VII
PHÁP HỘI
MẶC GIÁP TRANG NGHIÊM
THỨ BẢY
(Hán Bộ
từ quyển 21 đến quyển 25)
Hán Dịch:
Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi
Việt Dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Trang 4
Ngài Vô Biên
Thắng đại Bồ Tát lại bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn!
Rất là hy hữu, đức Thế Tôn có thể an lập chư đại bồ
Tát ở nơi pháp lý thú không có hệ phược, không có giải
thoát.
Bạch đức
Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát ở nơi pháp lý thú khéo an lập
chẳng cùng với chút pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương
ưng, hoặc hòa hiệp hoặc chẳng hòa hiệp, hoặc nhiếp thủ
hoặc chẳng nhiếp thủ, hoặc có sở quy hoặc không có sở
quy, hoặc tham hoặc ly tham, hoặc sân hoặc ly sân.
Bạch đức
thế tôn! Chư đại Bồ Tát ở trong tất cả pháp lý thú thiện
xảo an lập.
Giả sử
có chúng sanh dúng dường cung kính, đại Bồ Tát ấy chẳng
có lòng tham ái. Chúng sanh hủy nhuc bức não, đại bồ tát
ấy cũng chẵng sân hận.
Chư đại
bồ tát ấy không có các thứ tưởng, rời tất cả pháp,
chẳng thấy có chút pháp có thể cùng với chút pháp tương
ưng hoặc chẳng tương ing, vì siêu quá tương ung và chẳng
tương ưng vậy.
Các Ngài
rời xa tưởng tương ưng chẳng tương ung, biết rõ tương
tương ưng chẳng tương ưng, siêu quá biết rõ, chắng ở nơi
chút pháp hoặc tiến hoặc thối hoặc có chỗ hướng đến
hoặc không có chỗ hướng đến mà làm tương ưng.
Ở trong tất
cả pháp lý thú, các Ngài không có vọng niệm cũng không có
sở thủ, dùng thiện phương tiện chẳng hoại pháp tánh.
Bạch đức
Thế Tôn! Lúc an trụ nơi tất cả pháp như vậy, chư đại
bồ tát có thể dùng thiện xảo tuyên nói tất cả pháp giới
lý thú, tất cả Phật Pháp mau được viên mãn ».
Ðức Thế
Tôn phán với Ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát rằng : « Này
Vô Biên Huệ! Ở trong Phật Pháp, lúc chư đại Bồ Tát không
chỗ an lập không chỗ an trụ thì thấy Phật Pháp, không có
an lập không có sở trụ, cũng không thắng trụ, cũng không
biến trụ, thấy Phật Pháp trụ. Tại sao vậy ? Vì chẳng
khuynh động, vì chẳng lưu chuyển vì chẳng biến dị vậy.
Tương ưng
với tất cả pháp giới mà an trụ mới gọi là tất cả pháp
giới lý thú thiện xảo an lập.
Này Vô Biên
Huệ! Ở trong Phật pháp, chư đại Bồ Tát không trụ, không
thắng trụ, không biến trụ, không phi xứ trụ, cũng không
sở động, không biến phân biệt, mới gọi là tất cả pháp
giới lý thú thiện xảo an lập.
Này Vô Biên
Huệ! Chư đại Bồ Tát chẳng thấy chút pháp có thể cùng
chút pháp mà làm an lập, cũng chẳng thấy có tất cả pháp
xứ làm thắng an lập, cũng không phân biệt, không thắng phân
biệt, không biến phân biệt, mới gọi là tất cả pháp giới
lý thú thiện xảo an lập.
Này Vô biên
Huệ! Chư đại Bồ Tát chẳng thấy chút pháp hoặc trụ hoặc
khứ, cũng không phân biệt, không thắng phân biệt, không biến
phân biệt. Các Ngài thấy tất cả pháp như tịnh hư không
ánh sáng chiếu suốt rời xa phiền não, vì ánh sáng chiếu
tất cả pháp, nên mới gọi là được thiện xảo phương
tiện nơi tất cả pháp giới lý thú, chẳng dùng an lập để
quán pháp giới. Tại sao vậy? Vì chẳng ở nơi pháp giới
có chút an lập vậy.
Ví như hư
không và phong giới không có xứ sở cũng không thấy được,
không chỗ an lập không chỗ y chỉ, không hiện bày được.
Pháp giới
cũng như vậy, không chỗ vào được, không chỗ thấy được,
không chỗ an lập, không chỗ y chỉ, không hiện bày được.
Pháp giới
cũng như vậy, không chỗ vào đươc, không chỗ thấy được,
không chỗ an lập, không chỗ y chỉ, cũng không liễu tri cũng
không hiện bày.
Chư đại
Bồ Tát vì không hiện bày nên tương ưng với như như giới
mà an trụ.
Này Vô Biên
Huệ! Tất cả pháp giới không sanh không mạng, không lão không
tử, không thăng không trầm, không hiện bày giới đó là pháp
giới, không biến dị giới đó là pháp giới, mà pháp giới
ấy khắp tất cả chỗ.
Này Vô Biên
Huệ! Pháp giới không khứ, cũng không chỗ khứ? Vì không
chỗ khứ nên mới gọi là tương ưng với pháp giới mà an
trụ.
Trong như
như pháp giới không có xứ cũng không có phi xứ. Tại sao
vây ? Vì như như pháp giới như như tự tánh vô sở hữu vậy.
Này Vô Biên
Huệ! chư đại Bồ Tát nghe ta nói đây thì ở nơi tất cả
pháp giới lý thú được vô biên ánh sáng đại pháp. Do ánh
sáng pháp được vô sanh nhẫn, chóng viên mãn Phật thập lực
mười tám pháp bất cộng.
Vì muốn
thành thục tất cả chúng sanh thiện căn rộng lớn tư lương
thù thắng vì muốn chủng tánh Như Lai không đoạn tuyệt nên
mau đến đạo tràng chuyển pháp luân, che khuất cung ma, xô
dẹp dị luận, làm đại sư tử hống mà vì chúng sanh diễn
thuyết diệu pháp tùy theo sở thích của họ, tùy theo chí
nguyện của họ, tùy theo chỗ hướng đến chánh giải thoát
của họ, đếu làm cho tất cả đều đến Vô Thượng Bồ
để.
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng:
“Tất cả
chư Bồ Tát
Chẳng trụ
ở các pháp
Ở nơi trong
Phật Pháp
Không có
chỗ an lập
Tất cả
chư Bồ Tát
vì không
chỗ an lập
Nên ở trong
phật pháp
Vô úy mà
hướng đến
Tất cả
chư Bồ tát
Thấy tất
cả Phật Pháp
không có
trụ không xứ
Là diệu
thiện an lập
tất cả
chư bồ tát
chẳng an
trụ ở xứ
có thể
thấy các pháp
không an
trụ không thối
tất cả
chư bồ tát
thấy pháp
không an trụ
nơi phật
pháp chẳng động
nơi phật
pháp chẳng cầu
tất cả
chư bồ tát
thấy pháp
không biến dị
nơi phật
pháp chẳng động
cũng chẳng
có suy tầm
Tất cả
chư Bồ Tát
thấy các
pháp như vậy
Ở nơi pháp
thiện xảo
Phương tiện
mà an trụ
Tất cả
chư Bồ Tát
thấy pháp
thường bình đẳng
Nơi phật
pháp chẳng trụ
cũng chẳng
phải chẳng trụ
Thường
không có trụ xứ
cũng chẳng
phải không xứ
thường
chẳng có phân biệt
chẳng phải
chẳng phân biệt
Tất cả
những phân biệt
Thường
là vô sở hữu
Tất cả
chư Bồ Tát
tương ưng
với vô trụ
nơi những
thời những xứ
Mà khôngcó
sở động
tất cả
chư Bồ Tát
ở trong
pháp lý thú
lúc an trụ
bình đẳng
thì gọi
là thiện trụ
tất cả
chư Bồ Tát
ở trong
pháp lý thú
chẳng thấy
có chút pháp
có thể
bình đẳng trụ
tất cả
chư bồ tát
có thể
thấy các pháp
đều không
có xứ sở
cũng chẳng
rời xứ
được không
có sở động
cũng chẳng
có thân cận
tất cả
chư bồ tát
ở trong
tất cả pháp
lý thú được
thiện xảo
phương tiện
mà an trụ
thì gọi
là bồ tát
tất cả
chư bồ tat
chẳng ở
nơi chút pháp
hoặc khứ
hoặc là lai
phân biệt
mà an trụ
bấy giờ
mới an trụ
tất cả
pháp lý thú
tất cả
chư bồ tát
nơi các
pháp lý thú
Tất cả
thứ an trụ
Có thể
khởi vô biên
Những ánhsáng
đại pháp
Do ánh sáng
đại pháp
An trụ bình
đẳng kiến
Thấy tất
cả các pháp
và các pháp
lý thú
như hư không
trong sạch
như bóng
cũng như tượng
Bình đẳng
không cấu nhiễm
Tất cả
chư bồ tát
Ở nơi thấy
biết rõ
Cũng không
có biết rõ
Xa rời nơi
tự tánh
Tất cả
chư Bồ Tát
Hay quán
sát như vậy
Ở trong
tất cả pháp
Lý thú mà
an trụ
Có thể
ở pháp giới
kiên cố
siêng tu tập
Thì gọi
là pháp giới
Lý thú thiện
phương tiện
Tấ cả
chư Bồ Tát
Chẳng an
trụ pháp giới
Quan sát
các pháp giới
Rốt ráo
chẳng phải có
Tất cả
chư Bồ Tát
Quyết liễu
nơi các pháp
Thấy tất
cả các pháp
Như hư không
như phong
Dầu không
có an lập
Mà khắp
tất cả chỗ
Pháp giới
cũng như vậy
Khắp ở
tất cả chỗ
Pháp giới
khó nghĩ bàn
không thể
hiện bày được
Ở nơi các
người trí
Chẳng có
làm thân cận
Giới không
có thị hiện
Mới gọi
là pháp giới
Không có
chỗ trụ xứ
Mới gọi
là an trụ
Pháp giới
không có sanh
Không mạng
không lão
không tử
không thăng trầm
Cũng không
có xuất ly
Pháp giới
chẳng nghĩ bàn
không lai
không có khứ
pháp giới
chẳng phải uẩn
Chẳng phải
giới và xứ
Cũng chẳng
rờu giới xứ
Mà không
có sở động
Pháp giới
thường như như
Tự tánh
chẳng phải có
Tất cả
chư Bồ Tát
Hay biết
rõ như vậy
pháp giới
khó nghĩ bàn
Ðược ánh
sánh đại pháp
Do đây mà
hướng đến
Qua
đến tại đạo tràng
Mà ở nơi
các pháp
Không còn
có nghi hoặc
Chẳng có
bị sở động
Dùng ánh
sáng đại pháp
Làm cho các
chúng sanh
Ðều được
đại an lạc”.
Ðức Thế
Tôn phán tiếp: “Này Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát có thể
ở nơi pháp thậm thâm như vậy mà siêng tu tập, thì được
ánh sáng đại pháp như vậy. Dùng trí huệ ấy hướng đến
Vô thượng Bồ đề.
Lại này
Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa quá hai a tăng kỳ kiếp, lúc
ấy có đức Phật xuất thế hiệu là Nguyệt đăng vương
như lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Kiếp ấy tên Cam Lộ, Quốc Ðộ
tên Thanh Tịnh.
Cõi nước
ấy bằng pha lê thường có ánh sáng chiếu khắp nơi. Nếu
có chúng sanh nào gặp ánh sáng ấy thì được sạch sẽ đẹp
đẽ đoan nghiêm, vì thế nên cõi nước ấy có tên là Thanh
Tịnh, Không có tên thành ấp tụ lạc riêng. Trong nước ấy
đường sá rất đẹp, dây vàng ngăn lối. Khoảng cách giữa
các con đường tất cả đều đồng nửa câu lô xá. Trụ
báu sáng chói, cây đa la đẹp đều số tám mươi bốn bày
hàng trong mỗi khoảng cách ấy. Trong đó lại có bốn ao nước,
quanh ao có lâu đài bảy báu là chỗ ở của nhơn dân. Che
trên thì có linh võng, treo rũ thì xó dải lụa. đồ trân ngoạn
đẹp lạ như Thiên cung.
Chúng sanh
ở nước ấy tịch tịnh an lạc, đều đã thành tựu mười
nghiệp đạo lành, dung mạo đoan nghiêm, thọ mạng dài lâu,
tham sân si mỏng dễ khai ngộ, dùng chút ít phương tiện đã
biết rộng các pháp.
Ðức Phật
Nguyệt Ðăng Vương trụ thế mười câu chi tuổi. Sau khi đức
Phật ấy diệt độ, chánh pháp trụ thế một câu chi năm.
Có mười
hội thuyết pháp. Mỗi pháp hội đếu có hai mươi câu chi
na do tha chúng Thanh Văn ở bực học địa, các chúng Bồ Tát
hướng đến Nhứt thừa số đến vô lượng.
Này Vô Biên
Huệ! Cây Bồ đề báu của đức Nguyệt Ðăng Vương Như Lai
cao một trăm do tuần, chu vi năm mươi do tuần, góc bằng ngọc
san hô, thân bằng ngọc lưu ly, nhánh bằng hoàng kim, lá bằng
ngọc mã não. Ðạo tràng dọc ngang đều một trăm do tuần,
khắp vòng có bệ nền, bao quanh có lan can. Cây đa la đẹp
bày ngay thẳng, linh vàng lưới báu giăng che trang nghiêm.
Tòa đại
Bồ Ðề cao ba do tuần trải nệm êm nhuyễn, trăm ngàn diệu
y xen rũ, hai mươi tràng phan dựng bày một bên.
Ðức Phật
Nguyệt Ðăng Vương ngồi trên tòa đại bồ đề ấy mà chứng
Vô Thượng Bồ Ðề.
Thuở ấy
nước Thanh Tịnh không có ba ác đạo và tên ác đạo, cũng
không có các nạn và tên các nạn.
Ðức Phật
Nguyệt Ðăng Vương thường ở trong tất cả các thế giói
hóa hiện thân Phật chuyển chánh pháp luân.
Này Vô Biên
Huệ! Ðức Phật Nguyệt Ðăng Vương có hai vị Bồ Tát: Một
tên là Vân Âm, một tên là Vô biên Âm.
Hai vị Bồ
TÁt ấy bạch đức Phật Nguyệt ÐăngVương rằng :
Bạch Ðức
Thế Tôn! Thế nào chư đại Bồ Tat ở trong các tất cảpháp
lý thú mà được thiện xảo phương tiện an lập ?
Vì muốn
chư đại Bồ Tát ở trong tất cả pháp lý thú mà được
thiện xảo phương tiện an lập nên đức Phật Nguyệt
Ðăng Vương vì hai vị Bồ Tát mà nói rộng pháp ấy.
Chư đại
Bồ Tát nghe pháp ấy xong, ở trong tất cả pháp lý thú được
thiện xảo phương tiện an lập.
Hai vị Bồ
Tát Vân Âm và Vô Biên Âm sau đó hai muôn năm không ngủ nghỉ,
không tham dục, không sân não, chẳng tưởng đến ăn
đến nằm, cũng không tưởng đến bịnh hoạn thuốc thang,
chẳng thích vui chơi du ngoạn trong thế gian.
Lúc đức
Phật Nguyệt Ðăng Vương thuyết pháp, liền trên pháp tòa,
hai vị Bồ Tát ấy được Vô sanh nhẫn.
Ðức Như
lai ấy hỏi hai vị Bồ Tát rằng: “ Này thiện nam tử! Ở
trong tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập
như vậy, các ông có cầu chăng?
Hai vị Bồ
Tát ấy bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con còn chẳng thấy
có danh từ tất cả pháp lý thú thiện xảo an lập, huống
là tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập.
Bạch đức
Thế Tôn! Con cũng chẳng được tất cả pháp, con cũng chẳng
được tất cả pháp an lập. Nơi tất cả pháp không
có trụ không có chẳng trụ.
Bạch đức
Thế Tôn! Con thấy như vậy đâu còn nên hỏi rằng: Ở trong
tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện an lập nhu vây,
ông có cầu chăng ? Hay là chẳng cầu chăng ?
Bạch đức
Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy ở trong tất cả pháp lý thú
thiện xảo phương tiện an lập như vậy mà làm người cầu.
Con cũng chẳng thấy có hoặc trong hoặc ngoài, hoặc trung gian,
hoặc tất cả pháp, hoặc pháp lý thú thiện xảo phương tiện
mà an lập, con cũng chẳng thấy có pháp hoặc trong hoặc ngoài,
hoặc trung gian, hoặc tất cả pháp, hoặc pháp lý thú thiện
xảo phương tiện mà có thể an lập được.
Bạch đức
Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút pháp trong
ngoài trung gian lý thú thiện xảo phương tiện an lập mà có
thể thân cận được.
Bạch đức
Thế Tôn! Ðã không có chút pháp hướng đến được thân
cận ở trong ấy con sẽ an lập cái gì?
Bạch đức
Thế Tôn! Vì không có an lập nên chẳng phải tương ưng với
an trụ hay chẳng an trụ, chẳng phải tương ưng với vô tận,
vô sanh.
Bạch đức
Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy từ ai do ai chỗ nào lúc nào
tâp ý thức của con hoặc sanh hoặc diệt. Sao lại còn nói
rằng dùng tâm ý thức ở nơi tất cả pháp lý thú thiện
xảo phương tiện an lập?
Này Vô Biên
Huệ! Lúc hai vị Bồ Tát Vân Âm và Vô Biên Âm ở trước
đức Nguyệt Ðăng Vương Như Lai bạch như vậy, có một ngàn
Bồ Tát được vô sanh nhẫn, một ngàn câu chi Bồ Tat phát
tâm Bô Ðề.
Lúc ấy đức
Phật Nguyệt Ðang Vương lại bảo hai vị Bồ Tát rằng: “
Này thiện nam tử! Ông dùng vô trụ mà trụ, vô xứ mà trụ,
ở nơi tất cả pháp lý thú, thiện xảo phương tiện an lập.
Này thiện
nam tử! Tất cả các pháp cũng lại như vậy. Vì tùy thuận
thế tục đạo mà đức Như Lai hiện chứng Vô thượng Bồ
Ðề. Nếu là ở nơi đức Như Lai thì chẳng theo thế tục
đế cũng lại như vậy.
Này thiện
nam tử! Các pháp không có xứ cũng chẳng phải không có xứ.
Nếu là xứ và không có xứ đều là theo thế tục. Nếu theo
thế tục thì ở trong ấy không có chút pháp để có thể
sanh, để có thể thấy được.
Này thiện
nam tử! Vì thế nên phải siêng năng tu tập ở nơi các pháp
được chứng giải thoát.
Hai vị Bồ
tát ấy ở trước đức Nguyệt Ðăng Vương Như Lai nghe pháp
ấy rồi, hai Ngài bay lên hư không nói kệ khen ngợi đức
Phật:
Pháp vương
bất tư nghì
Ðượcpháp
vị tằng hữu
Ðấng Biến
Tri Lưỡng Túc
Phật pháp
không quá trên
Do vì pháp
vô thượng
Như lai đời
không bằng
Tất cả
pháp vô sanh
Nay con được
nhẫn ấy
Con thường
chẳng phân biệt
Hoặc sanh
hoặc vô sanh
Cũng chẳng
niệm như vậy
Tất cả
vô phân biệt
Pháp Vương
Ðại Mâu Ni
Công đức
rời ngôn niệm
Xin nói pháp
thanh tịnh
Khiến chúng
đều hoan hỉ
Nơi thắng
đức của Phật
Muốn biết
vi tế ấy
Dầu trải
vô lượng kiếp
Cũng chẳng
thể biết được
Vì công
đức vô biên
Tối thắng
không quá trên
Tất cả
pháp vô sanh
Con cũng
chẳng phân biệt
Con ở trong
Phật pháp
chưa từng
có hủy hoại
chẳng nói
các thiện căn
Thế nào
có thể được
Các pháp
không thị hiện
Không sanh
cũng không tướng
Vô tướng
nhẫn như vậy
Ở đây
cũng đều chứng
Nay nhẫn
của con được
rốt ráo
không thối chuyển
Nên ở nhứt
thiết trí
Do đây sanhhoan
hỷ
Nơi pháp
của Như Lai
con quyết
định không nghi
Cũng nơi
tất cả pháp
Rời xa những
nghi hoặc
Trong Phật
Pháp Vô Thượng
Nay con được
nhẫn ấy
Con cũng
chẳng phân biệt
Cũng không
chẳng phân biệt”.
Hai vị Bồ
Tát ấy nói kệ xong, đi nhiễu bên hữu đức Nguyệt Ðăng
Vương ba vòng, đem hoa trời hương trời rải trên đức Phật.
Ðức Nguyệt
Ðăng Vương Như Lai liền thọ ký rằng: Các ông Vân Âm và
Vô Biên Âm quá hai muôn kiếp sẽ chứng Vô Thượng Bồ Ðề.
Hai vị Bồ
Tát ấy nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở qua sát kỹ
đức Phật rồi nhập các thiền định du hí thần thông ẩn
hiện tự tại khói lửa phát sáng. Hai Ngài lại vì chúng sanh
thuyết pháp khai thị khiến hai muơi bốn câu chi Nhơn Thiên
hướng đến Vô thượng Bồ đề.
Hai vị Bồ
Tát ấy trọn đời siêng tu phạm hạnh, ở nơi trung thời
và hậu thời chánh pháp của đức Nguyệt đăng Vương đều
có thể hộ trì. Trong thời kỳ ấy lại giáo hóa thành thục
bốn câu chi chúng sanh hướng đên Vô thượng Bồ đề.
Quốc độ
của Bửu Tràng Như Lai thanh tịnh, không có hàng Thanh Văn chỉ
có những bực nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.
Lúc Bửu
Tràng Như Lai sắp nhập diệt mới thọ ký cho Vân Âm Bồ Tát
kế sẽ thành Phật hiệu là Nhựt Ðăng Vương Như Lai, cõi
nước thành tựu trang nghiêm chứa nhóm vô lượng vô biên
công đức, Bồ Tát Thanh Văn đại chúng viên mãn. Sau
khi đức Nhựt Ðăng Vương Như Lai diệt độ, Vô Biên Âm Bồ
Tát kế sẽ thành Phật”.
Ðức Phật
phán tiếp: “Nầy Vô Biên Huệ Do vì pháp môn nầy vô sở
đắc, vô ngôn thuyết nên chẳng thể hiển bày được, không
sanh không diệt. Chư đại Bồ Tát phải đúng như lý
chuyên cần tu tập.
Nếu có Bồ
Tát an trụ nơi tất cả pháp lý thú thiện xảo phương tiện
an lập, dùng vô sở đắc được vô sanh nhẫn viên mãn Phật
pháp. Dùng vô lượng công đức để làm trang nghiêm mà hướng
đến Vô thượng Bồ đề.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ta chẳng bao giờ nói chư đại Bô Tát rời ngoài pháp
ấy mà có riêng chút pháp nào có thể mau thành tựu nhứt
thiết chủng trí.
Nếu có ai
ở nơi pháp không thậm thâm vô sanh vô diệt ây mà siêng tu
tập thì chóng được Bồ Tát pháp giới lý thú thiện xảo
phương tiện và đà la ni, đầy đủ vô ngại biện tài vô
thượng nhiếp hóa, được chư phật Thế Tôn đều khen
ngợi, dùng pháp nghiêm cụ để trang nghiêm, có thể viên mãn
bố thí, an trụ thanh tịnh trì giới, được thanh tịnh nhẫn,
vô thượng tinh tiến, vô duyên thiền định, dùng đại trí
huệ hướng đến Vô thượng Bồ đề, ở trong những thắng
pháp là tối thù thắng, chóng được gọi là bực nhứt thiết
trí, ngồi nơi đạo tràng, bốn Ðại Thiên Vương mang lọng
báu đến thỉnh chuyễn pháp luân, làm ánh sáng lớn cho hàng
Nhơn Thiên, đều làm cho họ hướng đến Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy
Vô Biên Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát có thể ở nơi nhứt
thiết pháp hải ấn tam muội mà siêng tu tập, thấy tất cả
pháp đồng với pháp giới. Lúc thấy như vậy, chẳng ở nơi
pháp giới thấy tất cả pháp, chẳng ở nơi tất cả pháp
thấy pháp giới mà tinh tiến tu tập. Do tất cả pháp các
giới hòa hiệp, thiện xảo phương tiện ở nơi tất cả pháp
các giới hòa hiệp mà không chấp trước, cũng không sở động
nơi tất cả pháp các giới hòa hiệp, thiện xảo phương tiện
cũng không chấp trước cũng không phân biệt. Có thể ở trong
tất cả pháp hòa hiệp mà thấy một pháp hòa hiệp.
Chẳng ở trong một pháp hòa hiệp mà thân cận tất cả pháp
hòa hiệp. Vì có thể biết rõ một pháp ấy nên cũng có thể
biết rõ tất cả các pháp. Vì có thể biết tất cả
pháp nên ở nơi một pháp ấy chỗ đáng được biết rõ cũng
có thể biết rõ. Chẳng đem các pháp thân cận một pháp.
Ở nơi trong các thủ uẩn hòa hiệp đều có thể biết rõ.
Chẳng ở nơi các thứ tánh tướng của các thủ uẩn, hoặc
có hòa hiệp hoặc không hòa hiệp mà sanh chấp trước.
Lúc thật
hành như vậy, nếu có các pháp do các nhơn duyên hòa hiệp
mà sanh, nếu có các pháp do các nhơn duyên hòa hiệp mà thành,
nơi các pháp ấy đều có thể biết rõ. Nếu có các
pháp nhơn duyên hòa hiệp do nhiều thứ tánh tương ưng nhau
mà khởi, nơi các pháp ấy cũng có thể biết rõ, cũng không
chấp trước mà tùy thuận biêt rõ. Tướng thi thiết của
tất cả pháp cũng có thế biết rõ, hoặc là tướng hoặc
là vô tướng cũng biết rõ
Các giới
sai biệt, các giới nhiều thứ tánh tướng sai biệt cũng có
thể biết rõ lấy gì làm nhơn.
Chẳng dùng
phiền não để thân cận hướng đến các pháp duyên khởi.
Ở nơi pháp
thế gian, pháp xuất thế gian, chẳng có chống trái mà tùy
thuận biết rõ.
Tất cả
pháp thế gian và pháp xuất thế gian, tướng ấn thế gian,
đều khắp biết rõ.
Dùng một
pháp môn mà có thể biết rõ tất cả pháp môn. Dùng tất
cả pháp môn lại có thể biết rõ một pháp môn.
Chẳng dùng
các pháp môn để thân cận một pháp môn, cũng chẳng
dùng một pháp môn để thân cận các pháp môn. Pháp môn như
vậy đều có thể tịnh trị cả.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ở trong các phap ấy, chư đại Bồ Tát siêng tu tập,
dùng một môn lý thú ngôn giáo mà có thể biết rõ tất cả
các pháp tánh đồng một vị, ở nơi các pháp được thắng
vô tránh như lý tịch tịnh, chẳng còn chống trái, có thể
ở giữa đại hội khen nói pháp ấy, siêng năng tu tập được
nhứt thiết pháp hải ấn tam muội. Tu tập như vậy, hoặc
có tránh luận hoặc không tránh luận đều làm cho tịch tịnh,
như lý mà an trụ, tùy thuận dứt trừ kiêu mạn và phóng
dật, ở nơi giáo thuyết quyết định có thể khéo thọ trì,
những danh ngôn sai biệt cũng có thể biết rõ, với pháp giới
lý thú thì phương tiện siêng tu, nơi các pháp môn khéo yên
lặng gẫm nhớ sẽ dùng pháp gì tương ưng với pháp gì hoặc
là chẳng tương ưng, có thể dùng phương tiện nơi nghĩa quyết
định an trụ thanh tịnh niệm.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ở nơi pháp môn ấy, chư đại Bồ Tắt an trụ như vậy,
dùng chút ít gia hạnh được nhứt thiết pháp hải ấn tam
muội. Dùng vô lượng pháp hải ấn tam muội ấy để hướg
đến Vô thượng Bồ để “.
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng:
“Ông xem
tất cả pháp
Chảy vào
trong pháp giới
Các pháp
đồng pháp giới
Lý thú đều
bình đẳng
Lại xem
nơi pháp giới
Chảy vào
trong pháp giới
Pháp giới
đồng các pháp
Lý thú cũng
bình đẳng
Chẳng ở
trong pháp giới
Quan sát
tất cả pháp
Cũng chẳng
rời pháp giới
Mà thấy
tất cả pháp
Chằng ở
trong các pháp
Quan sát
nơi pháp giới
Cũng chẳng
rời các pháp
Mà thấy
nơi pháp giới
Biết rõ
các thứ giới
Pháp giới
các thứ tánh
Tất cả
pháp hòa hiệp
Thiện xảo
không chổ trụ
Tất cả
thời và xứ
Các thứ
tánh hòa hiệp
Không trụ
không sở y
Cũng không
có sở thủ
Hòa hiệp
tánh sai biệt
Phân biệt
chẳng phân biệt
Nơi hai ấy
đều không
Người trí
thấy bình đẳng
Vì biết
một hòa hiệp
Nên biết
các hòa hiệp
Vì biết
các hòa hiệp
Nên biết
một hòa hiệp
Hòa hiệp
chẳng hòa hiệp
Một tánh
sai biệt tánh
Chẳng thân
cận phân biệt
Cũng không
chấp không trước
Biết rõ
tất cả pháp
Pháp ấy
không hòa hiệp
Cũng chẳng
niệm hòa hiệp
Không chấp
không sở trước
Biết rõ
tất cả chủng
Tướng thi
thiết của nó
Cũng chẳng
niệm thân cận
Không chấp
không sở trước
Nghiệp và
nghiệp quả báo
Tất cả
đều biết được
Nơi ấy
chẳng chống trái
Ðây là
người tinh tiến
Nghiệp và
kẻ tác nghiệp
Tướng hòa
hiệp của hai
Biết tướng
vô tướng ấy
Ðây là
người tinh tiến
Nơi các
giới hòa hiệp
Các giới
tánh sai biệt
Biết nó
thường bình đẳng
Ðây là
người tinh tiến
Tướng nhơn
quả hệ thuộc
Tất cả
đều biết được
Nơi các
duyên pháp ấy
Mặc giáp
như lý trụ
Biết được
pháp xuất thế
Nơi các
pháp thế gian
Không có
chút trái nhau
Trụ bình
đẳng như vậy
Cũng biết
pháp thế gian
Nơi các
pháp xuất thế
Cũng không
chút trái nhau
Trụ bình
đẳng như vậy
Thế gian
chỗ nên làm
Tất cả
các tướng ấn
Tùy thuận
hay quan sát
Trụ bình
đẳng biết khắp
Hay dùng
một pháp môn
Biết rõ
các pháp môn
Cũng dùng
các pháp môn
Biết rõ
một pháp môn
Chẳng dùng
một pháp môn
Thân cận
các pháp môn
Chẳng dùng
các pháp môn
Thân cận
một pháp môn
Trong tất
cả pháp môn
Bình đẳng
khắp thanh tịnh
Nơi pháp
không dị tướng
Ðây là
người quan sát
Nơi các
pháp ngôn giáo
Mà hay bình
đẳng nói
Thường
trụ tánh bình đẳng
Ðây là
người quan sát
Nơi các
pháp ngôn giáo
Như lý hay
thấy biết
Bèn được
khéo tương ưng
Ðây là
người phương tiện
Chẳng phát
khởi tránh luận
Chẳng làm
duyên tránh luận
Tất cả
chẳng trái nhau
Ðây là
người tương ưng
Thường
phát khởi vô tránh
Vô tránh
được tương ưng
Bình đẳng
chẳng trái nhau
Ðây là
người trí huệ
Ở trong
pháp lý thú
Dứt hẳn
các tránh luận
Mặc giáp
như lý tu
Ðây là
người dũng mãnh
Khắp quan
sát như vậy
Thuần một
không trái cãi
Ðược ở
trong pháp hội
Khen nói
pháp vô thượng
Chư Bồ
Tát nhu vậy
Thành tựu
tất cả pháp
Ðại hải
ấn tam muội
Ðây là
người chánh niệm
Siêng tu
tập như vậy
Thuần một
không trái cãi
Dứt
tránh luận tương ưng
Thành tựu
tam muội ấy
Như lý mà
an trụ
Hăy biết
thuyết bí mật
Biết ngã
và ngã mạn
Dứt mạn
tuyệt căn cao
Trong ngôn
giáo quyết định
Thành tựu
thiện phương tiện
Cũng biết
danh sai biệt
Ðây là
người có trí
trong các
pháp lý thú
Như lý siêng
tu tập
Hay thấy
các pháp môn
Ðây là
người thấy pháp
Siêng tu
tập như vậy
Hay biết
tất cả pháp
Pháp gì
cùng tương ưng
Pháp gì
chẳng tương ung
Trong tất
cả các pháp
Người niệm
nghiệp thanh tịnh
Ðược ở
nghĩa quyết đinh
Mà được
thiện phương tiện
trong tất
cả các pháp
Người tinh
tiến tư duy
Biết rõ
tất cả pháp
Mới được
tam muội ấy ”.
Ðức Phật
phán tiếp: “Lại nầy Vô Biên Huệ Ở trong pháp ấy,
chư đại Bồ Tát siêng tu tập lại có pháp năng nhiếp tam
muội.
Lắng nghe
lắng nghe! Ông phải khéo suy nghĩ. Ta sẽ giải thuyết cho ».
Ngài Vô Biên
Huệ đại Bồ Tát bạch : « Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Con
xin muôn được nghe.
Ðức Phật
phán : « Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát có môn
pháp quang minh có thể xuất sanh chư pháp lý thú thiện xảo
phương tiện, cũng hay xuất sanh tất cả pháp ấn, hay nhập
môn tất cả pháp ấn. Nơi tất cả pháp chỗ đáng được
làm thì có thể biết có thể vào. Nơi pháp quang minh có thể
được có thể nói. Dùng pháp quang minh tùy thuận thẳng vào
môn chư pháp cú.
Gì gọi là
môn pháp quang minh mà có thể xuất sanh thiện xảo quang minh?
Ðó là hay
biết rõ giáo môn dị danh, giáo môn bí mật, sự môn dị danh,
sự môn nhiếp thủ, các môn sai biệt.
Thế nào
ở nơi đó mà được biết rõ thì có thể xuất sanh môn tam
muội, môn tất cả pháp giới lý thú, nhập vào nơi một nghĩa
có thể tùy theo biết rõ các pháp quang minh.
Này Vô Biên
Huệ! Nơi các pháp lý thú thiện xảo phương tiện thâm thâm
ấy, chư đại Bò Tát hoặc hiện nay tu hành, hoặc sẽ tu hành,
hoặc hiện nay cầu, hoặc sẽ cầu, nghe pháp môn ấy dùng
chút ít gia hạnh được đại quang minh nhập vào các
pháp môn. Từ pháp môn ấy lại phát khởi quang minh. Dùng quang
minh ấy tùy theo pháp môn nào, tùy theo sở hành nào đáng vào
đáng làm. Như pháp môn ấy, dùng sức tam muôị quan sát các
pháp môn, nơi môn tam muội xuất sanh trí huệ mà có thể biết
rõ lý thú như thiệt. Vì sức tam muội, vì quan sát pháp môn,
vì sanh trí huệ, dùng môn tam muội biết rõ pháp giới an trrụ
thiện phương tiện hay phát khởi quang minh tất cả pháp môn,
được tất cả pháp hải ấn tam muội.
Nầy Vô Biên
Huệ! Thế nào là pháp môn ?
Ðó là ấn
chữ A, ấn tất cả pháp vô minh làm ra. Công hạnh được
viên mãn, chữ A làm đầu.
Vì ngăn dứt
vô minh không có sở tác, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn vô tướng.
Dùng ấn
chữ Ả, ấn tất cả pháp nghiệp dị thục quả, nghiệp chỗ
làm ra nghiệp quả hòa hiệp, vì biết rõ nghiệp quả hòa
hiệp duyên, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn
vô duyên không nghiệp không quả không hòa hiệp.
Dùng ấn
các hành ấn tất cả pháp, vì phát khởi tất cả pháp trí
quang minh nơi các thứ nghiệp, nghiệp chỗ làm ra, nên chư
đại Bố Tát phải nhập vào ấn môn tất cả các hành thiện
xảo, dùng ấn chữ NẢ ấn tất cả pháp.
Dùng chữ
MẠ trợ giúp thi thiết danh môn, dùng các thứ pháp mà làm
tương ưng, vì biết rõ NẢ và MẠ trợ giúp lẫn nhau nên
chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô hiệp vô trợ
vô danh.
Dùng ấn
vô biên ấn tất cả pháp, tất cả phân biệt là bất khả
đắc, vì rời phân biệt, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn vô phân biệt.
Dùng ấn
vô tế ấn tất cả pháp tế chẳng hòa hiệp, vì tận nơi
tế, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn vô tầm
vô từ vô ngôn thuyết.
Dùng ấn
không các thứ tự tánh ấn tất cả pháp, vì dùng tướng
khởi tác của một tự tánh dứt trừ các thứ tự tánh tưởng,
nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn chủng chủng
tự tánh.
Dùng ấn
muốn tương ưng hòa hiệp ấn tất cả pháp, vì hiện khởi
hữu vi các công hạnh viên mãn ly dục tịch tịnh không hòa
hiệp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn môn trí tận
tham dục thấy không hòa hiệp.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ðó là ấn môn đại Bô Tát ấn tất cả pháp. Do ấn
môn nầy mà phải nhập vào trong tất cả pháp.
Nầy Vô Biên
Huệ! Lại còn có môn vô chướng ngại, môn vô hòa hiệp,
mà chư đại Bồ Tát phải tùy theo ngộ nhập.
Thế nào
là môn vô chướng ngại, môn vô hòa hiệp? Dùng hư không ấn
ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập vào ấn
môn vô trước.
Dùng ấn
không nhàn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn vô nhị.
Dùng ấn
tịch tịnh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn chỉ tức.
Dùng ấn
vô môn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn bất động.
Dùng ấn
vô xứ ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn vô nhiễm.
Dùng ấn
tánh không ấn tất cả pháp nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn vô đắc.
Dùng ấn
vô tướng ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tátphải nhập
vào ấn môn thiện xảo tu tập phương tiện.
Dùng ấn
vô nguyện ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn thiện tịch tịnh nguyện quang minh.
Dùng ấn
vô tham ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn khắp biết phân biệt như thiệt.
Dùng ấn
vô sanh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn sanh chánh trí thấy vô sanh.
Dùng ấn
tịch diệt ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn ly uẩn.
Dùng ấn
tận tướng ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải
nhập vào ấn môn sanh tận.
Dùng ấn
pháp giới ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn hiển hiện pháp giới thiện xảo.
Dùng ấn
vô niệm ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn thiệt vô phân biệt bình đẳng.
Dùng ấn
ly tánh ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn biết khắp tất cả tự tánh.
Dùng ấn
Niết Bàn ấn tất cả pháp, nên chư đại Bồ Tát phải nhập
vào ấn môn như thiệt tịch tịnh thuận diệt.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ðó là chư đại Bồ Tát ở nơi môn tất cả pháp
vô chướng ngại, môn chẳng hòa hiệp, môn vượt quá tất
cả đọan kiến thường kiến, môn vô biên tế, môn tiền
hậu tế, vì yểm ly vậy, vì tịch diệt vậy, vì chỉ tức
vậy, vì thanh lương vậy.
Chư đại
Bồ Tát ở nơi ấn môn tất cả pháp ấy tùy học tùy nhập.
Vì khéo tu hành các pháp môn ấy mà được nhứt thiết pháp
hải ấn tam muội.
Tam muội
ấy tương ưng với ly như thiệt có thể nhiếp trí chư pháp
thiện phương tiện.
Vì thế nên
với ấn môn ấy, chư đại Bồ Tát phải khéo tu hành, an trụ
nơi nhứt thiét pháp hải ấn tam muội quan sát tất cả pháp
mà có thể xuất sanh vô lượng vô biên ánh sáng đại pháp.
Nầy Vô Biên
Huệ! Ví như biển lớn, nước nhiều vô lượng, không ai có
thể lường được dung lượng ấy.
Tất cả
pháp cũng như vậy, trọn không có ai đo lường được.
Lại như
biển lớn, tất cả các dòng nước đều chảy vào trong ấy.
Tất cả
các pháp vào trong pháp ấn cũng như vậy. Thế nên gọi là
hải ấn, ấn tất cả pháp đều vào trong tất cả pháp hải
ấn, ở trong ấn ấy thấy tất cả pháp đồng pháp ấn.
Lại như
đặi long và các chúng rồng, các chúng thân to lớn có được
biển lớn vào được biển lớn, nơi biển lớn ấy dùng làm
chỗ ở.
Cũng vậy,
chư đại Bồ Tát ở nơi vô lượng trăm ngàn kiếp khéo tu
các công hạnh mới nhập được ấn môn tam muội ấy, dùng
ấn môn ấy làm trụ xứ, vì muốn chứng được các Phật
pháp, vì khéo viên mãn Nhứt thiết trí nên thành tựu các
pháp ấn môn như vậy.
Lúc chuyên
cần tu học pháp môn ấy, chư đại Bồ Tát có thể tu học
tất cả pháp môn và thấy tất cả pháp môn.
Vì ở tại
pháp môn ấy nên có thể phát khởi ánh sáng các pháp, vào
trong biển tất cả pháp.
Vì thế nên
pháp ấy gọi là nhứt thiết pháp hải ấn tam muội.
Lại như
biển lớn là chỗ chứa họp những trân bửu lớn.
Cũng vậy,
tam muội ấy là chỗ chứa họp tất cả pháp và pháp thiện
xảo.
Nầy Vô Biên
Huệ! Nếu có chúng sanh nào vì được tri kiến vô thượng
của Phật, với tam muội ấy, hoặc đã cầu, hoặc sẽ cầu,
hoặc hiện nay cầu, thì người ấy có thể cầu trí huệ
nhứt thiết pháp hải viên mãn.
Do nghĩa ấy
nên ta đem pháp ấn ấy phó chúc nơi ông.
Ðời mạt
thế năm trăm năm sau, lúc chánh pháp diệt, ông dùng pháp ấn
ấy để ấn các chúng sanh.
Vì chúng
sănh nào được pháp ấn ấy ấn cho thì đều được chẳng
thối chuyễn nơi Vô thượng Bồ đề, thành tựu Phật pháp
chóng ngồi đạo tràng chuyễn pháp luân vô thượng nối thạch
giống Phật, tùy thuận an trụ nơi bực nhứt thiết trí, có
thể ở nơi Ðại bát Niết Bàn vô thượng mà bát Niết Bàn,
khiến hàng Trời, Người thọ trì chánh pháp.
Nầy Vô Biên
Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát muốn nhiếp lấy vô lượng công
đức thù thắng như vậy, thì ở nơi pháp thậm thâm ấy phải
chuyên cần ưa thích và không phóng dật.
Lại nầy
Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa quá vô lượng a tăng kỳ kiếp,
lại quá bội số ấy, có đức Phật ra đời hiệu là Siêu
Quá Tu Di Quang Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Kiếp ấy
tên là Thiện Trụ. Quốc độ tên là Duyệt Ý.
Trong kiếp
ấy, chúng sanh thọ mạng chẳng hạn lượng được, an ổn
giàu đủ, đều an trụ nơi thiện pháp. Vì thế mà kiếp ấy
có tên là Thiện Trụ.
Cõi nước
ấy rộng rãi nghiêm sức nhiều thứ đẹp lạ, người thấy
đều vui hòa đẹp dạ, hương thơm lan khắp mọi nơi. Vì thế
nên quốc độ ấy có tên là Duyệt Ý.
Trong bốn
châu thiên hạ, ba châu đồng rộng tám muôn do tuần, trong
mỗi châu có hai vạn thành. Mỗi thành rộng mười do tuần.
Chỉ có châu
Diêm Phù Ðề rộng một câu chỉ do tuần, có tám vạn thành,
mỗi thành rộng hai mươi do tuần, những lâu đài tường rào
khắp nơi, các thứ y thọ, vị thọ, hoa thọ, quả thọ, bửu
đa la thọ trang nghhiêm thành ấp.
Trong nước
ấy lại có tòa đô thành rộng rộng trăm do tuàn, hai muôn
khu vườn bao bọc quanh thành. Trong các khu vườn có những
đầm ao đầy nước trong mát, hoa đẹp trái ngọt sum suê,
hương thơm la µn khắp làm đẹp ý mọi người, chim muông
hót kêu hòa nhã.
Thuỡ ấy
đức Phật Siêu Quá Tu Di Quang Vương Như Lai ngụ trong một
khu vườn thuyết pháp cho đại chúng.
Này Vô Biên
Huệ,! Ðức Siêu Quá Tu Di Quang Vươong Như Lai thọ mười tiểu
kiếp. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, chánh Pháp trụ thế
mãn một tiễu kiếp.
Thuở ấy,
đức Phật Siêu Quá Tu Di Quang Vương thuyết pháp bốn hội.
Mỗi pháp hội các chúng Thanh Văn trụ bực hữu học đều
cớ năm trăm câu chi na do tha. Chư a la hán và chư Bồ Tát đều
có năm mươi câu chi na do tha.
Ðức Như
Lai ấy có hai vị Bồ Tát tên Dũng Mãnh Quân và Dũng Mãnh
Lực.
Hai vị Bồ
Tát ấy đầy đủ thần thông, được vô sanh nhẫn. Hai vị
tiến lên bạch đức Phật ấy rằng:
Bạch đức
Thế Tôn! Dùng những pháp gì để thành tựu nhứt thiết pháp
hải ấn tam muội của đại Bồ Tát?
Ðức Phật
ấy đem cú môn này mà rộng tuyên thuyết. Lúc nói pháp ấy,
có mưòi ngàn Bồ Tát được vô sanh nhẫn. Hai vị Bồ Tát
Dũng Mãnh Quân và Dũng Lực chứng nhất thiết pháp hải ấn
tam muội và chứng nhứt tam muội và chứng tất cả tam muội
của Bồ Tát. Do chứng như vậy, hai vị Bồ tát ấycó thể
ở trong tất cả Phật độ hiển hiện thần thông biến hóa,
phóng ánh sáng lớn, phát diệu âm thanh tịnh thuyết pháp cho
chúng sanh và thành thục được tám câu chi người hứơng
đến Vô thượng Bồ đề.
Ðức Siêu
Quá Tu Di Quang Vương Như Lai thọ ký cho hai vị Bồ Tát ấy
quá một trăm kiếp ấy, mỗi mỗi kiếp đều cúng dường
phụng thờ năm trăm Như Lai. Nơi chánh pháp của chư Như Lai
ấy, sơ thời, trung thời và hậu thời đều có thể thọ
trì làm lợi ích lớn cho chúng sanh. Trong thời gian ấy thường
nhứt tâm bất loạn, mỗi đời đều thọ hóa sanh, chẳng
thối thất tam muội thần biến thuyết pháp độ các chúng
sanh.
Quá trăm
kiếp, hai vị Bồ Tát ấy lại gặp đức Vô Biên Công đức
Như Lai, cúng dường thân cận, khéo hay du hí vô lượng tam
muội thần biến giải thóat. Ở chỗ đức Vô Biên Như Lai,
hai vị Bồ Tát ấy có tên là Ly Ưu và Thiện Trụ, theo đức
Như Lai chuyển chánh pháp luân, giáo hóa vô lượng vô số
chúng sanh cho an trụ bực tam thừa. Ðức Như Lai ấy lại thọ
ký rằng:
Sau khi ta
diệt độ, Ly Ưu sẽ chứng Vô thượng Bồ Ðề hiệu là Tối
Thắng Quang Minh Như Lai. Hai đức Như Lai ấy đồng thọ một
kiếp. Quốc độ chứa họp vô lượng công đức.
Này Vô Biên
Huệ! Nếu chư đại Bồ Tát nhứt thiết pháp hải ấn tam
muội thì phải phát tâm lòng ưa thích, khởi đại tinh tiến
chẳng tiếc thân mạng, dùng chẳng pháong dật để tu hành”.
Lúc đó trong
đại chúng lại có đại Bồ Tát tên là Huệ Nghĩa rờichỗ
ngồi tiến lên bạch rằng:”Bạch đức Thế Tôn! Rất hi
hữu, đức Thế Tôn vì muốn chư đại Bồ Tát được nhứt
thiết pháp trí thiện xảo và được Như Lai Nhứt thiết trí,
mà nói nhứt thiết pháp tam muội.
Bạch đức
Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát được nhứt thiết pháp hải
ấn tam muội thì quyết định sẽ được chư pháp lý thú
thiện xảo phương tiện, mau đến đạo tràng dùng biển lớn
vô biên công đức ấy mà hướng đến Vô Thượng Bồ Ðề,
cùng tăng đồng hàng. Có thể tiêu được sự cúng dường
Như Lai tối thượng, vượt quá bực Thanh Văn, Bích chi Phật.
Ðức Thế
Tôn phán bảo Huệ Nghĩa đại Bồ Tát : « đúng như lời ông
nói. Nầy Huệ Nghĩa! Chư đại Bồ Tát được nhứt thiết
hải ấn tam muội thì được vô lượng công đức thù thắng.
Nếu an trụ ở nhứt thiết pháp hải ấn tam muội, thì có
thể dùng chư pháp lý thú thiện xảo phương tiện quyết định
hướng đến Vô thượng Bồ đề.
Nầy Huệ
Nghĩa! Ví như núi Tu Di Vương do các chất báu hiệp thành,
mọc lên từ đại hải, cao tám muôn bốn ngàn do tuần đứng
sừng sững chói sáng.
Cũng vậy,
chư đại Bồ Tát do tam muội ấy khéo hướng đến phát xuất
từ biển lớn tạng nhứt thiết pháp chói che tất cả, an
trụ vô thượng, trong Trời Người thế gian rất tột sáng
chói.
Lại như
mặt trăng tròn sáng, tinh tú bao quanh.
Cũng vậy,
chư đại Bồ Tát có thể ở trong tất cả đại chúng Trời
Người thế gian làm ánh sáng lớn.
Nầy Huệ
Nghĩa! Ông xem pháp ấy có ai là chẳng ưa thích, chẳng phát
khởi tinh tiến mà lại phóng dật! Chỉ trừ những chúng sanh
hạ liệt phước bạc. Nếu các chúng sanh có đại trí huệ
thì có thể thành tựu pháp rộng lớn ấy. Pháp rộng lớn
ấy đầy đủ công đức được chư đại Bồ Tát nhiếp thủ
như ta đã nói. Nếu có thể nhiếp được pháp tài rộng lớn
ấy thì được sự thị vệ của hàng Trời và Người, và
sự hộ niệm của mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát
».
Ðức Thế
Tôn bảo ngài Vô Biên Huệ đại Bồ Tát : « Nầy Vô
Biên Huệ! Nếu siêng tu học pháp ấy, chư đại Bồ Tát có
thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh, trừ hết tất cả sự
nghi hoặc, giải tất cả kiết sử, dứt bỏ các tập khí,
đọan trừ các phiền não, vượt những tham ái, qua khỏi biển
sanh tử, diệt hẳn tối tăm, rời hẳn kinh sợ, mau dùng thiện
xảo biết được tâm của tất cả chúng sanh ».
Nói lời
ấy xong, đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy chiếu
khắp vô số thế giới, sáng hơn cả ánh sáng của tất cả
mặt trời mặt trăng.
Phóng ánh
sáng ấy rồi, đức Phật lại phán : « Nầy Vô Biên Huệ!
Chư đại Bồ Tát nếu có thể siêng tu hải ấn tam muội,
cũng hiện đại thần biến, phóng đại quang minh, làm đại
su tử hống diễn thuyết pháp ấy, vượt quá tam giới làm
đại chiếu minh như ta ngày nay không khác ».
Ngài Vô Biên
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn! Ngưỡng
mong đức Như Lai gia trì pháp ấy. Ðời mạt thế, nếu có
chúng sanh nào nghe tên pháp ấy sẽ được vô lượng vô biên
công đức. »
Bấy giờ
vì muốn gia trì pháp môn ấy, đức Thế Tôn lại phóng quang
minh, lấy một ngón tay làm chấn động khắp cõi Ðại Thiên
khiến các chúng sanh được an lạc. Liền dó trong pháp hội,
hàng Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn
Na La, Ma Hầu La Già rãi hoa trời, y trời. Các kỹ nhạc trời
đồng thời hòa tấu. Vô lượng chư Thiên tay cầm y trời
phất phới đầy trong hư không đồng thanh xướng rằng : Lạ
thay, lạ thay! Cảnh giới chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu
có ai thọ trì pháp ấy thì kham thọ sự cung kính lễ lạy
của tất cả chúng sanh.
Bấy giờ
đức Thế Tôn lại phán rằng : « Nầy Vô Biên Huệ! Thời
kỳ mạt pháp, chúng sanh bạc phước chẳng được nghe giáp
trụ trang nghiêm và tam muội trang nghiêm ấy. Nếu có chúng
sanh nào có thiện phương tiện nhiếp đại tư lương mới
được nghe.
Nếu ở nơi
pháp ấy, ai siêng tu hành thì được tam thế chư Phật Thế
Tôn nhiếp thọ.
Nầy Vô Biên
Huệ! Thời kỳ đại bố úy thuở mạt thế, pháp môn nầy
ta phó chúc các ông. Ta ở trong vô số câu chi na do tha kiếp
chứa họp các tạng pháp bảo vô thượng đầy đủ công đức
vô biên an lạc, hiện nay các ông đều đã được, tất cả
khổ uẩn các ông đều đã xả bỏ. Các ông dùng biển lớn
vô biên công đức để chóng đến Vô thượng Bồ đề. »
Ngài Vô Biên
Huệ đại Bồ Tát cùng năm trăm đại Bồ Tát và các cư sĩ
Hiền Hộ thương chủ làm thượng thủ đồng đảnh lễ chưn
đức Phật, bạch rằng : « bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi
tùy theo năng lực mà thọ trì pháp đại Bồ đề của đức
Như Lai để làm lợi ích lớn cho các chúng sanh đời mạt
thế . »
Chư đại
Bồ Tát đều rời chỗ ngồi đem những hoa đẹp rãi trên
đức Phật, cởi diệu y trên thân dâng lên cúng dường mà
bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đem thiện
căn nầy hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Nguyện cho tất
cả chúng sanh đều được viên mãn pháp Bồ đề phần thành
tựu nhứt thiết chủng trí của Như Lai. Nguyện cho chúng
sanh đời mạt thế đều thành tựu tât cả thiện căn ».
Vì muốn
tất cả đại Bồ Tát hoan hỷ, đức Thế tôn nói kệ rằng
:
« Vì tất
cả chúng sanh
Phát khởi
lợi ích lớn
Trì Phật
Bồ đề pháp
Pháp Vương
sư tử hống
Trong đời
mạt thế sau
Nếu những
người cầu pháp
Nghe pháp
rộng lớn ấy
Tất cả
được an lạc
Như ta đã
từng nói
Nếu người
thấy pháp ấy
Nghe được
khế kinh ấy
Thì được
tùy ý thích
Nếu có
người trí huệ
Tu tập thiện
phương tiện
Nghe pháp
tối thượng ấy
Thân tâm
rất vui mừng
Nếu ở
pháp hội nầy
Hiện tiền
thấy ta nói
Ðược nghe
pháp ấy rồi.
Khéo có
thể ưa thích
Trong đời
mạt thế sau
Sanh phước
lớn cho ông
Vô số vô
biên lượng
Rộng lớn
không ngằn mé
Trong đời
mạt thế sau
Nếu ai thọ
trì được
Pháp của
Pháp Vương nói
Ðược đức
Phật nhiếp thọ
Trong đời
mạt thế sau
Trì pháp
Phật Bồ đề
Chính là
người tối hậu
Trì pháp
vô lượng Phật”.
Lúc đức
Thê Tôn nói pháp ấy rồi, có vô lượng Bồ Tát được vô
sanh nhẫn, vô lượng chúng sanh thành thục thiện căn.
Ngài Vô Biên
Huệ đại Bồ Tát và chư đại Bồ Tát, tất cả thế gian,
Trời, Người, A Tu La v. v…nghe lời dạy của đức Phật đều
rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI
MẶC GIÁP TRANG NGHIÊM
THỨ BẢY
HẾT