Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là Chư định trí lực của đức
Như Lai. Do được trí lực thứ bảy nầy mà đức Như
Lai tuyên bố ta là bực Đại Thánh chuyển pháp luân thanh tịnh
mà tất cả thế gian đều chẳng chuyển được.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là Túc trụ tùy niệm tác
chứng trí lực của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác dùng trí
lực vô thượng tùy theo chỗ ghi nhớ đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai đùng như thiệt biết rõ
vô lượng đời trước của Phật và của tất cả hữu tình
khác. Hoặc ghi nhớ một đời, mười đời, trăm đời, ngàn
đời, đến câu chi na do tha trăm ngàn đời thảy đều có
thể nhớ biết rõ.
Đức
Như Lai lại nhớ biết rõ kiếp loài, kiếp thành, kiếp thành
hoại, hoặc vô lượng kiếp hoại, vô lượng kiếp thành,
vô lượng kiếp thành hoại. Hoặc nhớ biết rõ trăm
câu chi kiếp, đến vô lượng trăm ngàn câu chi na do tha kiếp.
Đức
Như Lai có thể nhớ biết rõ đời trước của Phật đã từng
ở tại xứ ấy, có tên họ ấy, dòng ấy, có sắc ấy tướng
ấy, hình dạng ấy, sống bao lâu, khổ vui ra sao, từ chỗ
ấy chết rồi sanh chỗ kia, từ chỗ kia chết rồi sanh xứ
nầy.
Vô lượng
đời trước của mình và của kẻ khác, đức Như Lai đều
nhớ biết rõ từng chi tiết.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ đúng như thiệt
nghiệp nhơn đời trước của tất cả hữu tình. Do nghiệp
nhơn ấy mà hữu tình đến sanh xứ nầy. Biết rõ nghiệp
nhơn ấy của họ rồi, đức Như Lai theo đúng chỗ đáng nên
dạy mà thuyết pháp cho họ.
Đức
Như Lai biết rõ như thiệt tất cả hữu tình đời trước
có tâm niệm nối tiếp không hở, duyên theo cảnh như vậy
mà sanh tâm như vậy, do cảnh duyên ấy không đủ nên tâm
ấy dứt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc có một hữu tình tâm niệm
xoay đổi tuần tự mãi mãi nối tiếp như vậy cả hằng sa
kiếp, lời nói chẳng thể kể xiết, cho đến tất cả hữu
tình đều có tâm niệm như vậy, đức Như Lai nhớ đến,
liền có thể biết rõ như thiệt tất cả tâm niệm ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai y theo tâm niệm xoay đổi
của tất cả hữu tình đến tận hậu tế cả câu chi kiếp
kể nói chẳng hết được, mà trí lực của Phật cũng không
cùng tận.
Trí
lực Túc trụ tùy niệm các chứng của Phật chẳng thể nghĩ
bàn, không gì bằng, không gì sánh, là vô lượng vô số chẳng
thể tuyên nói, lại chẳng thể nói là có biên tế.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai dùng thần lực Phật làm
cho hữu tình nhớ biết đời trước rồi bảo họ rằng:
Nay ngươi nên nhớ đời trước đã trồng căn lành như vậy,
hoặc ở chỗ Độc Giác, hoặc noi chánh pháp mà trồng căn
lành. Các căn lành như vậy ngươi phải nhớ biết hết.
Các
hữu tình ấy nhờ thần lực Phật nhớ đến đều biết rõ
vô lượng căn lành đời trước của mình.
Đức
Như Lai dùng thần lực làm cho hữu tình nhớ biết thiện căn
đời trước rồi theo đúng chỗ nên dây mà thuyết pháp cho
họ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Hoặc có hữu tình được chẳng thối
chuyển nơi Vô thượng Chánh giác tùy theo sở nguyện mà cầu
giải thoát: Hoặc theo Thanh Văn thừa, hoặc theo Độc
Giác thừa, hoặc phát tâm Vô thượng Bồ đề, đức Như Lai
đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực Túc trụ tùy niệm tác chứng
của Phật chẳng thể nghĩ bàn, là vô lượng vô số vô biên
vô tế bằng với hư không.
Nếu
có ai muốn suy tìm biên tế trí lực của Phật, thì chẳng
khác gì người muốn suy tìm biên tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát nghe trí lực Túc trụ
chẳng thể nghĩ bàn như hư không như vậy rồi, liền tin nhận
vâng thờ chẳng lầm chẳng nghi, vui mừng hớn hở phát ý
tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lai nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Vô
lượng câu chi na do kiếp
Trí
lực của Phật đều biết rõ
Phật
nhớ đời trước mình và người
Như
xem trái cây trên bàn tay
Nhớ
biết rõ họ tên sắc tướng
Sống
chết xứ kia sanh xứ nầy
Hữu
tình có đủ nghiệp nhơn ấy
Biết
chỗ đáng dạy mà thuyết pháp
Vô
biên vô tế đời quá khứ
Bao
nhiêu tâm niệm của hữu tình
Tâm
ấy nối tiếp sanh niệm ấy
Trí
lực của Phật biết rõ cả
Một
hữu tình cho đến tất cả
Tâm
niệm nối tiếp không ngừng hở
Đã
qua số kiếp như hằng sa
Không
thể dùng lời kể nói hết
Nhẫn
đến câu chi số kiếp sau
Phật
biết rõ cả tâm niệm họ
Trí
lực Như Lai vẫn vô tận
Nên
gọi trí Phật như biển cả
Tất
cả hữu tình tín nguyện lành
Đã
từng cúng dường chư Phật Thánh
Phật
dùng thần lực gia hộ họ
Khiến
nhớ tịnh hạnh đã từng tu
Như
Lai biết rõ các hữu tình
Quá
khứ đã tu các phước hạnh
Biết
họ đã trụ trí ba thừa
Giải
thoát bất thối vô thượng đạo
Trí
biết quá khứ vô biên tế
Chẳng
thể nghĩ bàn chẳng sánh bằng
Phật
trí lực túc trụ thứ tám
Chư
đại Bồ Tát tin nhận được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là trí lực Túc trụ của Phật.
Do được trí lực thứ tám nầy nên đức Như Lai tuyên bố
ta ở ngôi Thế Tôn chuyển pháp luân lớn than tịnh mà tất
cả thế gian chẳng thể chuyển được.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là trí lực Thiên nhãn thông
tác chứng của Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác
dùng trí lực thiên nhãn thanh tịnh vô thượng vượt hơn tất
cả mà nhìn xem các loài hữu tình chết nơi đây sanh về kia,
hoặc liệt hoặc thắng, hoặc nhan sắc đẹp hay xấu, hoặc
đến cõi lành, hoặc qua loài ác, đúng như nghiệp nhơn mà
họ đã gây nên. Tất cả tướng sai khác như vậy, đức
Như Lai đều thầy rõ đúng như thiệt.
Đức
Như Lai lại thấy rõ nghiệp hành của các hữu tình gây tạo.
Các hữu tình gây tạo nghiệp xấu ác nơi thân như vậy, nơi
khẩu như vậy, nơi ý như vậy, sanh tà kiến chê bai Hiền
Thánh. Do nghiệp nhơn tà kiến như vậy nên khi chết họ
đọa vào các ác đạo hoặc sanh vào địa ngục, hoặc sanh
vào súc sanh, hoặc sanh vào lòai quỷ.
Đức
Như Lai cũng thấy biết rõ các hữu tình gây tạo nghiệp lành
tốt nơi thân, nơi khẩu, nơi ý như vậy, chẳng chê bai Hiền
Thánh, tu tập chánh kiến. Những hữu tình nầy nương
nơi nghiệp nhơn chánh kiến như vậy, sau khi chết sanh về
cõi lành, hoặc sanh lên trời, hoặc sanh trong thế giới an
lạc.
Đức
Như Lai lại dùng thiên nhãn thanh tịnh xem thấy thế giới
nhiều thứ tướng dạng của chư Phật khắp mười phương
hơn số cát sông Hằng, hết hư không tế, tột lượng pháp
giới, chẳng thể tuyên nói được.
Hoặc
thầy có quốc độ bị hỏa tai, có quốc độ đương hoai,
có quốc độ đương thành.
Hoặc
thấy các hữu tình lúc chết, lúc sanh.
Hoặc
thấy chư đại Bồ Tát từ cung Đâu Suất giáng thần vào
thai mẹ, hoặc thấy có Bồ Tát xuất thai, hoặc thấy mỗi
phương đều đi bảy bước, hoặc thấy đương vào ở nội
cung, hoặc thấy đương xuất gia khổ hạnh, hoặc thấy thành
Vô thượng Bồ đề, hoặc thấy đương chuyển pháp luân,
hoặc thấy có chư Phật xả thọ mạng nhập đại Niết Bàn.
Đức
Như Lai dùng thiên nhãn thanh tịnh hoặc thấy trong các thế
giới mười phương chư Thanh Văn rốt ráo nhập Niết Bàn,
hoặc thấy chư Độc Giác hiện thần thông báo đáp phước
thí chủ rồi nhập Niết Bàn.
Lại
có những thứ mà các loài hữu tình chẳng thấy được, nhưng
đều bị thiên nhãn của Như Lai thấy suốt rõ.
Có những
thứ mà thiên nhãn của ngũ thông tiên nhơn, của Thanh Văn,
của Độc Giác và của Bồ Tát đều chẳng thấy được,
nhưng thiên nhãn của Phật đều thấy rõ ràng.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai dùng thiên nhãn thanh tịnh
quan sát các loài hữu tình nơi vô lượng thế giới:
Những chúng sanh nào là của đức Như Lai hóa độ, những
chúng sanh nào thấy Như Lai rồi mới hóa độ được.
Bấy giới đức Như Lai tùy chỗ đáng được lợi ích mà
hiện thân ở trước họ làm cho họ được tỏ ngộ.
Còn những chúng sanh khác thì không hay biết.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lức Thiên nhãn tùy niệm tác chứng
của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, không có biên tế đồng
với hư không. Những kẻ tìm cầu biên tế của thiên
nhãn Như Lai thì chẳng khác người tìm biên tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Đại Bồ Tát nghe trí lực chẳng thể
nghĩ bàn như hư không nầy rồi liền tin nhận vâng thờ vui
mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Thiên
nhãn của Phật rất thanh tịnh
Do vô
lượng kiếp tu tịnh nghiệp
Phật
dùng thiên nhãn thấy mười phương
Vô
lượng thế giới Phật thanh tịnh
Hoặc
hoại, hoặc thành, hoặc thành hoại
Nhẫn
đến hoặc trụ, hoặc hỏa tai
Hoặc
có Phật, hoặc không có Phật
Mắt
Phật tự nhiên đều thấy rõ
Hữu
tình nhiều loài khó nghĩ bàn
Nhẫn
đến loài có sắc không sắc
Hoặc
đọa loài ác sanh cõi lành
Mắt
Phật tự nhiên đều thấy rõ
Hoặc
thấy câu chi Phật hiện tại
Hoặc
thấy Như Lai nhập Niết Bàn
Cũng
thấy Thanh Văn hoặc Duyên Giác
Chứng
quả hiện thông đến phước thí
Có
chư Bồ Tát độ chúng sanh
Hoặc
đến bực gần Vô Thượng Giác
Ở
ngôi Như Lai không chướng ngại
Mắt
Phật tự nhiên đều thấy rõ
Thiên
nhãn của Phật rất thanh tịnh
Thấy
rõ các loài tột vi tế
Trí
lực thứ chín chẳng nghĩ bàn
Chư
đại Bồ Tát hay tin nhận
Nầy Xá Lợi
Phất! Đây gọi là trí lực Thiên nhãn tùy niệm tác
chứng. Do trí lực thứ chín nầy mà đức Phật tuyên
bố ta là bực Thế Tôn chuyển pháp luân lớn mà tất cả
thế gian chẳng chuyển được.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là trí lực Lậu tận tác
chứng của Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác
dùng trí lực vô thượng biết rõ như thiệt là hết các lậu
là vô lậu, tâm giải thoát, huệ giải thoát, tự nhiên thông
đạt, tác chứng đầy đủ mà an trụ ngôi vị ấy biết rõ
đúng thiệt ta đã dứt hết dòng sanh, đã nên phạm hạnh,
việc làm đã xong chẳng còn thọ sanh thân sau.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực vô lậu của đức Như Lai rất
thanh tịnh sán suốt dứt hẳn tất cả tập khí nối tiếp.
Hàng
Thanh Văn cũng như hàng Độc Giác dầu là vô lậu mà chỉ
dứt trừ được phần ít tập khí, rời xa đại bi và các
biện tài vô úy.
Chỉ
có đức Như Lai các lậu dứt hẳn mà đủ cả Phật pháp
vi diệu, dứt trừ tất cả tập khí nối tiếp, đủ đức
đại bi, biện tài, vô úy bao trùm các hữu tình trong tất
cả thế gian dầu chẳng hở một sát na tâm niệm mà trí lực
của Như Lai vẫn luôn thanh tịnh vô lậu.
Tại
sao vậy? Vì đức Như Lai không có tập khí nghiệp, tập
khí phiền não, tập khí quên mất oai nghi.
Nầy
Xá Lợi Phất! Như hư không luôn trong sạch chẳng chung
lộn với tất cả bụi khói mây mù.
Cũng
vậy trí lực vô lậu của đức Như Lai chẳng chung lộn với
tất cả phiền não tập khí.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Phật Như Lai an trụ nơi trí lực vô
lậu ấy rồi có thể nói pháp vô lậu vô chấp cho những
chúng sanh hữu lậu hữu chấp.
Các
phiền não các chấp trước của tất cả chúng sanh đều từ
hư vọng phân biệt khởi lên.
Đức
Như Lai quan sát biết rõ như vậy rồi, vì muốn họ chẳng
còn khởi lên các phiền não các chấp trước, nên theo đúng
chỗ đáng dạy mà dùng các thí dụ để thuyết pháp cho họ
biết rõ thiệt phiền não đều hư vọng. Vì biết là
hư vọng mà họ chẳng chấp lấy. Vì chẳng chấp lấy
mà rốt ráo họ chứng Niết Bàn.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ đúng thiệt tất
cả hữu tình các phiền não khởi diệt, các phiền não hiện
hành. Biết rõ rồi, đức Như Lai theo đúng chỗ nên dạy
mà thuyết pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực vô lậu tác chứng của đức
Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, không có biên tế, đồng với
hư không. Nếu có kẻ muốn tìm cầu biên tế trí lực
vô lậu của Như Lai, thì chẳng khác gì người tìm biên tế
của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Đại Bồ Tát nghe trí lực vô lậu
chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai rồi liền tin nhận vâng thờ
vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng:
“Trí
Phật vô lậu rất thanh tịnh
Rộng
lớn vô lượng không chướng ngại
Do
thành trí lực thứ mười nầy
Mà
nói đạo Bồ đề tịnh diệu
Trí
vô lậu của hàng Thanh Văn
Còn
thừa tập khí theo ràng buộc
Trí
lực vô lậu của Đạo Sư
Tất
cả tập khí như tro tàn
Có
người chứng bực Duyên Giác thừa
Rời
xa đại bi với biện tài
Chỉ
có chư Phật trí vô lậu
Đầy
đủ đại bi với biện tài
Chư
Phật ở nơi trí vô lậu
Biết
rõ tướng lậu của chúng sanh
Đều
từ hư vọng phân biệt sanh
Mà
họ chưa biết chơn lý ấy
Đại
bi của Phật dạy bảo họ
Là
vô thường, bất tịnh, vô ngã
Họ
thấy các pháp không thể tánh
Sẽ
chứng quả Như Lai tịch tịnh
Các
pháp không ngã không chúng sanh
Không
thọ không nhơn không tác giả
Hữu
tình phân biệt hư vọng chấp
Phật
khởi lòng bi cứu thoát họ
Từ
bi của Phật chẳng mỏi nhàm
Trí
lực luôn tròn chẳng quên mất
Thế
nên chư Phật thường phương tiện
Vì
độ chúng sanh mà thuyết pháp
Trí
lực thứ mười dẹp phục cả
Không
có biên tế đồng hư không
Vì
Phật thường ở trí lực nầy
Mà
vô lượng pháp đời luôn có.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây là trí lực vô lậu của đức Như
Lai. Do thành tựu trí lực thứ mười nầy mà đức Như
Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác tự tuyên bố ta ở ngôi Thế
Tôn, ở giữa đại chúng như sư tử rống chuyển pháp luân
lớn mà tất cả thế gian, Trời, Người, Sa Môn, Bà La Môn,
Ma Vương, Phạm Vương đều chẳng chuyển được đúng pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Do nghe công đức chẳng thể nghĩ bàn của
đức Như Lai mà chư đại Bồ Tát đối với mười trí lực
ấy tin nhận vâng làm, tâm niệm thanh tịnh không lầm không
nghi càng vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là đại Bồ Tát đối với
đức vô úy chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai mà tin nhận vâng
thờ tâm chí thanh tịnh không lầm không nghi càng thêm vui mừng
hớn hở phát ý tưởng hy kỳ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác
có bốn đức vô úy chẳng thể nghĩ bàn.
Do thành
tựu bốn vô úy nầy mà đức Như Lai ở giữa đại chúng
tự tuyên bố ta ở ngôi Thế Tôn như sư tử rống chuyển
pháp luân lớn mà tất cả thế gian, Trời, Người, Ma Vương,
Phạm Vương, Sa Môn, Bà La Môn đều chẳng chuyển được đúng
pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Những gì gọi là bốn đức vô sở úy?
Đức
Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác thành tựu trí lực vô thượng
nên ở giữa đại chúng tự tuyên bố ta là bực Đẳng Chánh
Giác. Trong đại chúng ấy chẳng thấy có ai hoặc người
hoặc trời mà có thể ở trước đức Như Lai chỉ trích rằng
đối với pháp ấy, Ngài chẳng phải là Đẳng Chánh Giác.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào là đức Như Lai có hiệu là Đẳng
Chánh Giác?
Đối
với tất cả các pháp, đức Như Lai có thể bình đẳng chánh
giác, không có gì là chẳng bình đẳng.
Hoặc
pháp phàm phu, hoặc pháp thánh nhơn, hoặc pháp chư Phật, hoặc
pháp hữu học, hoặc pháp vô học, hoặc pháp Độc Giác, hoặc
pháp Bồ Tát đều bình đẳng bình đẳng.
Hoặc
pháp thế gian, hoặc pháp xuất thế gian, hoặc có tội, hoặc
vô tội, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc
vô vi, tất cả pháp như vậy, đức Như Lai đều có thể bình
đẳng chánh giác, vì thế nên gọi Phật là bực Đẳng Chánh
Giác.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là tánh bình đẳng?
Tự
thể của các kiến thức cùng với tánh không kia, tánh nó
bình đẳng.
Tự
thể của sắc tướng cùng với vô tướng kia, tánh nó bình
đẳng.
Tự
thể của ba cõi cùng với vô nguyện kia, tánh nó bình đẳng.
Tự
thể của pháp sanh cùng với vô sanh kia, tánh nó bình đẳng.
Tự
thể của pháp khởi cùng với vô khởi kia, tánh nó bình đẳng.
Tự
thể của tánh tham cùng với vô tham kia, tánh nó bình đẳng.
Tự
thể của tam thế cùng chơn như kia, tánh nó bình đẳng.
Tự
thể của vô minh hữu ái cùng với minh giải thoát, tánh nó
bình đẳng.
Tự
thể của sanh tử lưu chuyển cùng với Niết Bàn tịch tịnh,
tánh nó bình đẳng.
Vì đối
với tất cả phát đức Như Lai đều bình đẳng chánh giác
nên gọi đức Phật là bực Đẳng Chánh Giác.
Đức
vô úy ấy của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, đức Như Lai lại
dùng đại bi để làm phương tiện.
Chơn
như bình đẳng, chơn tánh là như tánh, chẳng phải tánh chẳng
như, là tánh chẳng đổi khác, là tánh không che tội, là tánh
không bố úy, là tánh không lui sụt, là tánh không trái cãi.
Do cớ ấy mà sáng rỡ cả đại chúng, hay làm cho họ vui đẹp,
toàn thân thơ thới, sanh lòng tin thanh tịnh mà vui mừng hớn
hở.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tất cả chúng sanh ở thế gian không ai
có thể đối với đức vô úy của Như Lai mà sanh sự trái
cãi. Tại sao? Vì đức vô úy của Như Lai không trái
cãi được. Như tánh bình đẳng ở pháp giới tánh lưu
bố cùng khắp trong các thế giới không ai trái hại được.
Như
đức vô úy của Như Lai nơi tất cả pháp thậm thâm vi tế
khó biết mà có thể đẳng chánh giác được, đức Như Lai
an trụ đại bi như vậy dùng các thứ ngôn ngữ âm thanh, các
thứ pháp môn mà khai thị pháp vi diệu cho các hữu tình.
Nếu ai có thể y theo pháp ấy mà tu tập công hạnh viễn ly
thì mau hết khổ.
Nếu
có hữu tình chẳng phải bực Đại Sư mà tự xưng là Đại
Sư, chẳng phải Đẳng Chánh Giác mà tự xưng là Đẳng Chánh
Giác, do sức vô úy chẳng nghĩ bàn của Như Lai khiến các
hữu tình ấy đều bị che chói mất ngạo mạn phải bỏ chạy
trốn.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy của Như Lai chẳng thể nghĩ
bàn vô biên vô tế đồng như hư không. Nếu có kẻ muốn
tìm cầu biên tế của đức vô úy ấy thì chẳng khác gì
kẻ muốn tìm cầu biên tế của Như Lai.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát nghe nói đức vô úy
chẳng thể nghĩ bàn ấy rồi liền tin nhận vâng thờ không
lầm không nghi vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là đức vô úy chánh đẳng giác.
Do thành tựu đức vô úy thứ nhứt nầy mà đức Như Lai ở
giữa đại chúng như sư tử rống chuyển pháp luân lớn mà
tất cả thế gian chẳng thể chuyển được đúng pháp.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh
Giác vì đã thành tựu trí lực vô thượng nơi ở giữa đại
chúng tuyên bố nay đây ta đã hết tất cả phiền não tập
khí. Trong đại chúng ấy không có ai hoặc người hoặc
trời có thể ở trước đức Như Lai mà chỉ trích rằng Ngài
còn có phiền não ấy chưa dứt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là tánh phiền não dứt hết
của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai ở nơi dục giới phiền não,
tâm đã khéo giải thoát, vì đã dứt hẳn tất cả tập khí
tham dục.
Đức
Như Lai ở nơi sắc vô sắc giới phiền não, tâm đã khéo
giiải thoát, vì đã dứt hẳn tất cả tập khí sân khuể.
Đức
Như Lai ở nơi vô minh phiền não, tâm đã khéo giải thoát,
vì đã dứt hẳn tất cả tập khí si mê.
Đức
Như Lai ở nơi các kiến phiền não, tâm đã khéo giải thoát,
vì đã dứt hẳn tất cả tập khí phiền não hiện hành.
Vì cớ
như vậy nên gọi đức Như Lai là phiền não đã hết.
Nầy
Xá Lơị Phất! Thuyết pháp như trên ấy là y cứ nơi
thế tục chớ chẳng phải thắng nghĩa.
Trong
thắng nghĩa không có một pháp nào ở trước thánh trí có
thể biết rõ, có thể dứt hẳn, có thể tu tập, có thể
chứng nhập.
Tại
sao vậy? Nầy Xá Lợi Phất! Nói là dứt hết đó
chưa bao giờ chẳng dứt hết, tánh vốn rốt ráo hết chẳng
do đối trị mà nói là hết.
Tánh
như thiệt là hết. Vì tánh như thiệt là hết nên không
có pháp nào bị hết. Vì không pháp bị hết thì chính
là vô vi. Vì vô vi nên không sanh không diệt cũng không
có trụ. Thế nên nói rằng đức Như Lai xuất thế.
Nếu không xuất thế thường trụ pháp tánh thường trụ pháp
giới thì thánh trí huệ chuyển vận trong ấy. Dầu chuyển
vận như vậy ma không có chuyển không không có hoàn.
Nầy
Xá Lợi Phất! Do pháp môn thắng nghĩa ấy nên không có
các phiền não, cũng không có phiền não hết mà có thể chứng
đắc.
Đức
Như Lai an trụ nơi đại bi như vậy rồi vì các hữu tình
mà tuyên nói pháp phiền não dứt hết.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức vô úy của Như Lai chẳng thể
nghĩ bàn lại dùng đại bi để làm phương tiện, là chơn
như bình đẳng, là chơn tánh, là tánh như chẳng phải là
tánh chẳng như, là tánh chẳng đổi khác, tánh chẳng che tội,
tánh không bố úy, tánh không lui sụt, tánh không trái cãi.
Vì cớ ấy nên làm sáng rỡ đại chúng khiến họ vui đẹp
toàn thân thơ thới sanh lòng tin thanh tịnh vui mừng hớn hở.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chúng sanh trong đời không có ái đối
với đức vô úy của Như Lai mà có thể sanh sự trái cãi.
Tại sao? Vì đức Như Lai vô úy ấy chẳng trái cãi được.
Chơn như
bình đẳng ở trong pháp giới tánh lưu bố cùng khắp trong
các thế giới không ai trái hại được.
Đức
vô úy của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn như vậy, là vô lượng
vô số không có biên tế thành tựu pháp vi diệu.
Do đức
Như Lai dùng đại bi huân tập nơi tâm mà vì các chúng sanh
nói pháp phiền não dứt hết cho họ dứt hẳn các phiền não.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy của Như Lai chẳng thể nghĩ
bàn vô biên vô tế như hư không. Nếu có kẻ muốn tìm
cầu biên tế ấy thì chẳng khác gì kẻ muốn tìm biên tế
của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát nghe đức Như Lai tuyên
nói đức vô úy chẳng thể nghĩ bàn ấy rồi tin nhận vâng
thờ không lầm không nghi vui mừng hớn hở pháp ý tưởng
hy kỳ.
Đây
gọi là đức vô úy vô lậu. Do thành tựu đức vô úy
thứ hai ấy, đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác ở giữa
đại chúng như sư tử rống tự tuyên bố ta là Thế Tôn chuyển
pháp luân lớn, tất cả trời người thế gian chẳng chuyển
được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác
thành tựu trí lực vô thượng nên ở giữa đại chúng tuyên
bố: Phật nói pháp chướng đạo thì quyết định là
pháp chướng đạo giải thoát. Trong thế gian hoặc người
hoặc trời không có ai ở trước đức Như Lai mà có thể
chỉ trích rằng Ngài nói pháp chướng đạo ấy chẳng chướng
đạo được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là pháp chướng ngại đạo?
Nầy
Xá Lợi Phất! Có một pháp hay làm chướng ngại, đó
là tâm chẳng thanh tịnh.
Lại
có hai pháp hay làm chướng ngại, đó là vô tàm và vô úy.
Lại
có ba pháp hay làm chướng ngại, đó là thân ác hành, ngữ
ác hành và ý ác hành.
Lại
có bốn pháp hay làm chướng ngại, đó là do tham dục mà làm
sự chẳng nên làm, do sân khuể mà làm sự chẳng nên làm,
do si mê mà làm sự chẳng nên làm va do hãi sợ mà làm sự
chẳng nên làm.
Lại
có năm pháp hay làm chướng ngại, đó là sát sanh, trộm cắp,
tà dâm, vọng ngữ, uống rượu.
Lại
có sáu pháp hay làm chướng ngại, đó là chẳng kính Phật,
chẳng kính Pháp, chẳng kính Tăng, chẳng kính luật nghi, chẳng
kính chánh định, chẳng kính chánh huệ.
Lại
có bảy pháp hay làm chướng ngại, đó là mạn, thắng mạn,
thắng thượng mạn, tăng thượng mạn, tà mạn, hạ mạn và
ngã mạn.
Lại
có tám pháp hay làm chướng ngại, đó là tà kiến, tà tư,
tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà cần, tà niệm, tà định.
Lại
có chín pháp hay làm chướng ngại, đó là nơi chính thân mình
ở trong ba đời quá khứ vị lai và hiện tại mà làm
sự chẳng lợi ích rồi sanh sự não hại; đối với chỗ
mà mình mến thích ở trong ba đời mà làm sự chẳng lợi
ích rồi sanh sự não hại; đối với chỗ mà mình không mến
thích ở trong ba đời mà làm sự chẳng lợi ích rồi sanh
sự não hại.
Lại
có mười pháp hay làm chướng ngại, đó là mười nghiệp
đạo bất thiện.
Đây
là nói lược mười loại pháp hay làm chướng ngại.
Vì muốn ngăn dứt hẳn các loại pháp chướng ngại ấy mà
đức Như Lai vì các hữu tình tuyên nói chánh pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nhẫn đến tất cả tác ý trái với chơn
lý tương ưng với các kiết sử, hoặc do nơi các pháp mà
có quan niệm ưa ham tương ưng với điên đảo mà trái đạo
giải thoát, có ái kiến chấp trước đối với pháp có mà
ưa ham, nơi thân ngữ ý nghiệp có sự sở y, tất cả sự
tướng ấy đức Như Lai biết rõ là chướng ngại cả.
Đã biết rõ rồi, đức Như Lai nói là pháp hay chướng ngại.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy ấy của Như Lai chẳng thể
nghĩ bàn lấy đại bi làm phương tiện, chơn như bình đẳng
là chơn tánh như tánh, chẳng phải tánh chẳng như, là tánh
không đổi khác, tánh không che lỗi, tánh không hãi sợ, tánh
không lui sụt, tánh không trái cãi. Vì cớ ấy nên làm
cho đại chúng sáng rỡ khiến họ vui đẹp toàn thân thơ thới
sanh lòng tin thanh tịnh vui mừng hớn hở.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chúng sanh trong đời không có ai đối với
đức vô úy của Như Lai mà có thể trái cãi. Tại sao?
Vì đức vô úy của Như Lai chẳng trái cãi được, như tánh
bình đẳng ở tánh pháp giới lưu bố cùng khắp trong các
thế giới, không ai trái cãi được. Vô úy ấy là vô
lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn, không gì sánh bằng, chẳng
thể tuyên nói, thành tựu pháp vi diệu. Nhưng do đại
bi huân tập nơi tâm nên đức Như Lai vì các hữu tình mà
nói pháp chướng ngại, vì muốn họ ngăn dứt hẳn pháp chướng
ngại ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy của Như Lai chẳng thể nghĩ
bàn vô biên vô lượng như hư không. Nếu kẻ muốn tìm
cầu biên tế của đức vô úy ấy thì chẳng khác gì kẻ
muốn tìm biên tế của hư không.
Nầy Xá
Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát nghe đức Như Lai tuyên nói
đức vô úy chẳng thể nghĩ bàn ấy như hư không rồi liền
tin nhận vâng thờ không lầm không nghi vui mừng hớn hở phát
ý tưởng hy kỳ.
Đây
gọi là đức vô úy tuyên nói pháp chướng ngại.
Do đức
Như Lai thành tựu đức vô úy thứ ba ấy, ở giữa đại chúng
như sư tử rống chuyển pháp luân lớn mà tất cả thế gian
chẳng thể chuyển được.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh
Giác thành tựu trí lực vô thượng ở giữa đại chúng tuyên
bố rằng Phật nói đạo chơn chánh hết khổ của thánh xuất
thế đã tu, nếu hữu tình nào tu tập đạo ấy thì quyết
định giải thoát.
Trong
đại chúng, hoặc người hoặc trời không có ai ở trước
đức Như Lai mà có thể chỉ trích rằng Ngài nói đạo ấy
chẳng giải thoát được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là đạo của thánh giải thoát?
Nầy
Xá Lợi Phất! Có một pháp hay làm cho chúng sanh rốt
ráo thanh tịnh giải thoát, đó là chánh đạo.
Lại
có hai pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó là
xa ma tha và tỳ bát xá na.
Lại
có ba pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó là
môn giải thoát không, môn giải thoát vô tướng và môn giải
thoát vô nguyện.
Lại
có bốn pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là duyên nơi thân để quán niệm, duyên nơi thọ để quán
niệm, duyên nơi tâm để quán niệm và duyên nơi pháp để
quán niệm.
Lại
có năm pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là tín căn, cần căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Lại
có sáu pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả
và niệm Thiên.
Lại
có bảy pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỉ giác
chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi.
Lại
có tám pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là tám chi thánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh niệm và chánh định.
Lại
có chính thứ pháp căn bổn vui thích hay làm cho chúng sanh rốt
ráo giải thoát, đó là duyệt, hỷ, khinh an, chỉ tức lạc,
định, như thiệt trí, kiến, yểm ố và ly dục giải thoát.
Lại
có mười pháp hay làm cho chúng sanh rốt ráo giải thoát, đó
là mười nghiệp đạo lành.
Đức
Như Lai vì các hữu tình tuyên nói pháp hành giải thoát của
thánh như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nhẫn đến tất cả những đạo pháp chánh
thiện Bồ đề, hoặc tương ưng với giới tụ, hoặc tương
ưng với định tụ, hoặc tương ưng với huệ tụ, hoặc tương
ưng với giải thoát tụ, hoặc tương ưng với giải thoát
tri kiến tụ, hoặc tương ưng với thánh đế đều gọi là
pháp hành hay giải thoát.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hay khéo giải thoát là nói chánh hạnh.
Nói là chánh hạnh có nghĩa là ở trong pháp ấy không có một
pháp nào hoặc tăng hoặc giảm hoặc lai hoặc khứ hoặc thủ
hoặc xả. Tại sao? Vì chẳng phải người hành chánh
hạnh mà hành một thứ giác phần. Nếu có thể đúng
như thiệt mà thấy biết tất cả các pháp đều là tánh bất
nhị, thì gọi đó là hạnh xuất ly của thánh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy ấy của Như Lai chẳng thể
nghĩ bàn lấy đại bi làm phương tiện, chơn như bình đẳng
là chơn tánh như tánh, chẳng phải tánh chẳng như, là tánh
chẳng đổi khác, tánh chẳng che lỗi, tánh chẳng lui sụt,
tánh không hãi sợ, tánh chẳng trái cãi. Vì thế nên
làm sáng rỡ đại chúng khiến họ vui đẹp toàn thân thơ
thới sanh lòng tin thanh tịnh vui mừng hớn hở.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chúng sanh trong đời chẳng có ai đối
với đức vô úy của Như Lai mà có thể tranh cãi. Tại
sao? Vì đức vô úy của Như Lai chẳng tranh cãi được,
tánh chơn như bình đẳng ở tánh pháp giới lưu bố cùng khắp
trong các thế giới không ai trái hại được.
Hạnh
giải thoát của thánh như vậy vô lượng vô biên chẳng thể
nghĩ bàn chẳng gì sánh bằng thành tựu pháp vi diệu chẳng
tuyên nói được. Nhưng vì đại bi huân tập nơi tâm
nên đức Như Lai khai thị diễn nói hạnh giải thoát của
thánh cho chúng sanh. Nếu có chúng sanh nào hiểu rõ như
thiệt tu hành chánh đạo, thì quyết định giải thoát mau
rốt ráo hết khổ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức vô úy của Như Lai vô biên vô tế
như hư không. Nếu có kẻ nào muốn tìm cầu biên tế
của đức vô úy ấy thì chẳng khác gì kẻ muốn tìm cầu
biên tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư đại Bồ Tát nghe đức vô úy chẳng
thể nghĩ bàn của đức Như Lai rồi liền tin nhận vâng thờ
không lầm không nghi vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ.
Đây
gọi là đức vô úy nói đạo giải thoát của thánh.
Do đức
Như Lai thành tựu đức vô úy thứ tư ấy nên ở giữa đại
chúng như sư tử rống chuyển pháp luân lớn mà tất cả thế
gian hoặc Người hoặc Trời, Ma Vương, Phạm Vương, Sa Môn,
Bà La Môn đều không thể chuyển đúng pháp được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Bốn đức vô úy ấy của Như Lai vô biên
vô tế như hư không, tất cả chúng sanh không thể thấu được
biên tế ấy.
Chư
đại Bồ Tát nghe đức vô úy chẳng thể nghĩ bàn của Như
Lai như hư không rồi liền tin nhận vâng thờ không lầm không
nghi càng thêm vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ.”
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Tự
nhiên chánh giác ngộ
Các
pháp tánh bình đẳng
Như
Lai thấy rõ pháp
Nên
hiệu Đẳng Chánh Giác
Hoặc
các pháp phàm phu
Pháp
hữu học vô học
Pháp
Độc Giác tối thắng
Phật
pháp đều bình đẳng
Tất
cả pháp thế gian
Thiện,
bất thiện, bất động
Và
các pháp xuất thế
Đường
Niết Bàn bình đẳng
Không,
vô tướng, vô nguyện
Vô
vi và hữu vi
Vô
sanh và vô khởi
Đều
thấy tánh bình đẳng
Biết
tánh bình đẳng rồi
Theo
chỗ đáng tuyên nói
Độ
thoát các hữu tình
Đức
Như Lai vô úy
Tự
giải thoát ba cõi
Rồi
khai thị giải thoát
Đức
Như Lai Thế Tôn
Hiển
vô úy thứ hai
Phật
biết rõ pháp chướng
Tập
khí chẳng chứng đạo
Chẳng
thanh tịnh hạ liệt
Chẳng
có lòng hổ thẹn
Chưa
có giữ nghiệp thân
Nghiệp
khẩu và nghiệp ý
Tham
sân si hãi sợ
Sát
sanh trộm của người
Tà
dâm và vọng ngữ
Say
rượu chẳng kính nhường
Bảy
mạn tám chi tà
Đều
chẳng phải đạo pháp
Chín
điều hại nhiều tội
Mười
nghiệp đạo bất thiện
Suy
tưởng chẳng hiệp lý
Ngu
si không giải thoát
Điên
đảo tu các hạnh
Chấp
hư vọng phóng dật
Phật
biết nói chướng ngại
Đây
vô úy thứ ba
Môn
thanh tịnh vô lượng
Tu
tập chứng Bồ đề
Phật
tự nhiên thông đạt
Nói
pháp môn cam lộ
Nhẫn
đến số vô lượng
Rất
nhiều pháp mầu lành
Giúp
Bồ đề thanh tịnh
Được
chư Phật ngợi khen
Nếu
khéo tu tập rồi
Mà
chẳng chứng giải thoát
Không
bao giờ như vậy
Đấng
Thập Lực nói thiệt
Nếu
suy tưởng hiệp lý
Dứt
phiền não rộng lớn
Quán
các pháp bình đẳng
Khéo
tu tập hạnh thánh
Chẳng
chấp trước các tướng
Là
pháp là phi pháp
Thì
giải thoát lo sợ
Đức
Phật nói như vậy
Khéo
biết tất cả pháp
Rỗng
trống như hư không
Thì
giải thoát các cõi
Nếu
phóng dật tạo nghiệp
Luân
hồi tam giới mãi
Nên
Phật thương chúng sanh
Muốn
họ chứng giải thoát
Đấng
Thế Tôn Thập Lực
Thuyết
pháp độ thế gian
Là
vô úy thứ tư
Thanh
tịnh như hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là đức vô úy bất tư nghị
của Như Lai mà chư đại Bồ Tát tin nhận vâng thờ không
lầm không nghi vui mừng hớn hở phát ý tưởng hy kỳ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào đại Bồ Tát đối với đức
đại bi chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai mà tin nhận vâng
thờ chẳng lầm chẳng nghi vui mừng hớn hở phát ý tưởng
hy kỳ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Phật Như Lai đức đại bi thường
chuyển vận luôn. Tại sao? Chư Phật Như Lai chẳng
bỏ tất cả chúng sanh, vì thành thục chúng sanh nên tất cả
thời gian đại bi thường chuyển luôn chẳng dứt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại bi ấy của Như Lai vô lượng như
vậy, chẳng thể nghĩ bàn, không gì sánh bằng như vậy, vô
biên như vậy, chẳng thể nói như vậy, mãnh lợi như vậy,
lâu dài như vậy mà tùy thuận chúng sanh, nhẫn đến tất
cả ngữ nghiệp của Như Lai, đối với đại bi ấy cũng khó
tuyên nói. Tại sao vậy? Như Bồ đề của Như Lai
chứng được chẳng thể nghĩ bàn, đại bi của Như Lai vì
chúng sanh mà phát khởi cũng chẳng thể nghĩ bàn như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào là Như Lai chứng được Bồ đề?
Nầy
Xá Lơị Phất! Do đức Như Lai nhập vô văn vô trụ như
vậy nên chứng được Bồ đề.
Những
gì là căn? Những gì là trụ?
Có
thân là căn, hư vọng phân biệt là trụ.
Nơi
pháp ấy, đức Như Lai biết rõ bình đẳng nên nói do đức
Như Lai nhập vô căn vô trụ nên chứng được vô thượng
Bồ đề.
Chúng
sanh chẳng thể biết rõ được hai pháp ấy.
Đức
Như Lai đối với họ phát khởi đại bi: Nay Phật quyết
định sẽ khai thị cho họ biết rõ pháp vô căn vô trụ như
vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Luận về Bồ đề, tánh của nó tịch
tĩnh. Hai pháp gì gọi là tịch và tĩnh? Nơi trong
là tịch, nơi ngoài là tĩnh. Tánh của nhãn căn là không
lìa rời ngã và ngã sở, tánh của nhĩ tỷ thiệt thân và
ý căn là không rời lìa ngã và ngã sở. Nếu biết rõ
như vậy thì gọi là tịch. Thiệt biết rõ tánh của
nhãn căn là không rời chẳng duyên theo sắc trần, nhẫn đến
thiệt biết rõ ý căn là không rời chẳng duyên theo pháp trần.
Nếu biết rõ như vậy thì gọi là tĩnh.
Nơi
hai pháp tịch tĩnh ấy, chúng sanh chẳng biết rõ. Đức
Như Lai đối với họ phát khởi đại bi: Nay Phật quyết
định sẽ khai thị cho họ biết rõ hai pháp tịch và tĩnh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Phật chứng Bồ đề tự tánh thanh
tịnh.
Thế
nào gọi là tự tánh thanh tịnh?
Nầy
Xá Lợi Phất! Tánh Bồ đề, thể nó không nhiễm ô.
Tánh Bồ đề đồng với hư không. Tánh Bồ đề là tánh
hư không. Bồ đề với hư không bình đẳng bình đẳng
tánh rốt ráo thanh tịnh.
Phàm
phu ngu si chẳng biết được tự tánh thanh tịnh như vậy nên
bị khách trần phiền não làm ô nhiễm.
Tất
cả chúng sanh đối với tự tánh thanh tịnh ấy chẳng biết
rõ được. Đức Như Lai phát khởi đại bi: Phật
quyết địn sẽ khai thị cho họ biết rõ tự tánh thanh tịnh
như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Phật chứng Bồ đề không nhập không
xuất.
Thế
nào gọi là hai pháp nhập và xuất?
Nhập
là nói chấp các pháp. Xuất là nói chẳng chấp các pháp.
Đức
Như Lai thấy rõ pháp tánh bình đẳng không nhập không xuất,
cũng như đức Như Lai thấy rõ không thử ngạn không bỉ ngạn.
Tại vì sao? Vì tánh của tất cả pháp rời lìa thử
ngạn và bỉ ngạn. Chứng được pháp ấy nên gọi là
Như Lai.
Đối
với pháp tánh không nhập không xuất ấy, tất cả chúng sanh
không biết rõ được, đức Như Lai phát khởi đại bi:
Nay Phật quyết định sẽ khai thị cho họ biết rõ pháp tánh
không nhập không xuất.
Nầy
Xá Lợi Phất! Phật chứng Bồ đề không tướng không
cảnh.
Thế
nào gọi là không tướng không cảnh?
Chẳng
được nhãn thức gọi là không tướng, chẳng xem nơi sắc
gọi là không cảnh. Nhẫn đến chẳng được ý thức
gọi là không tướng, chẳng xem nơi pháp gọi là không cảnh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Không tướng không cảnh ấy là chỗ sở
hành của chư thánh. Kẻ phàm phu ngu si trong ba cõi chẳng
đi được nơi chỗ đi của chư thánh nên chẳng biết rõ không
tướng không cảnh. Đức Như Lai phát khởi đại bi:
Nay Phật quyết định sẽ khai thị cho họ biết rõ pháp không
tướng không cảnh ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nói Bồ đề ấy, không có quá khứ vị lai
hiện tại, ba đời bình đẳng, ba tướng luân dứt.
Thế
nào gọi là ba tướng luân dứt?
Nơi
đời quá khứ tâm không đoái niệm, nơi đời vị lai thức
không chạy đến, nơi đời hiện tại ý không phát khởi.
Tâm ý thức ấy không có an trụ: chẳng phân biệt quá
khứ, chẳng chấp trước vị lai, chẳng hí luận hiện tại.
Tất
cả chúng sanh chẳng giác ngộ được tánh ba đời bình đẳng,
ba luân thanh tịnh.
Đức
Như Lai đối với họ phát khởi đại bi: Nay Phật sẽ
quyết định khai thị làm cho họ giác ngộ ba đời ba luân
bình đẳng thanh tịnh như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Phật chứng Bồ đề vô vi vô tánh.
Sao
gọi là vô vi vô tánh?
Tánh
Bồ đề ấy chẳng phải nhãn thức biết được, nhẫn đến
chẳng phải ý thức biết được, nhẫn đến chẳng phải
ý thức biết được.
Nói
vô vi là không sanh không diệt cũng không có trụ. Vì
lìa hẳn ba tướng ấy nên gọi là vô vi.
Nầy
Xá Lợi Phất! Người biết vô vi phải biết hữu vi.
Tại sao? Vì tự tánh của các pháp tức là vô tánh.
Luận về vô tánh tức là thể tánh không hai.
Vì tất
cả chúng sanh chẳng giác ngộ được vô tánh vô vi ấy nên
đức Như Lai đối với họ mà phát khởi đại bi: Nay
Phật quyết định sẽ khai thị cho họ giác ngộ vô tánh vô
vi ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Phật chứng Bồ đề dấu tích không
sai biệt.
Sao gọi
là dấu tích không sai biệt?
Chơn
như và pháp tánh, cả hai đều gọi là dấu tích. Tánh
không khác biệt, tánh không an trụ goị là không sai biệt.
Thiệt
tế của các pháp gọi là dấu tích. Tánh không động
dao gọi là không sai biệt.
Các
pháp tánh không gọi là dấu tích. Tánh chẳng thể được
gọi là vô sai biệt.
Các
pháp vô tướng gọi là dấu tích. Tánh chẳng thể tìm
gọi là vô sai biệt.
Các
pháp vô nguyện gọi là dấu tích. Tánh không phát khởi
gọi là vô sai biệt.
Không
tánh chúng sánh gọi là dấu tích. Tức thể tánh là không
gọi là vô sai biệt.
Là
tướng hư không gọi là dấu tích. Tánh chẳng thể được
gọi là vô sai biệt.
Tánh
ấy vô sanh gọi là dấu tích. Tánh ấy vô diệt gọi
là vô sai biệt.
Tánh
ấy vô vi gọi là dấu tích. Tánh ấy không hành không
trụ gọi là vô sai biệt.
Là
tướng Bồ đề gọi là dấu tích. Tánh ấy tịch tĩnh
gọi là vô sai biệt.
Là
tướng Niết Bàn gọi là dấu tích. Tánh ấy vô sanh gọi
là vô sai biệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Vì tất cả chúng sanh chẳng giác ngộ
được dấu tích vô sai biệt ấy, nên đức Như Lai đối với
họ phát khởi đại bi: Nay Phật quyết định sẽ khai
thị cho họ giác ngộ dấu tích vô sai biệt ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nói Bồ đề ấy, chẳng thể dùng thân
để chứng, chẳng thể dùng tâm để chứng.
Tại
sao? Vì tánh của thân vô tri, không có tác dụng như cỏ
cây đất đá tường vách. Tánh của tâm cũng vậy, như
ảo như mơ như trăng đáy nước.
Nếu
giác ngộ được thân tâm như vậy thì gọi là Bồ đề.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chỉ do ngôn ngữ thế tục mà giả danh
Bồ đề. Thiệt tánh của Bồ đề chẳng nói gọi được,
chẳng thể dùng thân để được, chẳng thể dùng tâm để
được, chẳng thể dùng pháp để được, chẳng thể dùng
phi pháp để được, chẳng thể dùng phi chơn thiệt để được,
chẳng thể dùng chơn đế để được, chẳng thể dùng hư
vọng để được.
Tại
sao? Vì tánh Bồ đề lìa rời ngôn ngữ, rời lìa tất
cả pháp tướng. Lại vì Bồ đề không có hình tướng
để thông ngôn ngữ. Như hư không kia không có hình không
có chỗ nên chẳng nói được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Cứ như thiệt mà tìm cầu thì tất cả pháp
đều không thể nói. Tại sao? Vì trong các pháp đều
không có ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ cũng không có các pháp.
Vì tất
cả chúng sanh chẳng giác ngộ được chơn lý của các pháp
như vậy, nên đức Như Lai đối với họ phát khởi đại
bi: Nay Phật quyết định sẽ khai thị chơn lý của các
pháp ấy cho họ giác ngộ nghĩa lý chơn thiệt như vây.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nói Bồ đề ấy không lấy không cất.
Những
gì gọi là không lấy không cất?
Biết
rõ nhãn căn thì gọi là không lấy, chẳng xem nơi sắc trần
thì gọi là không cất.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai chứng Bồ đề không lấy
không cất ấy nên chẳng xem các sắc trần chẳng trụ nơi
thức. Nhẫn đến chẳng lấy ý căn chẳng xem pháp trần
chẳng trụ nơi thức. Dầu chẳng trụ nơi thức mà đức
Như Lai biết rõ được chỗ trụ của tất cả chúng sanh.
Biết
rõ thế nào? Đó là chúng sanh trụ ở bốn pháp.
Những
gì là bốn? Tất cả chúng sanh, tâm của họ trụ nơi
thức, tâm của họ trụ nơi thọ, tâm của họ trụ nơi tưởng,
tâm của họ trụ nơi hành.
Đức
Như Lai biết thiệt rõ trụ và chẳng trụ như vậy.
Vì tất
cả chúng sanh chẳng giác ngộ được thiệt tế vô trụ như
vậy nên đức Như Lai đối với họ phát khởi đại bi:
Nay Phật quyết định sẽ khai thị cho họ giác ngộ thiệt
tế vô trụ ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nói Bồ đề là tên khác của không. Do
không không nên Bồ đề cũng không. Do Bồ đề không
nên các pháp cũng không. Thế nên đức Như Lai đúng với
tánh không ấy mà giác ngộ các pháp. Đức Như Lai chẳng
do không mà giác ngộ pháp không tánh. Đức Như Lai do
trí nhứt lý mà giác ngộ pháp tánh không. Không với
Bồ đề, tánh ấy không hai. Vì không hai nên chẳng thể
nói đây là Bồ đề, đây là tánh không. Bởi pháp không
hai nên không có hai tướng không hành, rốt ráo chẳng hành
cũng chẳng hiện hành.
Nói
là không ấy là xa rời nắm lấy. Trong thắng nghĩa đế
không có pháp để được. Vì tánh không nên nói là không.
Như nói thái hư là hư không, nhưng tánh thái hư chẳng nói
gì được. Pháp không ấy nói tên là không, nhưng tánh
không ấy chẳng nói gọi được. Ngộ nhập các pháp
thiệt không có tên mà giả lập tên gọi, nhưng tên gọi ấy
không phương không xứ, các pháp cũng không phương không xứ
như tên gọi lấy.
Đức Như
Lai biết rõ các pháp tứ bổn lai không sanh không khởi.
Biết như vậy rồi chứng giải thoát, nhưng thiệt tánh ấy
không phược không thoát.
Phàm phu
ngu si chẳng giác ngộ được tánh Bồ đề ấy, nên đức
Như Lai đối với họ phát khởi đại bi: Nay Phật quyết
định khai thị cho họ giác ngộ thiệt tánh Bồ đề như vậy.
Xem
Tiếp Trang 4