửng trí.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tóm lại đức Như Lai diễn nói tám vạn bốn
ngàn pháp tạng thanh giáo đều gọi là văn, lý thú tất cả
thuyết rời lìa tất cả ngôn âm văn tự thì gọi là nghĩa.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật y xu nghĩa chẳng
y xu văn vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đại Bồ Tát y xu trí chẳng y
xu thức ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba La mật nên
thiện xảo biết rõ bao nhiêu ngôn giáo văn nghĩa tất cả
pháp theo sự phân biệt của tất cả hữu tình thì gọi là
thức, đại Bồ Tát chẳng nên y theo. Còn những ngôn giáo
đúng nghĩa pháp tánh tức gọi là trí, đại Bồ Tát phải
y theo.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Do hai pháp thiện xảo mà đại Bồ Tát có
thể tu hành Bát Nhã Ba la mật. Ðó là thức và trí.
Những gì
là thức ? Những gì là trí ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thức ấy là bốn chỗ thức an trụ : Một là
sắc chỗ y chỉ của thức. Hai là thọ, chỗ y chỉ của thức.
Ba là tưởng, chỗ y chỉ của thức. Bốn là hành, chỗ y chỉ
của thức. Thức an trụ bốn chỗ như vậy thì gọi là thức,
chẳng nên y theo.
Nơi năm
thủ uẩn, thức chẳng an trụ, thức uẩn khắp ở nơi trí
thì gọi là trí, phải y theo trí ấy.
Thức là
hay biết rõ địa giới thủy giới hỏa giới phong giới, biết
rõ bốn giới ấy thì gọi là thức, chẳng nên y theo. Nơi
bốn giới ấy thức chẳng an trụ thì gọi là thức pháp tánh.
Nơi pháp tánh trí chẳng tạp loạn thì gọi là trí, nên y
theo trí ấy.
Thức là
biết rõ sắc được nhãn biết, thanh được nhĩ biết, hương
được tỷ biết, vị được thiệt biết, xúc được thân
biết, pháp được ý biết. Biết rõ như vậy gọi là thức,
chẳng nên y theo.
Với nội
xứ, tâm lự tịch tĩnh, với ngoại xứ tầm từ chẳng hành,
chẳng sanh phân biệt nơi pháp, đây gọi là trí, nên y theo.
Từ cảnh
sở duyên mà sanh hay biết, từ các tác ý mà sanh hay biết,
từ khắp phân biệt mà sanh hay biết, đây gọi là thức.
Không thủ
không chấp không duyên không phân biệt, đây gọi là trí.
Nơi tất
cả hành pháp hữu vi phân biệt biết rõ, đây gọi là thức.
Nơi pháp vô vi không có thức duyên hành được, trí vô vi
ấy gọi là trí.
Thức hay
biết có sanh có diệt có nơi an trụ thì gọi là thức, chẳng
nên y theo. Không sanh không diệt không chỗ an trụ, đây
gọi là trí, đại Bồ Tát nên y theo trí ấy.
Ðây gọi
là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba La mật y xu trí chẳng y
xu thức vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát chẳng y xu kinh
chẳng liễu nghĩa mà y xu kinh điễn liễu nghĩa ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Chư đại Bồ Tát hay khéo thông đạt văn rộng
rãi như trước đã tuyên nói, đây gọi là kinh chẳng liễu
nghĩa, chẳng nên y xu. Còn những nghĩa rộng rãi đã tuyên
nói trước ấy, đây gọi là kinh liễu nghĩa, nên y xu.
Những gì
trong kinh mà cho là liễu nghĩa, hoặc chẳng liễu nghĩa?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Vì y Bát Nhã Ba la mật nên đại Bồ Tát khéo
thông đạt phân biệt rõ.
Nếu trong
kinh tuyên nói về đạo, ngôn giáo ấy gọi là chẳng liễu
nghĩa. Nếu nói về quả, ngôn giáo ấy gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
các kinh nói về thế tục đế, đây gọi là chẳng liễu nghĩa.
Nếu nói về thắng nghĩa đế thì gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
các kinh nói về tác nghiệp phiền não hoặc nhiễm thì gọi
là chẳng liễu nghĩa.
Nếu nói
phiền não nghiệp dứt hết thì gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
các kinh tuyên nói quở trách pháp nhiễm ô thì gọi là chẳng
liễu nghĩa. Nếu nói tu trị thanh tịnh thì gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
có kinh nói nhàm sanh tử ưa niết bàn thì gọi là chẳng liễu
nghĩa. Nếu nói sanh tử Niết bàn không sai biệt thì gọi là
liễu nghĩa.
Nếu trong
các kinh nói nhiều thứ văn cú sai biệt thì gọi là chẳng
liễu nghĩa.
Nếu nói
thậm thâm khó thấy khó biết thì gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
các kinh văn cú rộng rãi hay khiến tâm ý chúng sanh hớn hở
thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói văn cú và tâm
ý đều đồng với tro tàn thì gọi là liễu nghĩa.
Nếu trong
kinh tuyên nói có ngã, hữu tình, mạng giả, dưỡng giả, sát
thủ thú giả, ý sanh giả, tác giả, thọ giả, lại lập có
các thứ thọ uẩn không có chủ thể, ngôn giáo như vậy thì
gọi là chẳng liễu nghĩa, chẳng nên y xu. Nếu nói không,
vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô khởi, vô xuất hiện, vô
ngã, vô nhơn, vô hữu tình, vô mạng giả, đây gọi là liễu
nghĩa, nên y xu.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðây gọi là đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba la mật
y xu kinh liễu nghĩa, chẳng y xu kinh chẳng liễu nghĩa.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là đại Bồ Tát y xu pháp mà
chẳng y xu nhơn?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do y Bát Nhã Ba la mật nên ở nơi
các kinh giáo khéo phân biệt được nếu là tuyên nói kinh
chẳng liễu nghĩa tức là những nghĩa về các hữu tình, ngôn
giáo ấy chẳng nên y xu. Còn các kinh liễu nghĩa tức như nghĩa
pháp tánh, ngôn giáo ấy nên y xu.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Những gì gọi là pháp và thế nào gọi là
nhơn ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Những pháp tướng sở duyên được hữu tình
thấy biết thì gọi là nhơn. Còn pháp tánh mà các pháp tướng
sở duyên ấy an trụ thì gọi là pháp vậy.
Nói là nhơn
ấy, đó là người phàm, người phàm thiện, người tùy tính
hành, người tùy pháp hành, người đệ bát nhẫn, người
Dự Lưu, người Nhứt Lai , người Bất Hoàn, người A La Hán,
người Ðộc Giác, người Bồ Tát.
Nầy Xá
Lợi Phất! Lại còn có một người xuất hiện thế gian làm
lợi ích an vui vô lượng chúng sanh, thương xót thế gian đem
nghĩa lợi an lạc cho người cho trời. Người này là Ðức
Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Tất cả danh từ người như vậy, đức Như Lai
y theo thế tục đế vì chúng sanh mà tuyên nói. Nếu có người
ở nơi ngôn giáo ấy mà sanh khởi chấp lấy, thì chẳng nên
y xu người ấy. Tại sao ? Vì muốn Bồ Tát chánh y xu, nên
đức Như Lai tuyên dạy rằng các ông nên y xu thiệt tánh của
các pháp, chớ nên y xu nơi người ấy.
Những gì
là thiệt tánh của các pháp?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Những tướng : Không biết dị, không tăng ích,
không tác không bất tác, chẳng trụ không căn bổn, đây goị
là pháp tánh. Lại những tướng : tất cả xứ thông chiếu
bình đẳng, trong các bình đẳng khéo trụ bình đẳng, trong
bất bình đẳng hay khéo bình đẳng, đây gọi là pháp
tánh.
Pháp tánh
ấy không có phân biệt, không có sở duyên, nơi tất cả pháp
chứng được thể tướng cứu cánh quyết định, đây gọi
là thiệt tánh của các pháp.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu ai có y xu pháp tánh, thì các pháp tánh không
có chẳng y xu.
Chư đại
Bồ Tát do chứng nhập môn ấy nên ở nơi tất cả pháp y
xu tất cả pháp tánh.
Ðây gọi
là bốn thứ y xu của đại Bồ Tát.
Nếu đại
Bồ Tát thông đạt được nơi đây thì gọi là y xu thiện
xảo vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là tư lương thiện xảo ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do tu hành Bát Nhã Ba la mật nên
khéo thông đạt được hai thứ tư lương. Ðó là phước và
trí. Thế nào gọi là phước đức tư lương ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Thể tánh bố thí đem phước đến cho việc làm,
thể tánh thi la đem phước đến cho việc làm, thể tánh các
hạnh tu đem phước đến cho việc làm, đại từ tam muội
, đại bi phương tiện đều gọi là phước đức tư lương.
Ðại
Bồ Tát do làm những sự nghiệp phước đức nên ở nơi các
thiện căn, hoặc tự hoặc tha, cố gắng phụng tu đều hưng
khởi được phước đức ba đời, tất cả những pháp ác
đều phát lộ.
Ở nơi công
đức của tất cả chúng sanh có, công đức của các bậc
hữu học vô học có, công đức của bậc Ðộc Giác có, công
đức của tất cả
Bồ Tát từ
sơ phát tâm đến bất thối chuyển nhứt sanh bổ xứ có vô
lượng vô biên, đều sanh lòng tùy hỉ khắp tất cả .
Ở nơi chư
Phật Thế Tôn quá khứ vị lai hiện tại có bao nhiêu thiện
căn cũng đều sanh lòng tùy hỉ.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát ấy lại hay khéo tùy hỉ sự nghiệp
câu sanh phước. Lại có thể thỉnh Phật chuyển pháp luân
vi diệu, cũng thỉnh chư Hiền Thánh diễn nói thắng pháp.
Cũng khuyến cáo sự nghiệp câu sanh phước. Lại hay đem các
thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề, hồi hướng sự
nghiệp vô sanh phước.
Ðại Bồ
Tát ấy thấy người chưa phát Bồ đề tâm thì phương tiện
khuyên khiến phát. Với người đã phát Bồ đề tâm thì thuyết
pháp khai thị khiến thành thục. Với người nghèo cùng thì
dùng của vật nhiếp họ.Với người tật bịnh thì bố thí
thuốc men ân cần săn sóc cung kính hầu hạ. Với kẻ bạo
ác thì nhịn chịu. Với giới phẩm vị phạm thì chẳng phú
tàng mà phát lộ các lỗi khéo trừ hết sạch. Với chư Phật
Thế Tôn đã nhập Niết bàn thì luôn luôn sắm đồ cúng dường.
Với Hòa Thượng và A Xà Lê thì kính thờ như Phật. Với
chánh pháp thì phát tinh tấn suy tìm thỉnh hỏi. Với thuyết
pháp sư thì kính mến tôn thờ như thờ Phật. Có hội thuyết
pháp dầu cách xa trăm do tuần cũng phải đến đó nghe chánh
pháp không nhàm mỏi. Hoặc có chúng sanh đến thưa hỏi chỗ
nghi, thì dùng tâm vô nhiễm mà tuyên nói pháp thanh tịnh, với
cha mẹ thì thờ kính cúng dường biết ơn, tỏ ơn không hề
hối tiếc. Chứa họp tất cả những phước thanh tịnh tu
hành xây dựng lòng không nhàm mỏi, dùng các giới luật phòng
hộ thân mình, thân không ngụy trá, phòng hộ nơi ngữ phát
ngôn hòa nhã, phòng hộ nơi tâm lòng không xiểm cuống. Vì
muốn nhiếp các phước đức thanh tịnh nên xây dựng tháp
miếu thờ Phật. Vì muốn tướng trượng phu được viên mãn
nên chứa họp pháp hội bố thí lớn vô giá. Vì muốn tùy
hình hảo viên mãn nên chứa họp các thứ thiện căn tư lương.
Ðể trang nghiêm thân nên rời bỏ kiêu mạn. Ðể trang nghiêm
ngữ nên rời các lỗi nơi ngữ. Ðể trang nghiêm tâm nên xa
rời tất cả ghét ganh giác quán. Vì đại trang nghiêm
Phật quốc độ nên hóa hiện thần thông chuyển biến tự
tại. Vì muốn trang nghiêm các pháp tướng nên thành tựu diệu
trí vô thượng thiện tánh thanh tịnh. Vì muốn trang nghiêm
pháp chúng nên rời xa tất cả ngữ ngôn ly gián thô ác phá
hoại.
Xem
Tiếp Trang 2