Đức
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất ! « Thế nào là Thi la Ba
la mật đa của đại Bồ Tát mà đại Bồ Tát vì Vô thượng
Bồ đề y theo pháp ấy siêng tu Bồ Tát đạo ?
Nầy
Xá Lợi Phất ! Vì thật hành Thi la Ba la mật mà đại
Bồ Tát có ba thứ diệu hạnh, đó là thân diệu hạnh, ngữ
diệu hạnh và ý diệu hạnh.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Những gì gọi là thân diệu hạnh, ngữ
diệu hạnh và ý diệu hạnh ?
Đại
Bồ Tát rời xa sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, đây gọi
là thân diệu hạnh.
Đại
Bồ Tát rời xa vọng ngữ, ly gián, ác ngữ và ỷ ngữ, đây
gọi là ngữ diệu hạnh.
Đại
Bồ Tát không có thâm trước, giận hờn và tà kiến, đây
gọi là ý diệu hạnh.
Đại
Bồ Tát có đủ ba thứ diệu hạnh ấy thì gọi là Thi la Ba
la mật đa.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa,
đại Bồ Tát suy nghĩ rằng thế nào là thân diệu hạnh, ngữ
diệu hạnh và ý diệu hạnh ?
Đại
Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu thân chẳng làm việc sát sanh, chẳng
làm việc trộm cướp, chẳng làm việc tà hạnh thì gọi là
thân diệu hạnh. Nếu miệng chẳng nói lời vọng ngữ,
ly gián, thô ác, ỷ ngữ thì gọi là ngữ diệu hạnh.
Nếu ý chẳng có tham trước, giận hờn, tà kiến thì gọi
là ý diệu hạnh.
Do có
đủ những chánh tư duy như vậy nên gọi là đại Bồ Tát
hành Thi la Ba la mật đa.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa,
đại Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu nghiệp chẳng do thân ngữ
ý gây tạo thì có thể kiến lập nghiệp ấy được chăng
? Đại Bồ Tát đúng như lý quan niệm rằng nếu nghiệp chẳng
do thân ngữ ý gây tạo thì chẳng kiến lập được hoặc
xanh hoặc vàng hoặc đỏ hoặc trắng hoặc hồng hoặc màu
pha lê, nghiệp ấy lại chẳng phải mắt thấy được, chẳng
phải tai nghe được cũng chẳng phải mũi lưỡi thân và ý
biết được. Tại sao ? Vì nghiệp ấy chẳng phải
năng sanh, chẳng phải sở sanh, chẳng phải đã sanh, chẳng
chấp thọ được, đều không có ai biết rõ được nghiệp
ấy. Đại Bồ Tát suy biết tánh Thi la ấy chẳng thể
làm được. Đã chẳng thể làm được thì chẳng thể
kiến lập được, đã chẳng kiến lập được thì ở trong
ấy chúng ta chẳng nên chấp trước.
Do sức
quan sát hiểu biết như vậy, đại Bồ Tát chẳng thấy diệu
hạnh và Thi la, cũng chẳng thấy người có đủ Thi la, chẳng
thấy chỗ hồi hướng của Thi la.
Thấy
hiểu như vậy rồi, đại Bồ Tát chẳng phát khởi chấp lấy
có thân. Tại sao? Vì có thấy có thân thì có quan
niệm đây là trì giới, đây là phạm giới rồi giữ gìn
giới luật và oai nghi, hoặc hành động, hoặc cảnh duyên,
đều đủ có thấy biết chơn chánh mà hành động. Vì
biết và làm chơn chánh nên gọi là người trì giới.
Đại
Bồ Tát chẳng nắm lấy mình chẳng nắm lấy người mà thật
hành các việc. Chẳng bỏ Thi la cũng chẳng nắm lấy
Thi la mà thật hành các việc. Nếu nắm lấy ngã thì
lấy Thi la. Nếu chẳng lấy ngã thì chẳng lấy Thi la
bất khả đắc thì chẳng hủy phạm tất cả luật nghi.
Nơi luật nghi nếu chẳng hủy phạm thì chẳng gọi là hủy
phạm Thi la, cũng chẳng gọi là nắm lấy Thi la.
Nầy
Xá Lợi Phất! Do nhơn duyên gì mà ở nơi Thi la chẳng
nắm lấy? Đó là biết tất cả pháp là tướng nhơn
duyên. Đã là tướng nhơn duyên thì không có ngã.
Ngã đã không thì nắm lấy chỗ nào?”
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Nếu
có thân ngữ ý thanh tịnh
Lúc
làm thường tu hạnh thanh tịnh
Thường
ở trong cấm giới thanh tịnh
Gọi
là Bồ Tát đủ Thi la
Chư
Bồ Tát Hiền Thánh trí huệ
Khéo
hay hộ trì mười nghiệp lành
Chẳng
do thân ngữ và ý làm
Đây
là Thi la bực trí nói
Nếu
chẳng tạo tác chẳng phải sanh
Chẳng
chấp thọ không hình không hiển
Vì
không có hình không hiển sắc
Nên
chưa từng được để kiến lập
Thi
la vô vi cũng vô tác
Chẳng
phải mắt tai thấy nghe được
Chẳng
phải mũi lưỡi chẳng phải thân
Chẳng
phải tâm ý hay biết được
Nếu
chẳng phải sáu căn hay biết
Thì
không có ai thi thiết được
Quan
sát Thi la thanh tịnh ấy
Chưa
từng nương nắm ở Thi la
Chẳng
cậy trì giới sanh kiêu mạn
Chẳn
thấy có ngã gìn Thi la
Khéo
giữ Thi la không chấp giới
Đầy
đủ Thi la tu quán hạnh
Hư
vọng thấy thân đã trừ bỏ
Bị
thấy hay thấy đều không có
Không
có hay thấy không chỗ thấy
Chẳng
thấy trì giới và pháp giới
Khéo
vào diệu lý pháp không hộ
Đầy
đủ oai nghi chẳng nghĩ bàn
Hay
thủ hộ diệu thiện chánh tri
Ngoài
đây không ai đủ giới được
Người
không thấy ngã không Thi la
Không
ngã sở y hay y giới
Phật
nói rốt ráo thường vô úy
Chẳng
chấp thân ngã và Thi la
Người
nói vô ngã chẳng nắm giới
Người
nói vô ngã chẳng nương giới
Người
nói vô ngã chẳng cầu giới
Người
nói vô ngã giới vô tâm
Chẳng
phá Thi la chẳng nắm giới
Cũng
chẳng chấp ngã giữ Thi la
Không
tưởng có ngã và luật nghi
Là
hạnh Bồ đề bực đại trí
Thi
la như vậy vô sở úy
Người
nầy thường chẳng phạm Thi la
Nếu
hay chẳng chấp có các pháp
Thi
la như vậy được thánh khen
Các
ngu phu thường thấy có ngã
Thấy
ta đủ giới hay trì giới
Họ
hưởng quả trì giới mãn rồi
Thường
bị sa đọa ba ác đạo
Nếu
người dứt hẳn các ngã kiến
Họ
không có ngã không ngã sở
Là
chơn trì giới vì không chấp
Không
còn lo sợ đọa ác đạo
Nếu
người biết được giới hạnh ấy
Không
ai thấy được phạm Thi la
Còn
chẳng thấy ngã và ba cõi
Huống
thấy trì giới và pháp giới.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Thật hành Thi la Ba la mật đa như
vậy, lúc đại Bồ Tát thật hành Bồ Tát hạnh giới thanh
tịnh, có đủ mười thứ cực trọng thâm tâm :
Một
là phát khởi thâm tâm kính phụng các công hạnh.
Hai
là phát khởi thâm tâm càng thêm tinh tấn.
Ba là
phấn khởi ưa thích Phật chánh pháp.
Bốn
là rộng đủ và sùng trọng tất cả nghiệp lành.
Năm
là sâu tín và tôn trọng tất cả quả báo.
Sáu
là đối với chư Hiền Thánh sanh lòng kính ngưỡng
Bảy
là đối với Hòa Thượng và A Xà Lê thì thanh tịnh thị phụng.
Tám
là thường cúng dường các bực Hiền Thánh.
Chín
là cố gắng cầu thỉnh chánh pháp.
Mười
là lúc cầu Bồ đề chẳng kể thân mạng.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Đại Bồ Tát an trụ thâm tâm cực trọng
ấy mà tu tập pháp lành. Những gì là pháp lành ?
Đó là ba diệu hạnh : Thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh
và ý diệu hạnh. Đại Bồ Tát an trụ ba diệu hạnh
ấy là vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu đại Bồ Tát tạng.
Tại sao ? Vì chư đại Bồ Tát y pháp môn ấy thì có
thể đến Vô thượng Bồ đề vậy”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Do
thân mà phát khởi
Nghiệp
lành được Phật khen
Vì
được nghe chánh pháp
Cúng
dường chư Hiền Thánh
Nơi
pháp và Thánh Nhơn
Sốt
sắn thường kính thờ
Vì
lợi ích chúng sanh
Tâm
từ chẳng ganh ghét
Nên
nói lời người trí
Chớ
nói lời khó ưa
Vui
vẻ nói dịu dàng
Phát
ngôn không thô độc
Ý
tưởng thường là lành
Không
hề nghĩ điều ác
Cung
kính giữ tâm từ
Nơi
thánh giáo Như Lai
Lòng
kính vâng nghe pháp
Mau
giác ngộ Bồ đề.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, vì đại
Bồ Tát an trụ mười pháp thù thắng thâm tâm cực trọng
ấy mà cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng nên đối với
chư Hiền Thánh và tất cả Sư Trưởng càng thêm cung kính
thờ phụng cúng dường, nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng
nước.
Lại
nầy Xá Lơị Phất! Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, đại
Bồ Tát phải có đủ mười thứ phát tâm. Những gì
là mười?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát quan sát thân thể nầy
là rắn độc luôn trái hại nhau, nhiều khổ nhiều hoạn,
điên cuồng ghẻ lác, bịnh phong bịnh nhiệt, bịnh hàn bịnh
đàm, là chỗ họp các bịnh tật. Thân thể này lại
như mụt nhọt mụt ung, như bị tên đâm, như dòng nước xiết,
như kẻ xắt thịt, luôn dao động chẳng dừng mau sanh chóng
diệt. Thân thể nầy lại hư ngụy, yều gầy già nua
mau chết, dầu tạm thời còn mà khó ưa được như trong huyệt
mả.
Đại
Bồ Tát lại quan niệm: Thân tật bịnh nầy của ta dầu
trải qua nhiều khổ hoạn mà chưa từng gặp phước điền,
nay ta được gặp, ta phải nương theo các phước điền để
nuôi lớn huệ mạng, bỏ thân chẳng bền, được thân kiên
cố. Vì muốn cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng vi
diệu nên đối với chư Hiền Thánh và Hòa Thượng, A Xà Lê
thường phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng
đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ nhứt”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Ổ
rắn độc tụ họp
Xoay
vần nương gá nhau
Một
thứ tăng động lên
Thì
gây nên khổ lớn
Nào
là mắt tai mũi
Lưỡi
răng các tạng phủ
Bao
nhiêu bịnh đau khổ
Đều
do thân thể sanh
Ghẻ
nhọt cùng khùng điên
Ung
thư và cùi hủi
Dịch
lệ các bịnh dữ
Đều
do thân phát sanh
Thân
nầy nhiều bịnh hoạn
Như
nhọt như trúng tên
Thân
độc hại như vậy
Tạm
còn rồi mau rã
Như
đến trong gò mả
Đều
là cảnh vô thường
Thân
hư mục động dao
Nhiều
bịnh mau sanh diệt
Ta
phải tu thân Phật
Nhơn
nơi nghiệp chánh lành
Đem
thân hư mục nầy
Già
suy mau chết mất
Chuyển
thành thân Như Lai
Và
pháp thân Vô thượng
Đem
thân hư mục nầy
Luôn
chảy nước thúi hôi
Đổi
lấy thân trong sạch
Không
dơ không hôi thúi
Nếu
người sợ lạnh nóng
Che
ngăn phòng ngừa kỹ
Rồi
cũng bị bịnh tật
Già
chết đồng bức hại
Nếu
đem thân lạnh nóng
Chịu
đựng tu nghiệp lành
Trang
nghiêm hạnh trượng phu
Mau
thành thân Vô thượng
Đem
thân siêng cúng dường
Các
Thánh Hiền Tôn Sư
Chuyển
thân mỏng manh nầy
Thành
thân thiệt bền chắc.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ nhứt như vậy để cần cầu pháp môn vi
diệu Bồ Tát tạng, đối với thuyết pháp sư càng thêm kính
thờ cùng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát nghĩ rằng thân thể chẳng bền, phải nhờ che đậy rửa
ráy kỳ cọ mà rồi rốt cuộc vẫn hư rã.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ví như thợ gốm nắn nung đồ sành hoặc
lớn hoặc nhỏ rốt cuộc rồi vẫn hư bể.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thân chẳng bền chắc rồi sẽ hư rã như
những đồ sành ấy.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Như những lá bông trái nương trên
nhánh cây rồi sẽ rơi rụng.
Cũng
vậy, thân nầy chẳng bền rồi cũng sẽ chết mất chẳng
lâu.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Như giọt sương đọng đầu cỏ bị ánh
nắng chiếu đến tất cả chẳng còn.
Cũng
vậy, thân nầy chẳng bền chẳng lâu như sương đầu cỏ.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Như giọt nước trong biển sông mềm
yếu mỏng manh mau tan mau rã.
Cũng
vậy, thân nầy chẳng chắc tánh chất mỏng manh như bọt nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Như bóng nước nổi lên khi mưa lớn,
nổi mau tan cũng mau.
Cũng
vậy, thân nầy chẳng bền tánh chất mỏng nhẹ mau sanh mau
diệt.
Nầy
Xá Lơị Phất! Đại Bồ Tát quan sát kỹ thân thể mình
thấy biết như vậy rồi, lại nghĩ rằng ta từ lâu thọ
lấy thân thể chẳng chắc bền như vậy mà chưa gặp
được phước điền, nay được gặp ta phải nương theo phước
điền để nuôi lớn huệ mạng, đem thân chẳng bền đổi
lấy thân bền chắc. Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu
Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng
dường nhẫn đến bố thí đồ đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ hai”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Như
người thợ gốm kia
Nắn
đất làm đồ sành
Đều
rồi sẽ hư bể
Mạng
sống người cũng vậy
Như
những lá hoa trái
Nương
mọc trên nhánh cây
Rồi
sẽ rơi rụng hết
Mạng
sống người cũng vậy
Như
giọt sương đầu cỏ
Bị
ánh nắng chiếu soi
Giây
lát rồi tan biến
Mạng
sống người cũng vậy
Như
bọt nổi mặt nước
Tánh
nọ vốn mỏng manh
Thân
nầy chẳng chắc bền
Hư
nổi cũng như vậy
Như
trời mưa lớn xuống
Mặt
nước nổi bong bóng
Giây
phút đều tan rã
Thân
chẳng bền cũng vậy
Chẳng
bền cho là bền
Còn
bền cho chẳng bền
Vì
nghĩ tưởng sai lầm
Chẳng
chứng được bền chắc
Nơi
bền biết là bền
Chẳng
bền biết chẳng bền
Hiểu
biết chơn chánh đúng
Chứng
được thân bền chắc
Vì
tu trí huệ thiệt
Thí
đồ nhỏ đựng nước
Nên
đem thân chẳng bền
Đổi
lấy thân bền chắc.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại
Bồ Tát phát tâm thứ hai như vậy. Vì muốn cần cầu
pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp
sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ
dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa,
đại Bồ Tát phát tâm như vầy:
Từ
lâu ta rời xa thiện hữu, bị nạn ác rủ ren nên lười biếng
chẳng siêng tu, ngu độn hạ liệt nhiều tà kiến ác kiến,
không bố thí không tạo phước không làm lành thêm lớn các
nghiệp quả báo.
Lại
nghĩ rằng ta bị tham dục làm mê nên mãi mãi lưu chuyển gây
tạo các nghiệp ác, do nghiệp ác ấy mà cảm lấy thân quỷ
xấu dơ, thiếu đồ cần dùng không có phước điền tối
thắng. Ta lại từng sanh trong ngạ quỷ luôn ăn tro than
trong vô lượng năm, lại trong trăm ngàn năm chẳng nghe tên
nước huống là được uống được dùng.
Lại
nghĩ rằng nay ta gặp được phước điền tối thắng lại
cảm được thân lành nầy có nhiều đồ cần dùng, ta phải
nương phước điền mà tu nghiệp lành chẳng kể thân mạng,
kính thờ các bực Sư Trưởng, Hòa Thượng, A Xà Lê.
Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối
với thuyết pháp sư phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố
thí đồ dùng đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ ba”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Thường
thân cận kính thờ
Thiện
tri thức như vậy
Thì
được thành tánh ấy
Nên
phải luôn gần gũi
Vì
kề cận bạn xấu
Rời
xa bạn hiền lành
Nên
lười biếng buông lung
Ghét
ganh bỏn xẻn nịnh
Tà
kiến không bố thí
Bác
bỏ tất cả lành
Ta
từng sanh loài quỷ
Thọ
thân hình tệ xấu
Ở
sanh tử lâu ngày
Trong
tối tăm đáng sợ
Đói
khát đốt khổ não
Chịu
rất nhiều khổ sở
Trong
nhiều trăm ngàn năm
Chưa
nghe được tên nước
Chẳng
thấy được phước điền
Chẳng
thoát khỏi nạn ấy
Nay
ta được thân lành
Khó
được ở thế gian
Lại
gặp được hiền minh
Đầy
đủ khỏi các nạn
Lại
rời xa bạn ác
Gặp
được bạn hiền lành
Thề
chẳng kể thân mạng
Để
được chứng Bồ đề
Dùng
tâm lành thanh tịnh
Cung
phụng bực Tôn Sư
Cũng
sẽ cúng dường Phật
Để
được chứng Bồ đề.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại
Bồ Tát pháp tâm thứ ba rồi, vì cần cầu pháp môn vi diệu
Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính
thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy:
Từ
lâu ta rời xa bạn lành gần gũi bạn xấu nên biếng lười
phóng túng siêng làm việc quấy, ngu si vô trí, lúc thấy có
chúng sanh khổ não kêu khóc, lại dùng tay đánh đập não hại.
Do đó lại sanh nhiều ác kiến cho rằng không có nghiệp ác
báo ác.
Lại
do giận hờn mê lòng nên gây tạo nhiều nghiệp ác, do nghiệp
ác ấy cảm thọ thân súc sanh xấu dơ, thiếu đồ cần dùng
lại không có tất cả phước điền tối thắng.
Bồ
Tát nghĩ rằng lúc ta ở trong loài súc sanh, hoặc làm lạc
đà hoặc làm bò lừa ăn cỏ rác, thêm bị la mắng đánh đập
đe dọa bắt buộc mang nặng đi xa.
Lại
nghĩ rằng thuở trước dầu bị khổ nhiều mà chẳng gặp
được phước điền, nay ta được gặp, lại được thân
lành nầy, ta nên nương phước điền để tu nghiệp lành,
chẳng kể thân mạng, kính thờ Sư Trưởng, đem thân chẳng
bền đổi thân bền chắc. Vì muốn cần cầu pháp môn
vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ
cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ tư”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Từ
lâu thuở trước kia
Chưa
biết lên đường thánh
Đọa
loài đà bò lừa
Chịu
nhiều điều khổ cực
Nay
ta được thân người Phải tu nghiệp hiền thiện
Để
được chứng Bồ đề
Đó
là tướng trí huệ
Ta
phải nên cung kính
Kiến
lập các Phật pháp
Thờ
cúng thuyết pháp sư
Để
được đại Bồ đề
Quá
khứ nan tư kiếp
Vòng
quanh trong sanh tử
Lại
qua mãi vô ích
Không
phước điền nuôi mạng
Rời
xa bạn thầy lành
Thường
gần các bạn xấu
Nghe
lời họ khuyến dụ
Luôn
đọa các ác đạo
Đối
với loài bàng sanh
Cột
nhốt đánh mắng chúng
Do
các nghiệp ác ấy
Chịu
lấy quả khổ cực
Làm
lạc đà bò lừa
Mang
nặng thêm bị đánh
Vì
chẳng gần bạn lành
Nay
ta được thân người
Và
bạn thiện tri thức
Đã
được sanh thiện đạo
Lại
được khỏi các nạn
Như
rùa đui đáy biển
Mừng
gặp bộng cây trôi
Khéo
giữ gìn thân khẩu
Tâm
tinh tấn cường thạnh
Thờ
thiện hữu không dua
Nuôi
lớn thân huệ mạng
Nếu
có bực Tôn Sư
Khai
phát huệ mạng ta
Hay
giảng nói diệu pháp
Thẳng
đến đường Bồ đề
Cúng
dường chư Như Lai
Những
hương hoa hương bột
Y phục
và tràng hoa
Ta
phải thường thờ kính
Hiện
tại thập phương Phật
Thường
khai thị thắng nghĩa
Đấng
kim sắc vô biên
Phải
kính thờ cúng dường
Đi
khắp các quốc độ
Cúng
dường Điều Ngự Sư
Vì
thanh tịnh giác đạo
Sẽ
thăng tòa đại giác.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ tư ấy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn
vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với pháp sư càng thêm vâng
thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy :
Thuở
trước vì ta rời xa thiện hữu gần gũi ác hữu nên lười
biếng phóng túng vô trí ngu si siêng làm những điều hạ liệt.
Vọng nghĩ rằng đem thịt của tất cả hữu tình nấu chung
một nồi, xắt chung làm gỏi, việc làm ấy chẳng phải tội,
chẳng bị ác báo, chẳng sanh ác đạo. Vì ác kiến nên
nghĩ rằng bố thí cho tất cả hữu tình được sung túc, việc
làm ấy chẳng gọi là phước, chẳng được phước báu, chẳng
sanh nơi phước. Lại vì ác kiến nên cho rằng dầu giết
hại tất cả hữu tình cũng chẳng bị ác báo chẳng sanh ác
đạo.
Bồ
Tát nghĩ rằng thuở trước ta làm những việc ấy mà chẳng
biết được là tội chẳng tội, là phước chẳng phước,
quen gần bạn ác ngu si vô trí gây nhiều nghiệp ác, do đó
bị đọa vào địa ngục cảm lấy thân tệ hạ xấu dơ, hoặc
nuốt hòn sắt đỏ, hoặc bị cưa xẻ, chịu khổ không hở
đến nhiều trăm ngàn năm, chẳng hề được nghe sự vui huống
là được hưởng.
Bồ
Tát laị nghĩ rằng thuở trước dầu ta trải qua nhiều đau
khổ như vậy mà vẫn chẳng gặp được phước điền.
Nay ta được gặp phước điền lại cảm được thân người,
ta phải nương phước điền nuôi lớn huệ mạng, đem thân
chẳng bền đổi thân bền chắc, phụng thờ Sư Trưởng chẳng
kể thân mạng. Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát
Tạng nên đối với thuyết pháp sư vâng thờ cúng dường
nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ năm ».
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
« Xưa
ta gần bạn ác
Bị
tâm ác mê hoặc
Nương
theo các ác kiến
Gây
tạo các nghiệp ác
Khắp
biển cả đất liền
Bố
thí no đủ cả
Cho
rằng chẳng được phước
Khắp
biển cả đất liền
Có
bao nhiêu chúng sanh
Ta
đều giết hại cả
Cho
rằng chẳng có tội
Luôn
gần kề tập quen
Các
ác kiến như vậy
Đọa
địa ngục tột khổ
Ép
dẹp cả đầu mình
Xưa
ở các ác đạo
Luống
thọ trăm ngàn thân
Chưa
hề thấy chư Phật
Đấng
Đạo Sư thế gian
Thiện
tri thức trong đời
Tiếng
ấy còn khó nghe
Ta
may được thân người
Phải
tu nghiệp hiền thiện
Được
thân người rất khó
Sống
lâu cũng là khó
Nghe
chánh pháp càng khó
Phật
xuất thế khó hơn
Ta
đã được thân người
Cảm
mạng sống mỏng manh
Gặp
được Phật ra đời
Dự
chánh giáo Như Lai
Ta
chẳng còn nên làm
Nghiệp
ác thân khẩu ý
Chớ
để đời sau nầy
Thọ
quả báo khổ cực
Ta
phải dùng tịnh tâm
Tu
tập nghiệp thanh tịnh
Do
thân ngữ và ý
Làm
việc đời khó làm
Ta
trọn chẳng sai trái
Chánh
giáo của Tôn Sư
Lại
phải siêng cúng dường
Vì
cầu Bồ đề Phật
Do
ta chẳng du dối
Không
có lòng ảo ngụy
Nên
mở đường thẳng dài
Cầu
Phật đạo vô thượng
Đại
Bồ Tát vô úy
Đã
phát tâm như vậy
Cúng
dường đồ đựng nước
Phương
tiện huệ đầy đủ.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ năm rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi
diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm
kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy :
Từ
lâu tôi rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng
phóng túng siêng làm việc hạ liệt, ngu si vô trí. Do
đó mà vọng bỏ những sự tiếp rước cúi mình lễ lạy
chắp tay thăm hỏi các nghiệp báo lành. Vì lòng khinh
mạn mê hoặc nên gây tạo nghiệp ác. Do nghiệp báo ác
nên ở nơi các phước điền chưa từng nuôi lớn huệ mạng
thanh tịnh. Lại nghĩ rằng ta nhơ thuở xưa cảm
thọ thân côi cút nghèo cùng hạ tiện làm tôi tớ cho người
khác. Ta lại thọ lấy thân người đam mê sắc dục,
đam mê tất cả tướng sắc dục, ở trong số ác nghiệp bất
bình đẳng, sanh khởi nhiều thứ tà kiến, phá hư Thi la, phá
hư chánh kiến. An trụ trong ba thứ căn bất thiện, an
trụ trong bốn thứ chẳng nên hành động, bị ngũ cái trum
đậy, chẳng có lòng cung kính đối với sáu ngôi tôn trọng,
chưa chuyển theo bảy giác chi, quyết định hành động trong
tám tánh tà, bị chín thứ não hại làm tổn não, thường
noi đi trên mười đường ác nghiệp, luôn hướng mặt về
phía nghiệp báo địa ngục mà day lưng về phía nghiệp báo
trời, rời xa tất cả thiện tri thức, bị lệ thuộc nơi
các ác hữu, tự tại đi theo ma oán xa các pháp lành mà làm
tất cả pháp bất thiện, lại còn bị đánh đập mắng la
ép buộc phục dịch cung cấp cho kẻ khác.
Đại
Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa vì ta chưa gặp được phước
điền nên nhận lãnh điều ác. Nay ta được gặp phước
điền lại cảm thọ thân người lành tốt nầy, ta phải nương
theo các phước điền, đem thân chẳng bền đổi thân bền
chắc, nuôi lớn huệ mạng, phụng thờ Sư Trưởng chẳng kể
thân mạng. Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng
nên đối với thuyết pháp sư thờ kính cúng dường nhẫn
đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ sáu ».
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
« Gần
kề ác hữu thêm kiêu mạng
Trải
qua vô lượng kiếp quá khứ
Trong
người thọ sanh thân nô tỳ
Lăn
trôi mãi trong dòng sanh tử
Nay
ta đã được thân khó được
Báo
người lành tốt mạnh đệ nhứt
Lại
được sanh trong quốc độ tốt
Gặp
Phật ra đời không nạn khổ
Bạn
lành thầy lành rất thù thắng
Hay
giảng công hạnh Bồ Tát làm
Nhiều
câu chi kiếp nay mới gặp
Chư
đại Bồ Tát công đức lớn
Thân
người vô thường giả mỏng manh
Ví
như bóng nước cùng đống bọt
Lại
như ảo huyễn va vai kịch
Như
ngủ chiêm bao mà nói mớ
Mạng
như mây chớp chẳng lâu dài
Thế
gian niệm niệm sắp tiêu diệt
Mạng
nầy gần như khoảng sát na
Nên
đem chẳng bền đổi thân chắc
Ta
nhớ nhiều kiếp thuở quá khứ
Sa giữa núi mạn chỗ hiểm sâu
Quá
khứ đã từng bị khi dối
Trải
qua trăm ngàn kiếp số lâu
Nay
ta bỏ hết thân tham ái
Lại
không có lòng tiếc mạng sống
Phải
mau rời bỏ lòng kiêu mạn
Phải
siêng kính thờ các Sư Trưởng
Với
các hạng người đời đồng kính
Đó
là cha mẹ anh chị thảy
Phải
mau rời bỏ lòng kiêu căng
Cung
kính vâng dạ tuân lời dạy
Với
chư Bồ Tát gần Bồ đề
Cùng
ta đồng tu Bồ Tát hạnh
Phải
có chặc lòng kính mến nhiều
Thường
vui cúng dường chuyên thờ phụng
Thuở
xưa kiêu mạn lớn cao căng
Chẳng
nghe biết pháp Phật trừ mạn
Phải
dùng trí kim cương vô Thượng
Khiến
núi kiêu mạn ngã nát hẳn
Diệu
hạnh Bồ đề viên mãn rồi
Ngồi
yên trên tòa thắng Bồ đề
Dẹp
phục quân ma bầy tranh đấu
Sễ
độ quần sanh trong biển khổ
Bao
nhiêu kẻ khổ ở mười phương
Nằm
trong phẩn dơ bị chê chán
Phát
khởi tâm từ thương xót họ
Làm
chỗ cứu vớt cho họ về
An
trụ đại thí Ba la mật
Lại
hay phòng hộ Phật giới đức
Tu
hành đầy đủ hạnh nhẫn nhục
Phát
khởi chánh cần khiến hiện tiền
Được
đủ tịnh lự Ba la mật
Bấy
giờ điều phục tâm ở yên
Trụ
nơi đại huệ thiện phương tiện
Làm
phước điền cho tất cả chúng
Thêm
lớn phước lực thạnh như vậy
Bất
khả tư nghị thiện trí thức
Gặp
được bực trí tự tại nhứt
Cúng
dường nhẫn đến đồ đựng nước.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ sáu như vậy rồi, vì cần cầu pháp môn
vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm
kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy:
Từ
lâu ta vì rời xa thiện hữu mà gần kề ác hữu nên lười
biếng phóng túng siêng làm việc hạ tiện ngu si vô trí.
Do ác kiến ấy mà vọng cho rằng không nghiệp ác không báo
ác, không nghiệp lành không báo lành, không nghiệp ác lành
không báo ác lành, không nghiệp chẳng ác lành không báo chẳng
ác lành. Lại chẳng thỉnh hỏi nơi các nhà trí thức
như Sa Môn và Bà La Môn gì là lành gì là chẳng lành, gì là
tội gì là chẳng tội, gì nên tu gì chẳng nên tu, gì nên
làm gì chẳng nên làm, tu công hạnh gì mà phải cảm lấy
vô lợi vô nghĩa và các khổ não nhiều thời gian, tu công
hạnh gì mà cảm được hữu lợi hữu nghĩa và nhiều an vui
lâu dài?
Đại
Bồ Tát nghĩ rằng thuở xưa vì lòng mạn và thắng mê hoặc
nên ta gây tạo nhiều nghiệp ác bất thiện. Do đó cảm
thọ thân người tật nguyền, nơi các phước điền chưa nuôi
huệ mạng, dầu ở trong loài người mà chẳng khác chậu úp
ngu độn khờ khạo mù đui lãng điếc, với nghĩa lý thiện
và ác không có năng lực thông hiểu tuyên nói.
Đại
Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa ta chưa gặp phước điền
thù thắng nầy nên gây tội ác, nay ta được gặp phước
điền thù thắng nầy lại cảm được thân người lành, ta
phải nương phước điền nầy nuôi lớn huệ mạng. Ta
lại phải chẳng kể thân mạng để cầu có năng lực thông
hiểu được những nghĩa về thuyết thiện thuyết ác.
Ta phải thỉnh hỏi nơi thuyết pháp sư gì là thiện gì là
bất thiện, gì là có tội gì là không tội, gì nên tu gì
chẳng nên tu, gì nên làm gì chẳng nên làm, thật hành công
hạnh gì làm cho pháp Thanh Văn và Độc Giác được phát hiện,
thật hành công hạnh gì làm cho pháp Phật và pháp Bồ Tát
được thể hiện?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát vì muốn siêng cầu Bồ Tát
tạng nên y theo Thi la Ba la mật đa mà tu Bồ Tát hạnh đem
thân chẳng bền đổi lấy thân bền chắc, đối với thuyết
pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng
đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ bảy”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Từ
xưa quá khứ trăm ngàn kiếp
Rời
xa thiện hữu người lợi ích
Chưa
từng thưa hỏi tiện bất thiện
Có
tội không tội các nghiệp quả
Do
lỗi kiêu mạn quá tăng thượng
Đọa
trong địa ngục và loài quỷ
Quen
gần ác kiến làm bạn bè
Trải
nhiều trăm kiếp sa ác đạo
Hoặc
sanh loài người nhiều ngàn kiếp
Luân
hồi thọ thân căn chẳng đủ
Chẳng
biết gì thiện gì bất thiện
Có
tội không tội đều chẳng hiểu
Nay
được thân người thật lành mạnh
Đầy
đủ các căn lại than tịnh
Tất
cả các nạn đều rời xa
Như
rùa đáy biển gặp bọng nổi
Gặp
được Thế Tôn đèn soi đời
Nghe
dạy những thánh giáo ly dục
Giờ
đây ta hỏi đức Thế Tôn
Các
nghiệp quả thiện và bất thiện
Gì
là xan tham đọa các nẻo
Gì
không xan tham làm thí chủ
Gì
là tham nịnh ô nhiễm giới
Gì
là luật nghi giữ toàn vẹn
Gì
là giận thù não loạn người
Gì
là không hờn sức nhẫn nhục
Gì
là giải đãi tâm tán loạn
Gì
là siêng năng ưa tịnh lự
Gì
là àc kiến câm ngu si
Gì
là thiện huệ rành chơn thiệt
Gì
là chuyên tu hành Bồ đề
Tìm
cầu đầy đủ hạnh Hiền Thánh
Gì
là tâm từ khắp thế gian
Gì
là cứu tế các ác đạo
Gì
là ưa pháp lòng chẳng nhàm
Hay
cầu Bồ đề Đại thừa tạng
Gì
là qua đến mười phương cõi
Đứng
trước chư Phật hiện tại thế
Gì
là kính thờ tu công đức
Gì
là thưa hỏi hạnh Phổ Hiền
Nay
đây ta phải siêng thỉnh hỏi
Đấng
tôn trọng trong hàng Pháp Sư
Gì
là với Thầy vui kính dâng
Gì
là làm vui lòng Sư Trưởng
Phật
tử đã sanh lòng như vậy
Hay
họp phước lực rất lớn rộng
Và
sức trí huệ thắng tự tại
Vui
mừng cúng dường tất cả vật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ bảy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi
diệ Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm
kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng
nước.
Lại
nầy Xá Lơị Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy:
Từ
lâu ta rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng
phóng túng siêng làm những việc hạ tiện ngu đần vô trí
như câm, rời xa tất cả văn cú có chánh nghĩa, văn cú có
chánh pháp, văn cú có tịch tĩnh có chỉ có quán, có chánh
giác có Niết bàn. Rời xa những văn cú có nghĩa có lợi
thắng diệu như vậy rồi trở lại học tập nghiên tầm thông
đạt tất cả văn cú phi nghĩa, phi pháp, phi giác, phi Niết
bàn. Do đó nên sanh ác kiến vọng cho rằng không có lực
không có tinh tấn, không có quả trượng phu, không oai thế,
không dũng mãnh, không công hạnh, không oai đức. Lại
quan niệm không nhơn không duyên gì có thể khiến hữu tình
nhiễm ô được, hữu tình tạp nhiễm chẳng do nhơn duyên.
Lại quan niệm không nhơn không duyên gì có thể làm cho hữu
tình thanh tịnh, hữu tình thanh tịnh chẳng do nhơn duyên.
Đại
Bồ Tát nghĩ rằng từ lâu vì y theo quan niệm vô nhơn và bất
bình đẳng nhơn ấy nên ta gây nhiều nghiệp ác, do nghiệp
ác ấy nên ta ở trong nhơn loại cảm lấy thân tật nguyền,
nơi các phước điền chưa nuôi lớn huệ mạng. Dầu
ở trong loài người nhưng đồng với chậu úp ngu độn mù
điếc không có năng lực thọ trì đọc tụng suy gẫm thông
đạt những văn cú có chánh nghĩa nhẫn đến những văn cú
tương ưng với Niết bàn.
Đại
Bồ Tát lại nghĩ rằng vì xưa ta chẳng gặp thắng phước
điền nên sanh vọng kiến. Nay ta được gặp thắng phước
điền nầy, ta phải nương theo nuôi lớn huệ mạng, nhẫn
đến chẳng kể thân mạng để cầu lực năng thông đạt
những văn cú tương ưng với chánh nghĩa chánh pháp tịch tĩnh
chỉ quán và Niết bàn. Những văn cú chánh nghĩa chánh
pháp ấy đều nhiếp thuộc pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng.
Nay ta thọ trì đọc tụng tư duy rốt ráo quyết sẽ phát khởi
chánh cần tối thượng suốt đời thờ phụng thuyết pháp
sư. Nay ta y theo Thi la Ba la mật thật hành Bồ Tát hạnh
để ở nơi pháp môn Bồ Tát tạng có thể thọ, có thể trì,có
thể đọc, có thể tụng và tu hành cúng dường vậy.
Đại
Bồ Tát lại nghĩ rằng ta nên đem thân chẳng bền đổi thân
bền chắc, phải khéo tu tập hai món tư lương phước và trí.
Do sức phước và trí ấy mà được thường gần gũi pháp
môn Bồ Tát tạng. Suy nghĩ rồi, đối với thuyết pháp
sư, đại Bồ Tát kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí
đồ đựng nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ tám”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Văn
cú tương ưng chơn pháp nghĩa
Thuận
theo tu tập các đạo chi
Vì
được chứng nhập tánh tịch diệt
Mà
hay lưu thông đường Niết bàn
Xưa
ta rời xa pháp như vậy
Trở
lại nhiễm quen các văn cú
Phi
pháp phi nghĩa phi tịch tĩnh
Nhẫn
đến Niết bàn chẳng tương ưng
Không
có tinh tấn không năng lực
Không
quả trượng phu không oai thế
Bác
bỏ công đức không dũng mãnh
Tất
cả đều không vô sở đắc
Không
có chư Phật cũng không pháp
Không
nhìn cha mẹ và quyến thuộc
Không
có điều ác không điều lành
Hoặc
quả hoặc báo đều bác bỏ
Từ
thuở vô thỉ đến ngày nay
Luôn
quen làm các ác kiến ấy
Do
đó bị đọa trong địa ngục
Thọ
khổ mãi mãi khó ra khỏi
Rồi
sau chuyển đọa loài bàng sanh
Lại
đọa loài quỷ các ác đạo
Có
lúc được sanh trong loài người
Ngu
mê vô trí thêm câm ngọng
Đần
độn chơi bời và đui điếc
Do
đó lại gây các nghiệp ác
Rồi
đọa địa ngục và quỉ súc
Chịu
nhiều khổ cực ngu tối thêm
Ta
từ lâu xa vô lượng kiếp
Chưa
từng được thân thanh tịnh nầy
Đã
được các căn đều đầy đủ
Bấy
giờ phải mau thêm tinh tấn
Các
pháp tương ưng với thiệt nghĩa
Hay
làm trợ bạn cho tịch tĩnh
Đường
đến Bồ đề cùng Bồ đề
Ta
phải kịp thời cầu pháp ấy
Tạng
bí áo chư đại Bồ Tát
Tương
ưng nghĩa chơn thiệt rất sâu
Trải
qua trăm ngàn câu chi kiếp
Nếu
ai được nghe là hi hữu
Và
những Phật pháp khác như vậy
Vô
lượng vô số bất tư nghị
Ta
phải tinh tấn thọ rồi trì
Để
được chứng Bồ đề Vô thượng
Lại
phải chánh cần khởi cung kính
Kính
thờ cúng dường thuyết pháp sư
Đó
là chư Phật chư Bồ Tát
Nơi
Pháp Sư nghe pháp Vô thượng
Chư
đại Bồ Tát vô sở úy
Phát
khởi tâm dũng mãnh như vậy
Trí
huệ phương tiện khéo thành tựu
Nhẫn
đến bố thí đồ đựng nước.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ
Tát phát tâm thứ tám như vậy rồi, vì muốn cần cầu pháp
môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng
thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng
nước.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại
Bồ Tát phát tâm như vầy:
Tất
cả chúng sanh bị lệ thuộc nơi việc làm vô nghĩa nên tiếc
luyến thân mạng chấp lấy việc vô nghĩa, chẳng hay phấn
khởi làm việc nghĩa lợi.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là chấp lấy việc vô nghĩa?
Đó là với thân mạng thì luyến tiếc, với pháp phần Bồ
đề không để lòng, chấp ngã ngã sở làm tiền đạo, nơi
thân mình luôn phòng vệ tắm rửa săn sóc trang sức trân quý,
đây gọi là chấp lấy việc vô nghĩa.
Lại
còn có chấp lấy việc vô nghĩa. Đó là luyến tiếc
thân mạng, nơi pháp phần Bồ đề chẳng để lòng, chấp
ngã và ngã sở làm tiền đạo, bảo bọc chăm nom vợ con anh
em bạn bè thân thuộc, nhẫn đến chấp trước tất cả đồ
vật cần dùng và đồ trân ngoạn. Đây là chấp việc
vô nghĩa.
Lại
còn có chấp lấy việc vô nghĩa. Đó là với thân mạng
thì luyến tiếc, với pháp phần Bồ đề thì chẳng để lòng,
chấp lấy ngã và ngã sở làm tiền đạo, đối với tôi trai
tớ gái thì phòng vệ sai khiến đánh mắng giam nhốt, đây
gọi là chấp lấy việc vô nghĩa.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là chuyên tu nghĩa lợi?
Đó là đối với thân mạng không luyến tiếc, nơi pháp phần
Bồ đề có để lòng, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo, chuyên
tu điều lành thù thắng nơi thân nghiệp ngữ nghiệp và ý
nghiệp. Đây gọi là tu nghĩa lợi.
Lại
còn có chuyên tu nghĩa lợi. Đó là nơi thân mạng không
luyến tiếc, với pháp phần Bồ đề có để lòng. Dùng
Bồ đề tâm làm tiền đạo chuyên tu các công hạnh dẫn phát
Đàn na Ba la mật đa nhẫn đến Bát Nhã Ba la mật đa.
Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi.
Lại
còn có chuyên tu nghĩa lợi. Đó là nơi thân mạng chẳng
luyến tiếc, nơi pháp phần Bồ đề có để lòng, dùng tâm
Bồ đề làm tiền đạo mà chuyên tu hành bố thí ái ngữ
lợi hành và đồng sự để nhiếp hóa chúng sanh. Đây
gọi là chuyên tu nghĩa lợi.
Lại
còn có chuyên tu nghĩa lợi. Đó là chẳng luyến tiếc
thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền
đạo mà chuyên tu niệm xứ chánh cần thần túc căn lực giác
chi chánh đạo. Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi.
Lại
còn có chuyên tu nghĩa lợi. Đó là chẳng luyến tiếc
thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền
đạo đối với cha mẹ và các Sư Trưởng thì cúng dường
kính vâng cúi đầu chắp tay lễ lạy hỏi thăm tiếp rước
cung cấp hầu hạ thảo thuận. Đây gọi là chuyên tu
nghĩa lợi.
Lại
còn có chuyên tu nghĩa lợi. Đó là chẳng luyến tiếc
thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền
đạo, đối với Tam Bảo tùy thuận giáo hóa pháp kính thờ
chuyên tu.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nghĩ rằng chúng sanh chấp
lấy vô nghĩa bị sự việc vô nghĩa chi phối, luyến tiếc
thân mạng lười biếng phóng túng. Nay ta chuyên tu tập
nghĩa lợi được công hạnh nghĩa lợi thủ hộ. Ta phải
thêm siêng tinh tấn đem thân nầy cúng dường thuyết pháp
sư, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, phải tu hai
món tư lương phước và trí. Do tu phước lực và trí
lực hai món tư lương ấy nên được gần Bồ đề Vô thượng
vi diệu.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát y Thi la Ba la mật đa thật
hành Bồ Tát hạnh để cầu Bồ Tát tạng như vậy kính thờ
cúng dường thuyết pháp sư nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng
nước.
Đây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ chín”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Các
phàm phu ngu si
Thường
luyến tiếc thân mạng
Chẳng
mong cầu Bồ đề
Ba
Nghiệp sanh tạp nhiễm
Thường
vì lợi cho mình
Và
vợ con quyến thuộc
Quý
tiếc đồ trân ngoạn
Ðây
gọi si phàm phu
Sai
khiê&n tớ trai gái
Nuôi
nhiêéu loài bốn chưn
Chấp
chặt việc vô nghĩa
Ðây
gọi kẻ vô trí
Chứa
cất nhiều tiền gạo
Chẳng
cho chẳng ăn dùng
Chấp
chặt việc vô nghĩa
Gọi
người ngu cất chứa
Các
phàm phu ngu si
Chuyên
quý việc vô nghĩa
Chư
Bồ Tát trí huệ
Chuyên
cầu các nghĩa lợi
Chẳng
luyến tiếc thân mạng
Vui
thích giúp Bồ Tát
Phát
khởi nhiều việc thiện
Ðây gọi
chuyên nghĩa lợi
Phương tiện
khéo tu tập
Thí giới
nhẫn chánh cần
Tịnh lự
và diệu huệ
Ðây gọi
chuyên nghĩa lợi
Cúng dường
cha và mẹ
Cung cấp
các Sưu Trưởng
Kính thờ
ngôi Tam bảo
Ðây gọi
chuyên nghĩa lợi
Nơi diệu
Bồ Tát tạng
Nhiếp tất
cả diệu pháp
Trì tụng
và giảng giải
Ðây gọi
chuyên nghĩa lợi
Chuyên nghĩa
lợi như vậy
Ðược chư
Phật khen tặng
Tinh tấn
hiệp pháp lành
Là con đấng
Vô Úy
Phát tâm
như vậy rồi
Dùng lòng
tin thanh tịnh
Kính thờ
thuyết pháp sư
Cúng tất
cả đồ dùng.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
phát tâm thứ chín rồi , vì muốn cần cầu đại Bồ Tát
tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng
dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát phát tâm như vầy :
Chúng
sanh thế gian làm trái lời dạy của Sư Trưởng nên không
có được .Không được những gì? Ðó là tánh tài .Gì là
thánh tài ? Ðó là tín, giới, văn, tàm , quí , xả và huệ.
Các chúng sanh ấy vì chẳng được thánh tài nên gọi là cực
bần cùng. Nay ta phải tu pháp lành vi diệu , nơi lời dạy
bảo của Sư Trưởng phải tùy thuận kính lãnh.Tại sao ? Vì
đại Bồ Tát do diệu huệ tùy thuận kính lãnh lời dạy của
Sư Trưởng nên có chứng được. Chứng được gì? Chứng
được thánh tài . Những gì gọi là Bồ Tát thánh tài ? Ðó
là các pháp môn Bồ Tát tạng. Biết rõ Bồ Tát diệu huệ
tức là thuyết pháp sư diệu huệ ở nơi pháp môn Bồ Tát
tạng vì chúng sanh mà rộng giảng dạy lưu truyền. Ðại Bồ
Tát an trụ Bồ Tát tạng như vậy rồi được thánh tài dứt
hẳn bần cùng mau chứng được Vô thượng Bồ đề.
Ðây
gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ mười”.
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
“
Các chúng sanh hạ liệt trong đời
Dua
nịnh huyễn hoặc nhiều gian nguy
Ðiên
đảo tà chấp chẳng đúng lý
Chuyên
theo ác kiến trái lời Thầy
Bồ
Tát biết rồi thuận lời Thầy
Bèn
được trí huệ rộng giảng giải
Do
đây chứng được bảy thánh tài
Tín
, giới, văn, tàm, quý, xả , huệ
Tạng
vô tận bảy thánh tài ấy
Chớ
truyền dạy kẻ phi pháp khí
Trong
đời có nhiều chúng sanh lành
Làm
được pháp khí tốt của Phật
Lời
tốt không dua đến thỉnh hỏi
Khéo
lành tự tại mà nhàn nhã
Thường
phát dũng mãnh thường tinh tấn
Cúng
kính chánh pháp thích thường nghe
Chẳng
kể thân mạng mình đương có
Cầu
chứng chư Phật diệu Bồ đề
Biết
đó đáng là chánh pháp khí
Hay
thọ trì được diệu lý sâu
Ðạo
Sư phát khởi đại từ bi
Giảng
nói tinh thuần chơn pháp khí
Tạng
pháp vi diệu đại Bồ Tát
Nương
đó gầy dựng thắng Bồ đề
Ở
trong ấy lại rộng khai thị
Thánh
tài kiên cố của chư Phật
Tất
cả các pháp là tướng không
Là
tướng vô tướng, tướng vô ngã
Không
có thọ mạng không đổi khác
Không
những hí luận không thọ tàng
Tự
tánh của tất cả các pháp
Chẳng
từ duyên sanh cũng không tướng
Không
có sơ khởi không chung diệt
Từ
vô tướng chơn như hiển phát
Người
trí tự tại tánh nhu hòa
Nơi
lời Thầy dạy không đảo chấp
Ðức
Phật Thế Tôn vì đó dạy
Pháp
môn giải thoát Phật đã được
Thánh
tài : Tín, giới cùng tàm, quí
Chánh
văn, xả thí và Bát nhã
Phật
vì Bồ Tát rộng giảng giải
Pháp
tạng vô tận bảy Thánh tài
Phật
tử nhu hoà diệu tự tại
Thuận
theo lời hay của thiện hữu
Ta
phải kính thờ thuyết pháp sư
Ðể
chứng Vô thượng Bồ đề đạo
Bồ
Tát vừa phát tâm ấy rồi
Với
thuyết pháp sư thêm yêu kính
Nhẫn
đến sắm sửa bình sành sạch
Ðựng
đầy nước trong đem cúng thí.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
phát tâm thứ mười rồi vì muốn cần cầu Bồ Tát tạng
nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường
nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , do thành
tựu sức thiện căn như vậy, đại Bồ Tát được bốn pháp
xứ quảng đại thù thắng:
Một
là nơi các pháp lành hay khéo thẳng vào.
Hai
là được thuyết pháp sư ngợi khen.
Ba là
tu hành thành tựu viên mãn không có hủy phạm.
Bốn
là nơi chánh pháp của Phật giữ gìn vững chắc chẳng hư
.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Do sức thiện căn ấy, đại Bồ Tát ở
trong cõi trời lại được bốn pháp xứ quảng đại thù thắng
:
Một
là vì các chúng sanh mà tu học mãi, trụ vững nơi các pháp
lành.
Hai
là chư Thiên hội họp chiêm ngưỡng dung nhan Bồ Tát và đồng
nghĩ rằng hôm nay Bồ Tát sẽ giảng pháp gì? Ta nghe rồi sẽ
được tỏ ngộ.
Ba là
được Thiên Ðế Thích và chư Thiên tham kiến thỉnh pháp
giải quyết chỗ nghi, mà Bồ tát ấy không qua chỗ chư Thiên.
Bốn
là chư Thiên hiện cung điện lớn cho Bồ Tát ấy ở.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát
ấy hoặc sanh trong người, hoặc ở trên trời được vô lượng
vô biên trăm ngàn muôn ức pháp môn vi diệu , đều vì thành
tựu viên mãn Thi la Ba la mật vậy”.
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
“Bồ
Tát ngồi tòa cao
Ðược
chư Thiên lễ kính
Chiêm
ngưỡng tôn nhan Ngài
Sẽ
giảng diệu pháp gì
Chư
Thiên đều cung kính
Bực
trí huệ vô tham
Ở
cung điện vui đẹp
Ðế
Thích đến thỉnh pháp
Trên
trới mạng hết rồi
Sanh
vào trong loài người
Là
vua Chuyển Luân Thánh
Oai
lực lớn không tham
Lúc
mạng người hết rồi
Trở
lại sanh cõi trời
Không
bao giờ bị khổ
Do
thờ cúng Pháp Sư
Luôn
được nhiều bốn thứ
Pháp
xứ rộng thù thắng
Do
không lòng hạ liệt
Cung
kính Thầy thuyết pháp
Nếu
lòng kính thờ Thầy
Cúng
dâng đồ đựng nước
Thì
Trời , Rồng và Người
Ðều
nên gâén cúng dường.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát do thành tựu các thiện căn ấy nên ở cõi trời
lại được bốn pháp :
Một
là biết rõ những nghiệp đã tạo ở đời trước.
Hai
là biết rõ nhơn nghiệp lành ấy được sanh cõi trời , cũng
biết rõ thối thất pháp lành.
Ba là
biết rõ từ đây mạng chung đến sanh chỗ nào.
Bốn
là vì chư Thiên mà giảng diệu pháp dạy bảo cho họ vui mừng
, đã lợi ích chư Thiên rồi bèn bỏ thân trời.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mậy , đại
Bồ Tát do thành tựu các căn lành nên lại được bốn pháp
viên mãn thù thắng :
Một
là khi bỏ thân trời , đại Bồ Tát sanh trong loài người
được sanh chung với giới.
Hai
là ở trong người được năm pháp sanh thành tựu thù thắng
: Ðó là được sanh vào nhà thù thắng , được sắc thân
thắng diệu , được quyến thuô(c thù thắng , được giới
thanh tịnh thù thắng và đối với chúng sanh được tu đức
từ thù thắng.
Ba là
ở trong người lại được năm pháp thành tựu bất hoại
: Ðó là được thiện tri thức không ai phá hoại được ,
thân mạng không yểu thọ, của cải đã được không bị
mất , được tâm Bồ đề không hề hư hoại và lúc thiếu
pháp lành thì tự được đầy đủ.
Bốn
là ở trong người lại được năm pháp hi hữu viên mãn .
Ðó là trong nhà để những chậu thùng không, tùy tay Bồ Tát
rờ đến chỗ nào , thì chỗ ấy đều đầy châu báu , đây
là pháp hi hữ thứ nhứt. Lúc Bồ Tát khát thì trước mặt
tự nhiên có nước đủ tám đức hiện ra, đây là pháp hi
hữu thứ hai . Do phước đức giữ gìn thân thể nên chẳng
bị ngoại vật làm tổn hại , như độc , như dao, hoặc lửa
hoặc nước , hoặc á quỷ đều chẳng làm tổn hại được.
Ðây là pháp hi hữu thứ ba. Những thời kỳ mà địa cầu
bị nhựng tai kiếp như là cơ cẩn tai, tật dịch tai, đao
binh tai, hỏa tai, thủy tai , phong tai, khát kiếp , hỏa quang
kiếp , dạ xoa kiếp , đại Bồ Tát ấy chẳng sanh trong người
mà ở cung trời vui sướng , đây là pháp hi hữu thứ tư .
Ðại BồTát ấy vĩnh viễn chẳng sanh vào các chỗ nạn hoặc
các ác đạo, nếu có tâm niệm sai lầm thì liền tự giác
ngộ mau dứt lìa , đây là pháp hi hữu viên mãn thứ năm.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát do thành tựu các căn lành ấy nên thường chẳng rời
xa bốn pháp vi diệu :
Một
là khi thấy có chúng sanh khổ thì tự nhiên được tâm đại
từ .
Hai
là quyến thuộc của Bồ Tát đều kính thuận đối với Bồ
Tát.
Ba là
đại Bồ Tát có thể chế phục sự suy già không để nó
xâm tổn.
Bốn
là làm ăn sanh lợi thì được lợi gấp trăm gấp ngàn.
Lại
nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại
Bồ Tát do thành tựu các căn lành ấy nên chẳng bị ba thứ
nó cướp đoạt :
Một
là chẳng bị tham dục cướp đoạt.
Hai
là chẳng bị sân khuể cướp đoạt.