THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
c
KINH ÐẠI BẢO TÍCH
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
Mục Lục
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9

XII
PHÁP HỘI BỒ TÁT TẠNG
THỨ MƯỜI HAI
Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Huyền Trang
Việt Dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

07.1 Phẩm Thi La Ba La Mật 
Thứ Bẩy (trang 1)

 Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất !  « Thế nào là Thi la Ba la mật đa của đại Bồ Tát mà đại Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề y theo pháp ấy siêng tu Bồ Tát đạo ?

 Nầy Xá Lợi Phất !  Vì thật hành Thi la Ba la mật mà đại Bồ Tát có ba thứ diệu hạnh, đó là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh.

 Nầy Xá Lợi Phất !  Những gì gọi là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh ?

 Đại Bồ Tát rời xa sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, đây gọi là thân diệu hạnh.
 Đại Bồ Tát rời xa vọng ngữ, ly gián, ác ngữ và ỷ ngữ, đây gọi là ngữ diệu hạnh.
 Đại Bồ Tát không có thâm trước, giận hờn và tà kiến, đây gọi là ý diệu hạnh.
 Đại Bồ Tát có đủ ba thứ diệu hạnh ấy thì gọi là Thi la Ba la mật đa.

 Lại nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát suy nghĩ rằng thế nào là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh ?

 Đại Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu thân chẳng làm việc sát sanh, chẳng làm việc trộm cướp, chẳng làm việc tà hạnh thì gọi là thân diệu hạnh.  Nếu miệng chẳng nói lời vọng ngữ, ly gián, thô ác, ỷ ngữ thì gọi là ngữ diệu hạnh.  Nếu ý chẳng có tham trước, giận hờn, tà kiến thì gọi là ý diệu hạnh.

 Do có đủ những chánh tư duy như vậy nên gọi là đại Bồ Tát hành Thi la Ba la mật đa.

 Lại nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu nghiệp chẳng do thân ngữ ý gây tạo thì có thể kiến lập nghiệp ấy được chăng ? Đại Bồ Tát đúng như lý quan niệm rằng nếu nghiệp chẳng do thân ngữ ý gây tạo thì chẳng kiến lập được hoặc xanh hoặc vàng hoặc đỏ hoặc trắng hoặc hồng hoặc màu pha lê, nghiệp ấy lại chẳng phải mắt thấy được, chẳng phải tai nghe được cũng chẳng phải mũi lưỡi thân và ý biết được.  Tại sao ?  Vì nghiệp ấy chẳng phải năng sanh, chẳng phải sở sanh,  chẳng phải đã sanh, chẳng chấp thọ được, đều không có ai biết rõ được nghiệp ấy.  Đại Bồ Tát suy biết tánh Thi la ấy chẳng thể làm được.  Đã chẳng thể làm được thì chẳng thể kiến lập được, đã chẳng kiến lập được thì ở trong ấy chúng ta chẳng nên chấp trước.

 Do sức quan sát hiểu biết như vậy, đại Bồ Tát chẳng thấy diệu hạnh và Thi la, cũng chẳng thấy người có đủ Thi la, chẳng thấy chỗ hồi hướng của Thi la.

 Thấy hiểu như vậy rồi, đại Bồ Tát chẳng phát khởi chấp lấy có thân.  Tại sao?  Vì có thấy có thân thì có quan niệm đây là trì giới, đây là phạm giới rồi giữ gìn giới luật và oai nghi, hoặc hành động, hoặc cảnh duyên, đều đủ có thấy biết chơn chánh mà hành động.  Vì biết và làm chơn chánh nên gọi là người trì giới.

 Đại Bồ Tát chẳng nắm lấy mình chẳng nắm lấy người mà thật hành các việc.  Chẳng bỏ Thi la cũng chẳng nắm lấy Thi la mà thật hành các việc.  Nếu nắm lấy ngã thì lấy Thi la.  Nếu chẳng lấy ngã thì chẳng lấy Thi la bất khả đắc thì chẳng hủy phạm tất cả luật nghi.  Nơi luật nghi nếu chẳng hủy phạm thì chẳng gọi là hủy phạm Thi la, cũng chẳng gọi là nắm lấy Thi la.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Do nhơn duyên gì mà ở nơi Thi la chẳng nắm lấy?  Đó là biết tất cả pháp là tướng nhơn duyên.  Đã là tướng nhơn duyên thì không có ngã.  Ngã đã không thì nắm lấy chỗ nào?”

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Nếu có thân ngữ ý thanh tịnh
  Lúc làm thường tu hạnh thanh tịnh
  Thường ở trong cấm giới thanh tịnh
  Gọi là Bồ Tát đủ Thi la
  Chư Bồ Tát Hiền Thánh trí huệ
  Khéo hay hộ trì mười nghiệp lành
  Chẳng do thân ngữ và ý làm
  Đây là Thi la bực trí nói
  Nếu chẳng tạo tác chẳng phải sanh
  Chẳng chấp thọ không hình không hiển
  Vì không có hình không hiển sắc 
  Nên chưa từng được để kiến lập
  Thi la vô vi cũng vô tác
  Chẳng phải mắt tai thấy nghe được
  Chẳng phải mũi lưỡi chẳng phải thân
  Chẳng phải tâm ý hay biết được
  Nếu chẳng phải sáu căn hay biết
  Thì không có ai thi thiết được
  Quan sát Thi la thanh tịnh ấy
  Chưa từng nương nắm ở Thi la
  Chẳng cậy trì giới sanh kiêu mạn
  Chẳn thấy có ngã gìn Thi la
  Khéo giữ Thi la không chấp giới 
  Đầy đủ Thi la tu quán hạnh
  Hư vọng thấy thân đã trừ bỏ
  Bị thấy hay thấy đều không có
  Không có hay thấy không chỗ thấy
  Chẳng thấy trì giới và pháp giới
  Khéo vào diệu lý pháp không hộ
  Đầy đủ oai nghi chẳng nghĩ bàn
  Hay thủ hộ diệu thiện chánh tri
  Ngoài đây không ai đủ giới được
  Người không thấy ngã không Thi la
  Không ngã sở y hay y giới
  Phật nói rốt ráo thường vô úy
  Chẳng chấp thân ngã và Thi la
  Người nói vô ngã chẳng nắm giới
  Người nói vô ngã chẳng nương giới
  Người nói vô ngã chẳng cầu giới
  Người nói vô ngã giới vô tâm
  Chẳng phá Thi la chẳng nắm giới
  Cũng chẳng chấp ngã giữ Thi la
  Không tưởng có ngã và luật nghi
  Là hạnh Bồ đề bực đại trí
  Thi la như vậy vô sở úy
  Người nầy thường chẳng phạm Thi la
  Nếu hay chẳng chấp có các pháp
  Thi la như vậy được thánh khen
  Các ngu phu thường thấy có ngã
  Thấy ta đủ giới hay trì giới
  Họ hưởng quả trì giới mãn rồi
  Thường bị sa đọa ba ác đạo
  Nếu người dứt hẳn các ngã kiến
  Họ không có ngã không ngã sở
  Là chơn trì giới vì không chấp
  Không còn lo sợ đọa ác đạo
  Nếu người biết được giới hạnh ấy
  Không ai thấy được phạm Thi la
  Còn chẳng thấy ngã và ba cõi
  Huống thấy trì giới và pháp giới.

 Lại nầy Xá Lợi Phất !  Thật hành Thi la Ba la mật đa như vậy, lúc đại Bồ Tát thật hành Bồ Tát hạnh giới thanh tịnh, có đủ mười thứ cực trọng thâm tâm :

 Một là phát khởi thâm tâm kính phụng các công hạnh.
 Hai là phát khởi thâm tâm càng thêm tinh tấn.
 Ba là phấn khởi ưa thích Phật chánh pháp.
 Bốn là rộng đủ và sùng trọng tất cả nghiệp lành.
 Năm là sâu tín và tôn trọng tất cả quả báo.
 Sáu là đối với chư Hiền Thánh sanh lòng kính ngưỡng
 Bảy là đối với Hòa Thượng và A Xà Lê thì thanh tịnh thị phụng.
 Tám là thường cúng dường các bực Hiền Thánh.
 Chín là cố gắng cầu thỉnh chánh pháp.
 Mười là lúc cầu Bồ đề chẳng kể thân mạng.

 Nầy Xá Lợi Phất !  Đại Bồ Tát an trụ thâm tâm cực trọng ấy mà tu tập pháp lành.  Những gì là pháp lành ?  Đó là ba diệu hạnh :  Thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh.  Đại Bồ Tát an trụ ba diệu hạnh ấy là vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu đại Bồ Tát tạng.  Tại sao ?  Vì chư đại Bồ Tát y pháp môn ấy thì có thể đến Vô thượng Bồ đề vậy”. 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Do thân mà phát khởi
  Nghiệp lành được Phật khen
  Vì được nghe chánh pháp
  Cúng dường chư Hiền Thánh
  Nơi pháp và Thánh Nhơn
  Sốt sắn thường kính thờ
  Vì lợi ích chúng sanh
  Tâm từ chẳng ganh ghét
  Nên nói lời người trí
  Chớ nói lời khó ưa
  Vui vẻ nói dịu dàng
  Phát ngôn không thô độc
  Ý tưởng thường là lành
  Không hề nghĩ điều ác
  Cung kính giữ tâm từ
  Nơi thánh giáo Như Lai
  Lòng kính vâng nghe pháp
  Mau giác ngộ Bồ đề.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, vì đại Bồ Tát an trụ mười pháp thù thắng thâm tâm cực trọng ấy mà cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng nên đối với chư Hiền Thánh và tất cả Sư Trưởng càng thêm cung kính thờ phụng cúng dường, nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lơị Phất!  Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, đại Bồ Tát phải có đủ mười thứ phát tâm.  Những gì là mười?

 Nầy Xá Lợi Phất!   Đại Bồ Tát quan sát thân thể nầy là rắn độc luôn trái hại nhau, nhiều khổ nhiều hoạn, điên cuồng ghẻ lác, bịnh phong bịnh nhiệt, bịnh hàn bịnh đàm, là chỗ họp các bịnh tật.  Thân thể này lại như mụt nhọt mụt ung, như bị tên đâm, như dòng nước xiết, như kẻ xắt thịt, luôn dao động chẳng dừng mau sanh chóng diệt.  Thân thể nầy lại hư ngụy, yều gầy già nua mau chết, dầu tạm thời còn mà khó ưa được như trong huyệt mả. 

 Đại Bồ Tát lại quan niệm:  Thân tật bịnh nầy của ta dầu trải qua nhiều khổ hoạn mà chưa từng gặp phước điền, nay ta được gặp, ta phải nương theo các phước điền để nuôi lớn huệ mạng, bỏ thân chẳng bền, được thân kiên cố.  Vì muốn cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng vi diệu nên đối với chư Hiền Thánh và Hòa Thượng, A Xà Lê thường phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước. 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ nhứt”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Ổ rắn độc tụ họp
  Xoay vần nương gá nhau
  Một thứ tăng động lên
  Thì gây nên khổ lớn
  Nào là mắt tai mũi
  Lưỡi răng các tạng phủ
  Bao nhiêu bịnh đau khổ
  Đều do thân thể sanh
  Ghẻ nhọt cùng khùng điên 
  Ung thư và cùi hủi
  Dịch lệ các bịnh dữ
  Đều do thân phát sanh
  Thân nầy nhiều bịnh hoạn
  Như nhọt như trúng tên
  Thân độc hại như vậy
  Tạm còn rồi mau rã
  Như đến trong gò mả
  Đều là cảnh vô thường
  Thân hư mục động dao
  Nhiều bịnh mau sanh diệt
  Ta phải tu thân Phật
  Nhơn nơi nghiệp chánh lành
  Đem thân hư mục nầy
  Già suy mau chết mất
  Chuyển thành thân Như Lai
  Và pháp thân Vô thượng
  Đem thân hư mục nầy
  Luôn chảy nước thúi hôi
  Đổi lấy thân trong sạch
  Không dơ không hôi thúi
  Nếu người sợ lạnh nóng
  Che ngăn phòng ngừa kỹ
  Rồi cũng bị bịnh tật
  Già chết đồng bức hại
  Nếu đem thân lạnh nóng
  Chịu đựng tu nghiệp lành
  Trang nghiêm hạnh trượng phu
  Mau thành thân Vô thượng
  Đem thân siêng cúng dường
  Các Thánh Hiền Tôn Sư
  Chuyển thân mỏng manh nầy
  Thành thân thiệt bền chắc.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ nhứt như vậy để cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng, đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cùng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát nghĩ rằng thân thể chẳng bền, phải nhờ che đậy rửa ráy kỳ cọ mà rồi rốt cuộc vẫn hư rã.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Ví như thợ gốm nắn nung đồ sành hoặc lớn hoặc nhỏ rốt cuộc rồi vẫn hư bể.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Thân chẳng bền chắc rồi sẽ hư rã như những đồ sành ấy.

Lại nầy Xá Lợi Phất!   Như những lá bông trái nương trên nhánh cây rồi sẽ rơi rụng. 
 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền rồi cũng sẽ chết mất chẳng lâu.

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Như giọt sương đọng đầu cỏ bị ánh nắng chiếu đến tất cả chẳng còn.

 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền chẳng lâu như sương đầu cỏ.

 Lại nầy Xá Lợi Phất!  Như giọt nước trong biển sông mềm yếu mỏng manh mau tan mau rã.

 Cũng vậy, thân nầy chẳng chắc tánh chất mỏng manh như bọt nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất!  Như bóng nước nổi lên khi mưa lớn, nổi mau tan cũng mau.

 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền tánh chất mỏng nhẹ mau sanh mau diệt.

 Nầy Xá Lơị Phất!  Đại Bồ Tát quan sát kỹ thân thể mình thấy biết như vậy rồi, lại nghĩ rằng ta  từ lâu thọ lấy thân  thể chẳng chắc bền như vậy mà chưa gặp được phước điền, nay được gặp ta phải nương theo phước điền để nuôi lớn huệ mạng, đem thân chẳng bền đổi lấy thân bền chắc.  Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ hai”.
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
 
  “Như người thợ gốm kia
  Nắn đất làm đồ sành
  Đều rồi sẽ hư bể
  Mạng sống người cũng vậy
  Như những lá hoa trái
  Nương mọc trên nhánh cây
  Rồi sẽ rơi rụng hết
  Mạng sống người cũng vậy
  Như giọt sương đầu cỏ
  Bị ánh nắng chiếu soi
  Giây lát rồi tan biến 
  Mạng sống người cũng vậy
  Như bọt nổi mặt nước
  Tánh nọ vốn mỏng manh
  Thân nầy chẳng chắc bền
  Hư nổi cũng như vậy
  Như trời mưa lớn xuống
  Mặt nước nổi bong bóng
  Giây phút đều tan rã
  Thân chẳng bền cũng vậy
  Chẳng bền cho là bền
  Còn bền cho chẳng bền
  Vì nghĩ tưởng sai lầm
  Chẳng chứng được bền chắc
  Nơi bền biết là bền
  Chẳng bền biết chẳng bền
  Hiểu biết chơn chánh đúng
  Chứng được thân bền chắc
  Vì tu trí huệ thiệt
  Thí đồ nhỏ đựng nước
  Nên đem thân chẳng bền
  Đổi lấy thân bền chắc.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm thứ hai như vậy.  Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm như vầy: 

 Từ lâu ta rời xa thiện hữu, bị nạn ác rủ ren nên lười biếng chẳng siêng tu, ngu độn hạ liệt nhiều tà kiến ác kiến, không bố thí không tạo phước không làm lành thêm lớn các nghiệp quả báo.

 Lại nghĩ rằng ta bị tham dục làm mê nên mãi mãi lưu chuyển gây tạo các nghiệp ác, do nghiệp ác ấy mà cảm lấy thân quỷ xấu dơ, thiếu đồ cần dùng không có phước điền tối thắng.  Ta lại từng sanh trong ngạ quỷ luôn ăn tro than trong vô lượng năm, lại trong trăm ngàn năm chẳng nghe tên nước huống là được uống được dùng.

 Lại nghĩ rằng nay ta gặp được phước điền tối thắng lại cảm được thân lành nầy có nhiều đồ cần dùng, ta phải nương phước điền mà tu nghiệp lành chẳng kể thân mạng, kính thờ các bực Sư Trưởng, Hòa Thượng, A Xà Lê.  Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ ba”.
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
 
  “Thường thân cận kính thờ
  Thiện tri thức như vậy
  Thì được thành tánh ấy
  Nên phải luôn gần gũi
  Vì kề cận bạn xấu
  Rời xa bạn hiền lành
  Nên lười biếng buông lung
  Ghét ganh bỏn xẻn nịnh
  Tà kiến không bố thí
  Bác bỏ tất cả lành
  Ta từng sanh loài quỷ
  Thọ thân hình tệ xấu
  Ở sanh tử lâu ngày
  Trong tối tăm đáng sợ
  Đói khát đốt khổ não
  Chịu rất nhiều khổ sở
  Trong nhiều trăm ngàn năm
  Chưa nghe được tên nước
  Chẳng thấy được phước điền
  Chẳng thoát khỏi nạn ấy
  Nay ta được thân lành
  Khó được ở thế gian
  Lại gặp được hiền minh
  Đầy đủ khỏi các nạn
  Lại rời xa bạn ác
  Gặp được bạn hiền lành
  Thề chẳng kể thân mạng
  Để được chứng Bồ đề
  Dùng tâm lành thanh tịnh
  Cung phụng bực Tôn Sư
  Cũng sẽ cúng dường Phật
  Để được chứng Bồ đề.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát pháp tâm thứ ba rồi, vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:
 Từ lâu ta rời xa bạn lành gần gũi bạn xấu nên biếng lười phóng túng siêng làm việc quấy, ngu si vô trí, lúc thấy có chúng sanh khổ não kêu khóc, lại dùng tay đánh đập não hại.  Do đó lại sanh nhiều ác kiến cho rằng không có nghiệp ác báo ác.

 Lại do giận hờn mê lòng nên gây tạo nhiều nghiệp ác, do nghiệp ác ấy cảm thọ thân súc sanh xấu dơ, thiếu đồ cần dùng lại không có tất cả phước điền tối thắng.

 Bồ Tát nghĩ rằng lúc ta ở trong loài súc sanh, hoặc làm lạc đà hoặc làm bò lừa ăn cỏ rác, thêm bị la mắng đánh đập đe dọa bắt buộc mang nặng đi xa.

 Lại nghĩ rằng thuở trước dầu bị khổ nhiều mà chẳng gặp được phước điền, nay ta được gặp, lại được thân lành nầy, ta nên nương phước điền để tu nghiệp lành, chẳng kể thân mạng, kính thờ Sư Trưởng, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc.  Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ tư”. 
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Từ lâu thuở trước kia
  Chưa biết lên đường thánh
  Đọa loài đà bò lừa
  Chịu nhiều điều khổ cực
  Nay ta được thân người Phải tu nghiệp hiền thiện
  Để được chứng Bồ đề 
  Đó là tướng trí huệ
  Ta phải nên cung kính
  Kiến lập các Phật pháp
  Thờ cúng thuyết pháp sư
  Để được đại Bồ đề
  Quá khứ nan tư kiếp
  Vòng quanh trong sanh tử
  Lại qua mãi vô ích
  Không phước điền nuôi mạng
  Rời xa bạn thầy lành
  Thường gần các bạn xấu
  Nghe lời họ khuyến dụ
  Luôn đọa các ác đạo
  Đối với loài bàng sanh
  Cột nhốt đánh mắng chúng
  Do các nghiệp ác ấy
  Chịu lấy quả khổ cực
  Làm lạc đà bò lừa
  Mang nặng thêm bị đánh
  Vì chẳng gần bạn lành
  Nay ta được thân người
  Và bạn thiện tri thức
  Đã được sanh thiện đạo
  Lại được khỏi các nạn
  Như rùa đui đáy biển
  Mừng gặp bộng cây trôi
  Khéo giữ gìn thân khẩu
  Tâm tinh tấn cường thạnh
  Thờ thiện hữu không dua
  Nuôi lớn thân huệ mạng
  Nếu có bực Tôn Sư
  Khai phát huệ mạng ta
  Hay giảng nói diệu pháp
  Thẳng đến đường Bồ đề
  Cúng dường chư Như Lai
  Những hương hoa hương bột
  Y phục và tràng hoa
  Ta phải thường thờ kính
  Hiện tại thập phương Phật
  Thường khai thị thắng nghĩa
  Đấng kim sắc vô biên
  Phải kính thờ cúng dường
  Đi khắp các quốc độ
  Cúng dường Điều Ngự Sư
  Vì thanh tịnh giác đạo
  Sẽ thăng tòa đại giác.

 Nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ tư ấy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với pháp sư càng thêm vâng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy :

 Thuở trước vì ta rời xa thiện hữu gần gũi ác hữu nên lười biếng phóng túng vô trí ngu si siêng làm những điều hạ liệt.  Vọng nghĩ rằng đem thịt của tất cả hữu tình nấu chung một nồi, xắt chung làm gỏi, việc làm ấy chẳng phải tội, chẳng bị ác báo, chẳng sanh ác đạo.  Vì ác kiến nên nghĩ rằng bố thí cho tất cả hữu tình được sung túc, việc làm ấy chẳng gọi là phước, chẳng được phước báu, chẳng sanh nơi phước.  Lại vì ác kiến nên cho rằng dầu giết hại tất cả hữu tình cũng chẳng bị ác báo chẳng sanh ác đạo.

 Bồ Tát nghĩ rằng thuở trước ta làm những việc ấy mà chẳng biết được là tội chẳng tội, là phước chẳng phước, quen gần bạn ác ngu si vô trí gây nhiều nghiệp ác, do đó bị đọa vào địa ngục cảm lấy thân tệ hạ xấu dơ, hoặc nuốt hòn sắt đỏ, hoặc bị cưa xẻ, chịu khổ không hở đến nhiều trăm ngàn năm, chẳng hề được nghe sự vui huống là được hưởng.

 Bồ Tát laị nghĩ rằng thuở trước dầu ta trải qua nhiều đau khổ như vậy mà vẫn chẳng gặp được phước điền.  Nay ta được gặp phước điền lại cảm được thân người, ta phải nương phước điền nuôi lớn huệ mạng, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, phụng thờ Sư Trưởng chẳng kể thân mạng.  Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát Tạng nên đối với thuyết pháp sư vâng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ năm ».
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

  « Xưa ta gần bạn ác
  Bị tâm ác mê hoặc
  Nương theo các ác kiến
  Gây tạo các nghiệp ác 
  Khắp biển cả đất liền
  Bố thí no đủ cả
  Cho rằng chẳng được phước
  Khắp biển cả đất liền
  Có bao nhiêu chúng sanh
  Ta đều giết hại cả
  Cho rằng chẳng có tội
  Luôn gần kề tập quen
  Các ác kiến như vậy
  Đọa địa ngục tột khổ
  Ép dẹp cả đầu mình
  Xưa ở các ác đạo
  Luống thọ trăm ngàn thân
  Chưa hề thấy chư Phật
  Đấng Đạo Sư thế gian
  Thiện tri thức trong đời
  Tiếng ấy còn khó nghe
  Ta may được thân người
  Phải tu nghiệp hiền thiện
  Được thân người rất khó
  Sống lâu cũng là khó
  Nghe chánh pháp càng khó
  Phật xuất thế khó hơn
  Ta đã được thân người
  Cảm mạng sống mỏng manh
  Gặp được Phật ra đời
  Dự chánh giáo Như Lai
  Ta chẳng còn nên làm
  Nghiệp ác thân khẩu ý
  Chớ để đời sau nầy
  Thọ quả báo khổ cực
  Ta phải dùng tịnh tâm
  Tu tập nghiệp thanh tịnh
  Do thân ngữ và ý
  Làm việc đời khó làm
  Ta trọn chẳng sai trái
  Chánh giáo của Tôn Sư
  Lại phải siêng cúng dường
  Vì cầu Bồ đề Phật
  Do ta chẳng du dối
  Không có lòng ảo ngụy
  Nên mở đường thẳng dài
  Cầu Phật đạo vô thượng
  Đại Bồ Tát vô úy
  Đã phát tâm như vậy
  Cúng dường đồ đựng nước
  Phương tiện huệ đầy đủ.

 Nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ năm rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất !  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy : 

 Từ lâu tôi rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm việc hạ liệt, ngu si vô trí.  Do đó mà vọng bỏ những sự tiếp rước cúi mình lễ lạy chắp tay thăm hỏi các nghiệp báo lành.  Vì lòng khinh mạn mê hoặc nên gây tạo nghiệp ác.  Do nghiệp báo ác nên ở nơi các phước điền chưa từng nuôi lớn huệ mạng thanh tịnh.  Lại nghĩ rằng ta  nhơ thuở xưa cảm thọ thân côi cút nghèo cùng hạ tiện làm tôi tớ cho người khác.  Ta lại thọ lấy thân người đam mê sắc dục, đam mê tất cả tướng sắc dục, ở trong số ác nghiệp bất bình đẳng, sanh khởi nhiều thứ tà kiến, phá hư Thi la, phá hư chánh kiến.  An trụ trong ba thứ căn bất thiện, an trụ trong bốn thứ chẳng nên hành động, bị ngũ cái trum đậy, chẳng có lòng cung kính đối với sáu ngôi tôn trọng, chưa chuyển theo bảy giác chi, quyết định hành động trong tám tánh tà, bị chín thứ não hại làm tổn não, thường noi đi trên mười đường ác nghiệp, luôn hướng mặt về phía nghiệp báo địa ngục mà day lưng về phía nghiệp báo trời, rời xa tất cả thiện tri thức, bị lệ thuộc nơi các ác hữu, tự tại đi theo ma oán xa các pháp lành mà làm tất cả pháp bất thiện, lại còn bị đánh đập mắng la ép buộc phục dịch cung cấp cho kẻ khác.

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa vì ta chưa gặp được phước điền nên nhận lãnh điều ác.  Nay ta được gặp phước điền lại cảm thọ thân người lành tốt nầy, ta phải nương theo các phước điền, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, nuôi lớn huệ mạng, phụng thờ Sư Trưởng chẳng kể thân mạng.  Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư thờ kính cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ sáu ».
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

  « Gần kề ác hữu thêm kiêu mạng
  Trải qua vô lượng kiếp quá khứ
  Trong người thọ sanh thân nô tỳ
  Lăn trôi mãi trong dòng sanh tử
  Nay ta đã được thân khó được
  Báo người lành tốt mạnh đệ nhứt
  Lại được sanh trong quốc độ tốt
  Gặp Phật ra đời không nạn khổ
  Bạn lành thầy lành rất thù thắng
  Hay giảng công hạnh Bồ Tát làm
  Nhiều câu chi kiếp nay mới gặp
  Chư đại Bồ Tát công đức lớn
  Thân người vô thường giả mỏng manh
  Ví như bóng nước cùng đống bọt
  Lại như ảo huyễn va vai kịch
  Như ngủ chiêm bao mà nói mớ
  Mạng như mây chớp chẳng lâu dài
  Thế gian niệm niệm sắp tiêu diệt
  Mạng nầy gần như khoảng sát na
  Nên đem chẳng bền đổi thân chắc
  Ta nhớ nhiều kiếp thuở quá khứ
   Sa giữa núi mạn chỗ hiểm sâu
  Quá khứ đã từng bị khi dối
  Trải qua trăm ngàn kiếp số lâu
  Nay ta bỏ hết thân tham ái
  Lại không có lòng tiếc mạng sống
  Phải mau rời bỏ lòng kiêu mạn
  Phải siêng kính thờ các Sư Trưởng
  Với các hạng người đời đồng kính
  Đó là cha mẹ anh chị thảy
  Phải mau rời bỏ lòng kiêu căng
  Cung kính vâng dạ tuân lời dạy
  Với chư Bồ Tát gần Bồ đề
  Cùng ta đồng tu Bồ Tát hạnh
  Phải có chặc lòng kính mến nhiều
  Thường vui cúng dường chuyên thờ phụng
  Thuở xưa kiêu mạn lớn cao căng
  Chẳng nghe biết pháp Phật trừ mạn
  Phải dùng trí kim cương vô Thượng
  Khiến núi kiêu mạn ngã nát hẳn
  Diệu hạnh Bồ đề viên mãn rồi
  Ngồi yên trên tòa thắng Bồ đề
  Dẹp phục quân ma bầy tranh đấu
  Sễ độ quần sanh trong biển khổ
  Bao nhiêu kẻ khổ ở mười phương
  Nằm trong phẩn dơ bị chê chán
  Phát khởi tâm từ thương xót họ
  Làm chỗ cứu vớt cho họ về
  An trụ đại thí Ba la mật
  Lại hay phòng hộ Phật giới đức
  Tu hành đầy đủ hạnh nhẫn nhục
  Phát khởi chánh cần khiến hiện tiền
  Được đủ tịnh lự Ba la mật
  Bấy giờ điều phục tâm ở yên
  Trụ nơi đại huệ thiện phương tiện
  Làm phước điền cho tất cả chúng
  Thêm lớn phước lực thạnh như vậy
  Bất khả tư nghị thiện trí thức
  Gặp được bực trí tự tại nhứt
  Cúng dường nhẫn đến đồ đựng nước.
 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ sáu như vậy rồi, vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 Từ lâu ta vì rời xa thiện hữu mà gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm việc hạ tiện ngu si vô trí.  Do ác kiến ấy mà vọng cho rằng không nghiệp ác không báo ác, không nghiệp lành không báo lành, không nghiệp ác lành không báo ác lành, không nghiệp chẳng ác lành không báo chẳng ác lành.  Lại chẳng thỉnh hỏi nơi các nhà trí thức như Sa Môn và Bà La Môn gì là lành gì là chẳng lành, gì là tội gì là chẳng tội, gì nên tu gì chẳng nên tu, gì nên làm gì chẳng nên làm, tu công hạnh gì mà phải cảm lấy vô lợi vô nghĩa và các khổ não nhiều thời gian, tu công hạnh gì mà cảm được hữu lợi hữu nghĩa và nhiều an vui lâu dài?

 Đại Bồ Tát nghĩ rằng thuở xưa vì lòng mạn và thắng mê hoặc nên ta gây tạo nhiều nghiệp ác bất thiện.  Do đó cảm thọ thân người tật nguyền, nơi các phước điền chưa nuôi huệ mạng, dầu ở trong loài người mà chẳng khác chậu úp ngu độn khờ khạo mù đui lãng điếc, với nghĩa lý thiện và ác không có năng lực thông hiểu tuyên nói.

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa ta chưa gặp phước điền thù thắng nầy nên gây tội ác, nay ta được gặp phước điền thù thắng nầy lại cảm được thân người lành, ta phải nương phước điền nầy nuôi lớn huệ mạng.  Ta lại phải chẳng kể thân mạng để cầu có năng lực thông hiểu được những nghĩa về thuyết thiện thuyết ác.  Ta phải thỉnh hỏi nơi thuyết pháp sư gì là thiện gì là bất thiện, gì là có tội gì là không tội, gì nên tu gì chẳng nên tu, gì nên làm gì chẳng nên làm, thật hành công hạnh gì làm cho pháp Thanh Văn và Độc Giác được phát hiện, thật hành công hạnh gì làm cho pháp Phật và pháp Bồ Tát được thể hiện?

 Nầy Xá Lợi Phất!  Đại Bồ Tát vì muốn siêng cầu Bồ Tát tạng nên y theo Thi la Ba la mật đa mà tu Bồ Tát hạnh đem thân chẳng bền đổi lấy thân bền chắc, đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ bảy”.
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Từ xưa quá khứ trăm ngàn kiếp
  Rời xa thiện hữu người lợi ích
  Chưa từng thưa hỏi tiện bất thiện
  Có tội không tội các nghiệp quả
  Do lỗi kiêu mạn quá tăng thượng
  Đọa trong địa ngục và loài quỷ
  Quen gần ác kiến làm bạn bè
  Trải nhiều trăm kiếp sa ác đạo
  Hoặc sanh loài người nhiều ngàn kiếp
  Luân hồi thọ thân căn chẳng đủ
  Chẳng biết gì thiện gì bất thiện
  Có tội không tội đều chẳng hiểu
  Nay được thân người thật lành mạnh
  Đầy đủ các căn lại than tịnh
  Tất cả các nạn đều rời xa
  Như rùa đáy biển gặp bọng nổi
  Gặp được Thế Tôn đèn soi đời
  Nghe dạy những thánh giáo ly dục
  Giờ đây ta hỏi đức Thế Tôn
  Các nghiệp quả thiện và bất thiện
  Gì là xan tham đọa các nẻo
  Gì không xan tham làm thí chủ
  Gì là tham nịnh ô nhiễm giới
  Gì là luật nghi giữ toàn vẹn
  Gì là giận thù não loạn người
  Gì là không hờn sức nhẫn nhục
  Gì là giải đãi tâm tán loạn
  Gì là siêng năng ưa tịnh lự
  Gì là àc kiến câm ngu si
  Gì là thiện huệ rành chơn thiệt
  Gì là chuyên tu hành Bồ đề
  Tìm cầu đầy đủ hạnh Hiền Thánh
  Gì là tâm từ khắp thế gian
  Gì là cứu tế các ác đạo
  Gì là ưa pháp lòng chẳng nhàm
  Hay cầu Bồ đề Đại thừa tạng
  Gì là qua đến mười phương cõi
  Đứng trước chư Phật hiện tại thế
  Gì là kính thờ tu công đức
  Gì là thưa hỏi hạnh Phổ Hiền
  Nay đây ta phải siêng thỉnh hỏi
  Đấng tôn trọng trong hàng Pháp Sư
  Gì là với Thầy vui kính dâng
  Gì là làm vui lòng Sư Trưởng 
  Phật tử đã sanh lòng như vậy
  Hay họp phước lực rất lớn rộng
  Và sức trí huệ thắng tự tại
  Vui mừng cúng dường tất cả vật.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ bảy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệ Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Lại nầy Xá Lơị Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy: 

 Từ lâu ta rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm những việc hạ tiện ngu đần vô trí như câm, rời xa tất cả văn cú có chánh nghĩa, văn cú có chánh pháp, văn cú có tịch tĩnh có chỉ có quán, có chánh giác có Niết bàn.  Rời xa những văn cú có nghĩa có lợi thắng diệu như vậy rồi trở lại học tập nghiên tầm thông đạt tất cả văn cú phi nghĩa, phi pháp, phi giác, phi Niết bàn.  Do đó nên sanh ác kiến vọng cho rằng không có lực không có tinh tấn, không có quả trượng phu, không oai thế, không dũng mãnh, không công hạnh, không oai đức.  Lại quan niệm không nhơn không duyên gì có thể khiến hữu tình nhiễm ô được, hữu tình tạp nhiễm chẳng do nhơn duyên.  Lại quan niệm không nhơn không duyên gì có thể làm cho hữu tình thanh tịnh, hữu tình thanh tịnh chẳng do nhơn duyên.

 Đại Bồ Tát nghĩ rằng từ lâu vì y theo quan niệm vô nhơn và bất bình đẳng nhơn ấy nên ta gây nhiều nghiệp ác, do nghiệp ác ấy nên ta ở trong nhơn loại cảm lấy thân tật nguyền, nơi các phước điền chưa nuôi lớn huệ mạng.  Dầu ở trong loài người nhưng đồng với chậu úp ngu độn mù điếc không có năng lực thọ trì đọc tụng suy gẫm thông đạt những văn cú có chánh nghĩa nhẫn đến những văn cú tương ưng với Niết bàn.

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng vì xưa ta chẳng gặp thắng phước điền nên sanh vọng kiến.  Nay ta được gặp thắng phước điền nầy, ta phải nương theo nuôi lớn huệ mạng, nhẫn đến chẳng kể thân mạng để cầu lực năng thông đạt những văn cú tương ưng với chánh nghĩa chánh pháp tịch tĩnh chỉ quán và Niết bàn.  Những văn cú chánh nghĩa chánh pháp ấy đều nhiếp thuộc pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng.  Nay ta thọ trì đọc tụng tư duy rốt ráo quyết sẽ phát khởi chánh cần tối thượng suốt đời thờ phụng thuyết pháp sư.  Nay ta y theo Thi la Ba la mật thật hành Bồ Tát hạnh để ở nơi pháp môn Bồ Tát tạng có thể thọ, có thể trì,có thể đọc, có thể tụng và tu hành cúng dường vậy.

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng ta nên đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, phải khéo tu tập hai món tư lương phước và trí.  Do sức phước và trí ấy mà được thường gần gũi pháp môn Bồ Tát tạng.  Suy nghĩ rồi, đối với thuyết pháp sư, đại Bồ Tát kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ đựng nước.
 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ tám”.
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Văn cú tương ưng chơn pháp nghĩa
  Thuận theo tu tập các đạo chi
  Vì được chứng nhập tánh tịch diệt
  Mà hay lưu thông đường Niết bàn
  Xưa ta rời xa pháp như vậy
  Trở lại nhiễm quen các văn cú
  Phi pháp phi nghĩa phi tịch tĩnh
  Nhẫn đến Niết bàn chẳng tương ưng
  Không có tinh tấn không năng lực
  Không quả trượng phu không oai thế
  Bác bỏ công đức không dũng mãnh
  Tất cả đều không vô sở đắc
  Không có chư Phật cũng không pháp
  Không nhìn cha mẹ và quyến thuộc
  Không có điều ác không điều lành
  Hoặc quả hoặc báo đều bác bỏ
  Từ thuở vô thỉ đến ngày nay
  Luôn quen làm các ác kiến ấy
  Do đó bị đọa trong địa ngục
  Thọ khổ mãi mãi khó ra khỏi
  Rồi sau chuyển đọa loài bàng sanh
  Lại đọa loài quỷ các ác đạo
  Có lúc được sanh trong loài người
  Ngu mê vô trí thêm câm ngọng
  Đần độn chơi bời và đui điếc
  Do đó lại gây các nghiệp ác
  Rồi đọa địa ngục và quỉ súc
  Chịu nhiều khổ cực ngu tối thêm
  Ta từ lâu xa vô lượng kiếp
  Chưa từng được thân thanh tịnh nầy
  Đã được các căn đều đầy đủ
  Bấy giờ phải mau thêm tinh tấn
  Các pháp tương ưng với thiệt nghĩa
  Hay làm trợ bạn cho tịch tĩnh
  Đường đến Bồ đề cùng Bồ đề
  Ta phải kịp thời cầu pháp ấy
  Tạng bí áo chư đại Bồ Tát
  Tương ưng nghĩa chơn thiệt rất sâu
  Trải qua trăm ngàn câu chi kiếp
  Nếu ai được nghe là hi hữu
  Và những Phật pháp khác như vậy
  Vô lượng vô số bất tư nghị
  Ta phải tinh tấn thọ rồi trì
  Để được chứng Bồ đề Vô thượng
  Lại phải chánh cần khởi cung kính
  Kính thờ cúng dường thuyết pháp sư
  Đó là chư Phật chư Bồ Tát
  Nơi Pháp Sư nghe pháp Vô thượng
  Chư đại Bồ Tát vô sở úy
  Phát khởi tâm dũng mãnh như vậy
  Trí huệ phương tiện khéo thành tựu
  Nhẫn đến bố thí đồ đựng nước.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ tám như vậy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 Tất cả chúng sanh bị lệ thuộc nơi việc làm vô nghĩa nên tiếc luyến thân mạng chấp lấy việc vô nghĩa, chẳng hay phấn khởi làm việc nghĩa lợi.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Thế nào gọi là chấp lấy việc vô nghĩa?  Đó là với thân mạng thì luyến tiếc, với pháp phần Bồ đề không để lòng, chấp ngã ngã sở làm tiền đạo, nơi thân mình luôn phòng vệ tắm rửa săn sóc trang sức trân quý, đây gọi là chấp lấy việc vô nghĩa.

 Lại còn có chấp lấy việc vô nghĩa.  Đó là luyến tiếc thân mạng, nơi pháp phần Bồ đề chẳng để lòng, chấp ngã và ngã sở làm tiền đạo, bảo bọc chăm nom vợ con anh em bạn bè thân thuộc, nhẫn đến chấp trước tất cả đồ vật cần dùng và đồ trân ngoạn.  Đây là chấp việc vô nghĩa.

 Lại còn có chấp lấy việc vô nghĩa.  Đó là với thân mạng thì luyến tiếc, với pháp phần Bồ đề thì chẳng để lòng, chấp lấy ngã và ngã sở làm tiền đạo, đối với tôi trai tớ gái thì phòng vệ sai khiến đánh mắng giam nhốt, đây gọi là chấp lấy việc vô nghĩa.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Thế nào gọi là chuyên tu nghĩa lợi?  Đó là đối với thân mạng không luyến tiếc, nơi pháp phần Bồ đề có để lòng, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo, chuyên tu điều lành thù thắng nơi thân nghiệp ngữ nghiệp và ý nghiệp.  Đây gọi là tu nghĩa lợi.

 Lại còn có chuyên tu nghĩa lợi.  Đó là nơi thân mạng không luyến tiếc, với pháp phần Bồ đề có để lòng.  Dùng Bồ đề tâm làm tiền đạo chuyên tu các công hạnh dẫn phát Đàn na Ba la mật đa nhẫn đến Bát Nhã Ba la mật đa.  Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi.

 Lại còn có chuyên tu nghĩa lợi.  Đó là nơi thân mạng chẳng luyến tiếc, nơi pháp phần Bồ đề có để lòng, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo mà chuyên tu hành bố thí ái ngữ lợi hành và đồng sự để nhiếp hóa chúng sanh.  Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi.

 Lại còn có chuyên tu nghĩa lợi.  Đó là chẳng luyến tiếc thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo mà chuyên tu niệm xứ chánh cần thần túc căn lực giác chi chánh đạo.  Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi.

 Lại còn có chuyên tu nghĩa lợi.  Đó là chẳng luyến tiếc thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo đối với cha mẹ và các Sư Trưởng thì cúng dường kính vâng cúi đầu chắp tay lễ lạy hỏi thăm tiếp rước cung cấp hầu hạ thảo thuận.  Đây gọi là chuyên tu nghĩa lợi. 
 
 Lại còn có chuyên tu nghĩa lợi.  Đó là chẳng luyến tiếc thân mạng, cầu Bồ đề phần, dùng tâm Bồ đề làm tiền đạo, đối với Tam Bảo tùy thuận giáo hóa pháp kính thờ chuyên tu.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Đại Bồ Tát nghĩ rằng chúng sanh chấp lấy vô nghĩa bị sự việc vô nghĩa chi phối, luyến tiếc thân mạng lười biếng phóng túng.  Nay ta chuyên tu tập nghĩa lợi được công hạnh nghĩa lợi thủ hộ.  Ta phải thêm siêng tinh tấn đem thân nầy cúng dường thuyết pháp sư, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, phải tu hai món tư lương phước và trí.  Do tu phước lực và trí lực hai món tư lương ấy nên được gần Bồ đề Vô thượng vi diệu.

 Nầy Xá Lợi Phất!  Đại Bồ Tát y Thi la Ba la mật đa thật hành Bồ Tát hạnh để cầu Bồ Tát tạng như vậy kính thờ cúng dường thuyết pháp sư nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ chín”.
 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

  “Các phàm phu ngu si 
  Thường luyến tiếc thân mạng
  Chẳng mong cầu Bồ đề
  Ba Nghiệp sanh tạp nhiễm
  Thường vì lợi cho mình
  Và vợ con quyến thuộc
  Quý tiếc đồ trân ngoạn
  Ðây gọi si phàm phu
  Sai khiê&n tớ trai gái
  Nuôi nhiêéu loài bốn chưn
  Chấp chặt việc vô nghĩa
  Ðây gọi kẻ vô trí
  Chứa cất nhiều tiền gạo
  Chẳng cho chẳng ăn dùng
  Chấp chặt việc vô nghĩa
  Gọi người ngu cất chứa
  Các phàm phu ngu si
  Chuyên quý việc vô nghĩa
  Chư Bồ Tát trí huệ
  Chuyên cầu các nghĩa lợi
  Chẳng luyến tiếc thân mạng
  Vui thích giúp Bồ Tát
  Phát khởi nhiều việc thiện
Ðây gọi chuyên nghĩa lợi
Phương tiện khéo tu tập
Thí giới nhẫn chánh cần
Tịnh lự và diệu huệ
Ðây gọi chuyên nghĩa lợi
Cúng dường cha và mẹ
Cung cấp các Sưu Trưởng
Kính thờ ngôi Tam bảo
Ðây gọi chuyên nghĩa lợi
Nơi diệu Bồ Tát tạng
Nhiếp tất cả diệu pháp
Trì tụng và giảng giải
Ðây gọi chuyên nghĩa lợi
Chuyên nghĩa lợi như vậy
Ðược chư Phật khen tặng
Tinh tấn hiệp pháp lành
Là con đấng Vô Úy
Phát tâm như vậy rồi
Dùng lòng tin thanh tịnh
Kính thờ thuyết pháp sư
Cúng tất cả đồ dùng.
 Nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát phát tâm thứ chín rồi , vì muốn cần cầu đại Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát phát tâm như vầy :
 Chúng sanh thế gian làm trái lời dạy của Sư Trưởng nên không có được .Không được những gì? Ðó là tánh tài .Gì là thánh tài ? Ðó là tín, giới, văn, tàm , quí , xả và huệ. Các chúng sanh ấy vì chẳng được thánh tài nên gọi là cực bần cùng. Nay ta phải tu pháp lành vi diệu , nơi lời dạy bảo của Sư Trưởng phải tùy thuận kính lãnh.Tại sao ? Vì đại Bồ Tát do diệu huệ tùy thuận kính lãnh lời dạy của Sư Trưởng nên có chứng được. Chứng  được gì? Chứng được thánh tài . Những gì gọi là Bồ Tát thánh tài ? Ðó là các pháp môn Bồ Tát tạng. Biết rõ Bồ Tát diệu huệ tức là thuyết pháp sư diệu huệ ở nơi pháp môn Bồ Tát tạng vì chúng sanh mà rộng giảng dạy lưu truyền. Ðại Bồ Tát an trụ Bồ Tát tạng như vậy rồi được thánh tài dứt hẳn bần cùng mau chứng được Vô thượng Bồ đề.
 Ðây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ mười”.
 Ðức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
  “ Các chúng sanh hạ liệt trong đời
  Dua nịnh huyễn hoặc nhiều gian nguy
  Ðiên đảo tà chấp chẳng đúng lý
  Chuyên theo ác kiến trái lời Thầy
  Bồ Tát biết rồi thuận lời Thầy
  Bèn được trí huệ rộng giảng giải
  Do đây chứng được bảy thánh tài
  Tín , giới, văn, tàm, quý, xả , huệ
  Tạng vô tận bảy thánh tài ấy
  Chớ truyền dạy kẻ phi pháp khí
  Trong đời có nhiều chúng sanh lành
  Làm được pháp khí tốt của Phật
  Lời tốt không dua đến thỉnh hỏi
  Khéo lành tự tại mà nhàn nhã
  Thường phát dũng mãnh thường tinh tấn
  Cúng kính chánh pháp thích thường nghe
  Chẳng kể thân mạng mình đương có
  Cầu chứng chư Phật diệu Bồ đề
  Biết đó đáng là chánh pháp khí
  Hay thọ trì được diệu lý sâu
  Ðạo Sư phát khởi đại từ bi
  Giảng nói tinh thuần chơn pháp khí
  Tạng pháp vi diệu đại Bồ Tát
  Nương đó gầy dựng thắng Bồ đề
  Ở trong ấy lại rộng khai thị
  Thánh tài kiên cố của chư Phật
  Tất cả các pháp là tướng không
  Là tướng vô tướng, tướng vô ngã
  Không có thọ mạng không đổi khác
  Không những hí luận không thọ tàng
  Tự tánh của tất cả các pháp
  Chẳng từ duyên sanh cũng không tướng
  Không có sơ khởi không chung diệt
  Từ vô tướng chơn như hiển phát
  Người trí tự tại tánh nhu hòa
  Nơi lời Thầy dạy không đảo chấp
  Ðức Phật Thế Tôn vì đó dạy
  Pháp môn giải thoát Phật đã được
  Thánh tài : Tín, giới cùng tàm, quí
  Chánh văn, xả thí và Bát nhã
  Phật vì Bồ Tát rộng giảng giải
  Pháp tạng vô tận bảy Thánh tài
  Phật tử nhu hoà diệu tự tại
  Thuận theo lời hay của thiện hữu
  Ta phải kính thờ thuyết pháp sư
  Ðể chứng Vô thượng Bồ đề đạo
  Bồ Tát vừa phát tâm ấy rồi
  Với thuyết pháp sư thêm yêu kính
  Nhẫn đến sắm sửa bình sành sạch
  Ðựng đầy nước trong đem cúng thí.
 Nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát phát tâm thứ mười rồi vì muốn cần cầu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , do thành tựu sức thiện căn như vậy, đại Bồ Tát được bốn pháp xứ quảng đại thù thắng:
 Một là nơi các pháp lành hay khéo thẳng vào.
 Hai là được thuyết pháp sư ngợi khen.
 Ba là tu hành thành tựu viên mãn không có hủy phạm.
 Bốn là nơi chánh pháp của Phật giữ gìn vững chắc chẳng hư .
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Do sức thiện căn ấy, đại Bồ Tát ở trong cõi trời lại được bốn pháp xứ quảng đại thù thắng :
 Một là vì các chúng sanh mà tu học mãi, trụ vững nơi các pháp lành.
 Hai là chư Thiên hội họp chiêm ngưỡng dung nhan Bồ Tát và đồng nghĩ rằng hôm nay Bồ Tát sẽ giảng pháp gì? Ta nghe rồi sẽ được tỏ ngộ.
 Ba là được Thiên Ðế Thích và chư Thiên tham kiến thỉnh pháp giải quyết chỗ nghi, mà Bồ tát ấy không qua chỗ chư Thiên.
 Bốn là chư Thiên hiện cung điện lớn cho Bồ Tát ấy ở.
 Nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát ấy hoặc sanh trong người, hoặc ở trên trời được vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức pháp môn vi diệu , đều vì thành tựu viên mãn Thi la Ba la mật vậy”.
 Ðức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
  “Bồ Tát ngồi tòa cao
  Ðược chư Thiên lễ kính
  Chiêm ngưỡng tôn nhan Ngài
  Sẽ giảng diệu pháp gì
  Chư Thiên đều cung kính
  Bực trí huệ vô tham
  Ở cung điện vui đẹp
  Ðế Thích đến thỉnh pháp
  Trên trới mạng hết rồi
  Sanh vào trong loài người
  Là vua Chuyển Luân Thánh
  Oai lực lớn không tham
  Lúc mạng người hết rồi
  Trở lại sanh cõi trời
  Không bao giờ bị khổ
  Do thờ cúng Pháp Sư
  Luôn được nhiều bốn thứ
  Pháp xứ rộng thù thắng
  Do không lòng hạ liệt
  Cung kính Thầy thuyết pháp
  Nếu lòng kính thờ Thầy
  Cúng dâng đồ đựng nước
  Thì Trời , Rồng và Người
  Ðều nên gâén cúng dường.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát do thành tựu các thiện căn ấy nên  ở cõi trời lại được bốn pháp :
 Một là biết rõ những nghiệp đã tạo ở đời trước.
 Hai là biết rõ nhơn nghiệp lành ấy được sanh cõi trời , cũng biết rõ thối thất pháp lành.
 Ba là biết rõ từ đây mạng chung đến sanh chỗ nào.
 Bốn là vì chư Thiên mà giảng diệu pháp dạy bảo cho họ vui mừng , đã lợi ích chư Thiên rồi bèn bỏ thân trời.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mậy , đại Bồ Tát do thành tựu các căn lành nên lại được bốn pháp viên mãn thù thắng :
 Một là khi bỏ thân trời , đại Bồ Tát sanh trong loài người được sanh chung với giới.
 Hai là ở trong người được năm pháp sanh thành tựu thù thắng : Ðó là được sanh vào nhà thù thắng , được sắc thân thắng diệu , được quyến thuô(c thù thắng , được giới thanh tịnh thù thắng và đối với chúng sanh được tu đức từ thù thắng.
 Ba là ở trong người lại được năm pháp thành tựu bất hoại : Ðó là được thiện tri thức không ai phá hoại được , thân mạng không yểu thọ, của cải đã được không bị mất , được tâm Bồ đề không hề hư hoại và lúc thiếu pháp lành thì tự được đầy đủ.
 Bốn là ở trong người lại được năm pháp hi hữu viên mãn . Ðó là trong nhà để những chậu thùng không, tùy tay Bồ Tát rờ đến chỗ nào , thì chỗ ấy đều đầy châu báu , đây là pháp hi hữ thứ nhứt. Lúc Bồ Tát khát thì trước mặt tự nhiên có nước đủ tám đức hiện ra, đây là pháp hi hữu thứ hai . Do phước đức giữ gìn thân thể nên chẳng bị ngoại vật làm tổn hại , như độc , như dao, hoặc lửa hoặc nước , hoặc á quỷ đều chẳng làm tổn hại được. Ðây là pháp hi hữu thứ ba. Những thời kỳ mà địa cầu bị nhựng tai kiếp như là cơ cẩn tai, tật dịch tai, đao binh tai, hỏa tai, thủy tai , phong tai, khát kiếp , hỏa quang kiếp , dạ xoa kiếp , đại Bồ Tát ấy chẳng sanh trong người mà ở cung trời vui sướng , đây là pháp hi hữu thứ tư . Ðại BồTát ấy vĩnh viễn chẳng sanh vào các chỗ nạn hoặc các ác đạo, nếu có tâm niệm sai lầm thì liền tự giác ngộ mau dứt lìa , đây là pháp hi hữu viên mãn thứ năm.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát do thành tựu các căn lành ấy nên thường chẳng rời xa bốn pháp vi diệu :
 Một là khi thấy có chúng sanh khổ thì tự nhiên được tâm đại từ .
 Hai là quyến thuộc của Bồ Tát đều kính thuận đối với Bồ Tát.
 Ba là đại Bồ Tát có thể chế phục sự suy già không để nó xâm tổn.
 Bốn là làm ăn sanh lợi thì được lợi gấp trăm gấp ngàn.
 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật , đại Bồ Tát do thành tựu các căn lành ấy nên chẳng bị ba thứ nó cướp đoạt :
 Một là chẳng bị tham dục cướp đoạt.
 Hai là chẳng bị sân khuể cướp đoạt.