Lúc
bấy giờ đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Chư đại
Bồ Tát an trụ nơi đức tin như vậy rồi, đức Như Lai biết
chư đại Bồ Tát ấy là căn khí của pháp môn Bồ Tát tạng,
là chánh pháp khí của chư Phật, đức Như Lai liền qua đến
tại chỗ để khai pháp chỉ dạy đạo Bồ Tát.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nay ông nên biết tướng sai biệt của
Pháp môn ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Như thuở quá khứ vô số vô lượng bất
khả tư nghị a tăng kỳ kiếp, thuở ấy có Phật xuất thế
hiệu là Đại Uẩn Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, vì các thế gian
vô lượng đại chúng mà tuyên nói diệu pháp, khai thị diễn
bày sơ trung hậu đều thiện, văn nghĩa khéo hay tinh thuần
đầy đủ tùy thuận phạm hạnh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thuở ấy đức Phật Đại uẩn có bảy
mươi hai na do tha Thanh Văn đệ tử câu hội thuyết pháp.
Những Thanh Văn đệ tử nầy đều là bực đại A La Hán đã
sạch các phiền não tâm được tự tại đến nơi bỉ ngạn.
Nầy
Xá Lơị Phất! Bấy giờ có quốc vương tên Tối Thắng
Thọ Tri dân đúng pháp nên có hiệu là Trì Chánh Vương.
Thành lớn của nhà vua ấy cai trị tên là Tối Thắng Tràng
rộng rãi xinh đẹp an ổn giàu vui rất được ưa thích, nhơn
vật đông đúc rộn rịp phồn thịnh.
Nầy Xá Lợi
Phất! Vua Thắng Thọ có con trai tên là Tinh Tấn Hành
tuổi còn trẻ thơ, thân hình đoan nghiêm xinh đẹp đệ nhứt
đượi mọi người ua nhìn. Thái tử ấy đã từng cúng
dường phụng thờ câu chi na do tha trăm ngàn chư Phật gần
gũi kính vâng trồng các căn lành.
Nầy Xá Lợi
Phất! Thuở ấy Thái Tử Tinh Tấn Hành cùng nội cung
xuất du nơi công viên.
Bấy giờ
Phật Đại Uẩn biết Thái Tử là căn khí Bồ Tát tạng và
là pháp khí của chư Phật Ngài liền qua đến chỗ Thái Tử
đang du ngoạn rồi thăng lên hư không khai diễn Bồ Tát đạo
và khen nói chư Phật ba đời.
Thái Tử
nên biết thế nào là Bồ Tát đạo?
Chư đại
Bồ Tát đối với các hữu tình chuyên cần tu tập bốn tâm
vô lượng, đó là Đại từ ba la mật, Đại bi ba la mật,
Đại hỉ ba la mật và Đại xả ba la mật. Đại Bồ
Tát lại tinh tấn tu tập các nhiếp pháp. Nếu có Bồ
Tát nào tu hành như vậy thì gọi là khai Bồ Tát đạo.
Nầy Thái
Tử! Thế nào là đối với các chúng sanh, đại Bồ Tát
tinh tấn tu học Đại từ vô lượng ba la mật? Đại
Bồ Tát thật hành Bồ Tát đạo vì Vô thượng Bồ đề nên
tâm từ cùng khắp chúng sanh giới. Hạn lượng gì làm
chúng sanh giới? Hết hư không giới là chúng sanh giới.
Nầy Thái
Tử! Như hư không giới không đâu chẳng khắp, đại
từ vô lượng của Bồ Tát cũng như vậy, không có chúng sanh
hàm thức chủng loại nào mà chẳng khắp. Như chúng sanh
giới không có hạn lượng, tâm từ của đại Bồ Tát cũng
không hạn lượng. Vì hư không vô biên nên chúng sanh
vô biên, vì chúng sanh vô biên nên tâm từ cũng vô biên.
Thái Tử
nên biết chúng sanh giới nhiều, chớ chẳng phải địa giới
thủy giới hỏa giới phong giới nhiều. Đức Phật sẽ
vì Thái Tử mà nói ví dụ.
Giả sử
số lượng thế giới mười phương như số cát sông Hằng.
Tất cả thế giới ấy đồng thời hiệp lại thành biển
lớn chứa đầy nước. Lại có hằng hà sa số chúng
sanh cùng hội lại chẻ một sợi lông làm một trăm năm mươi
phần rồi cùng lấy một phần lông chấm lấy nước biển.
Kế đó có số chúng sanh đồng như trên cũng hội đến lấy
một phần lông chấm lấy nước biển. Cứ tuần tự
kế tiếp chấm nước biển như vậy. Giả sử dùng cách
lấy lông chấm lấy nước biển như vậy còn có thể chấm
lấy hết nước trong biển lớn ấy, nhưng chúng sanh giới
tánh vô biên lượng. Thế nên biết tánh chúng sanh vô
lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn. Tâm từ của đại
Bồ Tát khắp đầy trong ấy.
Nầy Thái
Tử! Tu tâm từ vô lượng vô biên như vậy, có ai biết
được biên tế chăng?
Tinh Tấn
Hành thưa:
Bạch đức
Thế Tôn! Không có thể biết được biên tế.
Đức Phật
Đại Uẩn nói:
Đúng như
vậy. Nầy Thái Tử! Đại Bồ Tát tu thiện căn đại
từ trùm khắp chúng sanh giới không hạn lượng.
Lại nầy
Thái Tử! Nay đức Như Lai lại nói tướng của đại
từ. Thái Tử nên biết đại từ nầy vô lượng hay bảo
hộ tự thân mình. Đại từ nầy hay phát khởi lợi ích
kẻ khác. Đại từ nầy là tối đệ nhứt trong các đức
vô tranh luận. Đại từ nầy hay dứt trừ cây gốc sân
hận. Đại từ nầy hay diệt hẳn tất cả lỗi lầm.
Đại từ nầy hay rời xa tham ái các cõi. Đại từ nầy
chỉ nhìn đức tốt thanh tịnh của chúng sanh mà chẳng thấy
những tội xấu. Đại từ nầy hay vượt khỏi nhiệt
não xâm hại. Đại từ nầy hay sanh trưởng sự vui cho
than ngữ và ý. Đại từ nầy có năng lực chẳng bị
kẻ khác làm hai. Đại từ nầy có tánh an ổn rời những
sự sợ hãi. Sức thiện căn đại từ nầy tùy thuận
thánh đạo. Đại từ nầy hay khiến kẻ nhiều sân bạo
ác chẳng tin pháp sanh lòng tin thanh tịnh. Đại từ nầy
hay cứu vớt nhiều chúng sanh. Do sức đại từ nầy nên
tự nhiên không cầm võ khí. Đại từ nầy hay dắt dìu
chúng sanh đến giải thoát. Đại từ nầy hay diệt những
sân hận ác hại. Đại từ nầy rời xa sư dối hiện
oai nghi nịnh bợ gạt lường bức ép cầu đòi, mà hay tăng
trưởng sự lợi ích cung kính danh dự. Do sức đại từ
nầy nên được Đế Thích Phạm Thiên cung kính. Dùng
đại từ trang nghiêm thân tâm nên người hành đại từ được
người trí huệ đồng khen tặng. Đại từ nầy hay phòng
hộ tất cả kẻ ngu. Sức đại từ nầy vượt khỏi
cõi dục thuận trời Phạm Thiên và mở đường giải thoát.
Đại từ này là tối tiền đạo của đại thừa. Đại
từ nầy hay nhiếp phục tất cả các thừa. Đại từ
nầy hay chứa họp nhóm phước vô nhiễm. Sức từ thiện
nầy hơn tất cả những phước nghiệp có chỗ sở y.
Đại từ nầy hay trang nghiêm ba mươi hai tướng và tùy hảo
tướng. Đại từ nầy hay rời xa những tướng xấu thô
và căn chẳng đủ. Đại từ nầy là con đường bằng
thẳng đến thiện đạo và Niết Bàn. Đại từ nầy
hay rời xa tất cả ác đạo và tám nạn. Sức đại từ
nầy hay ưa thích pháp lạc mà chẳng ưa thích tất cả sự
thọ dụng vui sướng trong ngôi vua sang giàu. Do sức đại
từ nầy nên có tâm bình đẳng bố thí cho các chúng sanh.
Đại từ nầy hay rời xa các thứ vọng tưởng. Đại
từ nầy làm cửa làm đường làm sở do học luật nghi và
hay cứu tế kẻ phạm cấm giới. Đại từ nầy hiện
sức nhẫn nhục và hay rời xa tất cả kiêu mạn tự cao tự
đại. Đại từ nầy hay phát khởi tinh tấn bất động
khiến tu tập chánh hạnh phương tiện mau được cứu cánh.
Đại từ nầy hay làm cội gốc cho những tịnh lự giải thoát
và chánh chỉ chánh quán. Đại từ nầy hay khiến tâm
rời khỏi phiền não sanh tử và phát khởi tất cả trí huệ.
Do đại từ vô lượng hay nghe học ghi nhớ nên các đạo phẩm
của mình của người đều quyết định cả. Đại từ
nầy hay khiển trừ phiền não thuận với ma. Do sức đại
từ nên đồng an trụ nơi an lạc. Đại từ nầy hay khiến
người lúc đi đứng ngồi nằm đều giữ kín oai nghi.
Đại từ nầy hay làm tổn giảm các điệu cử tánh dục.
Đại từ nầy như hương thơm xoa thân và ướp y phục tàm
quý. Đại từ nầy hay khiển trừ các ác đạo các nạn
tai và phiền não. Đại từ nầy hay cứu vớt tất cả
chúng sanh. Đại từ vô lượng nầy hay quên bỏ sự vui
của mình mà ban cho tất cả chúng sanh sự an ổn khoái lác.
Đại từ nầy có vô lượng tướng dạng như vậy, nay đức
Như Lai chỉ nói tóm lược.
Đây gọi
là đức Đại từ vô lượng ba la mật của đại Bồ Tát.
Do thành tựu đại từ nầy nên đại Bồ Tát nhìn thấy chúng
sanh luôn có lòng lành thương mà siêng tu học chánh pháp không
biết mỏi mệt.
Thái tử
nên biết đức từ của Thanh Văn chỉ có thể tự cứu.
Đức từ của Bồ Tát rốt ráo hay độ thoát tất cả chúng
sanh.
Nầy Thái
Tử! Đại từ nầy có ba: Một là chúng sanh duyên
từ, chỗ được của Bồ Tát sơ phát đại tâm. Hai là
pháp duyên từ, chỗ được của Bồ Tát xu hướng thánh hạnh.
Ba là vô duyên, chỗ được của Bồ Tát chứng vô sanh pháp
nhẫn.
Đây gọi
là Đại từ vô lượng ba la mật của đại Bồ Tát.
Do an trụ Đại từ nầy nên tâm của Bồ Tát trùm khắp tất
cả chúng sanh.
Lại nầy
Tinh Tấn Hành Thái Tử! Thế nào là đức Đại Bi vô
lượng ba la mật của đại Bồ Tát?
Vì muốn
chứng được Vô thượng Bồ đề nên đại Bồ Tát lấy đại
bi làm đạo thủ. Như hơi thở là đầu hết của mạng
người. Cũng vậy, đại Bồ Tát chứng được đại thừa
cũng dùng đại bi mà làm đạo thủ.
Như vua Chuyển
Luân có đủ bảy thứ báu, phải lấy kim luân để làm tiền
đạo. Cũng vậy, bao nhiêu Phật pháp đã được, đại
Bồ Tát phải dùng đại bi làm đạo thủ.
Lại nầy
Thái Tử ! Đại Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề nên độ
các chúng sanh, thật hành đức đại bi chẳng bỏ tất cả
chúng sanh. Thế nào là đại Bồ Tát ở chỗ chúng sanh
phát khởi đại bi?
Nầy Thái
Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy các cúng
sanh bị thân kiến hư ngụy trói cột, bị các ác kiến giấu
nhốt. Thấy như vậy rồi đối các chúng sanh đại Bồ
Tát pháp khởi đại bi: Ta sẽ thuyết pháp vi diệu cho
họ dứt hẳn thân kiến hư ngụy và các ác kiến trói cột.
Nầy Thái
Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy các chúng
sanh an trụ nơi chẳng thiệt hư ngụy điên đảo: ở
trong vô thường hư vọng cho là thường, ở trong các khổ
hư vọng cho là vui, ở trong ngã hư vọng cho là có ngã, ở
trong bất tịnh hư vọng cho là có ngã, ở trong bất tịnh
hư vọng cho là tịnh. Thấy như vậy rồi đối với các
chúng sanh đại Bồ Tát pháp khởi đại bi: Ta sẽ thuyết
vi diệu pháp cho họ dứt hẳn chẳng thiệt hư vọng điên
đảo.
Nầy Thái
Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy các chúng
sanh ngu si điên đảo say đắm nơi ái dục, với mẹ hay chị
em còn sanh lòng cưỡng bức huống là với người khác.
Thấy như vậy rồi đại Bồ Tát nghĩ rằng: Khổ thay
cho thế gian sao lại có thể dung chứa những thứ phi thánh,
sao mà đầy những nghiệp ác vô sỉ. Quấy quá thay cho
chúng sanh ấy, họ đã từng ở trong thai mẹ sanh ra do nơi
sản môn, sao lại vô sỉ cùng mẹ làm sự ấy. Chúng
sanh ấy quá tội lỗi rất đáng thương rất đáng trách, họ
bị tham sân si làm hại, lại bị vô trí làm hại mà bỏ rời
chánh pháp ở nơi phi pháp tập làm pháp ác, phải đọa trong
các nẻo địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Vì bị nghiệp
ác dắt dẫn nên chúng sanh ấy đi đến đâu đều làm sự
phi đạo. Như loài cheo ở trong gò mả bị bầy chó đuổi
bắt nên chạy trốn sa vào hố sâu giữa đêm kêu gào.
Lại như người sanh manh sợ chó chạy sa vào khe sâu.
Lại như bầy heo đứng nằm rên phẩn dơ và ăn cả phẩn
chẳng biết gớm nhờm. Các chúng sanh ấy cũng như vậy.
Họ rất đáng thương, bị lòng dâm bứt ngặt với người
thân l2m sự phi thân, bị các phiền não làm hại, làm đồ
đảng ma, bị lưới ma quấn trói, bị gói trùm trong lưới
mê hoặc, bị ngập lún trong bùn đục nhiễm.
Thấy như
vậy rồi đối với các chúng sanh đại Bồ Tát pháp khởi
đại bi: Ta sẽ vì họ mà thuyết diệu pháp cho họ dứt
hẳn các phiền não tham dục.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh bị ngũ cái che đậy, bị trúng tên ái dục,
tham đắm sáu trần: mắt thấy sắc thì nắm lấy tướng
mạo chẳng bỏ được, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi
nếm mùi, thân chạm xúc đều nắm lấy hình tướng chẳng
bỏ được. Các chúng sanh ấy nhiều sân hận oán thù
nhau. Nếu được lợi là bạn thân, nếu mất lợi thì
gia hai. Các chúng sanh ấy nhiều hôn trầm ngủ nghỉ hèn
kém ngu độn bị màn vô trí che đậy. Các chúng sanh ấy
bị điệu hối bất thiện buộc ràng, thường bị các phiền
não làm ô nhiễm tâm họ. Các chúng sanh ấy bị mắc
trong lưới nghi, họ chẳng quyết định được nơi pháp thâm
diệu.
Thấy như
vậy rồi đối với các chúng sanh đại Bồ Tát pháp khởi
đại bi: Ta sẽ vì họ thuyết pháp cho họ dứt hẳng các ấm
cái ấy.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh bị sự làm hại của mạn, quá mạn, ngã mạn,
tăng thượng mạn, tà mạn. Với kẻ kém thua cho ta là hơn.
Lại có chúng sanh cho sắc là ngã, hoặc cho thọ, cho tưởng,
cho hành hoặc cho thức là ngã. Với chỗ chưa chứng chưa
được cho rằng ta đã chứng đã được, vì thế nên tự
thị mà chẳng chịu học hỏi nơi đáng được học hỏi,
chẳng lễ bái nơi đáng lễ bái, chẳng kính thuận bực tôn
trưởng, chẳng tôn trọng bực thầy đáng tôn trọng.
Với bực trí huệ chẳng thỉnh hỏi thế nào là thiện là
bất thiện, thế nào là nên tu chẳng nên tu, thế nào là nên
làm chẳng nên làm, thế nào vô tội có tội, thế nào là
đạo, là giải thoát, là chánh định. Nơi các pháp ấy
chưa từng hiểu biết rõ mà tự cho mình là hơn là trên.
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát pháp khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ vì họ thuyết pháp cho họ dứt hẳn
giống kiêu mạn.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh bị dây tình ái trói chặt, làm tôi mọi cho
tình ái, bị vợ con buộc ràng, bị các thứ suy họa đeo theo,
bị cửa khóa sanh tử ngăn nhốt chẳng ra thoá, bị câu thúc
nơi địa ngục ngạ quỷ súc sanh mà chẳng được tùy ý tự
tại
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát pháp khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ vì họ thuyết pháp thâm diệu cho họ
được tùy ý tự tại thẳng đến Niết Bàn.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh xa rời thiện hữu mà theo bạn ác, vì gần bạn
ác nên họ ham làm những nghiệp ác như là sát sanh, trộm
cướp, tà dâm, vọng ngữ, chia rẽ, cộc cằn văn hoa, tham
lam, sân hận, tà kiến, gầy dựng vô lượng nghiệp ác như
vậy.
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát pháp khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ vì họ thuyết pháp thâm diệu cho họ
gần gũi thiện hữu để họ dứt hẳn mười nghiệp đạo
ác mà làm mười nghiệp đạo lành.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh bị những ngu si che khuất, bị màn tối vô minh
làm mờ lòa nên điên đảo chấp trước, đối với tự thân,
hữu tình, tác giả, thọ giả, ngã và ngã sở hữu, vô lượng
vô biên kiến chấp như vậy đều nắm chặt chẳng bỏ.
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát phát khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ vì họ thuyết pháp thâm diệu cho họ
được thánh huệ nhãn thanh tịnh mà dứt hẳn tất cả kiến
chấp điên đảo.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh mến thích sanh tử mải miết luân hồi, chạy
theo ngũ ấm, chẳng rời tam giới, chẳng lo tháo gỡ gông cùm
xiềng xích để ra khỏi ngục tù tam giới.
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát phát khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ thuyết pháp thâm diệu cho họ phát khởi
ngũa ấm sanh tử trong tam giới.
Lại nầy
Thái Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh từ nghiệp ác sanh, như quả bóng như vòng xe
xoay lăn bất định, do nghiệp ấy mà từ thế gian nầy đến
thế gian kia, từ thế gian kia đến thế gian nầy lưu chuyển
nhanh chóng thẳng đến năm loài trái đường Niết Bàn.
Thấy như
vậy rồi, đại Bồ Tát phát khởi đại bi đối với các
chúng sanh: Ta sẽ vì họ thuyết pháp thâm diệu mở rộng
cửa Niết Bàn cho họ thẳng vào.
Nầy Thái
Tử! Lúc thật hành đại bi, đại Bồ Tát quan sát tánh
chúng sanh phát khởi mười thứ đại bi vô lượng như vậy.
Lại nầy
Thái Tử! Đại Bồ Tát lại có mười đại bi chuyển
tướng. Nghĩa là đại bi như vậy do nơi chẳng dua bợ
mà được sanh khởi dường như hư không, vì vĩnh viễn xuất
ly hẳn vậy.
Đại bi như
vậy do nơi chẳng dối phỉnh mà được sanh khởi, vì từ
ý tăng thượng mà được xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do chẳng giả trá mà được pháp khởi, vì từ đạo
như thiệt tâm chất trực mà xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do chẳng vạy vò mà được pháp khởi, vì rất khéo an
trụ nơi tâm chẳng vạy vò mà xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do không kiêu căng tự cao khiếp nhược mà được sanh
khởi, vì nơi tất cả hữu tình, kiêu mạn và lui thua, đã
khéo xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do bảo hộ hữu tình mà được sanh khởi, vì từ tâm
mình thanh tịnh mà xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do huệ kiên cố mà được sanh khởi, vì rời hẳn tâm
động bất động diệu trụ tâm mính khéo xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do bỏ sự vui của mình mà được sanh khởi, vì trao sự
vui cho người khác khéo xuất ly vậy.
Đại bi như
vậy do muốn nâng đỡ các chúng sanh mà được sanh khởi,
vì tinh tấn bền chắc khéo xuất ly vậy.
Lại nầy
Thái Tử! Đại bi vô lượng của đai Bồ Tát lại có
mười thứ chuyển tướng, nghĩa là tất cả đại thừa xuất
ly đều nhơn nơi đại bi mà được xuất ly, do như vậy mà
gọi là đại bi.
Đại bi như
vậy xây dựng tất cả bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, tịnh lự, trí huệ, do đây nên gọi là đại bi.
Đại bi như
vậy xậy dựng niệm xứ, chánh cần, thần túc, đại bi như
vậy xây dựng căn, lực, giác chi, chánh đạo, các thứ đệ
định, mười nghiệp đạo lành, nhẫn đến các tướng đều
xây dựng cả, do đây nên gọi là đại bi.
Đại bi như
vậy xây dựng trí huệ tự nhiên của Như Lai, do đây nên
gọi là đại bi.
Thái Tử
nên biết đại bi như vậy làm việc của mình làm, làm khéo,
làm chẳng biến đổi khác, vì chúng sanh mà làm việc nên
làm.
Đại bi như
vậy tất cả chúng sanh đều viên mãn như ý.
Đây gọi
là Đại bi vô lượng ba la mật của đại Bồ Tát.
Do thành tựu
Đại bi vô lượng ba la mật nầy, đại Bồ Tát thấy các
chúng sanh ở nơi chỗ như vậy lại càng thương mến họ.
Lại nầy
Thái Tử! Thế nào gọi là Đại hỷ vô lượng ba la mật
của đại Bồ Tát?
Nầy Thái
Tử! Lúc đại Bồ Tát vì chúng sanh cầu Vô thượng Bồ
đề mà tu hành đại hỷ. Đại hỷ như vậy có vô lượng
tướng.
Đại hỷ
của Bồ Tát có tên là đức hỷ vi diệu thanh tịnh vui mừng
nhớ nghĩ các pháp lành. Tại sao? Vì nơi các pháp
lành không có tánh buồn chán, không có tánh lui thua, không
có tánh mỏi mệt.
Đại hỷ
nầy lại có tên là tánh rời xa tất cả sự ưa thích thế
gian. Tại sao? Vì là tánh an trụ nơi tất cả sự
ưa thích pháp lạc.
Đại hỷ
nầy hay làm cho trong tâm vui mừng, thân sức dũng cảm.
Tại sao? Vì trí huệ thơ thới tâm ý hớn hở.
Đại hỷ
nầy ưa thích thân Như Lai. Tại sao? Vì thích cầu
tướng hảo trang nghiêm.
Đại hỷ
nầy nghe pháp không chán mỏi. Tại sao? Vì vui
thích y chánh pháp cóù thể thật hành đúng.
Do đại hỷ
nầy mà đối với chánh pháp thì vui thích siêng làm, với
chúng sanh thì không tâm tổn hại, với Bồ đề thì mến ưa,
với pháp rộng lớn thì tin hiểu, phát khởi tâm rời xa tiểu
thừa quyến giáo.
Đại hỷ
nầy tên là chế phục xan tham. Tại sao? Vì đối
với người cầu xin thì quyết định bố thí.
Do đại hỷ
nầy với người phạm giới thì thương xót nhiếp thọ họ,
với người trì giới thì tâm thường thanh tịnh. Lại
nay làm cho chính mình có giới hạnh thanh tịnh.
Đại hỷ
nầy có tên là đức hỷ an ổn vượt khỏi tất cả sự hãi
sợ ác đạo. Là đức hỷ nhịn chịu lời chê tiếng
mắng của kẻ khác. Là đức hỷ không báo oán, vì lòng
cam nhận chịu lúc bị người móc mắt chặt đứt tay chưn.
Là đức hỷ cung kính tôn trọng, vì đủ oai nghi cung kính
tôn trọng lễ bái các bực tôn trưởng. Là đức hỷ
luôn vui vẻ, vì tâm ý hòa vui rời xa buồn phiền ngỏ lời
thăm hỏi trước. Là đức hỷ rời xa tất cả sự dua
bợ dối trá phỉnh gạt bức ngặt cầu đòi. Tại sao?
Vì đức hỷ nầy xu hướng con đường chánh pháp chơn thiệt.
Do đức hỷ
nầy nên đối với chư Bồ Tát mến ưa bực đại sư, với
chánh pháp rất mến ưa như thân thể mình, với Như Lai rất
mến ưa như mạng sống của mình, với thầy tổ rất mến
ưa như cha mẹ mình, với các chúng sanh rất mến ưa như con
ruột, với thọ giáo sự rất mến ưa như tròng mắt mình,
với các chánh hạnh rất mến ưa như đầu mình, với các
ba la mật rất mến ưa như tay chân mình, với thuyết pháp
sư rất mến ưa như những châu báu, với chánh pháp được
học rất mến ưa như thuốc hay, với người hay cử tội và
ức niệm rất mến ưa như lương y.
Đây gọi
là Đại hỷ vô lượng ba la mật của đại Bồ Tát.
Do an trụ
đại hỷ nầy mà thật hành Bồ Tát hạnh nên đại Bồ
Tát thường có lòng vui mừng siêng cầu chánh pháp không nhàm
mỏi.
Lại nầy
Tinh Thấn Hành Thái Tử! Thế nào gọi là Đại xả vô
lượng ba la mật của đại Bồ Tát?
Bồ Tát vì
chúng sanh mà phát tâm Vô thượng Bồ đề rồi, phải hành
đại xả. Đức xả nầy có ba thứ: đức xả
bỏ phiền não đức xả bảo hộ mình và người và đức
xả thời phi thời.
Những gì
gọi là đức xả bỏ phiền não?
Nầy Thái
Tử! Đại Bồ Tát đối với chỗ kính thờ mình tâm
chẳng cao đại, với chỗ chẳng kính thờ tâm không ty hạ.
Nếu được lợi dưỡng tâm chẳng kiêu căng, chẳng được
lợi dưỡng tâm chẳng uất ức. Với chỗ trì giới và
phạm giới tâm luôn bình đẳng. Được danh dự lớn
tâm chẳng mừng, bị chê bai tâm chẳng buồn. Với chỗ
ca ngợi thì khéo an trụ pháp tánh, nếu bị quở trách thì
không thối chí. Với các sự khổ thì có sức trí huệ,
với các sự vui thì có sức quán giải vô thường khổ, bỏ
ái dục, dứt giận hờn. Nơi oán thân tâm luôn bình đẳng,
nơi thiện ác tác tâm thường không hai. Nơi được yêu
chẳng yêu lòng chẳng rung động, nơi nghe tốt nghe dở chẳng
hề chấp trước. Nơi lời lành lời ác lòng không thương
ghét, nơi những món ngon bổ và dở hại thì cân lường bình
đẳng. Với thân mình và kẻ khác lòng tin yêu bình đẳng.
Nơi mạng sống của mình không có lòng đoái luyến. Với
các chúng sanh hạ trung và thượng đều quan niệm bình đẳng.
Với pháp ẩn pháp hiển khởi tánh bình đẳng, với đế và
phi đế tự thể đều thanh tịnh.
Nếu đại
Bồ Tát có thể tự nhiên phát khởi sự đối trị thù thắng
thì gọi là đức xả bỏ phiền não của đại Bồ Tát.
Lại nầy
Thái Tử! Những gì gọi là đức xả bảo hộ mình và
người? Nếu lúc đại Bồ Tát bị người chặt đứt
tay chưn lột da xẻo thịt thì thường tự quan sát nội tâm
an trụ nơi đại xả, không chút hy vọng cũng không hờn oán.
Dầu là lời nói hay hành động xúc phạm đều có thể cam
chịu. Đây gọi là đức xả bảo hộ mình và người.
Đại Bồ
Tát lại quan sát hai tâm niệm không tổn hại, đó là chẳng
do nhãn tướng và sắc tướng, cho đến chẳng do ý tướng
và pháp tướng mà sanh lòng tổn hại, luôn an trụ nơi xả.
Tại sao? Vì không tổn không hại mới gọi là đức xả
bảo hộ mình và người.
Lại những
gì gọi là đức xả bảo hộ mình và người.
Bị người
hại mà chẳng báo oán, với mình với người đều nhịn chịu
được, đây gọi là đức xả bảo hộ mình và người.
Với người
có ơn và không ơn đều bình đẳng giúp đỡ, đây gọi là
đức xả. Đức xả nầy gọi là đức xả tột vô tranh,
là đức xả diệt tâm mình, là đức xả quan sát tự thể,
là đức xả chẳng hại người. Nơi các sự quyết định,
Bồ Tát có thể xả bỏ.
Dầu vậy,
nhưng đức Phật Thế Tôn chẳng cho phép chư Bồ Tát chỉ
tu đức xả thôi, mà chư Bồ Tát còn phải tu tập các tác
dụng các chánh hạnh, ngày đêm thường nhớ phát khởi tinh
tấn cầu các pháp lành. Với thời phi thời mới nên
tu đức xả.
Lại nầy
Thái Tử! Những gì gọi là đức xả thời phi thời?
Đại Bồ
Tát có đủ trí huệ lớn khéo hay tu tập thời và phi thời.
Nghĩa là với các chúng sanh phi pháp khí nên sanh khởi xả,
với kẻ chẳng cung kính nên sanh khởi xả, với những không
lợi ích chê bai khổ não nên sanh khởi xả, với Thanh Văn
thừa nên sanh khởi xả, ở lúc tu hạnh bố thí nên xả để
tu giới, ở lúc tu giới nên xả để tu nhẫn, ở lúc tu nhẫn
nên xả để dẫn phát thí giới và tinh tấn, ở lúc tu tinh
tấn nên xả để tu giới, ở lúc tu tịnh lự nên xả hạnh
thí, ở lúc tu huệ nên xả những duyên phát khởi năm độ
kia.
Đây gọi
là đức xả thời phi thời của đại Bồ Tát. Tại sao?
Do vì nơi pháp chẳng nên làm không có tánh tạo tác, Bồ Tát
biết rõ là vô ích nên thật hành đức xả.
Nếu có đại
Bồ Tát an trụ đức Đại xả ba la mật mà thật hành Bồ
Tát hạnh thời với các pháp ác bất thiện đều hay phát
khởi đức đại xả.
Nầy Thái
Tử! Các tướng như vậy gọi là những đức Đại từ,
Đại bi, Đại hỷ và Đại xả của đại Bồ Tát.
Nếu đại
Bồ Tát an trụ bốn vô lượng ba la mật ấy, phải biết mình
chính là căn khí của pháp môn Bồ Tát tạng, lại là căn
khí của chánh pháp Phật.
Đức Như
Lai bảo Ngài Xá Lợi Phất, đức Phật Đại Uẩn vì Tinh Tấn
Hành Thái Tử mà giảng rộng bốn vô lượng ấy rồi lại
khai thị sáu ba la mật đa và các nhiếp pháp cho Thái tử ấy
tùy thuận tu học.
“Nầy Xá
Lơị Phất! Thái Tử Tinh Tấn Hành ấy chuyên cần tu
tập những pháp đã được nghe như sau đây sẽ nói rõ”.