|
c
KINH
ÐẠI BẢO TÍCH
Việt
dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất
bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
XII
PHÁP HỘI BỒ TÁT
TẠNG
THỨ MƯỜI HAI
Hán Dịch:
Nhà Đường, Pháp Sư Huyền Trang
Việt Dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
07.2 Phẩm Thi La Ba
La Mật
Thứ Bẩy (trang 2)
Lại
cân lường đồng tánh Thi La của tất cả chúng sanh nhẫn
đến đồng tánh chánh văn, định huệ, giải thoát giải thoát
tri kiến .Lại hay cân lường giới đẳng lưu của tất cả
chúng sanh nhẫn đến đẳng lưu chánh văn, định ,huệ, giải
thoát giải thoát tri kiến.Lại hay cân lường tướng đẳng
lưu siêu thắng Thi la của tất cả chúng sanh nhẫn đến tướng
đẳng lưu siêu thắng chánh văn, định ,huệ, giải thoát giải
thoát tri kiến .Lại hay cân lường tướng tiến chỉ oai nghi
dũng mãnh tu hành chánh hạnh của tất cả chúng sanh.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát lần lượt cân lường suy xét các
công đức của tất cả chúng sanh rồi nghĩ rằng tất cả
chúng sanh ấy chỗ có chánh giới , chánh văn , chánh định,
chánh huệ, chánh giải thoát, chánh giải thoát tri kiến, chỗ
có giới đồng tánh đến giải thoát tri kiến đồng tánh
, chỗ có giới đẳng lưu đến giải thoát tri kiến đảng
lưu, chỗ có tướng giới đẳng lưu siêu thắng đến tướng
giải thoát tri kiến đẳng lưu siêu thắng, chỗ có tướng
tiến chỉ oai nghi tu hành chánh hạnh dũng mãnh. Những tướng
như vậy đều là công đức của chúng sanh có.Nay ta quan sát
cân lường trong ấy chẳng thấy có công đức nào bằng công
đức của ta , căn bổn vững chắc của tất cả chúng sanh
đem so sánh đều không bằng ta cả.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Lúc sơ sanh trong khoảng sát na đại Bồ Tát mau
phát khởi diệu trí biết rõ nghiệp báo. Do trí ấy trong khoảng
thời gian đàn chỉ khéo biết rõ bao nhiêu thứ tâm tướng
của tất cả chúng sanh rồi đem cân lường so sánh đều chẳng
thấy có bằng với ta. Do đó đại Bồ Tát biết đúng rằng
nay đây ta một mình ở ngôi tôn quí tối thượng , như sư
tử chúa ở bực vô úy , như đại long vương có oai đức
lớn, chưn Bồ Tát chẳng chạm đất bốn phương đều đi
bảy bước mà tuyên xướng lên rằng ở thế gian ta là tối
tôn đại , ở thế gian ta là tối thù thắng ,nay ta sẽ chứng
mé sanh lão tử, ta sẽ độ tất cả chúng sanh khỏi sanh gìa
bịnh chết lo buồn khổ não , ta sẽ vì chúng sanh mà tuyên
nói chánh pháp vi diệu quảng đại tối thắng Vô thượng.
Nầy Xá
lợi Phất! Lúc đại Bồ tát phát ngữ như vậy , âm tha nh
liền nối không hở cáo tri khắp cả cõi Ðại Thiên
.Chúng sanh trong ấy nghe âm thanh ấy xong đều kinh sợ rởn
lông, thiên cổ nổi vang, toàn thế giới đều chấn động.
Chỉ có chỗ Bồ Tát đứng chừng bằng bánh xe là an tĩnh,
nguồn nước ngay dưới chỗ đất ấy cũng bất động .
Ðại Bồ
Tát ấy quan sát thân mình thấy có vô lượng tia sáng bao trùm
.Sau khi chứng Vô thượng Bồ đề rồi, được vô lượng
chúng sanh đồng chiêm ngưỡng . Ðây gọi là pháp không ai
nhìn thấy được thứ tư.
Nầy xá
Lợi Phất ! Ðây gọi là đại Bồ Tát được bốn pháp không
ai nhìn thấy được. Ðó là do thuở quá khứ đại Bồ Tát
đối với thuyết pháp sư luôn kính thuâ(n cúng dường .
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
do thành tựu các căn lành ấy nên lại được bốn pháp tấn
tốc :
Lúc thành
Phật , đại Bồ Tát đầy đủ chánh pháp của chư Phật Như
Lai đã nói không giảm thiếu và pháp được nói không hư
thiết. Ðây là pháp tấn tốc thứ nhứt.
Lúc thành
Phật , đại Bồ Tát ấy thành tựu đầy đủ những mạng
lịnh của chư Phật Như Lai. Như Bảo Tỳ Kheo đến đây !
Chúng sanh được bảo liền tiến đến chỗ Phật , tóc họ
tự rụng , thân mặc ca sa , tay cầm bát đa la. Ðây là pháp
tấn tốc thứ hai.
Lúc thành
Phật , đại Bồ Tát ấy đầy đủ trí khéo biết tâm quá
vị hiện tại của tất cả chúng sanh như chư Phật Như Lai.
Ðây là pháp tấn tốc thứ ba.
Lúc thành
Phật , đại Bồ Tát ấy đầy đủ trí biết bịnh cho thuốc
đối với tất cả chúng sanh như chư Phật Như Lai. Ðây là
pháp tấn tốc thứ tư.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
do thành tựu thiện căn ấy nên khi thành Phật lại được
bốn pháp chẳng bị làm hại : đó là lửa , dao, độc dược
và vật khác không bao giờ làm tổn hại được .Tại sao ?
Vì thân Như Lai không sở y, không sở thọ vậy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
do thành tựu các thiện căn ấy nên khi thành Phật lại được
bốn pháp không ai hơn :
Một
là vì Phật không sở y không sở thọ nên chẳng có chúng
sanh nào có thể ở trước Như Lai mà nói được rằng ta là
Như Lai nói pháp chưa từng nghe nhẫn đến một câu.
Hai là vì
Phật không sở y không sở thọ nên chẳng có chúng sanh nào
có thể ở trước Như Lai mà lập luận được đúng pháp
đến một câu.
Ba là vì
Phật không sở y không sở thọ nên chẳng có chúng sanh nào
có thể tìm được ở Như Lai một chút tâm bất định .Tại
sao ? Vì chư Phâ(t Như Lai luôn an trụ trong từ bi hỉ xả các
đại định.
Bốn là
vì Phật không sở y không sở thọ nên chẳng có chúng sanh
nào có thể thấy rõ được các sắc tướng trên thân của
Như Lai.
Lại nầy
Xá Lợi phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
do thành tựu các thiện căn ấy nên khi thành Phật lại được
đầy đủ năm pháp vô lượng :
Một là
chư Phật Như Lai Thi la vô lượng.
Hai là chư
Phật Như Lai chánh văn vô lượng.
Ba là chư
Phật Như Lai chánh định vô lượng.
Bốn là
chư Phật Như Lai chánh huệ vô lượng.
Năm là chư
Phật Như Lai giải thoát tri kiến vô lượng.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Chư Phật Như Lai đầy đủ Thi la Ba la mật
rồi , do thành tựu các thiện căn ấy nên được bốn trí
vô chướng vô ngại :
Một là
trí biết đời quá khứ vô chướng vô ngại.
Hai là trí
biết đời vị lai vô chướng vô ngại.
Ba là trí
biết đời hiện tại vô chướng vô ngại .
Bốn là
do tâm bình đẳng nên biết tánh ba đời bình đẳng.
Lại nầy
Xá lợi Phất ! Chư Phật Như Lai thành tựu chánh trí .Do chánh
trí ấy nên chẳng nương gá gì khác mà đều biết rõ tất
cả các pháp.
Chư Phật
Như Lai lại thành tựu trí bất tư nghị. Do trí ấy mà biết
rõ tướng mưa gió.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Như Lai biết rõ thế gian có gió lớn tên ô lô
bác ca , cho đến bao nhiêu sự giác thọ của chúng sanh đều
do gió ấy daođộng. Lượng của ngọn gió ấy cao ba câu lô
xá . Không gian trên ngọn gió ấy lại có ngọn gió tên vân
phong, lượng cao năm câu lô xá. Không gian trên ngọn gió vân
phong lại có ngọn gió cao mười do tuần tên chiêm bạc cao.Không
gian phía trên lại có ngọn gió lượng cao ba mươi do tuâén
tên phệ sách phược ca. Không gian phiá trên lại có ngọng
gió lượng cao bốn mươi do tuần tên thứ lai.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Cứ như vậy tuần tự lên trên có sáu muôn tám
ngàn tướng phong luân, do đại huệ đức Như Lai Ứng Cúng
Ðẳng Chánh Giác đều biết rõ cả.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ngọn gió trên cùng tên châu biến thượng giới
là nơi y chỉ của thủy luân. Thuỷ luân ấy lượng cao sáu
trăm tám mươi vạn do tuần , là chỗ y chỉ của đại địa
trên ấy. Ðại địa ấy lượng cao sáu vạn tám ngàn do tuần.
Mặt ngoài đại địa ấy có mô(t Tam thiên Ðại thiên thế
giới.Trong ấy có Phật hiệu Hoằng Uẩn Như Lai đầy đủ
mười hiệu đang hiện tại giáo hóa. Phật Hoằng Uẩn thọ
ba mươi câu chi tuổi , có ba mươi câu chi na do tha Thanh Văn
đệ tử đều là bực đại A La Hán và trăm câu chi đại
Bồ Tát.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Sau khi ta nhập Niết bàn đủ một ngàn năm, đức
Phật Hoằng Uẩn mới nhập diệt, chánh pháp trụ thế đầy
một ngàn năm, Xá lợi lưu bố lợi ích thế gian như la vậy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Trí vô chướng ngại của Như Lai lại biết rõ
quá trên thế giới của Phật Hoằng Uẩn vô lượng vô biên
tướng phong luân và các Phật độ.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Quá trên nữa lại có thế giới khác hiện không
có Phật xuất thế mà có trăm ngàn vị Ðộc Giác ở , chúng
sanh nơi ấy gieo trồng căn lành từ chư vị Ðộc Giác ấy.
Nâéy Xá
Lợi Phất ! Nương trí vô chướng ngại ấy , đức Như Lai
lại biết rõ trên thế giới ấy có hằng hà sa chư Phật
xuất thế hiện đang độ chúng sanh .
Mười phương
vô lượng vô số bất khả tư nghị bất khả xưng lượng
chư Phật Như Lai xuất thế hiện đang độ chúng sanh như vậy,
đức Như Lai dùng diệu trí vô chướng ngại đều biết rõ
cả. Cũng biết rõ tất cả những thế giới ấy hoặc thành
hoặc hoại ».
Ðức Thế
Tôn nói lời trên đây rồi , Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng
đức Như Lai thành tựu những thiện căn gì mà được trí
vô chướng vô ngại vô lượng bất tư nghị ấy ?
Ðức Phật
phán : « Nầy Xá Lợi Phất ! Do đức Như Lai an trụ Thi
la Ba la mật ,có trí huệ đối với chánh pháp phát khởi ý
tưởng cung kính tôn trọng , tưởng là thuốc hay, là trân
bửu , là khó gặp , là thiện căn, lại có thể an trụ nơi
ý tưởng nhiếp chánh pháp. Do đó mà Như Lai được trí lớn
lẹ sáng như vậy và còn có thể biết rõ vô lượng vô số
quá hơn trên nữa.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Trí vô đoạn của chư Phật Như Lai vô lượng
vô số bất khả tư nghị , bất khả xung lượng, bất khả
thuyết tướng vãng lai.
Nầy Xá
lợi Phất ! Chư Phật Như Lai đầy đủ Thi la Ba la mật lại
được sức tự tại , trong khoảng thời gian đàn chỉ , Như
Lai qua đến hằng sa thế giới chư Phật rồi trở lại bổn
xứ.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Như Lai đối với chánh pháp Thi la Ba la mật do
tín giải thanh tịnh mà lắng nghe thọ trì nên được mau chóng
giải thoát. Do giải thoát ấy mà ta khéo giải thoát . Ở trong
pháp gì mà được khéo giải thoát ? Ðó là nơi tất cả sự
khô » mà khéo được giải thoát .
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu có đại Bồ Tát ở nơi bốn thứ cung
kính ấy , nghe pháp ấy rồi được lòng tin thanh tịnh vì
thật hành Thi La Ba la mật mà phát tâm như vâéy : Ta an trụ
như vậy , ta an trụ nơi ấy .Do ta thường an trụ như vậy
nên ta thường chẳng rời chánh pháp chư Phật.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát thọ trì chương cú pháp môn
của kinh nầy , do sức thiện căn như vậy nên lại được
bốn thứ pháp do huệ mà thành tựu :
Một là
do đủ huệ mà hay phát khởi đại huệ.
Hai là do
đủ huệ nên gặp chư Phật gần giũ kính thờ.
Ba là
do đủ huệ nên có lòng tin thanh tịnh xuất gia vào đạo.
Bốn là
do đủ huệ nên mau chứng Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , do thành tựu
sức thiện căn ấy nên đại Bồ Tát lại được bốn thứ
pháp làm nên nhiều :
Một là
được thọ thân người gọi là pháp làm nên nhiều .
Hai là gặp
Phật xuất thế gọi là pháp làm nên nhiều.
Ba là dùng
lòng tin thanh tịnh xuất gia nhập đạo gọi là pháp làm nên
nhiều.
Bốn là
mau chứng Vô thượng Bồ đề gọi là pháp làm nên nhiều.
Lại nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ tát
do thành tựu sức thiện căn ấy nên lại được bốn thứ
pháp chi phần :
Một là
được chi chuyê »n luân , tức là làm Chuyển Luân Vương trong
loài người.
Hai là sanh
trời Phạm Thiên làm Ðại Phạm Vương.
Ba là ở
trong chúng chư Thiên mà làm Thiên Ðế.
Bốn là
chứng Vô thượng Bồ đề rồi đủ tất cả pháp hiệu là
Pháo Vương giáo hóa thế gian.
Ðức Như
Lai lại được các năng lực cát tường , trí thanh tịnh chúng
sanh , cảnh giới thần thông , làm mắt sáng cho Trời , Người
tất cả thế gian ».
Ðức Thế
Tôn muốn tuyên lại nghĩa â&y mà nói kê( rằng :
« Ðấng
mắt sáng cứu đời
Bực
tối thượng tất cả
Giỏi
hiểu phương chữa trị
Nên
chứng quả tịch diệt
Qua
lại theo lời Thầy
Cảm
báo lành như vậy
Chưa
từng bị khổ não
Và
các nghiệp bất thiện
Mau
sanh lên cõi trời
Mau
trở lại loài người
Mau gặp
Phật xuất thế
Mau
rời xa các nạn
Giàu
to của cải nhiều
Mắt
thấy các kho kín
Tay
rờ đến chỗ nào
Tự
nhiên đầy của báu
Hóa
hiện ao hồ đẹp
Thường
đầy nuớc tám đức
Là
quả lành tự tại
Chưa
từng bị ưu não
Tay
chưn chẳng què vá
Không
có tướng xấu xí
Thân
thể chẳng khô héo
Cũng
chẳng có giảm thiếu
Chẳng
gù chẳng thiếu mắt
Ngón
tay chẳng thiếu thừa
Ðầu
khác đỉnh đầu voi
Là
quả lành tự tại
Dung
mạo đều tròn đầy
Chất
nặng như khối vàng
Ðoan
ngiêm người thích ngắm
Da
thứa đều sáng bóng
Chư
Thiên , Long, Quỉ, Thần
Và
mọi người trong đời
Cung
kính đồng cúng dường
Là
diệu đức tự tại
Rời
xa các ác đạo
Ðến
cõi trời cõi người
Mau
ngộ đại Bồ đề
Là
quà lành tự tại
So
sanh đã biết rõ
Tâm
tất cả chúng sanh
Bốn
phương đi bảy bước
Tiếng
tốt cáo thế giới
Người
ấy trí tối thượng
Người
ấy huệ tối thượng
Giải
thoát cũng tối thượng
Tối
thượng trong chúng sanh
Huệ
khiếi huệ thanh tịnh
Huệ
nương trí gầy dựng
Huệ
trí cùng giải thoát
Ðều
chứng y chư Phật
Tự
tánh sanh do huệ
Thấy
biết thì do trí
Nếu
có đủ trí huệ
Cầu
chi đều toại nguyện
Nghĩa
thậm thâm như vậy
Phật
vì ông nói lượt
Người
thiểu dục vô huệ
Ðâu
thọ được nghĩa nầy
Họ
bị si làm si
Các
ác bức ngặt họ
Phát
khởi lòng giận hờn
Chẳng
kính trọng chánh pháp
Nếu
chúng sanh thiểu dục
Với
chánh pháp như vậy
Chẳng
có lòng kính trọng
Lại
phát khởi việc khác
Chúng
sanh chẳng kính pháp
Hờn
ghét và mê chấp
Lòng
họ thưởng ô nhiễm
Chẳng
nên đem dạy họ
Các
người đến ngày già
Suy
yếu bịnh trầm trọng
Ðến
giờ họ lâm chung
Luống
nói trụ thân sau
Các
người đến ngày già
Suy
yếu bịnh trầm trọng
Vọng hưởng phần ứng cúng
Mau
đọa vào địa ngục
Còn
khó được đủ giới
Huống
quả A La Hán
Người
tin xây miễu thờ
Do
đó lại bị đọa.
Laại
nâéy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la Mật , đại
Bồ Tát siêng tu hành giới hạnh như vậy.Vì cầu Bồ Tá§
tạng nên đại Bồ Tát đem thân thờ các bực thầy chánh
hạnh, do đó được công đức như trên đã nói , lại còn
được công đức bội hơn trước vô số lượng vô biên bất
khả tư nghị.Phải biết đại Bồ Tát an trụ tạng Bồ Tát
như vậy khéo thật hành tự tại các Bồ Tát hạnh giới thanh
tịnh vi diệu.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là giới thanh tịnh vi diệu ?
Nầy
Xá Lợi Phất ! Vì thật hành Thi la Ba la mật nên đại Bồ
Tát được mười thứ Thi la thanh tịnh mà ông nên biết :
Một
là đối với chúng sanh không bao giờ làm tổn hại.
Hai
là đối với tài vật của kẻ khác chẳng bao giờ cướp
trộm.
Ba là
đối với thê thiếp của người chẳng bao giờ nhiễm ô.
Bốn
là đối với tất cả chúng sanh chẳng bao giờ khi dối.
Năm
là với quyến thuộc thì hòa hiệp chẳng bao giờ trái rời.
Sáu
là đối với chúng sanh chẳng bao giờ nói thô cộc , vì hay
nhịn chịu ác ngôn của họ.
Bảy
là xa rời ỷ ngữ , vì lời nói ra đều đã suy gẫm kỹ.
Tám
là xa rời tham lam, vì đối với sự thọ dụng của người
không có ngã sở.
Chín
là xa rời giận hờn , vì hay nhịn chịu lời thô việc nhục.
Mười
là xa rời tà kiến , vì chẳng tôn thờ chư Thiên tiên thần
quỉ khác.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
lại được mười thứ Thi la thanh tịnh mà ông nên biết
:
Một
là Thi la chẳng khuyết , vì chỗ chứng được chẳng do vô
trí.
Hai
mlà Thi la chẳng thủng vì sự bất bình đẳng đã xa rời.
Ba là
Thi la chẳng lem, vì tất cả phiền não chẳng xen tạp.
Bốn
là Thi la chẳng nhiễm ô , vì được pháp lành làm tăng trưởng.
Năm
là Thi la đáng dâng cúng , vì tùy ý muốn đều tự tại hành
động.
Sáu
là Thi la đáng ngợi khen , vì các bực trí chẳng quở rầy.
Bảy
là Thi la chẳng thể chê , vì tất cả lỗi xấu đều chẳng
dung chứa.
Tám
là Thi la khéo bảo hộ, vì khéo giữ gìn sáu căn.
Chín
là Thi la khéo phòng thủ , vì chánh trí tự nhiên luôn hiện
tiền.
Mười
là Thi la khéo xu hướng , vì Bồ đề nguyện làm trợ bạn.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát lại được mười thứ Thi la Ba la mật , đại Bồ
Tát lại được mười thứ Thi la thanh tịnh mà ông nên biết
:
Một
là Thi la thiểu dục , vì đúng pháp thanh tịnh khéo biết lượng.
Hai
là Thi la tri túc , vì dứt hẳn tất cả sự tham trước.
Ba là
Thi la chánh hạnh, vì hay làm cho thân tâm đều xa rời .
Bốn
là Thi la tịc tĩnh, vì những ồn náo đều bỏ xa.
Năm
là Thi la có nhiều công đức trừ bỏ thị cục , vì do thiện
căn tự tại mà thành.
Sáu
là Thi la thánh chủng tri túc, vì với dung nhan người chẳng
đoái chẳng hy vọng.
Bảy
là Thi la làm đúng như lời , vì trong tối hay sáng đều phụng
nhiếp chẳng khi Trời, Người.
Tám
là Thi la tự xét lỗi mình , vì thường dùng gương pháp soi
rõ tâm mình.
Chín
là Thi la chẳng chê người kém , vì giữ ý cho người.
Mười
là Thi la thành thục chúng sanh, vì chẳng bỏ rời các nhiếp
pháp.
Lại
nầy Xá lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ
Tát lại được mười thứ Thi la thanh tịnh mà ông nên biết
:
Một
là Thi la lòng tin thanh tịnh đối với Pháp , vì thủ hộ chánh
pháp.
Ba là
Thi la lòng tin thanh tịnh đối Tăng , vì tôn kính thánh chúng.
Bốn
là Thi la cúi xuống làm việc , vì chẳng rời suy tư Phật
Bồ đề.
Năm
là Thi la gần thiện hữu , vì khéo chứa nhóm giác phần tư
lương.
Sáu
là Thi la rời xa ác hữu , vì vứt bỏ tất cả ác pháp.
Bảy
là Thi la Ðại từ Ba la mật , vì thành thục các chúng sanh.
Tám
là Thi la Ðại bi Ba la mật , vì làm cho chúng sanh khốn ách
được giải thoát.
Chín là
Thi la Ðại hỉ Ba la mật , vì với chánh pháp sanh lòng hỉ
lạc.
Mười
là Thi la Ðại xả Ba la mật , vì với các tham sân đều xả
bỏ cả.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát lại được mười thứ Thi la thanh tịnh mà ông nên
biết :
Một
là Thi la Ðàn na Ba la mật , vì khéo thành thục các chúng sanh.
Hai
là Thi la Sằn đề Ba la mật , vì khéo hộ trì tâm chúng sanh.
Ba là
Thi la Tỳ lê gia Ba la mật , vì với các chúng hạnh chẳng
thối chuyển.
Bốn
là Thi la Tĩnh lự Ba la mật , vì khéo đầy đủ tịnh lự
tư lương.
Năm
là Thi la Bát Nhã Ba la mật , vì lắng nghe căn bổn không nhàm
không đủ.
Sáu
là Thi la vui cầu nghe pháp, vì thường tra thỉnh cầu Bồ Tát
tạng.
Tám
là Thi la chẳng bảo trọng mạng sống , vì dùng tâm như ảo
thường quán sát.
Chín
là Thi la các ý nguyện đầy đủ , vì khéo thanh tịnh từ
lúc phát tâm.
Mười
là Thi la hòa hiệp Phật giới luật , vì hồi hướng tất
cả giới của Như Lai.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , vì đại Bồ
Tát đầy đủ giới thanh tịnh như vậy nên chẳng có sự
khoái lạc vi diệu nào của Trời của Người mà đại Bồ
Tát chẳng hưởng thọ , chẳng có nghề nghiệp khéo giỏi
nào của thế gian mà đại Bồ Tát chẳng biết , chẳng có
đồ cần dùng náo của chúng sanh thế gian mà đại Bồ Tát
chẳng đủ , chẳng có phàm phu nào chẳng gây oán hại mà
đại Bồ tát chẳng hề giận họ, chẳng có thế gian nào
chẳng hư dối gạt gẫm mà đại Bồ Tát đều chẳng tin nhận
, không có chúng sanh thế gian nào mà đại Bồ Tát chẳng tưởng
là cha ruột đối với họ , không có chúng sanh thế gian nào
mà đại Bồ Tát chẳng tưởng là mẹ ruột đối với họ
, không có chúng sanh thế gian nào mà đại Bồ Tát chẳng có
ý tưởng bảo nhiệm gần gũi họ, không có một pháp hữu
vi nào mà đại Bồ Tát chẳng tưởng là vô thường sanh diệt.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Biết rõ các hành vô thưởng rồi đại Bồ
Tát chẳng kể thân mạng tu tập giới thanh tịnh thật hành
chánh hạnh của chư Bồ Tát làm, đó là ssể thành mãn Thi
la Ba la mật vậy”.
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
“Trụ
Thi la thanh tịnh
Bồ
Tát có thể dùng
Diệu
sắc diệu âm thanh
Tế
độ người ưa pháp
Mặt
mắt đều viên tịnh
Chẳng
đui điếc què gù
Các
thân phần đoan chánh
Ðều
do tịnh giới sanh
Có
đủ thế lực lớn
Chói
rực oai quang lớn
Lại
do tinh tấn huệ
Khiến
ác ma kinh sợ
Vua
chúa đêéu cúng dường
Trời
rồng đều tôn kính
Khéo
dứt các lưới nghi
Siêng
tu hành đại từ
An
trụ tại giới tụ
Pháp
hành danh xưng lớn
Khổ
bức chẳng e sợ
Trọn
chẳng đọa ác thú
Chúng
sanh hôn mê ngủ
Bồ
Tát đánh thức họ
Thường
không có tạm ngủ
Cầu
pháp khắp bốn phương
An
trụ tại giới tụ
Vì cầu
tại giới tụ
Xả
thí thượng trân bửu
Vợ
con xương thịt mình
Cầu
giáo pháp Vô thượng
Phải
cung kính cúng dường
Các
bực đời dựa nương
Nếu
bị người mắng nhiếc
Não
hại cùng đánh đập
Thêm
thương và khen họ
Là do được
lòng nhẫn
Tu hành đúng
như lời
Lời nói
thường chẳng dối
An tọa đạo
tràng rồi
Ðại địa
đều chấn động
Với Phật
pháp không nghi
Bỏ rời
đại chúng tà
Ðược Nhơn
Thiên tôn thờ
Gọi là
cúng Thế Tôn
Các chúng
sanh thế gian
Dùng dao
gậy hại nhau
Hay khiến
họ hòa hiệp
Ðây là
trí Bồ Tát
Chúng sanh
bị khổ nặng
Nhiều trăm
câu chi kiếp
Dầu họ
chẳng đê&n câéu
Bôé Tát
chẳng bỏ họ
Bạn lành
đàm luận chung
Do đây được
nghỉa lợi
Mà chúng
sanh chẳng cầu
Trở lại
hại lẫn nhau
Bồ Tát
đem trân bửu
Ðầy khắp
cả đại địa
Và quốc
độ chư Phật
Dùng để
cầu thiện hữu
Giả sử
lầy dao bén
Cắt dứt
lìa thân ta
Với các
chúng sanh ấy
Thường
có lòng bình đẳng
Bỏ hành
động kẻ ngu
Làm nhơn
duyên Phật pháp
Thường
giự giới thanh tịnh
An trụ pháp
vi diệu
Tu Tập pháp
tùy thau65n
Hành diệu
hạnh Bồ đề
Tam minh huệ
cam lộ
An trụ tại
giới tụ
Tu học các
Phật pháp
Ðây là
người trí huệ
Trời người
nên cúng dường
Biết rõ
tất cả pháp
Khéo thấu
các nghề giỏi
Hiểu sâu
ý chúng sanh
Hoằng dương
pháp vi diệu
Giới tụ
đã thanh tịnh
An tọa cội
Bồ đề
Hàng phục
quân ma dữ
Ngộ Vô
thượng Chánh giác
Sáng soi
khắp thế giới
Như tia sáng
nhựt nguyệt
Bồ Tát
bực tôn quí
Hay mở mắt
huệ thánh
Trao tay dìu
chúng sanh
Hỏi đạo
đều khai thị
Thường
vui nhận lời người
Chẳng hề
có ganh ghét
Bỏ vô lượng
thân mình
Bố thí
nhiều của báu
Chẳng hề
có xa rời
Phật Bồ
đề tối thượng
Tín giới
đã tròn đủ
Khéo trụ
lời chắc thiệt
Chẳng hề
có ảo ngụy
An trụ tại
giới tụ
Người đến
chỗ Bồ Tát
Hợc đặt
lời hư vọng
Dầu nghe
chẳng phản đối
Mà luôn
nương lời thiệt
Nếu ai hứa
Bồ Tát
Giả nói
cho y thực
Trọn không
đem đến cho
Bồ Tát
không hề giận.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , vì đầy
đủ Thi la thanh tịnh như vậy nên đại Bồ Tát đấi với
các hành thường tưởng là chẳng nên ưa thích , với các
chúng sanh trưởng là cha mẹ , với các hữu tình tưởng khó
bảo tòan , với diệu ngũ dục tưởng chẳng phải diệu ,
với cảm giác hay biết tưởng chẳng hay biết .Có quan niệm
như vậy rồi chẳng sanh khởi tâm bình đẳng chẳng bình đẳng
.Tại sao ? Lúc Bồ Tát quan niệm như vậy , nếu sẽ phát khởi
tâm bất bình đẳng thì nên khiến nhiễm tâm chuyển đổi
bất bình đẳng , suy gẫm rằng nhãn và sắc làm duyên mà
sanh nhãn thức , nhiễm tâm sanh diệt đều do chủng tử mà
tâm thể ấy phát sanh ,đối cảnh sở duyên vọng tâm cho là
tịnh .Nếu suy gẫm biết được nó là phi lý và thể chất
bất tịnh thì được giải thoát , nếu giải thoát nó thì
là nó hết .Nó hết chỗ nào ? Ðó là tham hết , sân hết
, si hết .Hết như vậy thì chẳng phải tham hết sân hết
si hết .Tại sao ? Nếu sát na tham có tận diệt thì lẽ ra
có tham khác hết khác .Như vậy thì lẻ ra tham là thiệt hết
là thiệt.Nếu tham là thiệt thì lẽ ra chẳng diệt tận.
Nhưng
nầy Xá Lợi Phất ! Tất cả hữu tình đều do chẳng chánh
tư duy chẳng tác ý đúng lý nên sanh tham dục , xét về tham
dục do phân biệt mà khởi lên .Nếu không phân biệt thì tình
chấp dứt , nếu tình chấp dứt thì không có thiệt , do vì
không thiệt nên trong đó không có tham, vì không tham nên tức
là chơn thiệt. Nếu là chơn thiệt thì trong ấy không khổ
. Do vì không khổ thì không thiêu não .Vì không thiêu não nên
tức là chơn thiệt .Nếu là chơn thiệt thì trong ấy không
nhiệt .Vì không nhiệt nên tức là thanh lương nên tức là
Niết bàn. Ở trong Niết bàn không có tham ái.
Tại
sao ? Nầy Xá Lợi Phất ! Xét về Niết bàn không có tư lự
.Ta phải trừ diệt tham ái ấy . Vì tham ái hết nên gọi là
được Niết bàn. Nếu như vậy thì năng tham khác và sở tham
khác , Niết bàn lại khác . Ðây nếu khác thì ở kia là kia.
Nếu ở kia là kia , người trí phải nên suy tầm chỗ thiệt
của kia. Suy tầm rồi chẳng được chỗ chắc thiệt .Nếu
không chắc thiệt thì là hư giả .Nếu là hư giả thì là
tịch tĩnh.Nếu là tịch tĩnh thì là không .Không có pháp gì
? Không có ngã và ngã sở hoặc thường hoặc hằng hoặc
trụ hoặc biến dị thì không có hữu tình không có thọ giả
.Do như vậy nên không có khởi tham sân si.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Do cớ gì có ngã và ngã sở , chấp đây là
ngã đây là ngã sở hữu ? Vì điên đảo chấp ngã nên chấp
ngã sở hửu .Vì chấp ngã sở hữu nên có sở tác. Ở trong
sở tác phát khởi bốn hành động, đó là thân sở tác ,
ngữ sở tác , ý sở tác , do ý tư duy khởi thô ác ngữ ,
từ đó bèn phát sanh vận dụng thân để làm hại.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Tất cả phàm phu ngu si do vì họ phát khởi
ý tưởng mình người dị biệt nên bị ý tưởng nó nắm
, bị ý tưởng nó trói.
Ðại
Bồ Tát do thật hành Thi la Ba la mật nên biết rõ sự ấy
là điên đảo rôéi chẳng quen gần các hành.Tại sao ? Vì
do quen gần mà sanh sợ sệt . Ðại Bồ Tát nghĩ rằng nay ta
vì cầu không sợ sệt để độ các chúng sanh thì chẳng nên
ỡ nơi kia mà sanh sợ sệt, ta phải cùng kia thân ái.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là đố với chúng sanh đại Bồ Tát
tưởng là cha mẹ ?
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
nghĩ rằng từ đời lâu xa quá khứ đến nay không có một
chúng sanh nào mà chẳng phải là cha là mẹ .Tất cả chúng
sanh chắc chắn từng làm cha hoặc mẹ ta , do vì ở nơi họ
sanh tâm tham nên bỏ ý tưởng là mẹ , sanh tâm sân nên bỏ
ý tưởng là cha , mãi lưu chuyển sanh tử chẳng dứt .Suy nghĩ
như vậy rồi ở nơi chúng sanh đại Bồ Tát đều tưởng
là quyến thuộc cả.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Như thuở quá khứ vô số vô lượng bất tư
nghị kiếp, bấy giờ có Phật hiệu Tối Thắng Chúng xuất
thế đủ mười hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hành Túc , Thiện thệ , Thế Gian Giải , Vô thượng Sĩ , Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư , Phật Thế Tôn .Phật ấy
thọ chín câu chi năm cùng chín câu chi na do tha chúng đại
Thanh Văn câu hội. Lúc ấy có Bồ Tát tên Ðắc Niệm sanh
tại vương cung, thân hình đoan nghiêm khả ái có đủ sắc
tướng tròn sạch đệ nhứt . Lúc Bồ Tát sơ sanh , phụ vương
đã ban cho tám vạn bốn ngàn thể nữ trẻ , quyến thuộc
lại tặng tám vạn bốn nghìn thể nữ trẻ đẹp , bạn hữu
của phụ vương cũng tặng tám vạn bốn ngàn thể nữ trẻ
đẹp ,muốn lúc Bồ Tát lớn lên có người theo hầu.
Bấy
giờ phụ vương lại vì Bồ Tát mà xây cung điện ba mùa :
Ðiện mùa nóng , điện mùa mưa và điện mùa lạnh , để
Bồ Tát theo mùa tùy ý ở .Lại còn ban cho trăm ngàn kỹ nhạc
làm vui Bồ Tát.
Lúc
nghe nhạc âm nổi lên , Bồ Tát ấy có ý tưởng sanh diệt
vô thường .Lúc tiếng nhạc tạm dứt , Bồ Tát ấy suy tìm
âm thanh ấy nương gì mà khởi , chỗ nào mà sanh, từ đâu
mà dứt , chỗ nào mà mất . Lúc quan sát như vậy , Bồ Tát
ấy chẳng còn ý tưởng ngày đêm sai biệt , chỉ luôn tưởng
vô thường , tưởng không có gì đáng vui ưa ở thế gian cả.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Trong bốn vạn năm , Bồ Tát Ðắn Niệm chưa
hề ham say âm nhạc, lại trong bốn vạn năm nữa , đối với
ngũ dục chưa hề tham nhiễm.
Khi
ấy Bồ Tát Ðắc Niệm ở trong thâm cung nhập tứ tĩnh lự
phát ngũ thần thông ,liền dùng sức thần túc bay lên hư không
thẳng đến chỗ đức Tối Thắng Chúng Như Lai thưa thỉnh
được chút ít chánh pháp rồi trở về bổn cung .
Ngày
đức Tối Thắng Chúng Như Lai nhập Niết bàn , Bồ Tát Ðắc
Niệm lại đến chỗ ở của Phật hỏi chư Tỳ Kheo hiện
nay đức Như Lai ở đâu , tôi muốn được hầu cận cúng
dường .Chư Tỳ Kheo cho biết là đức Phật Tối Thắng Chúng
đã nhập Niết bàn. Bồ Tát ấy được tin đức Phật nhập
Niết bàn liền ngã xuống chết ngất , giây lâu tỉnh lại
nói kệ rằng :
Ðấng
huệ nhựt soi đời
Ðến
bờ kia các pháp
Ta
ở chỗ phóng dật
Tại
sao tự khi dối
Trăm
ngàn câu chi kiếp
Phật
xuất thế một lần
Mà
ta chẳng phụng thờ
Lấy
ai để cứu nương
Như
ta tự suy nghĩ
Mẹ
ta chẳng biết thương
Sao
mẹ chẳng cho hay
Ðể
ta sớm thấy Phật
Cha cũng chẳng biết thương
Vùi
ta trong ngũ dục
Bị
đó giam cầm rồi
Chẳng
gần thờ Như Lai
Chẳng
được nghe lời Phật
Sáu
mươi âm thanh diệu
Ðời
sống mất lợi lành
Vì
chẳng phụng thờ Phật
Ðấng
đại bi cứu đời
Ðến
bờ kia các pháp
Ta bị kiêu
dật nắm
Chẳng gần
thờ Thế Tôn
Ngàn ức
do tha kiếp
Khó thấy
được chư Phật
Ta chẳng
lo cúng dường
Nhập diệt
rồi mới đến
Nay ta lại
suy nghĩ
Cha mẹ đều
chẳng tốt
Lúc ta vừa
lớn khôn
Sao chẳng
nhắc đến Phật
Cho ta được
thấy Phật
Thường
gần kề Như Lai
Ðể luôn
luôn cúng dường
Và được
nghe chánh pháp
Ðức Như
Lai tuyên dương
Sáu mươi
âm thanh diệu
Mà ta chưa
được nghe
Nhập diệt
rồi mới đến
Nay ta mất
lợi lành
Niết bàn
rồi mới đến
Không ai
nói diệu pháp
Như Phật
trước đã nói.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Bồ Tát Ðắc Niệm đi đến bên giướng đức
Tối Thắng Chúng Như Lai nhập Niết bàn khóc than thảm thiết
đi nhiễu bên hữu giường Như Lai trăm ngàn vòng rồi đứng
qua một phiá mà nói kệ rằng :
Phật
là đấng quần sanh tôn quí
Hiển
dương pháp nhiệm mầu Vô thượng
Nay
ta phát khởi tâm chí thành
Ðể
được Bồ đề tối thắng ấy
Nay
ta kính lễ chưn Như Lai
Ðấng
trí huệ lớn lời chơn thiệt
Nguyện
ta sẽ được trí huệ ấy
Ðồng
như trí huệ Phật đã được
Xưa
ta hèn kém không trí huệ
Ðọa
trong phẩm loại hàng ma ngoại
Ở
nhà ở cung nhiều ép buộc
Chẳng
được gần Phật để phụng thờ
Ta
đã từng tu phước thắng diệu
Do
đó được tạm thấy Như Lai
Nhưng
chưa được Phật rộng dạy truyền
Nên nay ta
phải khổ sầu lớn
Nay ta đối
trước chúng Thiên Long
Phát nguyện
chí thành lời chơn thiệt
Nếu ta kỳ
vọng mà chơn thiệt
Sẽ đúng
như lời đều toại nguyện
Nguyện ta
sẽ ở đời vị lai
Chư Phật
Như Lai hiện ra đời
Thấy nghĩa
thậm thâm dụng rộng lớn
Tuyên nói
chơn thiệt pháp Vô thượng
Ta chẳng
sanh nhằm các chướng nạn
Ðối với
ngũ dục chẳng ham gần
Tự tại
với sắc chẳng bị chuyển
Xô sập
nhà giam của quân ma
Ðời đời
thường được thấy chư Phật
Hiện tiền
được nghe pháp Vô thượng
Thầy Phật
sanh lòng tin thanh tịnh
Sanh lòng
tin rồi tu các hạnh
Nếu nguyện
chí thành của ta phát
Quyết sẽ
thiệt được không hư luống
Khiến đức
Như Lai lại ngồi dậy
Như đương
ngủ say bỗng thức giấc.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Bồ Tát Ðắc Niệm phát lời chí thành xong
, đức Tối Thắng Chúng hiện nằm nhập Niết bàn thoạt ngồi
dậy .Bấy giờ trăm ngàn câu chi chư Thiên đem y thượng diệu
rải lên cúng dường .Bồ Tát Ðắc Niệm vui mừng bay bọt
lên hư không nói kệ rằng :
Ðấng
đại từ bi soi sáng đời
Ðấng
đại Ðạo Sư đại thần thông
Ðấng
đại giác ngộ thế gian nương
Ðấng
tuyên chánh pháp diệu Vô thượng.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Bồ Tát Ðắc Niệm nói kệ ca ngợi đức Phật
rồi lại muốn cho đại chúng càng thêm vui mừng nên ở trước
đức Phật nói kệ rằng :
Ta
ở đời sau sẽ là Phật
Xuất
thế độ sanh như Thế Tôn
Ðại
chúng phải nên bắt chước học
Sắm
đủ mọi thứ cúng dường Phật
Ðấng
đời dựa nương khó nghĩ bàn
Có
ai thấy Phật chẳng kính mến
Phật thương
chúng ta và chúng sanh
Ðã nhập
Niết bàn lại ngồi dậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Bồ Tát Ðắc Niệm ấy ở trong chánh pháp
của đức ối Thắng Chúng Như Lai sắp đặt cúng dường to
lớn tròng các gốc lành .Do sức thiện căn ấy , sau khi mạng
chung sanh lên các cọi trời , trải qua hai mươi câu chi đại
kiếp chẳng đọa ác đạo , lại trải qua hai mươi câu chi
đại kiếp chẳng thọ dục lạc. Trong thời gian ấy , Bồ
Tát Ðắc Niệm gần gũi cúng dường bảy ngàn đức Phật.
Vì cầu Vô thượng Bồ đề nên thường tu phạm hạnh. Ở
kiếp sau cùng trong thời kỳ mạt thế cảm được thân thắng
thượng từ sức thiện căn phát khởi thành Ðẳng Chánh Giác
hiệu là Ta La Vương Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri, Minh
Hành Túc , Thiện Thệ , Thế Gian Giải , Vô thượng Sĩ , Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư , Phật , Thế Tôn , thọ hai
mươi câu chi năm , cùng các đệ tử hai hội thuyết pháp .Hội
thứ nhứt có hai mươi câu chi đệ tử đại Thanh Văn .Hội
thứ hai có bốn mươi ngàn đệ tử đại Thanh Văn .Tất cả
đều là đại A La Hán hết phiền não có thế lực lớn tâm
được tự tại đã đến bờ kia. Sau khi đức Phật Ta La Vương
nhập Niết bàn , Xá lợi lưu bố xây tháp cúng dường .Chánh
pháp ở đời đủ mười ngàn năm ».
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
«
Xá Lợi Phất nên biết
Bồ
Tát Ðắc Niệm ấy
Hai
mươi câu chi kiếp
Chẳng
sa đọa ác đạo
Lại bằng
thời gian ấy
Chẳng gần
các tham dục
Trong
khoảng thời gian ấy
Gặp bảy
ngàn đức Phật
Ưa thích
các Phật pháp
Thường
tu hạnh thanh tịnh
Sau cùng
chứng
Bồ đề
Hiệu Ta
La Vương Phật
Chứng Vô
thượng giác rồi
Lợi ích
các chúng sanh
Hai mươi
câu chi năm
Tuyên rộng
pháp vi diệu
Chúng hai
mươi câu chi
Hội thứ
hai bốn vạn
Ðều là
đại La Hán
Thánh đệ
tử của Phật
Sau khi Phật
nhập diệt
Xá lợi
rộng lưu bố
Xây sàu
vạn câu chi
Linh tháp
để cúng dưởng
Chánh pháp
trụ tại thế
Ðủ mưởi
ngàn năm trọn
Người nghe
Phật chánh giáo
Sanh lòng
tin thanh tịnh
Ðức Phật
nói chánh pháp
Người trí
chẳng nghi ngờ
Trọn chẳng
đọa ác đạo
Mau chứng
đại Niết bàn.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát do thật hành Thi la Ba la
mật nên giới tụ thanh tịnh , với chúng sanh tưởng là cha
mẹ . Ðại Bồ Tát nghĩ rằng xưa kia ta vì tâm tham mà bỏ
ý tưởng là mẹ, vì tâm sân mà bỏ ý tưởng là cha . Nay
ta thật hành Thi la Ba la mật an trụ nơi giới thanh tịnh ,
nơi ngũ dục kia luôn có ý tưởng nhàm chán xa rời .Do có
chánh tư duy như vậy nên đại Bồ Tát có thể biết rõ tướng
ngũ dục , lại hay biết rõ ngũ dục đáng chán đáng rời.
Những
gì là tướng ngũ dục và nhàm lìa ?
Gọi
là dục tức là tham ái.Với nhãn thức tham, những sắc bị
biết thì gọi là dục.Với nhĩ thức tham , những âm thanh
bị biết thì gọi là dục.Với tỷ thức tham, những hương
bị biết thì gọi là dục. Với thiệt thức tham , những vị
bị biết thì gọi là dục. Với thân thức tham ,những xúc
bị biết thì gọi là dục .Nếu có tham ái thì có chấp trước.Xét
về chấp trước thí gọi là kết .Kết gọi là phát khởi
.Phát khởi gọi là trói.Lại cũng gọi là hí luận chẳng
thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Tất cả chúng sanh đều bị hí luận chẳng
thiệt ấy nó trói ,nó quấn , nó trói khắp , nó tăng thượng
trói khắp mà chẳng giải thoát được.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Tất cả chúng sanh bị những gì trói cột
mà gọi là bị trói ? Ðó là bị sắc nó trói , bị thanh hương
vị và xúc nó trói nên gọi là bị trói.
Lại
những gì là sắc nó trói ? Ðó là ở nơi tự thân chỗ có
những hình sắc vọng sanh ý tưởng là ngã , là mạng giả,
là hữu tình , là thường hằng , là chẳng biến dị , là
thiệt , là toàn ,là hiệp nhứt.Những ý tưởng ấy gọi là
sắc nó trói.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Những gì gọi là sắc trói ? Ðó là ở nơi
tự thể tướng ngã đã được phát khởi ấy rất mến ,
rất quí trọng sanh ngã ái lớn, với thê thiếp quyến thuộc
luyến ái chẳng thôi . Ðây gọi là bị sắc trói.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Các chúng sanh ấy đã được thọ dụng các
dục lạc rồi tạo nên các nghiệp bất thiện , chẳng biết
được đúng thiệt lỗi lầm của ngũ dục.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Tất cả ngũ dục không thứ nào là chẳng
phải tọi lỗi .Thếnên đối với các tội lỗi, người trí
chẳng nên tham dục. Nhưng đọa ác đạo là lỗ nặng của
tham dục, Phật sẽ khai thị tướng ấy cho ông.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào gọi là hay đọa ác đạo là lỗi
nặng của ngũ dục ?
Nầy Xá
Lợi Phất ! Người quen gần gũi dục thì chẳng có chút ác
nào mà chẳng gây tạo .Lúc nó chín mùi thì chẳng có chút
khổ nào mà chẳng gánh chịu .Vì thế nên , nầy Xá Lợi Phất
! Ðức Phật xem thấy tất cả chúng sanh trong thế giới ,
oán hại lớn của họ không gì hơn thê thiếp nữ sắc các
tham dục.
Nấy
Xá Lợi Phất ! Xét về trí tức là Như Lai .Nói là người
vô trí tức là chúng sanh vậy. Nếu là chỗ bị quở trách
của người trí thì gọi là chơn thiệt.Nếu là những sự
nhiếp thọ của người vô trí thì chẳng chơn thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Người vô trí nhận chịu những gì ? Ðó là
nhiếp thọ những pháp hữu vi , nhiếp thọ thê thiếp con cái
.Những người vô trí ấy trở lại bị thê thiếp con cái
nhiếp thọ.Cứ mãi xoay vần nhiếp thọ nhau như vậy thí chẳng
nhiếp thọ thánh đạo.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Vì bĩ trói buộc nơi thê thiếp vợ con nên
người vô trí ấy sanh nhiều chướng ngại nơi pháp lành .
Chướng ngại những gì ? Ðó là chướng ngại xuất gia, chướng
ngại Thi la, chướng ngại tĩnh lự , chướng ngại thiên đạo
, chướng ngại Niết bàn , lại hay chướng ngại các pháp
diệu thiện.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Người vô trí ấy nhiếp thọ thê thiếp nữ
sắc con cái như vậy ,nói tóm lược là nhiếp thọ oán thù
, là nhiếp thọ địa ngục , bàng sanh , ngạ quỉ các ác đạo
, là nhiếp thọ các pháp ác bất thiện, mà chướng ngại
tất cả pháp Hiền Thánh .Vả lại nhiếp thọ thê thiếp nữ
sắc như vậy còn chướng ngại cả sự ăn ngon huống là những
thắng pháp khác.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Tóm lược mà nói về chướng ngại ấy , đó
là chướng ngại thấy Phật , chướng ngại nghe Pháp , Chướng
ngại phụng Tăng , chướng ngại lòng tin đối với Phật ,
Pháp và Tăng , chướng ngại được vô hạn , chướng ngại
bảy Thánh tài : tín ,giới , văn , xả,huệ, tàm và quý.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu nhiếp thọ những sắc dục thê thiếp
nam nữ tức là nhiếp thọ bất tín, ác giới, tà văn, xen
lẫn và tà kiến cùng vô tâm vô quý ,lại cũng nhiếp thọ
bịnh ung, tên độc, khói lửa, rắn độc.
Nầy Xá Lợi Phất ! Nếu thích ở nhà mê say chẳng rời bỏ
tức là thích mồ mả. Thế nên Phật nói ở tại gia như gò
mả, như ở đồng hoang không chỗ dựa nương liền mất tất
cả pháp trắng sạch.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu say đắm nơi sắc dục nam nữ thê thiếp
, phải biết đó chíng là say đắm ngòi nổ của trái pháo
, là say đắm mũi nhọn của dao bén ,là say đắm hòn sắt
nóng đỏ lớn ,là say đắm nằm giường sắt nóng, là say
đắm ngồi ghế sắt nóng.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu say đắm trang điểm vòng hoa hương xoa,
chính là say đắm vòng sắt nóng cứt đái xoa thân.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nếu nhiếp thọ nhà cửa để ở, đó là nhiếp
thọ chum sắt nóng lớn.Nếu nhiếp thọ tôi trai tớ gái công
nhơn , đó là nhiếp thọ quỉ tốt ác địa ngục.Nếu nhiếp
thọ gia súc, đó là nhiếp thọ chó sắt , ngựa đen ở địa
ngục , lại là nhiếp thọ trăm ngàn lính cấm vệ địa ngục.Nếu
nhiếp thọ nữ sắc thê thiếp , phải biết đó là nhiếp
thọ tất cả khối sầu lo buồn khổ.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thà gá nằm trên giường sắt nóng rộng ngàn
na do tha , chớ chẳng dùng lòng ái nhiễm xa nhìn các nữ sắc
thê thiếp của cha mẹ cung cấp, huống là gần kề ôm ấp.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Phải biết phụ nhơn là gốc các sự khổ,
là gốc chướng ngại , là gốc sát hại, là gốc trói buộc,là
gốc ưu sầu , là gốc oán đối ,là gốc sanh manh.
Phải
biết phụ nhơn diệt mất thánh huệ nhãn.Phải biết phụ
nhơn như hoa sắt nóng đỏ rải trên đất chưn dẫm lên đó.Phải
biết phụ nhơn lưu bố tăng trưởng các tánh tà ác.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Cớ gì gọi là phụ nhơn ?
Chữ
phụ ấy có nghĩa là mang gánh nặnh .Tại sao ? Vì hay khiến
chúng sanh mang gánh nặng .Vì hay khiến chúng sanh chịu lấy
gánh nặng . Vì hay khiến chúng sanh khốn nơi gánh nặng.Vì
hay khiến chúng sanh khốn nơi gánh nặng. Vì hay khiến chúng
sanh giữ lấy gánh nặng mà đi.Vì hay khiến chúng sanh vác
gánh nặng đi khắp nơi.Vì hay khiến chúng sanh lòng khổ nhọc
đối gánh nặng ấy.Vì hay khiến chúng sanh bị gánh nặng
ấy nung bức .Vì hay khiến chúng sanh bị gánh nặng thương
tổn vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Chữ phụ ấy lại có nghịa là chỗ mà chúng
sanh thua thiệt.Chỗ trôi chìm của mọi tham ái .Chỗ nộp thuế
của kẻ thuận theo vợ .Chỗ mê hoặc của vợ đẹp .Chỗ
quy đầu của vợ hơn. Chỗ roi vọt của kẻ sợ vợ. Chỗ
phóng túng của vợ tự do. Chỗ khổ mệt của kẻ làm mọi
vợ. Do các cớ ấy nên gọi những chỗ như vậy là phụ.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Chúng sanh trong đời vì cớ vợ chẳng
bỏ nên gánh nặng chẳng bỏ . Những gánh nặng gì ? Ðó là
ngũ uẩn : Sắc uẩn , thọ uẩn , tưởng uẩn , hành uẩn và
thức uẩn.
Phụ
nhơn trong đời có thể làm cho chúng sanh chẳng bỏ gánh nặng
ngũ uẩn như vậy, nên gọi ngũ uẩn là phụ.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lại cớ gì người đời gọi vợ là cố đệ
nhị ? Vì nữ nhơn ấy là bạn thứ hai phạm Thi la, là bạn
thứ hai phạm oai nghi, là bạn thứ hai phạm chánh kiến, là
bạn thứ hai khi uống ăn, là bạn thứ hai đi đến địa ngục
, bàng sanh , quỉ đạo, là bạn thứ hai làm chướng Thánh
huệ , làm ngại vui Niết bàn nhiếp lấy tất cả khổ vậy.
Vì thế nên người đời gọi vợ là cố đệ nhị.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lại cớ gì người đời gọi vợ là mẫu
chúng ? Vì nữ nhơn sanh nhiều lỗi lầm vô biên sự ào dối,
nên gọi là mẫu chúng.Nếu ai đeo theo mẫu chúng tự do thì
nên biết là sa vào trong tay quân ma tự do làm ác.
Phải
biết tất cả nữ nhơn trong đời sanh nhiều lỗi lầm vô
biên ảo dối , lòng họ nhiều tháo động ,nhiều lưu đảng
ngiêng úp chẳng dừng ,lòng họ như khỉ như vượn, họ khéo
thuật hiện bày ảo dối ,vì thế nên gọi nữ nhơn là mẫu
chúng.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nói mẫu chúng tức là thôn mẫu ảo ,
cũng gọi là thành ảo ,là ấp ảo, là thủ đô của
ảovương, là nhà trọ của ảo khách, là quán xá của ảo
nhơn ,là ảo quốc , ảo thôn, ảo xứ , ảo phương, là thế
gian ảo, thế giới ảo, vô biên ảo , quảng đại ảo, vô
lượng ảo , bất tư nghị ảo, quảng đại ảo, vô lượng
ảo , bất tư nghị ảo.Do vì là lỗi nặng dục lạc hay đến
ác đạo nên hiệu nữ nhơn là thôn mẫu ảo.
Thí
như nhà ảo thuật học giỏi ảo thuật ở giữa công chúnh
hiện ra nhiều sự ảo dối.
Cũng
vậy , mẫu ảo thôn học giỏi thuật ảo dối của nữ nhơn,
có thể khiến người chồng hoặc thấy hoặc nghe hoặc rờ
hoặc chạm đều bị trói buộc.
Nữ
nhơn lại giỏi cách mê hoặc, do đó họ có thế lực nhiều
.Phàm họ có động tác như ca vũ cợt cười khóc than, hoặc
đi đứng ngồi nằm đều khiến người chồng chẳng tự chủ
mà bị trói buộc sai sử.
Thí
như trong đời ruộng lúa chín bị mưa đá phá nát ngập lụt.
Cũng
vậy, mẫu ảo thôn như mưa đá tuôn vào ruộng người chồng
phá nát tất cả pháp lành lúa tốt.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Phu nhơn có bao nhiêu là lỗi nặng thẳng đến
ác đạo mà phàm phu ngu si bị họ mê hoặc chẳng hay biết
là lỗi nặng, trởi lại nhiếp thọ thê thiếp nữ sắc rồi
mê say trong ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Vì đại Bồ Tát trí huệ thật hành Thi la
B la mật nên ở nơi các dục lạc biết rõ là lỗi bèn y theo
chánh pháp phát khởi hai ý tưởng : đó là với hàng ngu phu
có ý tưởng là ác nhơn , với chư Phật và Bồ Tát có ý
tưởng là thiện nhơn. Có ý tưởng ấy rồi , đại Bồ Tát
ấy nghĩ rằng nay ta phải đến chỗ thiện nhơn mà không nên
đến chỗ ác nhơn . Ta không nên đến chỗ địa ngục, bành
sanh ngạ quỉ . Ta không nên đến chổ phá Thi la, chỗ phạm
luật nghi.Ta phải đến chỗ tối thắng Vô thượng vô chướng
ngại rời lìa hẳn các pháp ác trược. Ta phải đến chỗ
chư Phật Như Lai đại trí huệ. Ta phải ngược dòng mà đi
, không nên thuận dòng.Ta phải như sư tử rống, chẳng phải
như cheo kêu .Ta phải hiển hiện thế lực như kim sí điểu
vương , chẳng nên hiển hiện sức mọn của côn trùng nhỏ.Ta
phải làm người hiền lương , chẳng nên làm người hiểm
ác hư hỏng .Ta phải ăn món ăn hiền lương thắng thượng
trong sạch, chẳng nên ăn món vô lương, hạ tiện nhơ bẩn.Ta
phải tu hành tĩnh lự vi diệu, tĩnh lự tối thắng ,tĩnh lự
thù đặc, tĩnh lự đệ nhứt , chẳng nên tu hành các tĩnh
lự hạ liệt không phải các loại tĩnh lự trên.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát nghĩ rằng ta phải du hí trong
tĩnh lự chư Phật , chẳng nên di hí trong các tĩnh lự của
Thanh Văn , Ðộc Giác phàm phu .Ta phải tu hành tĩnh lự không
y dựa ,chẳng nên tu hành tĩnh lự y dựa nơi sắc, y dựa nơi
thọ tưởng hành thức , chẳng nên tu hành tĩnh lự y dựa
nơi địa thủy hỏa phong, cũng chẳng tu hành tĩnh lự y dựa
dục giới sắc giới vô sắc giới , cũng chẳng tu hành tĩnh
lự y dựa nơi đã thấy đã nghe đã nhớ đã biết đã được
đã chạm đã chứng. Ta phải tu hành tĩnh lự không y dựa
. Do tu tập như vậy nên chẳng tổn mình cũng chẳng tổn người
cũng chẳng cùng tổn.Ta phải cần cầu viên thành Phật trí
há lại nên cầu các dục lạc thế gian.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc tu hành Thi la Ba la mật có chánh quán như
vậy rồi , đại Bồ Tát lại phải phát khởi bốn thứ chán
lìa :
Một
là có thể đối với các dục lạc mà sanh chán lìa.
Hai
là đối với các cõi có thể sanh chán lìa.
Ba là
đối với các chúng sanh chẳng biết ơn hay sanh chán lìa.
Bốn
là đối với tất cả chỗ làm những khổ não hay sanh chán
lìa.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
quan sát các hữu tình ở nơi ác đạo thấy nữ sắc đẹp
sanh lòng tham thì phải phát khởi bốn ý tưởng chán lìa ,
đó là những ý tưởng thối thất ,té ngã , đi cầu tiêu
và mủ chảy cứt thúi dơ.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Các hữu tình ở ác đạo mà có hiểu biết
,thấy nữ sắc đẹp còn phải có bốn ý tưởng như trên
huống là loài người .
Nầy
Xá Lợi Phất ! Các thiện nam tử ở Ðại thừa, những người
chán lìa tất cả pháp hữu vi khi thấy nữ sắc đẹp phát
khởi bốn ý tưởng : Thối thất ,té ngã , đi cầu tiêu ,mủ
cứt , nếu còn sanh lòng tham thì lại phải phát sanh ba ý tưởng
thân thuộc, nếu bằng mẹ thì tưởng là mẹ, bằng chị em
thì tưởng là chị em, bằng con cháu thì tưởng là con cháu.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát nghe Phật giảng dạy mà khéo
hiểu được thì phải tùy thuận kinh điển Thi la Ba la Mật
như vậy .Tại sao ? Vì khó có chúng sanh nào từ đời lâu
xa đến nay mà chẳng phải đã từng làm cha mẹ ta .Nếu gần
kề thê thiếp nữ nhơn đó là gần kề người mẹ đời quá
khứ vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nghe Phật giảng dạy rồi , đại Bồ Tát vì
được thanh tịnh nên phải siêng tu học như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Ngu phu trong đời trái nghịch chẳng tin chánh
pháp ấy .Bồ Tát thì tùy thuận chánh pháp không trái nghịch.
Nếu
ai đã tu hành chánh quán ấy mà tâm tham vẫn còn , thì phải
theo đúng lý để quán sát tâm tham ấy thấy gì mà phát sanh.Nếu
do nơi nhãn căn mà khởi tâm tham, lại phải theo đúng lý quán
sát : Ta do nhãn căn mà phát khởi ái nhiễm , vậy ai thấy
được nhãn căn ? Có phải là nhãn căn thấy nhãn căn chăng
, thế thì tự nó thấy nó cjhăng ? Tại sao ? Kia cũng là nhãn
căn mà đây cũng là nhãn căn , đều do tứ đại tạo thành,
lại do đại chủng sanh ra. Chẳng phải do tự thể kia ở nơi
tự thể nầy mà sanh nhiễ ái , lại chẳng phải nơi tự thể
ta mà sanh nhiễm ái . Tại sao ? Vì kia tức là đây vậy .Nếu
ở nơi kia sanh nhiễm ái thì phải ở nơi đây sanh nhiễm ái
.Tại sao ? Vì không sai khác vậy .
Phàm
phu trong đời ngu si cùng chung trong tham ái , ta phải cầu những
pháp khác biệt họ. Tại sao ? Vì những cảm giác ái dục
đều vô sở đắc vậy”.
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằnh :
“Lẫn
nhau đồng một thể
Ðều
không tánh sai khác
Do
trái lý tà chấp
Phát
khởi tâm tham ái
Sao
do tứ đại sanh
Lại
nhiễm được đại tạo
Các
pháp dường như ảo
Không
gì khởi tham ái
Ngu
phu nhận biết sai
Vọng
sanh lòng tham ái
Kẻ
bất hiếu sanh tham
Người
hiền thiện không ái
Khắp
cả mười phương cõi
Không
tìm được tham thiệt
Chỉ
do nhận biết sai
Nên
sanh lòng tham ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát quán sát như vậy rồi mà lòng tham ấy vẫn còn ,
lại phải tùy thuận kinh điển như vầy : Nhãn căn như khối
bọt nước chẳng bốc nắm được .Tại sao ? Vì khối bọt
nước chẳng bốc nắm được .Tại sao ? Vì khối bọt nước
ất cũng như tất cả pháp đều không có ngã cũng không có
tình , không có thọ giả, không tri giả, không kiến giả ,
không nhơn giả , không ý sanh, không tác giả , không thọ giả
. Ở trong tất cả pháp vô tác vô thọ như vậy thì ai nhiễm
ái được và nhiễm ái chỗ nào ?
Nầy
Xá Lợi Phất ! Nhãn căn như bóng nước chẳng cứng chắc
.Tại sao ? Vì bóng nước cũng như tất cả pháp vốn không
có ngã , không có tình, không thọ giả, không tri giả, kiến
giả,không có nhơn , không tác giả , không thọ giả. Ở trong
những pháp không tác không thọ như vậy ai nhiễm ái được
, nhiễm ái chỗ nào ?
Nầy
Xá Lợi Phật ! Nhãn căn như dương diệm do khát ái sanh như
cây chuối chất chẳng cứng chắc , như cảnh mộng chẳng
thiệt , như vang docác duyên , như bóng y nghiệp mà hiện ,
như áng mây bay tan, như chớp xẹt liền mất , như hu không
rời ngã ngã sở , như cỏ cây đất đá vì là vô tri, như
máy chuyển động theo gió ,như đống rác mục mau thúi rã
, như giếng trên gò luôn gìa khô , nhãn căn chẳng còn lâu
rồi sẽ chết hư vốn không ngã ,không tình ,không mạng ,không
tri giả kiến giả , không nhơn ,không tác giả thọ giả ,ai
nhiễm ái và nhiễm ái chỗ nào ?
Như
nhãn căn , quán sát những căn những trần tất cả các pháp
cũng theo đúng lý như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc đại Bồ Tát quán sát đúng lý như vậy
mà còn bị các tham ái kéo dắt thì không bao giờ có.
Ðại
Bồ Tát chánh quán như vậy ,phải biết là rời hẳn tham ái
đối với các pháp . Ðây gọi là lúc thật hành Thi la Ba la
mật , đại Bồ Tát diệt các tham ái trọn vẹn thanh tịnh.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thật hành Thi la Ba la mật như vậy , đại
Bồ tát chẳng là những nghiệp hại chúng sanh , dầu cho lúc
mạng sống của mình bị đe dọa cũng chẳng làm tổn hại
tất cả chúng sanh, chẳng làm những nghiệp trộm cướp ,tà
hạnh, vọng ngôn , ác khẩu ,ly gián , ỷ ngữ ,chẳng sanh lòng
tham,lòng sân ,tà kiến .Dầu cho mạng sống của mình bị đe
dọa cũng chẳng phạm các điều ác ấy . Ðây gọi là Thi
la thanh tịnh.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Do thật hành Thi la Ba la mật nên đại Bồ
Tát đầy đủ vô lượng vô biên Phật Pháp.
Do thật
hành Thi la Ba la mật nên đại Bồ Tát đầy đủ thành tựu
Thi la chẳng khuyết ,vì chẳng gần kề kẻ vô trí vậy . Ðầy
đủ thành tựu Thi la chẳng lủng ,vì hay xa rời pháp bất
bình đẳng vậy . Ðầy đủ thành tựu Thi la chẳng lem, vì
chẳng gần kẻ ác và các phiền não vậy. Ðầy đủ thành
tựu Thi la chẳng ô nhiễm ,vì chỉ do pháp lành làm tăng trưởng
vâ(y. Ðầy đủ thành tựu Thi la ứng cúng ,vì làm như sở
nguyện vậy. ÐDầy đủ thành tựu Thi la khen ngợi ,vì chẳng
bị người trí quở trách vậy. Ðầu đủ thành tựu Thi la
khéo giữ gìn, vì viên mãn chánh niệm và chánh tri kiến vậy.
Ðầy đủ thành tựu Thi la chẳng chê ,vì các lỗi lầm chẳng
sanh vậy . Ðầy đủ thành tựu Thi la khéo hộ trì , vì khéo
phòng vệ các ăn vậy . Ðầy đủ thành tựu Thi la cao rộng
, vì được chư Phật nhớ biết vậy. Ðầy đủ thành tựu
Thi la thiểu dục ,vì biết lường vậy . Ðầy đủ thành tựu
Thi la tri túc ,vì dứt vui mừng vậy. Ðầy đủ thành tựu
Thi la chánh hạnh ,vì thân tâm xa rời vậy. Ðầy đủ thành
tựu Thi la tịch tĩnh ,vì chán phiền rộn vậy .Thành tựu
đầy đủ Thi la thánh chủng thiện hỷ , vì chẳng mong chẳng
đoái nhan sắc vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la công đức
ít sự việc ,vì tự tại sanh trưởng các thiện căn vậy.Thành
tựu đầy đủ Thi la làm đúng như lời , vì chẳng dối trới
người thế gian vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la đại từ
, vì chẳng hại mạng sống của tất cả vậy .Thành tựu
đầy đủ Thi la đại bi, vì nhịn chịu tất cả sự khổ
vậy . Thành tựu đầy đủ Thi la đại hỷ, vì chẳng thối
giảm nơi pháp lạc vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la đại
xả , vì tất cả tham sân dứt sạch vậy .Thành tựu đầy
đủ Thi la thường Xét lỗi mình, vì nội tâm thường khéo
có soi xét vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la chẳng chê người
kém khuyết vì khéo thuận hộ tâm chúng sanh vậy. Thành tựu
đầy đủ Thi la thành thục chúng sanh , vì rốt ráo hay đến
thí Ba la mật vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la khéo thủ hộ,
vì rốt ráo hay đến Giới Ba la mật vậy.Thành tựu đầy
đủ Thi la không lòng ghét hại , vì rốt ráo đến Nhẫn Ba
la mật vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la định phần viên mãn
, vì rốt ráo đến Tĩnh lự Ba la mật vậy .Thành tựu đầy
đủ Thi la chánh văn chẳng nhàm , vì rốt ráo đến Ðại huệ
Ba la mật vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la thân cận thiện
hữu, vì khéo tu tập Bồ đề phần tư lương vậy .Thành tựu
đầy đủ Thi la xa rời ác hữu ,vì vứt bỏ đạo bất
bình đẳng vậy. Thánh tựu đầy đủ Thi la chẳng đoái luyến
thân thể mình , vì hằng quán sát vô thường vậy.Thành tựu
đầy đủ Thi la chẳng đoái luyến mạng sống mình ,vì chẳng
thường bảo thủ chỗ sở trọng của mình vậy. Thành tựu
đầy đủ Thi la chẳng sanh lòng ăn năn , vì lòng khéo thanh
tịnh vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la chẳng dối hiện, vì
phương tiện khéo thanh tịnh vậy .Thành tựu đầy đủ Thi
la chẳng não nhiệt ,vì ý tăng thượng khéo thanh tịnh vậy
.Thành tựu đầy đủ Thi la chẳng bồn chồn , vì rời xa các
tham ái vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la chẳng cao mạn, vì
hòa nhu chất trực vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la chẳng
ngang ngược , vì tánh hiền thiện vậy .Thành tựu đầy đủ
Thi la khéo điều phục ,vì không giận hờn vậy .Thành tựu
đầy đủ Thi la tịch tĩnh ,vì tánh an nhiếp vậy .Thành tựu
đầy đủ Thi la thiện ngữ , vì đúng như lời đã nói không
trái nghịch vậy .Thành tựu đầy đủ Thi la thành thục hữu
tình, vì thường chẳng bỏ rời các nhiếp pháp vậy .Thành
tựu đầy đủ Thi la thủ hộ chánh pháp ,vì chẳng tự làm
hư thánh pháp tài vậy .
Nầy
Xá Lợi Phất ! Ðại Bồ Tát trí huệ thanh tịnh giới
tụ như vậy ,thành tựu đầy đủ Thi la Ba la mật , vì Vô
thượng Bồ đề nên có thể khéo tu hành Bồ Tát diệu
hạnh . Ðây gọi là đại Bồ Tát Thi la Ba la mật.
Nếu
chư đại Bồ Tát chuyên cần tu hành Bồ Tát hạnh nầy , thì
tất cả chúng ma, ma dân , thiên ma chẳng nhiễu loạn được
, lại chẳng bị dị đạo hay tha luận đè bẹp ».
Pháp Hội
Bồ Tát Tạng
Phẩm
Thi La Ba La mật
Hết

|