Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là đại thần thông lực bất
tư nghị của Như Lai mà chư đại Bồ Tát tin nhận vâng thờ
thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng phát ý tưởng
hy kỳ”.
Đức
Phật lại bảo Ngài Xá Lơị Phất: “Thế nào là đại Bồ
Tát đối với trí lực bất tư nghị cuả đức Như Lai mà
tin nhận vâng thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở
vui mừng phát ý tưởng hy kỳ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Phật Như Lai có đủ mười lực như
vậy. Vì thành tựu mười lực, nên đức Như Lai Đẳng
Chánh Giác ở giữa đại chúng chánh sư tử hống, tự xưng
ta ở bực Đại Tôn Thánh chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất
cả thế gian hoặc Trời, hoặc Ma Vương, hoặc Phạm Vương,
hoặc Sa Môn, hoặc Bà La Môn đều chẳng thể chuyển đúng
pháp được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Những gì gọi là mười lực của Như
Lai? Một là Xứ phi xứ trí lực, hai là Nghiệp báo trí
lực; ba là Chủng chủng giải trí lực; bốn là Chủng chủng
giới trí lực; năm là Chủng chủng căn trí lực; sáu là Nhứt
thiết biến hành hành trí lực; bảy là Tịnh lự giải thoát
tam ma địa tam ma bát đề tạp nhiễm thanh tịnh trí lực;
tám là Tùy niệm tiền thế túc trụ tác chứng trí lực; chín
là Tử sanh tác chứng trí lực; mười là Lậu tận tác chứng
trí lực.
Thế
nào là Thị xứ phi xứ trí lực của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lơị Phất! Với thị xứ đức Như Lai biết như thiệt
là thị xứ, và với phi xứ biết như thiệt là phi xứ.
Thế
nào là thị phi xứ, thế nào là phi xứ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Như thân các hành, ngữ ác hành ý ác hành cảm được quả
báo khả hỷ khả lạc khả ái khả ý đó thì không bao giờ
có sự ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Như thân ác hành, ngữ ác
hành, ý ác hành mà cảm được quả báo bất khả hỷ bất
khả lạc bất khả ái bất khả ý thì có sự ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Như thân diệu hành, ngữ diệu hành, ý diệu hành mà cảm
được quả báo bất khả hỷ bất khả lạc bất khả ái
bất khả ý thì không bao giờ có sự ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Như thân diệu hành, ngữ
diệu hành, ý diệu hành, mà cảm được quả báo khả hỷ
khả lạc khả ái khả ý thì có sự ấy.
Lại
nầy Xá Lơị Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Nghĩa là do xan tham mà cảm được giàu lớn, do phạm giới
mà sanh nhơn thiên, do giận thù mà cảm thân đoan chánh, do
giải đãi mà được thiền, do tán loạn mà nhập chánh định,
do ác huệ mà dứt hẳn tất cả tập khí tương tục.
Nói như vậy thì không bao giờ có.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Nghĩa là do xan tham mà cảm
được bần cùng, do phá giới mà cảm địa ngục súc sanh
ngạ quỷ, do giận thù mà cảm báo xấu xí, do giải đãi mà
chẳng đắc thiền, do tâm loạn mà chẳng nhập chánh định,
do ác huệ mà chẳng dứt hẳn được tập khí tương tục.
Nói như vậy thì có sự ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Nghĩa là do bố thí mà cảm bần cùng, do trì giới mà đọa
ác đạo, do nhẫn nhịn mà cảm xấu xí, do chánh cần mà chẳng
được thiền, do nhứt tâm mà chẳng nhập chánh định, do
thánh huệ mà chẳng dứt hẳn tập khí tương tục. Nói
như vậy thì không bao giờ có sự ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Nghĩa là do bố thí mà cảm
được đại phú, do trì giới mà sanh nhơn thiên, do nhẫn nhịn
mà cảm thân đoan chánh, do chánh cần mà đắc thiền định
do thánh huê mà dứt hẳn tập khí tương tục. Nói như
vậy thì có sự ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Nghĩa là nhơn sát sanh mà cảm trường thọ, do trộm cướp
mà cảm được đại phú, do hành tà dục mà cảm được vợ
trinh lương. Nói như vậy thì không bao giờ có sự ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Nghĩa là nhơn sát sanh mà
cảm báo đoản mạng, do trộm cướp mà cảm báo nghèo cùng,
do hành tà hạnh mà cảm báo vợ chẳng trinh lương. Nói
như vậy thì có sự ấy.
Lại
phi xứ là không chỗ nhiếp thọ. Nghĩa là người rời
sát sanh hay cảm báo đoản thọ, người rời trộm cắp hay
cảm báo bần cùng, người rời hạnh tà dục cảm báo vợ
không trinh lương. Nói như vậy thì không bao giờ có sự
ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Nghĩa là người rời sát
sanh thì cảm báo trường thọ, người rời trộm cắp thì
cảm báo đại phú, người rời hạnh tà dục thì cảm báo
vợ trinh lương. Nói như vậy thì có sự ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tất cả nghiệp đạo thiện bất thiện
thị xứ và phi xứ như vậy nay sẽ nói tóm lược để hiển
thị chỗ cốt yếu.
Người
vọng ngữ mà chẳng cảm báo phỉ báng thì không có sự ấy,
nếu hay chiêu cảm thì có sự ấy. Người rời vọng
ngữ mà cảm báo phỉ báng thì không có sự ấy, nếu chẳng
cảm báo phỉ báng thì có sự ấy.
Người
hành ly gián ngữ mà hay cảm được quyến thuộc sum họp thì
không có sự ấy, nếu chẳng cảm được thì có sự ấy.
Người xa rời ly gián ngữ mà cảm được quyến thuộc tan
nát thì không có sự ấy, nếu cảm được quyến thuộc sum
họp thì có sự ấy.
Người
hành thô ác ngữ mà cảm được thường nghe âm thanh khả
ý thì không có sự ấy, nếu nghe âm thanh bất khả ý thì
có sự ấy. Người rời thô ác ngữ mà cảm nghe âm thanh
bất khả ý thì không có sự ấy, nếu nghe âm thanh khả ý
thì có sự ấy.
Người
hành ỷ ngữ mà cảm được lời dạy bảo ai cũng tin nhận
thì không có sự ấy, nếu chẳng tin nhận thì có sự ấy.
Người rời ỷ ngữ mà cảm phải lời dạy bảo người chẳng
tin thọ thì không có sự ấy, nếu được tin thọ thì có
sự ấy.
Người
tham lam mà cảm báo tài sản chẳng tan thì không có sự ấy,
nếu cảm báo tan mất thì có sự ấy. Người rời
tham lam mà cảm báo tài sản tan mất thì không có sự ấy,
nếu cảm chẳng tan mất thì có sự ấy.
Người
cưu giận thù mà chẳng đọa ác đạo thì không có sự ấy,
nếu đọa thì có sự ấy. Người rời giận thù mà chẳng
sanh thiện đạo thì không có sự ấy, nếu được sanh thì
có sự ấy.
Người
tà kiến chấp nhận nhơn tà kiến mà đắc đạo thì không
có sự ấy, nếu chẳng đắc đạo thì có sự ấy. Người
chánh kiến chấp nhận nhơn chánh kiến mà chẳng được thánh
đạo thì không có sự ấy, nếu được thánh đạo thì có
sự ấy.
Người
tạo tội vô gián mà tâm được an thì không có sự ấy, nếu
bất an thì có sự ấy. Người giới hạnh thanh tịnh
mà tâm bất an thì không có sự ấy, nếu tâm an thì có sự
ấy.
Nếu
quan niệm hữu sở đắc mà được thuận nhẫn thì không có
sự ấy, nếu không được thuận nhẫn thì có sự ấy. Người
tin hiểu pháp không mà chẳng được thuận nhẫn thì không
có sự ấy, nếu được thuận nhẫn thì có sự ấy.
Nếu
ác tác mà được tâm an ổn thì không có sự ấy, nếu chẳng
được tâm an thì có sự ấy.
Người
nhiếp tâm mà chẳng được tâm an thì không có sự ấy, nếu
được thì có sự ấy.
Người
nữ mà làm Chuyển Luân Vương, làm Thiên Đế Thích, làm Phạm
Thiên Vương thì không có sự ấy. Nếu trượng phu mà
làm thì có sự ấy.
Người
nữ xuất thế làm Phật thì không có sự ấy. Nếu chuyển
thân nữ rồi mà làm Phật thì có sự ấy.
Nếu
người ở bực đệ bát nhẫn chưa chứng sơ quả mà xuất
định thì không có sự ấy, nếu chứng quả rồi mà xuất
thì có sự ấy.
Nếu
đến thánh lưu mà còn thọ thân sanh tử thứ tám thì không
có sự ấy, nếu chính nơi các uẩn thân nầy mà nhập Niết
Bàn thì có sự ấy.
Nếu
bực Nhứt Lai mà còn thọ than sanh tử thứ ba thì kông có
sự ấy. Nếu chính nơi các uẩn thân nầy mà nhập Niết
Bàn thì có sự ấy.
Nếu
bực Bất Hoàn mà còn sanh lại nơi đây thì không có sự ấy,
nếu ở nơi kia mà nhập Niết Bàn thì có sự ấy.
Nếu
A La Hán lại còn nối sanh thì không có sự ấy, nếu chẳng
còn nối sanh thì có sự ấy.
Nếu
chư Thánh Nhơn mà còn cầu tà sư và nhận lời tà thì không
có sự ấy, nếu chẳng cầu tà sư và chẳng nhận lời tà
thì có sự ấy.
Bực
Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn mà có thối chuyển thì không
có sự ấy, nếu quyết định được Vô thượng Bồ đề
không còn thối chuyển thì có sự ấy.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ và
thi xứ là có chỗ nhiếp thọ.
Nếu
chư Bồ Tát an tọa đạo tràng chưa chứng Bồ đề mà đứng
dậy thì không có sự ấy. Nếu chư Bồ Tát an tọa đạo
tràng chứng Phật đạo rồi bèn đứng lên thì có sự ấy.
Nếu
chư Như Lai mà còn tập khí tương tục thì không có sự ấy.
Tất cả Như Lai tập khí đã dứt hẳn thì có sự ấy.
Nếu cho
rằng đức Như Lai trí còn có chướng ngại thì không có sự
ấy. Còn Phật trí vô ngại thì có sự ấy.
Nếu
có ai thấy được đỉnh đầu của đức Như Lai thì không
có sự ấy. Không ai thấy được đảnh Phật thì có
sự ấy.
Nếu
có người biết được tâm an trụ của đức Như Lai thì không
có sự ấy. Nếu chẳng biết được thì có sự ấy.
Nếu
nói đức Như Lai có tâm bất định mà có thể được thì
không có sự ấy. Tâm Phật thường ở tại chánh định
thì có sự ấy.
Nếu
chư Phật Như Lai hành bất thiệt ngữ thì không có sự ấy.
Chư Phật là đấng chơn ngữ, thiệt ngữ, đế ngữ, bất
dị ngữ thì có sự ấy.
Chư
Phật còn có lỗi lầm thì không có sự ấy. Do vì không
lỗi lầm mà gọi là chư Phật, là Bạc Già Phạm thì có sự
ấy.
Về
tứ vô úy và thập bát bất cộng pháp cũng nói như trên.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Phi xứ là không chỗ nhiếp thọ.
Như nói đức Như Lai nơi đời hiện tại sự thấy biết có
chướng ngại thì không có sự ấy.
Thị
xứ là có chỗ nhiếp thọ. Đức Như Phật Bạc Già Phạm
nơi đời hiện tại sự thấy biết vô chướng vô ngại thì
có sự ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là thị xứ phi xứ trí lực
của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn vô lượng vô biên.
Như hư không vô biên tế, thị xứ phi xứ trí lực của đức
Như Lai không có biên tế cũng như vậy.
Nếu
có ai muốn cầu tìm biên tế của trí lực thị xứ phi xứ
của đức Như Lai thì chẳng khác người muốn tìm cầu biên
tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nghe trí lực thị xứ phi
xứ bất tư nghị của đức Như Lai như hư không rồi tin nhận
vâng thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng
phát ý tưởng hy kỳ”.
Đức Thế
Tôn muốn tuyên lai nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Mười
phương hư không vô biên lượng
Trí
xứ phi xứ cũng vô biên
Biết
đúng trí xứ phi xứ rồi
Ví
chúng nói rộng pháp vi diệu
Nguời
thành tựu căn khí giải thoát
Biết
công hạnh ấy Phật mới dạy
Người
chẳng có căn khí giải thoát
Biết
trí ấy rồi bèn rời bỏ
Giả
sử hư không lay động được
Mười
phương đại địa đồng thời rã
Trí
lực xứ phi xứ của Phật
Vẫn
như thiệt không động hư.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây là trí lực thị xứ phi xứ thứ
nhứt của đức Như Lai. Do vì thành tựu trí lực nầy
mà đức Như Lai Chánh Đẳng Giác ở giữa đại chúng chánh
sử tử hống tự xưng ta là bực Đại Thánh chuyển đại
pháp luân mà tất cả thế gian, các Sa Môn, Bà La Môn, Ma Vương,
Phạm Vương v.v... đều chẳng thể chuyển đúng pháp được.
Thế
nào là nghiệp báo trí lực của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác dùng trí
lực vô thượng biết được đúng như thiệt những nghiệp
và quả báo thuở quá khứ, vị lai và hiện tại, hoặc nhơn
hoặc xứ hoặc các dị báo đều biết rõ.
Thế
nào là đức Như Lai biết rõ đúng như thiệt?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai đúng như thiệt biết rõ
quả báo thuở quá khứ được thiện nhơn xa rời bất thiện
sẽ làm nhơn cho thiện căn thuở vị lai.
Quả
báo thuở quá khứ được nhơn bất thiẹân xa rời thiện
pháp sẽ làm nhơn cho bất thiện căn thuở vị lai.
Các
tướng nghiệp và báo như vậy, đức Như Lai ở tại đây
đều biết rõ như thiệt.
Hoặc
các nghiệp báo sẽ thuận với liệt phần ở thuở vị lai,
nếu các nghiệp báo sẽ thuận với thắng phần ở thuở vị
lai, các tướng như vậy đức Như Lai ở tại đây đều biết
rõ đúng thiệt.
Hoặc
các nghiệp báo thuận với liệt phần ở hiện tại và thuận
với thắng phần ở vị lai, các nghiệp báo thuận với thắng
phần ở hiện tại và thuận với hạ liệt phần ở vị lai,
các nghiệp báo thuận với liệt phần ở hiện tại và cũng
thuận với liệt phần ở vị lai, những nghiệp báo thuận
với thắng phần ở hiện tại và cũng thuận với thắng phần
ở vị lai, các tướng như vậy đức Như Lai ở tại đây
đều biết rõ đúng thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc các nghiệp báo ở quá khứ
là phương tiện hẹp kém mà ở vị lai là phương tiện rộng
lớn, hoặc các nghiệp báo tạo tác ít mà được thắng tiến
lớn, hoặc các nghiệp báo tạo tác rộng lớn mà được thắng
tiếng ít, các tướng như vậy đều biết rõ đúng thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc các nghiệp báo sẽ được nhơn
tánh Thanh Văn, sẽ được nhơn tánh Độc Giác, sẽ được
nhơn tánh Phật, các tướng như vậy đức Như Lai đều biết
rõ đúng thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc các nghiệp báo hiện tại thì
khổ mà có thể cảm được báo vui khác ở vị lai, hoặc
các nghiệp báo hiện tại thì vui mà có thể cảm lấy báo
khổ khác ở vị lai, hoặc các nghiệp báo hiện tại khổ
cảm được báo khổ khác vị lai, hoặc các nghiệp báo hiện
tại vui cảm được báo vui khác vị lai, các tướng nghiệp
báo như vậy đức Như Lai đều biết rõ đúng thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ được như
thiệt tất cả hữu tình quá khứ vị lai hiện tại, hoặc
nghiệp, hoặc nhơn, hoặc các dị báo, hoặc tức, hoặc ly,
hoặc có tùy thuận chẳng khác phần, các tướng như vậy
đức Như Lai đều biết rõ như thiệt rồi vì các hữu tình
mà tuyên nói như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực biết rõ như thiệt nghiệp nhơn
quả báo quá khứ vị lai hiện tại của đức Như Lai Chánh
Đẳng Giác vô lượng vô biên bất tư nghị. Ví như hư
không vô biên vô tế, trí lực nghiệp báo của đức Như Lai
vô biên tế cũng như vậy.
Nếu
có ai muốn tìm cầu biên tế của trí lực nghiệp báo ấy
thì không khác gì người tìm cầu biên tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nghe trí lực nghiệp báo
của chư Như Lai bất tư nghị như hư không rồi tin nhận vâng
thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng phát
ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng”
“Như
Lai khéo biết nhơn khác quả
Mắt
sáng thấy rõ nghiệp như thiệt
Thấu
suốt ba đời đều vô ngại
Biết
như thiệt nghiệp của hữu tình
Tất
cả hàm linh trong năm loài
Sẽ
được thành các nhơn vui khổ
Nếu
chuyển được nhơn thì khổ chuyển
Đức
Phật soi tỏ biết như thiệt
Dị
báo thiện ác tất cả nghiệp
Theo
đúng cho nên nhơn khác báo
Dường
như viên ngọc nằm trong tay
Đức
Phật nhìn rõ biết như thiệt
Các
báo nghiệp nhơn dầu là ít
Được
quả vô lượng ở vị lai
Hoặc
vô lượng nhơn cảm quả ít
Đức
Phật thấy khắp biết như thiệt
Hoặc
nhơn sẽ chứng quả Thanh Văn
Hoặc
hạnh sẽ chứng quả Độc Giác
Hoặc
nghiệp sẽ cảm quả vô thượng
Đức
Phật biết rõ không sót thừa
Hoặc
có nghiệp lúc nhơn thì khổ
Nghiệp
ấy sẽ cảm được báo vui
Hoặc
nghiệp lúc tạo nhơn thì vui
Sẽ
mắc quả khổ Phật đều biết
Hoặc
nghiệp nhơn quả đề khổ cả
Hoặc
nghiệp đều vui cả quả nhơn
Hoặc
nghiệp tự thể nhơ tự thể
Như
Lai đều biết rõ như thiệt
Quả
khổ xoay vần cả ba đời
Hữu
tình trôi lăn trong năm nẻo
Trí
lực nghiệp báo của Như Lai
Đều
biết như thiệt không sai sót.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là trí lực nghiệp báo thứ
hai của đức Như Lai. Do thành tựu trí lực nầy nên
đức Phật ở giữa đại chúng chánh sư tử hống tự xưng
rằng ta ở bực Đại Thánh Chuyển pháp luân rộng lớn thanh
tịnh, mà thế gian những Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên, Ma Vương,
Phạm Vương v.v... đều chẳng chuyển được đúng pháp.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là Chủng chủng giải
trí lực của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác dùng trí
lực vô thượng biết được như thiệt các loài hữu tình
kia chẳng phải là một dục giải, là nhiều thứ dục giải.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ta sẽ vì ông mà phân biệt nói rộng ra.
Các
loài hữu tình kia, hoặc có kẻ ở nơi tham dục mà phát sanh
quan niệm sân hận, hoặc có kẻ ở nơi sân hận mà phát sanh
quan niệm tham dục, hoặc ở nơi ngu si mà phát sanh quan niệm
tham dục hay sân hận, các tướng như vậy đức Phật đều
biết rõ như thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc có chúng sanh ở nơi pháp bất
thiện phát sanh quan niệm bất thiện, hoặc ở nơi pháp thiện
phát sanh quan niệm thiện, đức Phật đều biết rõ như thiệt.
Hoặc
có những hữu tình ở nơi phương tiện hạ liệt phát sanh
hiểu biết rộng lớn, hoặc ở nơi phương tiện rộng lớn
phát sanh hiểu biết hạ liệt, hoặc do sự hiểu phương tiện
hạ liệt ấy sẽ ở nơi thắng tiến, hoặc do sự hiểu phương
tiện thắng tiến ấy sẽ ở nơi hạ liệt, hoặc do sự hiểu
ấy sẽ gieo giống tà định, hoặc do sự hiểu ấy sẽ gieo
giống chánh định, hoặc do sự hiểu biết ấy sẽ gieo giống
chánh định giải thoát, đức Phật đều biết rõ như thiệt.
Hoặc
do sự hiểu ấy sẽ đến nơi cõi dục, hoặc sẽ đến cõi
sắc, hoặc sẽ đến cõi vô sắc, hoặc sẽ đến khắp ba
cõi, đức Phật đều biết rõ như thiệt.
Hoặc
do sự hiểu ấy thuận phần hạ liệt sẽ được thắng tiến,
hoặc được thắng tiến sẽ ở nơi hạ liệt, đức Phật
đều biết rõ như thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Hoặc do sự hiểu ấy mà đời sau
sẽ thọ nhiều đời sống, sẽ thọ nhiều loài, nhiều sự
thọ dụng, đức Phật đều biết rõ như thiệt.
Hoặc
do sự hiểu ấy mà thối đọa, hoặc do sự hiểu ấy mà gieo
giống giải thoát, đức Phật đều biết rõ như thiệt.
Đã biết rõ rồi, theo chỗ đáng nên, đức Phật rộng vì
các hữu tình mà diễn thuyết đúng như pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chủng chủng giải trí lực của đức
Như Lai chẳng thể nghĩ bàn vô biên vô tế như hư không.
Chư đại Bồ Tát ấy nghe Chủng chủng giải trí lực bất
tư nghị như hư không của đức Như Lai rồi tin nhận vâng
thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng phát
ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Thế
gian nhiều loài nhiều hiểu biết
Quá
khứ hiện tại nhiều vô lượng
Tâm
hiểu biết của các chúng sanh
Đấng
Đạo Sư đều hay biết rõ
Hoặc
có kẻ phát quan niệm tham
Lại
sẽ an trụ nơi sân hận
Hoặc
có kẻ hiện ở sân hận
Mà
sanh hiểu si Phật biết rõ
Ở
nơi si mà sanh hiểu tham
Tâm
phân biệt chẳng thể nghĩ bàn
Xen
lộn lẫn nhau lưu chuyển khởi
Đấng
Đại Đạo Sư đều biết rõ
Hoặc
có các phương tiện hạ liệt
Mà
có thể sanh hiểu rộng lớn
Hoặc
làm thêm lên những phương tiện
Đấng
Đại Đạo Sư đều biết rõ
Tùy
nhập vào nơi các tà tánh
Rồi
lại nhập vào chỗ phi đạo
Hoặc
nhận hiểu giải thoát ba cõi
Đức
Như Lai đều có thể biết
Những
đời sống và các chúng sanh
Những
sự thọ dụng đều sai biệt
Hoặc
lại có thối thất đọa lạc
Đấng
Lưỡng Túc Tôn đều biết rõ
Biết
rõ các thứ nhận hiểu rồi
Đấng
Đạo Sư phương tiện thuyết pháp
Đấy
là Phật trí lực thứ ba
Bồ
Tát mới có thể tin được.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Đây gọi là Chủng chủng giải trí lực
thứ ba của đức Như Lai. Do thành tựu trí lực ấy nên
đức Như Lai Chánh Đẳng Giác ở giữa đại chúng chánh sư
tử hống tự xưng rằng ta ở bực Đại Thánh hay chuyển pháp
luân thanh tịnh mà các thế gian, Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên,
Ma Vương, Phạm Vương v.v... đều chẳng thể chuyển đúng
pháp được.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Thế nào là Chủng chủng giới trí lực
của đức Như Lai ?
Nầy
Xá Lợi Phất ! Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác dùng trí
lực vô thượng như thiệt biết rõ các thứ cảnh giới ấy
mà các chúng sanh gây tạo hành nghiệp phước, gây tạo hành
nghiệp phi phước, hành nghiệp bất động, hoặc do cảnh giới
ấy mà gieo giống xuất ly. Các cảnh giới ấy, đức
Như Lai ở nơi đây biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Đức Như Lai như thiệt biết rõ nhãn
giới, sắc giới và nhãn thức giới, nhẫn đến ý giới,
pháp giới và ý thức giới. Các giới như vậy biết
rõ như thế nào ? Đó là như thiệt biết rõ nội không,
ngoại không, nội ngoại không vậy.
Đức
Như Lai lại như thiệt biết rõ địa giới, thủy giới, hỏa
giới và phong giới. Biết rõ các giới ấy như thế nào
? Đó là biết rõ như không giới vậy.
Những
dục giới, sắc giới và vô sắc giới đều biết rõ như
thiệt, vì khắp phân biệt chỗ phát khởi vậy.
Lại như
thiệt biết rõ hữu vi giới, vì là tướng tạo tác vậy ;
như thiệt biết rõ vô vi giới, vì là tướng không có tạo
tác vậy ; biết rõ tạp nhiễm giới, vì là tướng nó do phiền
não dẫn phát ra ; biết rõ thanh tịnh giới, vì tướng nó
tự thể sáng sạch vậy.
Lại
như thiệt biết rõ các hành giới, vì là tướng vô minh chẳng
thuận lý vậy ; biết rõ Niết Bàn giới, vì là tướng sáng
thuận lý vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất ! Vì thế nên hoặc là giới có thể an
lập thế gian, giới nầy được thế gian y cứ mà an trụ
như vậy ; hoặc là giới hay phát khiên dẫn, hoặc là giới
hay hưng kiến lập, hoặc giới hay khởi phương tiện, hoặc
là giới hay sanh ý dục, hoặc là giới hay khởi phiền não,
hoặc là giới hay làm y chỉ, các giới như vậy có vô lượng
vô biên cũng đều được đức Như Lai biết rõ như thiệt.
Đã biết rõ rồi theo chỗ đáng nên mà vì chúng sanh giảng
thuyết đúng như Pháp.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Trí lực chủng chủng giới bất tư nghị của
đức Như Lai không có biên tế như hư không. Nếu
có ai muốn tìm cầu biên tế của trí lực chủng chủng giới
ấy, thì không khác gì người muốn cầu tìm biên tế của
hư không.
Chư
đại Bồ Tát nghe chủng chủng giới trí lực bất tư nghị
như hư không của đức Như Lai rồi tin nhận vâng thờ thanh
tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng phát ý tưởng
hy kỳ ».
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :
« Thế
gian các chúng sanh
Y chỉ
chủng chủng giới
Tùy
chỗ họ lưu chuyển
Như
Lai đều biết rõ
Phước,
phi phước, bất động
Và
thuận với xuất ly
An
trụ giới ấy rồi
Chứng
tịch diệt Niết Bàn
Hoặc
nhãn giới sắc giới
Và
cùng nhãn thức giới
Nhĩ
tỉ thiệt thân ý
Biết
rõ các giới ấy
Lại
biết rõ pháp giới
Và
cùng ý thức giới
Nội
ngoại giới đều không
Phật
biết rõ như thiệt
Địa
giới và thủy giới
Hỏa
giới cùng phong giới
Bốn
giới đồng không giới
Đều
biết rõ như thiệt
Hoặc
dục giới sắc giới
Và
cùng vô sắc giới
Khắp
phân biệt chỗ khởi
Như
hư không vô biên
Giới
vô biên cũng vậy
Phật
đều biết rõ cả
Mà
chẳng nói ta biết
Các
giới vốn vô sanh
Cũng
vốn không có diệt
Đây
gọi Niết Bàn giới
Đức
Như Lai biết rõ
Như
hư không vô biên
Trí
của Phật cũng vậy
Do
trí ấy biết rõ
Biến
dị nơi các giới
Đã
biết chủng chủng giới
Điều
phục các chúng sanh
Phật
trí lực thứ tư
Bồ
Tát hay tin được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là Chủng chủng giới trí lực
của đức Như Lai. Do thành tựu trí lực nầy mà đức
Như Lai Đẳng Chánh Giác ở giữa đại chúng chánh sư tử
hống tự xưng rằng ta ở bực Đại Thánh chuyển pháp luân
thanh tịnh, các thế gian, Sa Môn Bà La Môn, chư Thiên, Ma Vương,
Phạm Vương v.v... đều không thể chuyển đúng pháp được.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là Chủng chủng căn trí lực
của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Đẳng Chánh Giác dùng trí
lực vô thượng có thể biết rõ như thiệt về tướng các
căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh.
Các
tướng ấy đức Như Lai biết rõ như thiệt thế nào?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đó là Như Lai biết rõ như thiệt độn
căn, trung căn, lợi căn, thắng căn, liệt căn. Do khắp
phân biệt theo các căn tánh mà đức Như Lai biết rõ như thiệt
chúng sanh khởi các thứ tham, khởi các thứ sân, khởi các
thứ si, hoặc khởi giả lập tham sân si, hoặc khởi tham sân
si nhỏ mỏng, hoặc khởi tham sân si điên đảo, hoặc khởi
dẹp phục tham sân si.
Hoặc
nhơn bất thiện sanh ra các căn, hoăc các căn do nhơn thiện
sanh ra, đức Như Lai đều biết rõ như thiệt. Cũng biết
rõ các căn do nhơn bất động sanh ra, hoặc các căn do nhơn
xuất ly sanh ra.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ như thiệt nhãn căn,
nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn, nam căn, nữ
căn, mạng căn, lạc căn, khổ căn, ưu căn, hỷ căn, xả căn,
tín căn, chánh cần căn, niệm căn, định căn, huệ căn, vị
tri đương tri căn, tri căn, dĩ tri căn. Các tướng căn
sai biệt như vậy đức Như Lai đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Hoặc các chúng sanh an trụ bố thí căn
mà tu trì giới phương tiện, bấy giờ đức Như Lai dùng trí
thắng liệt căn mà vì họ nói pháp bố thí. Hoặc có
chúng sanh an trụ trì giới căn mà tu bố thí phương tiện
thì vì họ nói về trì giới. Hoặc có chúng sanh an trụ
nhẫn nhục căn mà tu tinh tiến phương tiện, thì vì họ nói
về pháp nhẫn nhục.
Hoặc
có chúng sanh an trụ tinh tiến căn mà tu nhẫn nhục phương
tiện, thì vì họ nói về pháp tinh tiến.
Hoặc
an trụ thiền định căn mà an trụ tu huệ phương tiện thì
vì họ nói về pháp thiền. Hoặc an trụ huệ căn mà
tu thiền phương tiện thì vì họ nói về chánh trí huệ.
Các
căn sai biệt về tất cả phần Bồ đề như vậy, đức
Như Lai đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Hoặc có chúng sanh an trụ căn Thanh Văn
mà lại tu độc giác phương tiện, thì đức Như Lai dùng Chủng
chủng chư căn trí vì họ mà nói hạ thừa. Người an
trụ độc giác căn mà tu Thanh Văn phương tiện thì vì họ
mà nói trung thừa. Người an trụ đại thừa căn mà tu
nhị thừa phương tiện, thì đức Như Lai dùng chư căn trí
vì họ nói đại thừa.
Nếu
có các chúng sanh không có căn kham nhậm, không có tướng kham
nhậm, đức Như Lai biết họ là phi pháp khí không kham nhậm
rồi bèn bỏ để đó.
Nếu
các chúng sanh có căn kham nhậm có tướng kham nhậm, đức
Như Lai biết rõ như thiệt là người pháp khí có kham nhậm
liền ân cần trịnh trọng vì họ thuyết pháp cho họ được
ngộ nhập.
Như
vậy, nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ các hữu
tình các căn thuần thục và chẳng thuần thục, các căn xuất
ly và chẳng xuất ly. Căn tánh của các hữu tình, đức
Như Lai đúng như thiệt biết rõ tất cả; an trụ tướng
như vậy, phương tiện như vậy, tín giải như vậy, bổn nhơn
như vậy, sở duyên như vậy, đẳng lưu như vậy, cứu cánh
như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chủng chủng căn trí của đức Như Lai
chẳng thể nghĩ bàn vô biên vô tế chư căn trí lực của
đức Như Lai thì chẳng khác gì người muốn tìm cầu biên
tế của hư không.
Chư
đại Bồ Tát nghe căn lực như hư không ấy rồi tin nhận
vâng thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn hở vui mừng
phát ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Đấng
đến tột mé căn chúng sanh
Khéo
thấu tánh hạnh của hữu tình
Tùy
theo căn tánh có thể kham
Đức
Như Lai vì họ thuyết pháp
Căn
hạ trung thượng kham nhậm được
Trí
lực của Phật phát trong ấy
Xem
tâm giải thoát của họ rồi
Đấng
Lưỡng Túc Tôn liền thuyết pháp
Nếu
người các căn hay phát khởi
Phiền
não mỏng nhẹ tương tục ít
Khéo
thấu căn tánh của người ấy
Đức
Phật tùy thuận vì thuyết pháp
Nếu
các trượng phu có thiện căn
Tùy
chỗ siêng tin mà khai thị
Lại
theo căn hành tướng sai biệt
Nói
các thắng nghĩa định huệ thảy
Nếu
người phát khởi siêng tín nguyện
Như
Lai tùy thuận nói tịnh đạo
Biết
họ có đủ công hạnh rồi
Dạy
họ thắng pháp siêu các khổ
Có
căn quyết định Phật Bồ đề
Mê
lầm tu theo hạnh nhị thừa
Phật
dạy đại thừa thành chánh giác
Đây
là trí lực thư năm vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đây gọi là Chủng chủng căn trí lực
của đức Như Lai. Do thành tựu trí lực thứ năm này
mà đức Phật Như Lai ở giữa đại chúng chánh sư tử hống
tự xưng rằng ta ở bực Đại Thánh hay chuyển pháp luân thanh
tịnh, mà các thế gian, Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên, Ma Vương,
Phạm Vương v.v... đều chẳng chuyển được đúng pháp.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Thế nào là Biến hành chư hành trí
lực của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác dùng vô
lượng trí lực biết rõ như thiệt biến hành chư hành.
Nầy
Xá Lợi Phất! Các tướng như vậy biết rõ thế nào?
Đó là biết rõ tánh hữu tình là tánh chánh định, là tánh
bất chánh định, là tánh tà định.
Thế
nào là tánh chánh định?
Đó
là do phương tiện tu tập đời trước khai phát trí huệ lợi
căn mà phát sanh tánh ấy, hoặc chư Phật có vì họ thuyết
pháp hay chẳng thuyết pháp. Đức Như Lai biết nhơn quả
đời trước của chúng sanh ấy kham nhậm pháp khí tùy chỗ
đáng nên thuyết pháp cho họ mau được giải thoát.
Thế
nào là tánh bất định?
Đó
là do sức ngoại duyên mà thành thục tánh ấy. Nếu được
giáo thọ giáo giới đúng pháp thì được giải thoát.
Nếu giáo thọ giáo giới chẳng đúng pháp thì chẳng được
giải thoát. Đức Như Lai vì họ mà nói pháp tùy thuận.
Họ nghe được chánh pháp rồi đúng theo lý mà tu hành chứng
quả giải thoát. Vì muốn cho các chúng sanh được những
sự lợi ích giải thoát như vậy mà đức Phật xuất
thế.
Thế
nào gọi là tánh tà định?
Đó
là tánh chúng sanh bị phiền não che úp chẳng tu tập nghiệp
hạnh thanh tịnh, thức tánh bạc nhược ngu si sâu dầy an trụ
trong lưới tà kiến chẳng phải căn khí chánh pháp, dầu chư
Như Lai có vì họ thuyết pháp hay chẳng thuyết pháp, họ cũng
chẳng kham nhậm chứng quả giải thoát. Đức Như Lai
biết hữu tình ấy chẳng phải là pháp khí rồi liền bỏ
để đó. Vì thế nên, nầy Xá Lợi Phất! Chư Đại
Bồ Tấ vì thương muốn làm lợi ích cho hạng chúng sanh ấy,
nên mặc giáp hoằng thệ vào trong đám quân tà kiến để
giáo hóa xô dẹp.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ như thiệt ba
thứ tham hành: hoặc do tướng tịnh mỹ mà phát khởi
tham hành, hoặc do nghiệp nhơn đời trước mà phát khởi tham
hành.
Đức Như
Lai lại biết rõ như thiệt ba thứ sân hành: hoặc do
tướng tổn hại mà phát khởi sân hành, hoặc do quan sát quá
nhiều mà phát khỡi sân hành, hoặc do phiền não đời trước
mà phát khởi sân hành.
Đức
Như Lai lại biết rõ như thiệt ba thứ si hành: hoặc
có si hành do vô minh phát sanh, hoặc có si hành do vọng có
thân kiến mà phát sanh, hoặc có si hành do nghi mà phát sanh.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ như thiệt các
hành. Có người khổ lạc hai hành đều mau có thể thông
vì các căn họ bén nhạy. Có người khổ lạc hai hành
đều chậm thông, vì các căn của họ chậm lục vậy.
Lại
biết rõ như thiệt hành chậm, thông cũng chậm vì bỏ sở
duyên vậy. Hoặc hành chậm còn thông thì mau vì đạo
chẳng ngừng dứt vậy. Hoặc hành mau còn thông thì chậm
vì dũng quyết tiến lên vậy, hoặc hành mau thông mau vì chẳng
phải tánh ấy vậy.
Lại
biết rõ như thiệt hoặc có các căn hành sức giản trạch
đầy đủ mà chẳng phải sức tu tập. Hoặc có các căn
hành sức tu tập đầy đủ mà chẳng phải sức giản trạch.
Hoặc có các hành hai sức giản trạch và tu tập đều đầy
đủ.
Lại
biết rõ như thiệt hoặc có các hành tín nguyện đầy đủ
mà chẳng phải phương tiện đầy đủ. Hoặc có các
hành phương tiện đầy đủ mà chẳng phải tín nguyện đầy
đủ. Hoặc có các hành tín nguyện và phương tiện đều
đủ. Hoặc có các hành tín nguyện và phương tiện đều
chẳng đầy đủ.
Lại
biết rõ như thiệt hoặc có các hành thân nghiệp thanh tịnh
mà chẳng phải do ngữ và ý. Hoặc có các hành ngữ nghiệp
thanh tịnh mà chẳng phải do thân và ý. Hoặc có các
hành ý nghiệp thanh tịnh mà chẳng do thân và ngữ. Hoặc
có các hành do thân ngữ ý mà được thanh tịnh.
Như
vậy nhẫn đến chúng hữu tình chỗ có các hành hoặc nhơn
lưu chuyển, hoặc nhơn chẳng lưu chuyển, hoặc nhơn cả hai
lưu chuyển và bất lưu chuyển, đức Như Lai dùng trí vô ngại
đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực biến hành chư hành của đức
Như Lai chẳng nghĩ bàn được vô biên tế như hư không.
Chư đại Bồ Tát nghe trí lực bất tu nghị như hư không ấy
rồi tin nhận vâng thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn
hở vui mừng phát ý tưởng hy ky”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Như
Lai như thiệt biết các hành
Biết
được hữu tình tánh chánh định
Lại
biết tướng bất định thành thục
Và
các căn nhơn pháp tương ưng
Các
hành ba thứ tham tương ưng
Và
cùng ba thứ sân si hiệp
Hành
tương ưng vô biên phiền não
Duyên,
nhơn, đức Phật đều thiệt biết
Người
có khổ hành mà lợi căn
Hoặc
có hành ấy mà độn căn
Người
có lạc hành căn lợi độn
Đấng
Đại Đạo Sư biết như thiệt
Người
có độn hành và độn tu
Hoặc
là hành độn mà lợi tu
Hoặc
là hành mau mà tu chậm
Hoặc
là đều mau hoặc đều chậm
Hoặc
có các hành giản trạch sanh
Chẳng
do tu tập đạo lực khởi
Hoặc
tu tập sanh chẳng giản trạch
Câu
sanh biệt dị cùng tương ưng
Hoặc
có các hành sanh tín nguyện
Mà
chẳng phải là phương tiện tịnh
Hoặc
phương tiện tịnh chẳng tín nguyện
Chẳng
tín nguyện hạnh hoặc đủ cả
Hoặc
có tịnh tu nơi thân nghiệp
Chẳng
phải ngữ ý nghiệp thanh tịnh
Hoặc
có ngữ tịnh và thân tịnh
Mà
ý nghiệp kia chẳng thanh tịnh
Hoặc
có nội tâm thường thanh tịnh
Hai
nghiệp thân ngữ chẳng thanh tịnh
Hoặc
có ngữ tịnh và ý tịnh
Mà
thân nghiệp họ chưa được tịnh
Hoặc
thân ngữ ý tịnh chẳng tịnh
Các
hành lưu chuyển và tịch diệt
Đấng
Chánh Biến Tri biết như thiệt
Đây
là Phật trí lực thứ sáu.
Nầy Xá Lợi
Phất! Đây gọi là biến hành chư hành trí lực của
đức Như Lai. Do trí lực thứ sáu ấy mà đức Như Lai
tự xưng là bực Đại Thánh chuyển pháp luân thanh tịnh mà
tất cả thế gian đều chẳng chuyển đúng pháp được.
Lại nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào là Tịnh lự giải thoát tam ma
địa tam ma bát đề phát khởi tạp nhiễm thanh tịnh trí lực
của đức Như Lai?
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác dùng trí
lực vô thượng biết rõ như thiệt hoặc tự hoặc tham tất
cả những pháp tịnh lự giải thoát tam ma địa tam ma bát
đề phát khởi tạp nhiễm thanh tịnh.
Các
tướng như vậy biết rõ như thiệt thế nào?
Đó
là biết rõ như thiệt do nhơn do duyên mà tất cả hữu tình
có thể bị tạp nhiễm; lại như thiệt biết do nhơn do duyên
mà tất cả hữu tình có thể được thanh tịnh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nhơn gì duyên gì có thể khiến tạp nhiễm?
Đó
là do tác ý chẳng xứng lý làm nhơn, do vô minh làm duyên khiến
các hữu tình phát khởi tạp nhiễm.
Vô minh
như vậy làm nhơn các hành làm duyên; các hành làm nhơn các
thức làm duyên; các thức làm nhơn danh sắc làm duyên; danh
sắc làm nhơn sáu nhập làm duyên; sáu nhập làm nhơn các xúc
làm duyên; các xúc làm nhơn cảm thọ làm duyên; do thọ làm
nhơn ái luyến làm duyên; tham ái làm nhơn chấp thủ làm duyên;
do thủ làm nhơn các hữu làm duyên; do hữu làm nhơn lấy sanh
làm duyên; do sanh làm nhơn lão tử làm duyên; phiền não làm
nhơn các nghiệp làm duyên; kiến chấp làm nhơn tham ái làm
duyên; tùy miên làm nhơn các triền làm duyên;
Do các
nhơn và duyên như vậy làm cho tất cả hữu tình pháp khởi
tạp nhiễm.
Những
tướng như vậy đức Như Lai đều biết rõ như thiệt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nhơn gì và duyên gì làm cho thanh tịnh?
Có hai
nhơn và hai duyên có thể làm cho tất cả hữu tình thanh tịnh.
Đó là do tha thuận âm và tác ý như lý của chính mình làm
nhơn, và xa tha duyên một cảnh cùng tì bát xá na thiện xảo
phương tiện làm duyên.
Lại
có hai nhơn và hai duyên làm cho thanh tịnh. Đó là trí
bất lai và trí bất khứ.
Lại
có hai nhơn và hai duyên làm cho thanh tịnh. Đó là quán
vô sanh và chứng chánh định.
Lại
có hai nhơn và hai duyên làm cho thanh tịnh. Đó là hành
cụ túc và minh vô minh giải thoát tác chứng.
Lại
có hai nhơn và hai duyên làm cho thanh tịnh. Đó là tu giải
thoát môn và tánh giải thoát trí.
Lại
có hai nhơn và hai duyên làm cho thanh tịnh. Đó là tùy
giác đế và tùy đắc đế.
Những
nhơn và duyên như vậy có thể làm cho hữu tình thanh tịnh.
Các tướng như vậy đức Như Lai đều biết rõ như thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết rõ như thiệt cảnh
giới tạp nhiễm của các hữu tình và cảnh giới thanh tịnh
của các hữu tình. Hoặc có cảnh giới tạp nhiễm nhập
vào cảnh giới thanh tịnh; hoặc có cảnh giới thanh tịnh
nhập vào cảnh giới tạp nhiễm; đây đều do như thiệt quán
vậy.
Hoặc
có cảnh giới tạp nhiễm nhập vào cảnh giới tạp nhiễm;
hoặc có cảnh giới thanh tịnh nhập vào cảnh giới thanh tịnh;
đây đều là do tăng thượng mạn chấp vây.
Tất
cả tướng trên đây đức Như Lai đều biết rõ như thiệt.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai dùng trí như thiệt ở
nơi trong các tịnh lự siêu việt gián tạp sai biệt đều
biết rõ.
Đó
là ly dục ác bất thiện pháp hữu tầm hữu từ ly sanh hỷ
lạc đầy đủ an trụ nơi tịnh lự tối sơ. Đức Như
Lai an trụ tịnh lự tối sơ rồi từ diệt tận định mà
xuất. Như vậy nhẫn đến nhập diệt tận định rồi
từ sơ tịnh lự mà xuất.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai ở nơi bát giải thoát
dùng trí như thiệt hoặc thuận thứ lớp mà nhập, hoặc lại
nghịch thứ mà nhập, hoặc thuận nghịch nhập, hoặc gián
tạp nhập.
Giải
thoát như vậy thế nào là tám thứ?
Đó
là nội có sắc tướng quán ngoại sắc là sơ giải thoát;
nội không sắc tướng quán ngoại sắc giải thoát là giải
thoát thứ hai; nơi tịnh giải thoát hoặc nơi tịnh tánh khởi
tịnh giải là giải thoát thứ ba; hư không vô biên xứ định
là giải thoát thứ tư; thức vô biên xứ định là giải thoát
thứ năm; vô sở hữu xứ định là giải thoát thứ sáu; phi
tưởng phi phi tưởng xứ định là giải thoát thứ bảy; diệt
thọ tưởng định là giải thoát thứ tám.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đức Như Lai dùng trí như thiệt hoặc
an trụ trong một tam ma địa mà lại thị hiện tam ma địa
và tam ma bát đề khác, hoặc lại thị hiện các thứ quán
giải. Dầu như vậy mà chư Như Lai đối với các đẳng
trì chưa từng hỗn loạn.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Chư Phật Như Lai chẳng do duyên nơi
tam ma địa mà nhập tam ma địa. Hoặc y nơi một tam ma
địa mà thành tựu tất cả những tam ma địa khác. Hoặc
chẳng khởi một tam ma địa mà có thể nhập khắp tất cả
tam ma địa. Lai chư Như Lai tâm thường an trụ trong định
không xoay vần duyên. Lại chư Như Lai không bao giờ có
tâm bất định. Lại chư Như Lai an trụ chánh định thâm
diệu, không ai có thể thấy biết được chánh định của
Như Lai được.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tam ma địa của hàng Thanh Văn được bị
tam ma địa của Độc Giác chói lấp. Tam ma địa của
chư Độc Giác được bị tam ma địa của Bồ Tát chói lấp.
Tam ma địa của chư Bồ Tát bị tam ma địa của Phật chói
lấp. Tam ma địa của chư Phật không gì chói lấp được.
Tại sao? Do vì trí không chói lấp của Như Lai thường
hiện khởi vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai biết như thiệt như vậy;
giáo thọ như vậy, giáo giới như vậy mà có thể phát khởi
các tam ma địa của Thanh Văn Duyên Giác.
Đức
Như Lai dùng giáo thọ giáo giới như vậy có thể phát khởi
diệu tam ma địa của chư Bồ Tát.
Chư
Phật Như Lai biết rõ như thiệt rồi bèn làm giáo thọ giáo
giới như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trí lực phát khởi tịnh lự giải thoát tam
ma địa ma bát đề tạp nhiễm thanh tịnh của đức Như Lai
vô biên vô tế chẳng thể nghĩ bàn đồng như hư không.
Nếu có ai muốn tìm biên tế định lực của đức Như Lai
thì chẳng khác với kẻ tìm biên tế của hư không.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chư Đại Bồ Tát nghe trí lực Thiền định
giải thoát của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn như hư không
rồi tin nhận vâng thờ thanh tịnh không nghi càng thêm hớn
hở vui mừng phát ý tưởng hy kỳ”.
Đức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
“Do
đây hữu tình khởi tạp nhiễm
Do
đây hữu tình được thanh tịnh
Đại
Hùng biết rõ như vậy rồi
Rộng
vì tuyên dương pháp vi diệu
Do
tác ý trái lý làm nhơn
Vô
minh làm duyên sanh tạp nhiễm
Vô
minh làm nhơn hành làm duyên
Nhẫn
đến xoay vần sanh các khổ
Tát
ý trái lý và vô minh
Làm
căn bổn sanh các chi kia
Chư
Phật biết rõ như thiệt rồi
Tùy
chỗ đáng nên tuyên diệu pháp
Tất
cả cội gốc của tạp nhiễm
Đó
là nghiệp hành và vô minh
Lại
từ đây làm duyên cho thức
Triển
chuyển như vậy sanh các khổ
Do
chỗ nói tùy thuận âm kia
Và
do nội tâm quán đúng lý
Do
hai nhơn hai duyên đây
Tất
cả chúng sanh chứng thanh tịnh
Do
chỉ tác ý đúng lý nhơn
Và
do chánh quán làm duyên kia
Mà
các chúng sanh chứng giải thoát
Đại
Sư đều biết rõ như thiệt
Hành
giả an trụ giới thanh tịnh
Quán
sát các pháp đều không tịch
Và
khéo tu tập môn giải thoát
Xa
rời sanh tử bức ngặt khổ
Như
đây chư Phật thiệt biết rõ
Tất
cả chúng sanh hạnh thanh tịnh
Không
vô tướng nguyện giải thoát môn
Thiện
thệ theo căn mà hiển thị
Độc
Giác tối thắng và Thanh Văn
Thuận
nghịch nhập xuất các tịnh lự
Như
Lai tuyên bày chỗ chứng kia
Như
có gai độc và oán thù
Định
giải thoát của chư Phật chứng
Rốt
ráo không oán không gai độc
Phải
biết bực thứ bảy của Phật
Không
thiền định nào xô dẹp được.
Xem
Tiếp Trang 3