|
|
|
|
|
I.
Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi
|
|
|
|
|
|
II.
Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm
|
|
|
|
|
|
|
|
III.
Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
IV.
Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử
|
|
|
|
|
|
V.
Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai
|
|
|
|
|
|
c
GIÁO
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
KINH ÐẠI BẢO TÍCH
Việt
dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất
bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
III
PHÁP HỘI
MẬT TÍCH KIM CANG
LỰC SĨ
THỨ BA
(Hán bộ
từ quyển thứ tám đến hết quyển thứ mười bốn)
Hán dịch:
Tây Tấn, Nguyệt Thị, Pháp Sư Trúc Pháp Hộ
Việt dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Tiếp Theo
Trang 1
Thưa
Ngài Tịch Ý ! Thân Phật ấy từ vô số sự đều theo duyên
mà hiển hiện thấy khác.
Thân Phật
ấy không có ngằn mé, cũng là vô hạn vô ngại, không vọng
tưởng, chẳng thể tưởng được, chẳng thể hạn định
được.
Thân Phật
ấy không có ngần ấy hình tượng, không có chỗ nào chẳng
khắp.
Ví như hư
không, chẳng có vọng tưởng.
Cũng vậy,
thân Phật vĩnh viễn không tư tưởng.
Ví như hư
không vào khắp tất cả hình sắc.
Cũng vậy,
thân Phật khắp soi tất cả chúng sanh.
Ví như hư
không khắp vào các sắc, cùng khắp trong ấy.
Cũng vậy,
thân Phật soi khắp chúng sanh, không chỗ nào chẳng khắp.
Ví như hư
không, trưởng dưỡng tất cả cỏ cây trăm giống lúa.
Cũng vậy,
thân Phật chí chơn trưởng dục tất cả cội công đức.
Ví như hư
không chẳng kể là thường hay vô thường, cũng không
có ngày đêm.
Cũng vậy,
thân Phật chẳng thường, chẳng vô thường, chảng ai thấy
được đỉnh đầu Phật.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đức Phật Thế Tôn hiện khắp trên cõi trời và
trong thế gian.
Ma Vương
và Phạm Thiên không ai dám đương diện với Phật để xem
đỉnh đầu Ngài .
Chư Thiên,
Long Thần, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu
La Già, Người và Phi nhơn, cho đến bực Thanh văn, bực Duyên
Giác cùng chư Bồ Tát không ai kham nhiệm thấy được đỉnh
đầu Phật.
Do đâu biết
được như vậy ?
Sau khi thành
đạo, đức Phật đến thành Ba La Nại chuyển pháp luân.
Lúc ấy
ở phương Đông cách đây rất xa có thế giới tên Hoài Điều,
Phật cõi ấy hiệu Tư Di Hoa. Trong thế giới Hoài Điều ấy
có một vị Bồ Tát tên là Ưng Trì đến cõi Ta Bà này để
kính cẩn cúng dường đức Phật và thưa hỏi. Bồ Tát Ưng
Trì lễ chơn đức Phật rồi đi nhiễu bảy vòng, xong Ngài
đứng lại trước đức Phật.
Lúc ấy
Bồ Tát Ưng Trì nghĩ rằng tôi muốn đo biết thân lượng
của Như Lai.
Bồ Tát
Ưng Trì liền tự biến thân mình cao ba trăm ba mươi sáu muôn
dặm, nhìn lên thân đức Phật thấy cao năm trăm bốn mươi
ba muôn triệu cai hai muôn ức dặm. Ngài tự nghĩ tôi đã được
thần túc thông tự tại, tôi lại đo lường thân đức Phật
cao lớn thế nào ? Nương oai đức của Phật, Bồ Tát Ưng
Trì dùng thần túc bay lên phương trên cách đây trăm ức hằng
hà sa quốc độ, đến thế giới Liên Hoa Nghiêm, cõi ấy có
Phật hiệu Liên Hoa Thượng, là đấng Như Lai chí chơn đẳng
chánh giác hiện đương thuyết pháp.
Ưng Trì
Bồ Tát dừng lại nơi ấy nhìn ra xa vẫn không thấy được
đỉnh đầu của Thích Ca Mâu Ni Phật, chẳng biết được
thân Phật cao lớn rộng xa bao nhiêu.
Lúc ấy
Ưng Trì Bồ Tát đến đảnh lễ Phật Liên Hoa Thượng đi
nhiễu ba vòng, ở trước Phật bạch rằng : « Bạch đức
Thế Tôn ! Tôi từ cõi Ta Bà đến đây, chẳng rõ xa gần bao
nhiêu ? ».
Đức Phật
Liên Hoa Thượng nói : « Cõi Ta Bà cách đây trăm ức hằng
hà sa thế giới, ông từ cõi ấy mà đến đây ».
Ưng Trì
Bồ Tát thưa : « Bạch đức Thế Tôn ! Tôi bay lên trên đến
ngần ấy thế giới mà vẫn chẳng thấy đỉnh đầu của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chẳng rõ thân đức Phật ấy cao
lớn bao nhiêu trăm ngàn ức hằng hà sa thế giới ? ».
Đức Phật
Liên Hoa Thượng nói : « Này thiện nam tử ! Ông dùng sức
thần túc từ đây lại bay lên trên trải qua hằng hà sa kiếp
vẫn còn chẳng thấy được đỉnh đầu đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, cũng chẳng biết được ngằn mé của thân Phật
ấy.
Này thiện
nam tử ! Phải biết thân Phật vô hạn vòi vọi như vậy chẳng
ví dụ được.
Vì không
có gì so sánh nên nói là chẳng thể ví dụ được.
Cấm giới
của Như Lai cũng không thể ví dụ được .
Tam muội
chánh định, trí huệ, giải thoát, tri kiến giải thoát, thân,
khẩu, và ý ba nghiệp cùng các tướng hảo của Như Lai đều
chẳng ví dụ được .
Tất cả
chúng sanh dùng bao nhiêu phẩm loại ví dụ ca ngợi cấm giới,
chánh định, trí huệ, giải thoát, tri kiến giải thoát, thân,
khẩu, và ý cùng các tướng hảo của Như Lai thì cũng như
là hư không, chẳng đến ngằn mé được.
Thân của
đức Như Lai vô hạn tế dường ấy ».
Lúc ấy
Ưng Trì Bồ Tát nghe lời phán dạy của đức Liên Hoa Thượng
Như Lai rất đỗi vui mừng được sự chưa từng có, liền
đảnh lễ chưn Phật đi nhiễu bảy vòng, nương oai đức của
Phật, dùng thần lực của mình, trong khoảng phát ý niệm,
mất nơi cõi nước Liên Hoa Nghiêm kia mà hiện đến cõi Ta
Bà này, qua chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, đảnh lễ chưn Phật,
đi nhiễu bảy vòng, rồi ở trước Phật nói kệ ca ngợi
rằng :
“Muốn
biết rõ thân Phật
Ngằn mé
là dường bao
Tôi bay lên
phương trên
Vô lượng
hằng sa cõi
Muốn thấy
đỉnh đầu Phật
Bay mãi lên
phương trên
Đến thế
giới Liên Hoa
Vẫn chẳng
thấy được đỉnh
Thế giới
kia có Phật
Hiệu là
Liên Hoa Thượng
Biết ý
muốn của tôi
Nên vì tôi
giảng nói :
Nếu dẫn
những ví dụ
Để luận
Phật Thế Tôn
Thì chẳng
thuận Phật giáo
Là hủy
báng Như Lai
Nếu muốn
biết ví dụ
Như hư không
vô hạn
Chư Phật
pháp bình đẳng
Thiệt không
có ngằn mé
Giới, định,
huệ của Phật
Giải thoát,
trí giải thoát
Nghiệp sắc
thân cũng vậy
Như hư không
vô hạn
Muốn xem
đỉnh đầu Phật
Đồng như
xem hư không
Như hư không
trùm khắp
Thân Phật
khắp cũng vậy
Như hư không
trùm khắp
Phật quang
chiếu khắp nơi
Phật quang
chiếu chỗ nào
Có ngôn
từ cũng vậy
Ngôn từ
đến chỗ nào
Tâm Phật
khắp cũng vậy
Như tâm
Phật khắp đến
Lòng từ
ban khắp chốn
Như lòng
từ khắp ban
Trí huệ
cũng cùng khắp
Như trí
huệ soi khắp
Thân Phật
khắp dường ấy
Công đức
cũng như vậy
Đạo tâm
cũng chẳng khác
Như công
đức đạo tâm
Biết sắc
thân cũng vậy
Như tất
cả chúng sanh
Hưởng thọ
phước đức phẩm
Một người
phát đạo tâm
Phước đức
cũng ngần ấy
Như người
phát tâm kia
Có công
đức danh xưng
Nếu ai thọ
chánh pháp
Công đức
hơn phát tâm
Dầu tất
cả chư Phật
Trăm ức
kiếp giảng nói
Chẳng hết
được ngằn mé
Công đức
trì chánh pháp
Có ai phát
đạo tâm
Mà hộ trì
chánh pháp
Người thích
hiểu không vô
Công đức
hơn người trên.
Vì thích
hiểu không vô
Thì chẳng
mất đạo tâm
Chấp trì
pháp tôn thượng
Huệ này
mới hòa đồng
Đến được
pháp lý này
Bồ Tát
dũng mãnh tu
Được đến
công đức Phật
Phụng tu
Phật đạo hạnh”.
Lúc Ưng
Trì Bồ Tát nói kệ, cả ức thế giới chấn động, trăm
ngàn ức chư Thiên trổi ngàn ức kỹ nhạc. Vô số ngàn người
phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ lại nói : « Thưa Ngài Tịch Ý ! Về thân Như
Lại bí yếu ấy, nếu các chúng sanh đều họp chung một pháp
hội, hoặc có người thấy được thân Như Lai, hoặc có người
chẳng thấy được.
Người thấy
được thì vui mừng nhìn xem thân Như Lai. Người chẳng được
thấy thì nín lặng mà quán xét.
Như Lai chẳng
ăn mà chúng sanh đều thấy đức Như Lai uống ăn.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Như có Thiên Tử tên Tinh Lực mới được thọ đạo.
Thiên Tử ấy lấy bát đựng cơm của Như Lai đem cấp cho
những kẻ đói thiếu.
Mọi người
đều đến ra mắt đức Như Lai mà ăn, thấy đức Như Lai
cầm cơm lên đưa cơm vào trong miệng, cơm tự nhiên lại trở
vào bát.
Thuở xa
xưa, đức Như Lai gieo trồng những cội công đức, sanh ở
chỗ nào cũng bố thí cho những kẻ đói thiếu.
Những người
đói khổ không được ăn, đức Như Lai xót thương đem đồ
ăn đến cho.
Aên xong
những thức ăn ấy, họ đều được thân thể khỏe mạnh,
tiêu trừ trần lao hết vọng tưởng, tâm họ nhơn hòa, phát
tâm Vô thượng Bồ đề.
Vì thế
nên phải biết rằng đức Như Lai chẳng ăn. Đức Như Lai
chí chơn lấy pháp làm món ăn.
Tại sao
vậy ? Vì thân của đức Như Lai là thân kim cương chẳng phá
hoại được.
Thân của
Như Lai không có sanh tạng cũng không có thục tạng, không
có đại tiện, tiểu tiện bất tịnh, cũng không có đàm dãi
nhơ uế.
Thân của
Như Lai như màu vàng tử ma, không khiếp không nhược, chẳng
có kinh sợ.
Ngài Tịch
Ý thử xem xét thân của Như Lai không gì sánh bằng, rất đẹp
lạ bền vững như chất kim cang, mà lại dịu mềm như thiên
y mịn nhuyễn.
Có lúc thân
của Như Lai hiển hiện sự vi diệu vô thượng. Chư Thiên
Ngọc nữ đảnh lễ chưn đức Phật, chạm chưn đức Phật
cảm thấy tột mền không gì ví dụ được, họ đều phát
tâm Vô thượng Bồ đề xa rời trần cấu.
Hoặc có
người tham dâm, người sân hận, người ngu si, người đẳng
phần thấy thân của Như Lai. Mắt của họ vừa thấy thì
những phiền não tham, sân, si và đẳng phần của họ đều
được tiêu trừ, không còn trần cấu.
Hoặc có
những người tham lam, phạm giới, sân hận, lười biếng,
loạn tâm, ngu si được thấy thân của Như Lai thì khiến họ
trở thành những người bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, nhứt tâm, trí huệ.
Tóm lại,
những người xa rời pháp lành mà thấy thân của Như Lai thì
bỏ được tâm bất thiện mà tu công đức.
Lấy tâm
chẳng vọng tưởng để nhìn xem nơi đức Như Lai mới gọi
là chơn đạo.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đó là thân đức Như Lai bí yếu vậy.
Đức Như
Lai ứng hiện biến hóa tự tại, dùng pháp khai hóa hiểu biết
tâm ý của chúng sanh mà thuyết pháp cho họ được giải thoát.
Đối với
chúng sanh kia, đức Như Lai vốn không tác không hành, chưa
bao giờ đức Như Lai chí chơn nghĩ rằng tôi sẽ hóa hiện
thân hình.
Những chúng
sanh được hóa độ tâm họ tự quan niệm rằng :
Đức Như
Lai chí chơn ở trước chúng tôi. Từ vô số thế giới, đức
Như Lai đến thế giới nầy. Từ thân Như Lai phóng quang minh
vô lượng màu sáng. Quang minh ấy chiếu suốt hằng hà sa quốc
độ. Chúng sanh do quang minh ấy mà được khai hóa.
Vì thế
nên ở Như Lai không có tác nghiệp, không có công hạnh.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Thân của Như Lai bí yếu, bao nhiêu là tâm niệm,
bao nhiêu là sự ban bố tuyên thuyết, bao nhiêu là thành tựu
chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chẳng thể tính kể
được sự bí yếu của thân Như Lai ».
Lúc nói
thân hành bí yếu của Như Lai, có mười ngàn người phát
tâm Vô thượng Bồ đề, tám ngàn Bồ Tát được vô sanh pháp
nhẫn.
Chư Thiên,
A Tu La, người thế gian khen Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ : Lành
thay ! Lành thay !
Nhạc trời
chẳng trổi tự kêu. Hư không mưa hoa trời.
Đức Thế
Tôn đặt tay mặt lên đỉnh đầu Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ
mà khen rằng : « Lành thay ! Lành thay ! Khéo nói thân của Như
Lai bí yếu như vậy. Lời Mật Tích tuyên nói ấy như lời
Phật dạy không khác ».
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ nói với Ngài Tịch Ý Bồ Tát : « Thế nào
là khẩu bí yếu của đức Như Lai ?
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Từ đêm nào đức Như Lai thành tối chánh giác đến
lúc nhập Vô dư Niết bàn, khoảng thời gian ấy đức Như
Lai thi thố một văn tự bèn có thể ban bố tuyên thuyết phân
biệt tất cả vô hạn nghĩa lý, vô số ức năm giảng diễn
khắp các pháp.
Tại sao
vậy ?
Đức Như
Lai thường định.
Đức Như
Lai chí chơn không thở ra hít vào, không tư niệm, không chỗ
làm, không tư tưởng.
Dầu miệng
tuyên thuyết, nhưng đức Như Lai vẫn không tưởng niệm không
chỗ làm.
Chỗ làm
của đức Như Lai không làm không chẳng làm, không lời không
nói, chẳng nghĩ tưởng có người.
Đức Thế
Tôn chỗ nói tất cả tam muội chánh thọ siêu việt đều
dùng văn tự mà phân biệt diễn thuyết.
Tất cả
chúng sanh đều riêng cho rằng : đức Như Lai vì tôi mà giảng
nói kinh pháp.
Đức Như
Lai ban một âm thanh đều khắp tất cả chỗ tưởng chỗ niệm
của tất cả chúng sanh, không ai là chẳng vui đẹp.
Ngôn từ
của Như Lai phát ra sáu mươi phẩm âm thanh sai khác . Những
là âm thanh cát tường, âm thanh êm diu, âm thanh đáng ưa, âm
thanh thanh tịnh đẹp ý, âm thanh rời cấu nhơ, âm thanh rõ
sáng, âm thanh vi diệu, âm thanh nghe rõ, âm thanh không rối
loạn, âm thanh không huyên náo, âm thanh bực thầy, âm thanh
không cứng rắn, âm thanh không thô xẵng, âm thanh thiện thuận,
âm thanh an trọng, âm thanh hòa lành, âm thanh theo tâm đúng
lúc, âm thanh vui vẻ, âm thanh gợi lòng yêu an ổn, âm thanh
không nhiệt não, âm thanh đứng đắn, âm thanh thức đạt,
âm thanh thân cận, âm thanh ý thích, âm thanh mừng rỡ, âm
thanh dạy dỗ hiền hòa, âm thanh rõ ràng, âm thanh siêng cần,
âm thanh nhẫn nại, âm thanh lớn rõ, âm thanh vang trừ ô uế,
âm thanh như sư tử rống, âm thanh như rồng gầm, âm thanh
như mưa tốt, âm thanh như sấm dậy, âm thanh chơn đà la kỹ,
âm thanh như chim loan hót, âm thanh như chim ưng kêu, âm thanh
chim hạc ré, âm thanh kỳ vức, âm thanh như tiếng chim anh vũ,
âm thanh như sét nổ, âm thanh chẳng mất, âm thanh chẳng bạo,
âm thanh vào trong tất cả tiếng vang, âm thanh chẳng phi thời,
âm thanh không thiếu, âm thanh không khiếp, âm thanh sung sướng,
âm thanh thông sướng, âm thanh giới cấm, âm thanh ngon ngọt,
âm thanh tiến hành, âm thanh rộng khắp, âm thanh đầy đủ,
âm thanh các căn không sức mẻ, âm thanh chẳng nhẹ mau, âm
thanh vô trụ, âm thanh vang vào khắp các chúng hội, âm
thanh tuyên bày các công đức. Đó là sáu mươi phẩm âm thanh
của đức Như Lai.
Âm thanh
của đức Như Lai thông khắp mười phương thế giới của
chư Phật làm vui đẹp lòng tất cả chúng sanh.
Đức Như
Lai không có tâm tưởng niệm rằng tôi sẽ vì chúng sanh mà
miệng tuyên nói kinh trường hàng, kinh trùng tụng, kinh kệ
tụng, kinh bổn sanh, kinh bổ sự, kinh tự thuyết, kinh nhơn
duyên, kinh phương quảng, kinh vị tằng hữu, kinh thí dụ,
kinh luận nghị, kinh thọ ký, ban bố xa gần cho họ hiểu biết,
tuyên thuyết pháp nghĩa để khai hóa họ.
Lại ở
trong các chúng hội, đức Như Lai chí chơn tuyên thuyết pháp
nghĩa. Thân cận bên đức Phật có các chúng Tỳ Kheo, Tỳ
kheo Ni, thanh tín sĩ, thanh tín nữ, chư Thiên, Long Thần, Càn
Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn,
Phi nhơn. Chúng hội ấy, tùy theo căn tánh, chỗ tu tinh tiến,
tùy pháp sở thích mà làm cho họ được nhập đạo. Do thuận
nhập đạo nên tìm cầu chúng sanh bèn rõ biết không có nhơn
mà giáo hóa họ.
Các chúng
sanh ấy tự nghĩ rằng âm thanh từ miệng đức Như Lai phát
ra.
Đức Như
Lai chẳng riêng rẽ thuyết pháp cho họ, mà tùy theo tâm
họ sai khác, ngôn ngữ đúng lúc mỗi mỗi đều nghe pháp mà
được tỏ ngộ. Đây gọi là khẩu bí mật của đức Như
Lai.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Vô số chúng sanh tâm hành chẳng kể được. Ngôn
ngữ của họ có đến tám muôn bốn ngàn. Dìu dắt hạng chúng
sanh hạ liệt vô minh tối tăm ấy vào chánh pháp của Như
Lai cho họ được khai ngộ.
Lại tâm
hành của chúng sanh chẳng hạn lượng được.
Nếu có
chúng sanh hoặc tham dâm, hoặc sân hận, hoặc ngu si, hoặc
đẳng phần, đức Như Lai tùy theo thời nghi vào trong đó để
cứu tế cho họ được vô sở trụ. Nhưng đức Như Lai không
có tâm niệm vào trong chúng sanh vì họ phân biệt hành nghiệp
tội phước, dùng quyền phương tiện đều vì họ nói pháp
riêng khác.
Chúng sanh
vô hạn chẳng thể đếm kể tính lường được, chỗ làm
của họ chẳng đồng, đức Như Lai thiện quyền phương tiện
ban tuyên bao nhiêu phẩm pháp.
Lời dạy
của đức Như Lai đều khắp vào tâm họ, tùy theo bổn hạnh
của họ mà tuyên bố đạo nghiệp cho họ đều được hiểu
biết nhập đạo. Đây thời gọi là sự bí yếu của đức
Như Lai.
Hoặc có
vị Bồ Tát vào trong bí yếu của đức Như Lai, những vị
ấy chẳng biết mà cho rằng đức Như Lai chí chơn diễn nói
môn hữu vi. Nhưng thiệt thì pháp của đức Như Lai đều là
vô vi.
Lại đức
Như Lai tuyên một âm thanh.
Chúng sanh
tưởng là có ngôn thuyết bèn chỉ tưởng nhớ ưa thích âm
thanh của đức Như Lai mà hư vọng tưởng nhớ chỗ được
nói.
Chẳng nên
có quan niệm như vậy. Mà phải biết rằng miệng của đức
Như Lai vĩnh viễn không có nói năng.
Tại sao
vậy ?
Hoặc có
chúng sanh nghe âm thanh của Như Lai phát ra từ tướng
bạch hào giữa chặng hai chưn mày lại cho là ở đỉnh đầu,
hoặc có người tưởng là tóc, biết là màu xanh biếc, đứng
nơi giữa trời, mắt rất sáng đẹp.
Mọi người
chẳng kham nhìn kỹ đức Như Lai được.
Sở dĩ hiện
ra cho họ thấy, là để tiêu trừ các điều sái quấy, bỏ
những tâm ganh hại. Nếu thấy cổ, vai , cánh tay thì trừ
các họa ngầm. Nếu thấy ngón tay, hoặc hông, hoặc có ngợi
khen từ lưng đến chưn, hoặc là bụng, rún, âm tàng, gối,
bắp chưn thì hết sân hận, hoặc do đó mà được có những
tướng tốt hơn hẳn thế gian.
Hoặc có
người tưởng niệm đức Như Lai chí chơn nghe âm thanh của
đức Như Lai, tùy theo căn tánh lợn độn và sở thích của
họ chỗ đáng được độ mà khai hóa.
Đức Như
Lai khai diễn âm thanh giáo hóa chúng sanh đều làm cho họ vào
đạo.
Dầu vậy
nhưng đức Như Lai cũng không có tưởng niệm.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Ví như nhạc khí, điều chỉnh âm giai, lấy tay đánh
đó phát ra tiếng nhạc du dương thanh thoát. Không phải tại
nơi nhạc khí làm ra âm thanh ấy. Đều do nơi các duyên hòa
hiệp mà có tiếng hay.
Cũng vậy,
ngôn từ của đức Như Lai khai hóa tâm chúng sanh, do họ mà
thuyết giáo.
Với những
chúng sanh ấy, đức Như Lai diễn thuyết không có riêng tư,
đều do túc duyên đã tạo lập công hạnh mà có thành quả
đặc biệt lạ lùng.
Ở nơi chúng
sanh, đức Như Lai siêu tuyệt nguy nguy là do sự đặc biệt
lạ lùng sẵn từ trước.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Ví như tiếng kêu to có âm vang đến xa. Aâm vang
ấy chẳng ở tại trong, chẳng ở tại ngoài, chẳng ở chặng
giữa.
Cũng vậy,
đức Như Lai phát âm khai hóa tâm chúng sanh. Lời lẽ ngôn
giáo ấy chẳng từ nơi thân phát ra, cũng chẳng phải từ
nơi tâm, chẳng trong, chẳng ngoài, chẳng từ chặng giữa.
Ví như trong
đại hải có minh châu như ý phát ánh sáng làm vừa ý tất
cả mọi người. Nếu đặt minh châu ấy trên đầu ngọn phướng
chiếu khắp thành thị, tùy theo lòng cầu muốn của mọi người,
minh châu ấy hiện ra bảo vật đồ dùng vừa theo ý muốn
của mọi người. Minh châu ấy vẫn không có tưởng niệm.
Cũng vậy,
đức Như Lai bửu tâm thanh tịnh nắm tràng đại bi, theo căn
tánh của chúng sanh không đâu là chẳng ứng, đều làm cho
họ được khai ngộ. Dầu hiển thị giáo hóa như vậy nhưng
cũng không có tưởng niệm.
Đây là
sự tuyên giáo bí yếu của đức Như Lai ».
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ lại nói với Ngài Tịch Ý Bồ Tát : « Tôi
xem khắp trên trời và trong thế gian, các Ma Vương, Phạm Thiên,
Sa Môn, Phạm Chí, chư Thiên và nhơn dân đều chẳng thể hạn
lượng được âm thanh văn từ đức cũa Như Lai tuyên ra.
Tại sao
vậy ?
Như chính
tôi nhớ lại ngày trước đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn đây
ở tại núi Linh Thứu, có chư Bồ Tát quyến thuộc vây quanh.
Có hội thuyết pháp tên là Tràng Tịnh Âm do Di Lặc Bồ Tát
kiến lập. Đức Thế tôn rộng vì chúng hội mà ban bố pháp
âm.
Lúc ấy
Ngài Đại Mục Kiền Liên nghĩ rằng tôi muốn thử biết coi
âm vang của đức Như Lai đến bao xa.
Liền
đó Ngài Đại Mục Kiền Liên từ chỗ Ngài ngồi bỗng biến
mất, Ngài hiện đứng trên đỉnh núi tu Di vẫn nghe âm thanh
của Như Lai như ở gần trước mắt. Ngài bèn dùng thần lực
bay đi đến cuối mé ngoài tam thiên Đại Thiên thế giới,
đứng trên đỉnh núi Đại Thiết Vi tột mé ngoài, vẫn còn
nghe tiếng nói của Như Lai như cũ không khác, vẫn như gần
bên chớ chẳng phải xa.
Lúc đó
sanh đức Như Lai nghĩ rằng ông Đại Mục Kiền Liên muốn
thử âm thanh tịnh của Như Lai. Ta nên trợ hiển thần túc
cho ông ấy.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên nương oai thần của đức Như Lai, dùng thần
túc của Ngài bay qua thế giới phương Tây xa đến qua khỏi
chín mươi chín hằng hà sa thế giới của chư Phật.
Nơi ấy
có thế giới tên Quang Minh Phan, đức Phật ở thế giới ấy
hiệu Quang Minh vương Như Lai chí chơn đẳng chánh giác hiện
đương thuyết pháp.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên đến thế giới Quang Minh Phan ấy mà vẫn nghe
âm thanh của đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni như tiếng nói của
người đối diện.
Đức Phật
Quang Minh Vương ấy thân hình cao bốn mươi dặm. Chư Bồ Tát
thân hình cao hai mươi dặm.
Bát đựng
đồ ăn của chư Bồ Tát cao một dặm.
Lúc ấy
Ngài Đại Mục Kiền Liên đi vòng trên vành bát.
Chư Bồ
Tát bạch đức Phật Quang Minh Vương :
Bạch đức
Thế Tôn ! Con trùng nầy từ đâu đến, mình nó mặc y phục
Sa Môn đang đi trên vành bát.
Đức Phật
Quang Minh Vương Như Lai bảo chư Bồ Tát ấy :
Các thiện
nam tử ! Cẩn thận chớ sanh lòng khinh mạn hiên giả ấy.
Ngài tên Đại Mục Kiền Liên, là vị đệ tử thần thông
đệ nhứt trong hàng Thanh Văn tại pháp hội của đức Thích
Ca Mâu Ni Phật ở Ta Bà thế giới.
Đức Quang
Minh Vương Phật bảo Ngài Đại Mục Kiền Liên :
Chư Bồ
Tát ở cõi nước ta và các Thanh Văn thấy thân ông nhỏ thấp
nên có lòng khinh mạn. Ông nên tự hiển thần thông mà nương
oai đức của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên rời vành bát đến trước đức Phật Quang
Minh Vương đảnh lễ dưới chưn, đi quanh bảy vòng rồi bạch
rằng :
Bạch đức
Thế Tôn ! Nay tôi muốn thân nầy kiết già ngồi tại đây
được chăng ?
Đức Phật
nói :
Tùy ý ông
muốn.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên liền bay vọt lên hư không cao trăm ức trượng,
hiện làm một chiếc giường báu, tự ngồi kiết già trên
giường ấy.
Từ giường
báu ấy rũ thòng ức trăm ngàn triệu xâu chuỗi bửu châu.
Mỗi viên bửu châu trên mỗi chuỗi phóng trăm ngàn tia sáng.
Mỗi tia sáng đều có hoa sen báu. Trên tất cả hoa sen báu
đều hiện có Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi tuyên thuyết pháp
âm thanh tịnh đồng như đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Hiện thần
thông xong, Ngài Đại Mục Kiền Liên trở lại trước đức
Phật Quang Minh Vương.
Chư Bồ
Tát bên ấy được chưa từng có, bạch đức Phật rằng :
Bạch đức
Thế Tôn ! Ngài Đại Mục Kiền Liên do việc gì mà đến thế
giới Quang Minh Phan nầy ?
Đức Phật
nói với chư Bồ Tát bên ấy :
Vì muốn
biết âm vang của đức Thích Ca Mâu Ni Phật xa bao nhiêu nên
ông ấy bay đến đây.
Đức Phật
Quang Minh Vương bảo Ngài Đại Mục Kiền Liên :
Ông chẳng
nên thử âm vang của đức Như Lai chí chơn.
Âm vang của
Như Lai vô hạn, không có xa gần, mà ông muốn biết chừng
hạn thì rất lầm.
Dầu cho
ông có dùng thần túc đi qua phương Tây mãi không ngừng quá
hằng ha sa kiếp, cũng chẳng biết được chừng hạn âm vang
của Như Lai.
Âm vang của
chư Phật Thế Tôn rộng xa vô hạn, siêu tuyệt vô lượng
chẳng gì ví dụ được.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên sụp lạy xám hối rằng :
Bạch Thế
Tôn ! Đúng vậy, tôi thiệt kém sáng suốt. Aâm thanh của Phật
vô lượng, mà tôi lại ngang bướng sanh lòng muốn biết chừng
hạn xa gần.
Đức Phật
Quang Minh Vương bảo Ngài Đại Mục Kiền Liên :
Ông đi quá
xa, vượt qua khỏi chín mươi chín hằng hà sa thế giới mà
đến cõi nầy.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên bạch :
Bạch đức
Thế Tôn ! Rất xa rất xa. Nay thân tôi quá nhọc mệt chẳng
thể trở về được.
Đức Phật
nói :
Ý ông nghĩ
thế nào, phải chăng ông tự dùng thần lực mà đến được
đây ?
Ông chớ
quan niệm như vậy. Phải biết đó là do oai đức của Phật
Thích Ca Mâu Ni nên ông mới có thể đến đây được.
Ông phải
vói đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, oai thần của đức
Phật ấy sẽ đem ông về đến bổn quốc.
Giả sử
ông tự dùng thần lực, dầu đi suốt một kiếp cũng về
không đến. Lúc ông về đến sẽ không kịp thấy Thích Ca
Mâu Ni Phật nhập diệt.
Ông nghĩ
thế nào, ông có biết phải từ hướng nào để trở về
chăng ? Bổn quốc Ta Bà ở hướng nào chăng ?
Ngài Đại
Mục Kiền Liên thưa :
Bạch đức
Thế Tôn ! Tôi quên mất phương hướng, thiệt chẳng biết
bổn quốc ở chỗ nào, ở hướng nào.
Đức Phật
dạy :
Đức Thích
Ca Mâu Ni Phật ở về hướng Đông.
Liền lúc
ấy, Ngài Đại Mục Kiền Liên hướng về phương Đông, vói
kính lễ đức Thích Ca Mâu Ni Phật, rồi quỳ chắp tay nói
kệ rằng :
Đấng Tôn
quý của trời người
Oai đức
vòi vọi rất lớn
Trời và
người đều cung kính
Xin rũ lòng
thương xót tôi.
Âm vang Phật
suốt vô lượng
Trí huệ
Phật không ngằn mé
Xin hiển
hiện cõi Ta Bà
Tôi muốn
về đến bổn quốc.
Lúc ấy
tại núi Linh Thứu, các Ngài Xá Lợi Phất v.v... nghe tiếng
xướng kệ của Ngài Đại Mục Kiền Liên đều rất ngạc
nhiên.
Ngài A Nan
bước lên bạch đức Phật :
Bạch đức
Thế Tôn ! Ai tuyên kệ quy lễ đức Thế Tôn như vậy ?
Đức Phật
nói :
Nầy A Nan
! Đó là Đại Mục Kiền Liên ở tại thế giới Quang Minh
Phan của đức Phật Quang Minh Vương Như Lai chí chơn cách cõi
nầy chín mươi chín hằng hà sa thế giới về phương Tây.
Ông ấy muốn trở về đây nên tuyên kệ kính lễ.
Ngài A Nan
lại hỏi :
Bạch đức
Thế Tôn ! Duyên cớ gì mà Ngài Đại Mục Kiền Liên đến
thế giới Quang Minh Phan ấy ?
Đức Phật
nói :
Nầy A Nan
! Chờ Đại Mục Kiền Liên về tới, ông sẽ hỏi ý ấy.
Đại chúng
đều bạch đức Phật :
Bạch đức
Thế Tôn ! Chúng tôi muốn được thấy thế giới Quang Minh
Phan và đức Quang Minh Vương Như Lai chí chơn đẳng chánh giác.
Cũng muốn được thấy Ngài Đại Mục Kiền Liên đi nơi cõi
ấy.
Đức Phật
biết lòng khao khát của chúng hội, liền từ tướng bạch
hào giữa chặng mày phóng ra tia sáng lớn tên Câu Thọ, chiếu
suốt qua chín mươi chín hằng hà sa thế giới đến cõi Quang
Minh Phan. Chúng hội đều thấy thế giới Quang Minh Phan và
đức Quang Minh Vương Như Lai chí chơn.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên thấy tia sáng của đức Phật liền gieo mình
kính lễ.
Đức Thế
Tôn Thích Ca Mâu Ni vói bảo Ngài Đại Mục Kiền Liên nương
tia sáng ấy để trở về bổn quốc.
Ngài Đại
Mục Kiền Liên nương theo tia sáng của đức Phật, trong khoảnh
khắc về đến núi Linh Thứu, đảnh lễ chưn đức Phật,
đi quanh bảy vòng, quỳ chắp tay ăn năn tự trách :
Bạch đức
Thế Tôn ! Tôi tư mê lầm. Âm vang của đức Như Lai chẳng
thể hạn lượng mà tôi lại muốn thử. Tôi đi mãi quá xa.
Đến đâu cũng vẫn nghe âm thanh của đức Như Lai y như ở
gần bên như nhau không khác.
Âm vang của
đức Như Lai thiệt là vòi vọt không ngằn mé.
Đức Phật
nói :
Đúng như
lời ông nói. Thanh âm của đức Như Lai suốt đến xa không
lấy gì ví dụ được.
Muốn biết
thanh âm của đức Như Lai vang đến xa gần, cũng như là đo
hư không muốn biết ngằn mé.
Như hư không
cùng khắp vô biên, tiếng nói của dức Như Lai vang suốt không
ngằn mé.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đương lúc nói phẩm Đại Mục Kiền Liên đi và
về, ở trong pháp hội ấy có một vạn người phát tâm Vô
thượng Bồ đề.
Đây là
ngôn từ bí mật của đức Như Lai.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Ngài nghĩ thế nào ? Tâm niệm của tất cả chúng
sanh có thể biết được chăng ? ».
Ngài
Tịch Ý Bồ Tát nói : « Tâm niệm của một người, tư tưởng
khó hạn đinh. Giả sử tất cả chúng sanh trong tam thiên Đại
Thiên thế giới suốt cả một kiếp cùng tính đếm nhiều
ít cũng chẳng biết được. Huống là tâm niệm tư tưởng
của tất cả chúng sanh !
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Tâm tưởng của tất cả chúng sanh vô hạn ngần
ấy, huống lại tâm tánh của chúng sanh không có hình tướng
chẳng thể ví dụ được ».
Khi ấy Mật
Tích Kim Cang Lực Sĩ nói kệ rằng :
« Chúng
sanh cõi Đại Thiên
Đều khiến
thành Duyên Giác
Một người
trong một kiếp
Tâm niệm
chẳng biết được.
Tất cả
tâm tưởng niệm
Đức Phật
biết rõ cả
Phật dùng
tâm vô tưởng
Đều biết
tất cả niệm.
Tùy chúng
s anh tưởng niệm
Phật tuyên
giảng kinh điển
Thanh âm
ấy tại tâm
Mà diễn
nên đạo pháp.
Như tất
cả chúng sanh
Nghĩ tưởng
các danh sắc
Một chưn
lông của Phật
Phóng Quang
Minh cũng vậy.
Như danh
sắc và tâm niệm
Của tất
cả chúng sanh
Thanh âm
của Phật diễn
Hơn số
tưởng của chúng.
Phật ban
tuyên tất cả
Dẫn dụ
kể tưởng niệm
Tiếng kia
chẳng thôi nghỉ
Lời Phật
không hạn mé.
Ai có thể
m ến lời
Không sắc
nói không nói,
Không sắc
không có nói
Tiêu diệt
không sắc trần.
Giả sử
trần không sắc
Tất cả
chẳng thể được
Do vì không
sắc trần
Rốt ráo
chẳng thể được.
Dầu nói
nhưng chẳng thiệt
Không trong
cũng không ngoài
Trần lao
đồng hư không
Nên gọi
không trong ngoài
Lời nói
chẳng thể được
Phật nói
suốt mười phương
Trần lao
cũng vô hạn
Đây kiến
lập nơi chỗ.
Lời nói
thượng trung hạ
Của tất
cả chúng sanh
Không thân
khẩu ý nghiệp
Chẳng bỏ
cũng chẳng lấy.
Dường như
xướng kỹ kia
Âm nhạc
của chư Thiên
Cũng không
thân khẩu nghiệp
Mà âm thanh
hòa khắp.
Tâm chúng
sanh cũng vậy
Vốn thanh
tịnh như thế
Phật đều
ban lời dạy
Tâm Phật
không tưởng niệm.
Ví như vang
theo tiếng
Không trong
cũng không ngoài.
Lời Phật
nói cũng vậy
Không trong
cũng không ngoài.
Vô niệm
như diệu bửu
Lời Phật
đẹp chúng sanh
Lời Phật
không vọng tưởng
Lợi ích
cho muôn loài ».
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ nói với Tịch Ý Bồ Tát rằng : « Đó là
khẩu ngôn bí yếu của đức Như Lai.
Lại khẩu
bí yếu của đức Như Lai, tùy theo âm thanh ấy mà vì chúng
sanh thuyết pháp khai hóa.
Cõi Dại
Thiên nầy giả sử có bao nhiêu loài, đức Như Lai chí chơn
tuyên bố dạy dỗ, theo tiếng nói của họ, dùng những danh
hiệu chẳng kể hết chí thành giáo hóa. Đây gọi là khổ
tập diệt đạo. Gọi là địa thần ủng hộ.
Tâm Phật
kiên cố, bổn ý ở nơi đây.
Thần chú
rằng :
A bì a bà
mâu lê, gia hà ha na di, kha ca ưu đầu.
Thần chú
nầy hộ trì tất cả, thế nên gọi là khổ tập diệt đạo.
Trong hư
không, tất cả chư Thiên đều khen lời nói ấy, đồng tuyên
chú rằng :
Hượt tri,
a hượt tri, a hượt tra ca di, a hòa ni nê lê.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả, thế nên gọi là khổ tập diệt đạo.
Chư Thiên
ở trời Tứ Vương lại nói chú rằng :
Y nê di nê,
đa bế đa đa bế, duy lô.
Thần chú
nầy cứu tất cả chúng sanh, thế nên gọi là khổ tập diệt
đạo pháp.
Chư Thiên
ở trời Đao Lợi nói chú rằng :
Kỳ hồi
chuyển, quán tập, chủ diệt tận, vi tận bất tương cử
yếu.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
ở trời Dạ Ma nói chú rằng :
Thủ lê
đạo la tư, hòa lê đạo la tê tuy tà, đạo tê tuy tà bị
hòa ni.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
trời Đâu Suất nói chú rằng :
Độc phạm
diện xúc, hồi chuyển tích súc nghiệp.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
ở trời Hóa Lạc nói chú rằng :
Sở độ
câu sở độ, hộ sở độ, chủ độ nữ.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
ở trời Tha Hóa Tự Tại nói chú rằng :
A hô sự
nghiệp hô, hòa nê di, a la ni hàm.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Phạm
Thiên nói chú rằng :
Hữu sự
nghiệp, sự nghiệp chủng, nhơn duyên thọ dĩ nhơn duyên độ.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Phạm Thân nói chú rằng :
Thanh minh,
tạo thanh tịnh, thanh tịnh phong, động thanh tịnh.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Phạm Mãn nói chú rằng :
Vô cực
để, câu tương khứ, đạo ngự chủ, niệm kiên yếu.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Phạm Độ nói chú rằng :
Hòa na hòa
na tán đề, hòa na ha ha na, hòa na câu ma na.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Đại Phạm nói chú rằng :
Mộc mật,
mộc mật tiên bỉ diệc tiên, ấn thị.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiền
Quang Diệu nói chú rằng :
Y hài hài,
tương hài khứ thân cận.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Thiểu Quang nói chú rằng :
Thị thủ
khứ, bất tương khứ, bất sử khứ, vô sở chí.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Vô Lượng Quang nói chú rằng :
Quán tập,
câu cung tập tập diệt tận, tập vô lượng.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Quang Âm nói chú rằng :
Dĩ đoạn
chung, tự tại đoạn thuận tùng hòa, thường thanh tịnh.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Ước Tịnh nói chú rằng :
Sở chí
thu, sở khả quy, cận sở đáo, dĩ cận sở đáo.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Thiểu Tịnh nói chú rằng :
Thanh tịnh,
thanh tịnh thị, tịnh phục tịnh, quy thanh tịnh.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Vô Lượng Tịnh nói chú rằng :
Vô ngã thị,
vô ngô ngã thị, phi cống cao quy tự đại.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Tịnh Nan Đệ nói chú rằng :
Giải thoát
dĩ độ, tích giải độ, bổn cận giải.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả.
Chư Thiên
Quảng Quả, chư Thiên Ngự Từ nói chú rằng :
Dĩ vô tác,
vô sở tác, trừ sở tác, sở tác cứu cánh.
Thần chú
nầy cứu hộ tất cả”.
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ nói : “Đây gọi là khổ tập diệt đạo
nên phải phụng hành, nên phải khai hóa mà theo luật giáo
hiển hiện nghiệp vi diệu vô cực.
Chư Thiên
Ly Từ, chư Thiên Giả Sử, chư Thiên Thiện Hiện, chư Thiên
Cứu Cánh, cõi Tịnh Cư có bốn trời, đó là chư Thiên Phụng
Hành Quyết Liễu Nhứt Xứ Cứu Cánh, chư Thiên Chơn Cứu Cánh,
chư Thiên Vô Sân Khuể và chư Thiên Bất Thân Cận.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Chư Thiên ấy lập thệ chí thành lợi ích chúng
sanh như vậy.
Chư quỷ
thần Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma
Hầu La Già, và quỷ thần Trì Hoa, những ngôn từ tuyên dạy
của họ đều riêng khác nhau.
Những đại
quốc ở Diêm Phù Đề nầy có một ngàn, mỗi đại quốc
đều riêng có đại quân, tất cả loài người và các hàng
phi nhơn, ngôn ngữ của họ đều khác nhau, âm thanh chẳng
đồng, lời có khinh trọng ; nhẫn đến trong biển các loài
thủy tộc và chư thủy thần, ngôn ngữ đều khác nhau, chi
tháo của họ chẳng đồng, âm thanh cũng sai khác.
Đức Như
Lai chí chơn tùy theo ngôn ngữ âm thanh của họ mà nhập vào
trong ấy rồi khai thị giáo hóa họ, xây dựng họ nơi chánh
chơn.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Cõi Đại Thiên nầy có tám mươi bốn ức trăm ngàn
triệu loài chúng sanh. Ngôn ngữ của họ đều khác nhau. Tính
kể tất cả đều quy về một nghĩa, trí huệ chí chơn, chí
thành không phẫn nộ.
Đây là
ngôn từ bí yếu của đức Như Lai.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Ngôn từ của đức Như Lai giaỉ quyết lưới nghi
của tất cả chúng sanh làm cho họ không còn kiết sử.
Tất cả
chúng sanh mười phương, chủng loại nhiều hơn đất đại
địa, gây nghiệp riêng khác, đức Như Lai đều làm cho hết
tội đến được thân loài người. Do thân người từ tư
tưởng phát sanh trí huệ biện tài dũng mãnh như Ngài Xá Lợi
Phất.
Ngôn
từ của đức Như Lai chẳng thể hạn lượng được, không
gì ví dụ được”.
Lúc nói
ngôn từ bí yếu của đức Như Lai, có hai vạn hai ngàn chúng
sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Tất cả
chúng hội được chưa từng có, tất cả đều vui mừng, từ
chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ tin thọ.
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ lại nói với Tịch Ý Bồ Tát rằng : “Thế
nào là tâm bí yếu của đức Như Lai ?
Tâm Như
Lai thanh tịnh. Do đâu mà biết như vậy ?
Tất cả
chư Thiên sanh ra do một thức huệ mà sống tám muôn bốn ngàn
kiếp. Lại thần thức của chư Thiên chẳng cải biến làm
thức khác, nhẫn đến tâm được định lại được thọ
mạng nữa. Từ thân đó chết mất, nhơn nơi hành nghiệp của
họ thọ sanh thân khác.
Như vậy,
thưa Ngài Tịch Ý ! Đức Như Lai từ lúc mới thành Phật đạo
đến ngày diệt độ, khoảng thời gian ấy, đức Như Lai không
nghi, cũng không xoay chuyển lại, tâm không suy nghĩ, không duyên
đi, tâm không có chẳng vững chắc, tâm không hiệp nơi đâu,
tâm không tán, không loạn, không dời, không đi, không gìn,
không lặng, không lỗi thời, không mê, không cầu lý, không
tối, không sanh, không mừng, không khiếp, không dừng, không
qua, không tưởng, không trông, không cầu tưởng, không tiêu
diệt, tâm không xem, không biết, không chỗ trụ, tâm
không xem tâm kẻ khác, mắt không thấy, tai không nghe, mũi
không ngửi, lưỡi không nếm, thân không chạm, tâm không tưởng
niệm, ý chẳng dựa nơi sắc thanh hương vị xúc đẹp tốt
thơm ngon mịn trơn, tâm chẳng nương theo pháp, tâm không chỗ
vui, tâm chẳng phải chẳng vui, tâm chẳng ở trong, chẳng ở
ngoài, tâm chẳng vào nơi pháp, tâm chẳng vượt trí huệ,
tâm chẳng xem quá khứ, chẳng xem tương lai, chẳng xem hiện
tại. Tâm của Như Lai là tâm thánh thanh tịnh vòi vọi. Tâm
Như Lai chẳng tạo nghiệp tội phước. Với tất cả pháp,
trí huệ không chướng ngại mà thị hiện khắp. Tâm Phật
thanh tịnh chẳng thấy tâm kẻ khác chẳng thanh tịnh. Chỗ
được thấy ấy cũng không chỗ xem. Nếu là chỗ xem cũng
không có vọng tưởng, không phóng dật, thấy chỗ được
nhìn xem cũng không chạy theo, xem có được thấy trọn không
có chỗ thấy.
Chỗ thấy
của đức Như Lai, chẳng phải nhục nhãn thấy, chẳng phải
thiên nhãn thấy, chẳng phải huệ nhãn thấy, chẳng phải
pháp nhãn thấy, chẳng phải Phật nhãn thấy, chẳng khiến
thiên nhĩ nghe, chẳng khiến xem tâm kẻ khác, chẳng tạp niệm
nhớ biết sự quá khứ, chẳng nương thần thông mà làm biến
hóa, chẳng nương sở hữu.
Các phiền
não đã hết, với tất cả pháp đều không hội hiệp, không
chỗ chướng ngại, không cát tường, không các nghiệp, vĩnh
viễn không phan duyên.
Trí huệ
Như Lai chiếu sáng mà dường như không có, đều biết rõ
tất cả tâm hành của chúng sanh, mười thứ trí lực, bốn
món huệ vô úy, mười tám pháp bất cộng, đây cũng như vậy
tiến thối không có làm, xả bỏ tâm ý thức, không xa rời
Như Lai tam muội chánh định, làm tất cả Phật sự đều
không chấp trước dường như hư không.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đức Như Lai chí chơn hóa làm tượng Như Lai. Hóa
Như Lai ấy không có tâm ý thức thân khẩu ý nghiệp, hành
động thị hiện đều chí chơn, tùy thời có thể làm Phật
sự. Hóa Như Lai không có suy tưởng, cũng không cầu nhớ.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đạo tâm cũng vậy, như Hóa Như Lai không khác. Hóa
ấy chỗ tưởng niệm không tưởng niệm, không thân khẩu
ý, nhơn duyên tiến thối, mắt nhìn thấy đó đều làm Phật
sự, cũng không chỗ có.
Gọi là
biến hóa ấy thì đều không chỗ làm, các pháp như biến
hóa.
Đức Như
Lai biết được như biến hóa mà thành bực tối chánh giác.
Đã thành bực chánh giác rồi, trí huệ của đức Như Lai
chẳng dừng ở năm ấm, mười hai nhập, cũng không mười
tám giới, chẳng dừng ở trong ở ngoài, không thiện
không bất thiện, không hiện thế, không độ thế, không có
phiền não, không có chẳng phiền não, không chán trần lao
tranh cải, chẳng ở vô vi, có số không có số, không có ba
thuở quá khứ, vị lai, hiên tại, xoay quanh qua lại chẳng
ở hữu vi có chỗ quan sát, chẳng ở vô vi. Trí huệ Như Lai
không có chỗ dừng ở như vậy.
Đức Như
Lai chí chơn đối với chí tánh của tất cả chúng sanh hiển
hiện trí huệ nhơn từ, không có tổn hại mà cứu tế nguy
ách.
Ngài
Tịch Ý phải biết, đức Như Lai bí yếu nếu có chỗ vào
ban tuyên giáo hóa không đâu chẳng khắp thấu.
Lại bí
yếu của đức Như Lai không có hạn lượng, tuyên giáo bí
mật không thể cùng tận”.
Lúc Mật
Tích Kim Cang Lực Sĩ nói phẩm Như Lai bí yếu, vô lượng số
thế giới rung động sáu cách, ánh sáng lớn chiếu đến mười
phương thấy mười phương vô lượng cõi Phật. Trời mưa
các thứ hoa, các nhạc khí chẳng đánh tự kêu. Vô lượng
số người phát tâm Vô thượng Bồ đề. Vô số Bồ Tát được
vô sanh pháp nhẫn. Vô hạn người được nhu thuận pháp nhẫn.
Vô số Bồ Tát được nhứt sanh bổ xứ.
Chư Bồ
Tát ấy vì cúng dường pháp nên đồng tung hoa dâng Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ.
Hoa được
tung lên ấy hóa thành lọng hoa. Thừa oai thần của đức Phật,
bay vòng quanh đức Phật và Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ ba vòng,
che khắp chúng hội.
Các lọng
hoa báu ấy lại dừng ở hư không ngay trên đức Phật.
Từ các
báu ấy vang ra âm thanh vô tỉ rằng :
Kính thưa
đức Thế Tôn ! Chư Bồ Tát ở hiền kiếp sai chúng tôi đến
cúng dường Đại Thánh và Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, dâng
pháp cúng dường đã ban tuyên chỗ nói bí yếu chẳng thể
nghĩ bàn của đức Như Lai chí chơn. Đều là oai thần của
đức Như Lai làm ra cả vậy.
Lúc
ấy cả chúng hội nghe những lời trên đều rất vui mừng
vòng tay đảnh lễ Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ rồi cung kính
nói rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi được lợi
lành, được rất vui mừng thấy Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ,
được nghe ngôn giáo bí yếu chẳng thể nghĩ bàn của đức
Như Lai.
Nếu có
chúng sanh nghe yếu nghĩa của kinh điển nầy mà tin ưa, bởi
gần đạo nghiệp nên chẳng hồ nghi, chưa từng do dự vào
lời huấn thị của đức Như Lai. Phải xem những người ấy
là chẳng thối chuyển, sẽ đến đạo Vô thượng chánh chơn”.
Lúc ấy
đức Phật khen Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ : “Lành thay, lành
thay ! Giỏi nói những lời ấy”.
Đức Phật
lại bảo Ngài Tịch Ý Bồ Tát : “Công huân của Như Lai rất
lạ chí chơn đủ bốn huệ vô sở úy, đúng như Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ đã ca ngợi.
Ai được
nghe pháp nầy chẳng kinh chẳng sợ, hiểu được ý nghĩa,
nếu có thể thọ trì học tập đọc tụng, vì người rộng
giảng thuyết, thì chẳng lâu sẽ được thọ ký Vô thượng
Bồ đề”.
Bấy giờ
nơi đất ở giữa chúng hội đạo tràng ấy, trước mặt
đức Thế Tôn liền nứt ra sâu sáu mươi tám trăm ngàn do
tuần, tự nhiên có vòi nước to bằng vành xe phun cao lên hư
không đến trời Phạm Thiên rưới khắp cõi Đại Thiên.
Đức Phật
bảo Ngài Tịch Ý Bồ Tát : “Ông có thấy vòi nước lớn
phun lên hư không rưới khắp cõi Đại Thiên chăng ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Tôi đã thấy. Xin đấng trời trong trời thương
xót dạy cho biết là điềm lành gì ?
- Nầy Tịch
Ý ! Ông nên biết vòi nước ấy, đất không có tư tưởng,
không có ý nứt rã, nước tự nhiên phun lên.
Các vị
pháp sư cũng vậy. Nếu thọ trì kinh pháp nầy, phụng hành
đúng theo đây, thì đều sẽ làm nứt rã sáu mươi hai thứ
tà kiến, sẽ được trí huệ biện tài.
Các vị
chánh sĩ ấy vì chúng sanh mà giỏi nói chánh pháp, làm vui
đẹp lòng đại chúng.
Lại nầy
Tịch Ý ! Người biết kinh điển như vầy đều thoát khỏi
nạn tam đồ các ác đạo”.
Lúc ấy
Ngài Xá Lợi Phất tiến lên bạch rằng : “Bạch đức Thế
Tôn ! Nay các chúng Bồ Tát trong Hiền Kiếp ở tại thế giới
chư Phật mười phương thanh tịnh tu phạm hạnh, sau khi chư
Bồ Tát ấy thành Phật, có phải vị Mật Tích Kim Cang Lực
Sĩ nầy sẽ đều tay cầm kim cang xử hầu hạ phía sau chăng
?”.
Đức Phật
nói : “Thôi đi. Nầy Xá Lợi Phất ! Việc ấy chẵng thể
nghĩ bàn được. Chư Thiên và người đời nghe được lời
ấy hoặc sẽ mê lầm việc làm của Bồ Tát, hoặc có thể
chẳng tin”.
Ngài Xá
Lợi Phất thưa : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu người hữu
học gieo trồng những gốc lành sẽ tin ưa đó. Chúng tôi đều
sẽ lãnh thọ lời giảng dạy của đức Như Lai”.
Đức Phật
phán : “Nầy Xá Lợi Phất ! Chừng ông có thấy Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ đứng hầu phía sau đúc Phật chăng ?”.
Ngài Xá
Lợi Phất thưa : “Vâng ! Tôi đã thấy”.
Đức Phật
dạy : “Đó là do thần thông lực bổn nguyện nên ông ấy
đứng hầu như vậy.
Các chúng
Bồ Tát trong Hiền Kiếp thành Phật, Mật Tích Kim Cang Lực
Sĩ thường sẽ đứng hầu cũng như đứng hầu ta vậy. Đó
là do thệ nguyện từ trước nên ông ấy có sức thần thông
tự tại như ấy.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Giả sử tất cả chúng sanh trong cõi Đại Thiên
tương lai thành Phật, đều sẽ cần hầu hạ, lúc được
thành Phật ông ấy cũng cầm kim cang xử, tự mình thị hiện
đều đứng hầu phía sau.
Dầu biến
hóa như vậy, nhưng oai đức thần thông của Chánh Sĩ ấy
chưa có tổn hao.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Ông có thấy nay Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ thường
đứng hầu phía sau Di Lặc Bồ Tát chăng ?”.
Ngài Xá
Lợi Phất thưa : “Bạch đức Thế Tôn ! Tôi đã thấy. Nhờ
thánh chỉ của đức Phật mà tôi được nghe việc từ nào
tới giờ chưa được nghe”.
Đức Phật
nói : “Nầy Xá Lợi Phất ! Ông ấy thường hầu Di Lặc Bồ
Tát mà các ông chẳng thấy thôi.
Chư Bồ
Tát ở phương khác đến cùng Đế Thích, Phạm Thiên và Tứ
Thiên Vương thấy Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ đứng hầu phía
sau Di Lặc Bồ Tát và hầu chư Bồ Tát ở Hiền Kiếp.
Di Lặc Bồ
Tát và chư Bồ Tát trong Hiền Kiếp hóa làm ức trăm ngàn
triệu chúng Bồ Tát khai thị cứu độ chúng sanh. Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ đều đứng hầu phía sau các Hóa Bồ Tát ấy.
Chánh Sĩ
Mật Tích nầy có oai đức chẳng thể nghĩ bàn, thần thông
biến hóa vòi vọi dường ấy, lục thông trí huệ chẳng có
hạn lượng”.
Lúc ấy
Ngài Tịch Ý Bồ Tát nói với Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ rằng
: “Có thể nào Ngài vui lòng nói cho biết đức Như Lai cần
tu khổ hạnh, trang nghiêm đạo thọ hàng phục quân ma mà chuyển
pháp luân gầy dựng thánh đế”.
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ nói : “Thưa Ngài Tịch Ý ! Công đức của
Như Lai chẳng thể hạn lượng. Giả sử sống lâu một kiếp
nói công đức ấy cũng không thể nói hết.
Nay tôi thừa
oai thần của đức Phật mà nói sơ lược những điều cốt
yếu.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Chỗ làm của Bồ Tát chẳng vì một sự viẹâc
mà cần tu khổ hạnh.
Vì muốn
cứu tế hàng dị học ngoại tà, từ nơi thân hành tùy nghi
hiển thị oai nghi, nhơn đó mà hóa độ được những chúng
sanh tà kiến ngoại học.
Bồ Tát
hiện thân tối thắng tôn quý đệ nhứt, siêng làm khổ hạnh
không ai bằng được, thị hiện oai nghi lễ tiết mà tất
cả hàng ngoại học tà dị không theo kịp được. Với hàng
tà ngoại ấy, Bồ Tát ở một chương cú giảng giải vô lượng
nghĩa. Hoặc hiện lên phương trên, hoặc hiện đi quanh qua
lại mặt trời mặt trăng, hoặc hiện thần thông bay đến
chỗ ở ẩn của các Tiên Nhơn, hoặc hiện làm Quốc Sư Cư
Sĩ, hoặc hiện làm Thánh Đế, Tứ Thiên Vương, Đế Thích,
Phạm Vương, Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc hiện thân khổ
hạnh nằm trên gai góc, hoặc hiện nằm trên cỏ, trên trấu,
trên đất, hoặc hiện chỗ nằm đáng sợ, không đáng sợ,
hoặc hiện ăn trái, mặc áo rách, hoặc nằm trên nước lầy,
hoặc hiện mặc áo đỏ, hoặc hiện cùng ở cùng đi với
nhóm lõa thể, hoặc hiện ăn cực, ăn đậu, ăn mè, ăn củ
cải, ăn khoai, ăn rau, ăn gai, ăn lá bông trái, ăn táo, hoặc
ngày ăn một lần, hoặc ăn hai lần, hoặc hiện thường ăn,
hoặc hiện bảy ngày ăn một lần, hoặc mười lăm ngày ăn
một lần, hoặc một tháng ăn một lần, hoặc ăn một giọt
bơ, một giọt dầu, một giọt mật, hoặc uống một giọt
nước, một giọt sữa, hoặc hiện chẳng ăn, hoặc hiện thường
đứng, hoặc hiện thường ngồi, hoặc hiện nhiều cử chỉ
khác không thể kể hết.
Đây là
những khổ hạnh mà Bồ Tát thị hiện.
Bồ Tát
hiện làm khổ hạnh đủ sáu năm, chẳng phải chỉ một hạnh
khổ, mà thị hiện đầy đủ ngần ấy thứ, lại còn siêng
tu tinh tiến vượt hơn cả khổ hạnh ấy.
Các chúng
sanh chẳng thấy hết được oai nghi cử chỉ của đức Như
Lai, cũng chẵng biết được hành vi của Bồ Tát.
Nếu có
chúng sanh có thể hành đạo đáng được hóa độ mới có
thể thấy được oai nghi cử chỉ của Bồ Tát.
Bồ Tát
hành động không có hư luống.
Đây là
Bồ Tát siêng tu đầy đủ khổ hạnh khai hóa sáu mươi triệu
người, ba trăm vạn chư Thiên và nhơn dân đều được nhập
đạo.
Lúc ấy
Bồ Tát hành sự vi diệu, ngồi đài cao lầu báu mà thị hiện
sanh. Không có các hoạn nạn trọn được an ổn, thường ở
trong tam muội chánh định, mà trái lại thị hiện khổ hạnh
sáu năm. Rồi lại thấy Bồ Tát đứng dậy đi.
Lúc ấy
chư Thiên cầu pháp lạc chẳng mến thế tục, ở bên Bồ
Tát chẳng mong gì khác chỉ mong được nghe pháp Đại thừa.
Lúc ấy
có Bồ Tát tên là Pháp Chủng ưa thích Đại thừa nhập vào
đại bi.
Lại có
pháp điển tên là nhập bất khả tư nghị pháp môn,
lại gọi là phổ nhiếp, hàng phục các tà tất cả chúng
ma, vào trong khổ nạn trọn được an lành.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Bồ Tát siêng tu khổ hạnh đủ sáu năm rồi thị
hiện oai nghi tinh tiến. Bồ Tát rời chỗ ngồi đi đến bên
bờ sông Ni Liên Thiền.
Vì thuận
theo thế gian nên Bồ Tát cố ý đến sông Ni Liên Thiền tắm
rửa sạch sẽ rồi rời sông đến đứng một mình ở chỗ
khác.
Bấy giờ
có nàng Di Ca tên là Thiẹân Aám vắt sữa ngàn con bò cho trăm
con bò uống. Vắt sữa trăm con bò nầy cho mười con bò
uống. Vắt sữa mười con bò nầy cho một con bò uống. Nàng
vắt lấy sữa con bò sau cùng nầy để nấu cháo sữa. Cháo
sữa ấy sôi bắn lên cao vài mười trượng. Nàng Di Ca lấy
làm lạ. Có vị phạm chí bàn rằng : người sắp thành Phật
mới đáng ăn cháo sữa nầy.
Nàng Di Ca
mang cháo sữa đến chỗ Bồ Tát.
Cũng có
sáu vạn chư Thiên, Long Thần, Càn Thát Bà v.v... đều mang
thức ăn kỳ dị ngọt ngon đồng đến chỗ Bồ Tát.
Tất cả
đại chúng đều thưa bạch Bồ Tát :
Xin Ngài
xót thương nhận đồ cúng dường.
Lúc ấy
Bồ Tát nhận cháo sữa của nàng Di Ca Thiện Ấm rồi ăn.
Bồ Tát cũng nhận lấy thức ăn của sáu vạn chúng chư Thiên,
chư Thần và đều thị hiện ăn.
Những người
dâng cúng thức ăn lên Bồ Tát, đều tự thấy Bồ Tát chỉ
riêng nhận ăn đồ cúng dường của mình mà không thấy nhận
của người khác.
Mỗi mỗi
người đều tự nghĩ rằng Bồ Tát riêng nghĩ tưởng nhận
ăn đồ của tôi dâng cúng, Ngài sẽ thành tựu Vô thượng
Bồ đề, thành bực Đẳng Chánh Giác. Họ đều rất vui mừng
và đều phát đạo tâm, được bất thối chuyển.
Đây gọi
là nhận lấy thức ăn dâng cúng. Vì khai hóa chúng sanh nên
thị hiện sáu năm siêng tu khổ hạnh.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Đó là Bồ Tát tùy theo thế tục nhận đồ cúng
dường mà ăn khiến thân thể khí lực đầy đủ an hòa rồi
đi đến dưới cây.
Có địa
thần tên Thiện Địa Thiên Tử bảo chư Thiên Tử khác và
chư Địa Hành Thiên Thần giữ đất chẳng cho rúng động.
Sau khi đến
dưới cây, Bồ Tát dọn dẹp sạch sẽ.
Cõi Đại
Thiên lúc ấy bỗng nhiên thanh tịnh, rưới hoa, thiêu hương,
nước thơm tưới đất.
Trời Ca
Lưu Tích cầm hoa rời thiên cung ở trong hư không thấy Bồ
Tát thì vui mừng mưa các thứ hoa.
Bốn vị
Thiên Vương cùng quyến thuộc bay đến bốn phương dùng màng
lưới vàng tử kim che khắp cõi Đại Thiên để cúng dường.
Trong cõi
Đại Thiên, chư Thiên Vương cùng chư Thiên quyến thuộc trời
Đao Lợi, trời Dạ Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời
Tha Hóa Tự Tại giăng màn báu cùng chơn châu minh châu cúng
dường.
Chư Thiên,
Long Thần, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẳn Na La, Ma Hầu
La già đều dùng thần thông sửa sang trang nghiêm tất cả
cõi dục.
Lúc ấy
có vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Oai Thần Tự Tại, là
chủ cõi Đại Thiên qua đến Bồ đề thọ. Đại Phạm Thiên
Vương ấy bảo chư Phạm Thiên rằng các Ngài phải biết Bồ
Tát Đại Sĩ đây ở chỗ chư Phật quá khứ tu hành chánh
hạnh, trồng các cội công đức, đảnh lễ quy mạng vô số
chư Phật, nguyện lớn chí ý vững mạnh, đầy đủ Bồ Tát
hạnh, phụng tu các ba la mật, vào hết căn tánh của tất
cả chúng sanh, thông đạt tất cả bí yếu của Như Lai, kiến
lập đạo pháp Vô thượng, là đại đạo sư cứu tế chúng
sanh ban tuyên kinh điển, là đại y vương chữa lành bịnh
chúng sanh, đội mão giải thoát làm đại pháp vương trí huệ
sáng suốt diễn thánh đế Vô thượng, chẳng bị tám pháp
thế tục câu phược, như hoa sen chẳng vấy bùn, nắm giữ
các pháp chẳng sót quên như sông biển, trí chẳng hạn lượng
như núi Tu Di chẳng động lay, rửa sạch tâm mình như nước
rửa bụi. Không hề tự cao đại mà thường khiêm hạ, như
châu minh nguyệt trừ tối và các thứ nhơ trược, với tất
cả pháp được tự tại, chứa các cội công đức, dường
như Phạm Thiên là đệ nhứt trên trời, Ngài đến dưới
cây hàng phục quân ma, sẽ được đạo Vô thượng chánh chơn
thành bực tối chánh giác, đầy đủ mười thứ trí lực
của chư Phật, bốn vô sở úy, mười sáu pháp bất cộng,
chuyển đại pháp luân, làm sư tử hống sung mãn tất cả,
ban pháp thí đượm nhuần muốn làm thanh tịnh đạo nhãn cho
tất cả chúng sanh, nhiếp lấy các pháp, dẹp trừ chín mươi
sáu thứ ngoại tà, bổn nguyện đầy đủ, thấyrõ cảnh giới
chư Phật mười phương, Đại Thánh oai đức tự tại.
Chư Phạm
Thiên các Ngài phải khiêm hạ cung kính Bồ Tát.
Lúc ấy
Đại Phạm Thiên Vương ở trước chúng Phạm Thiên nói kệ
rằng :
Hạnh chơn
chánh thanh tịnh
Quyết pháp
diệu vô thượng
Thương xót
nơi thế gian
Cũng thương
đến chư Thiên
Đấng trời
trong các trời
Tôn quý
trong trời người
Bực Đại
Thánh nay ở
Dưới cội
cây Bồ đề
Sẽ hàng
phục ma vương
Cùng các
quyến thuộc ma
Được Vô
thượng Chánh giác
Thành nhứt
thiết chủng trí
Đã đầy
đủ tối chánh giác
Lại chuyển
chánh pháp luân
Như đại
sư tử hống
Vui đẹp
lòng chúng sanh”.
Mật Tích
Kim Cang Lực Sĩ nói với Ngài Tịch Ý rằng : “Lúc Bồ Tát
sắp đến ngồi dưới cội cây, từ lòng bàn chưn nơi tướng
thiên bức luân phóng ra ánh sáng chiếu khắp cả cõi Đại
Thiên. Tất cả chúng sanh nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
ngừng dứt sự khổ não.
Aùnh sáng
ấy chiếu đến địa ngục Hắc Nhĩ. Được ánh sáng của
Bồ Tát chiếu đến, chúng sanh ở đại địa ngục Hắc Nhĩ
vui mừng hớn hở, Vua và cung thuộc nơi ấy đều cầm hoa
hương, phan lọng, kỹ nhạc bay lên hư không hóa làm mây báu
mưa châu minh nguyệt, hương chiên đàn, rồi thừa thần thông
biến hóa đến chỗ Bồ Tát cúi đầu đảnh lễ đi quanh bên
hữu ba vòng, đồng đem đồ cúng dường dâng lên Bồ Tát.
Ánh sáng
của Bồ Tát chiếu đến chỗ ở của Ca Lân Long Vương. Long
Vương mừng rỡ rời cung điện đến dưới cây Bồ đề đứng
bên mé hữu của Bồ Tát.
Bấy giờ
có một người tên là Kiết An ở xa thấy Bồ Tát, liền tìm
cỏ tốt thơm tho mềm nhuyễn như thiên y cầm đến dâng cho
Bồ Tát, cúi đầu đảnh lễ đi vòng bên hữu bảy vòng. Kiết
An đem cỏ dâng cho Bồ Tát sẽ phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Tại sao vậy ? Vì bổn nguyện của ông ấy khiến được như
vậy.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Tôi nhớ thuở quá khứ trải qua chín mươi mốt
kiếp, lúc đức Phật Duy Vệ xuất thế đủ mười đức hiệu,
có ngàn vị Tỳ Kheo tu hạnh thanh tịnh được Phật Duy Vệ
thọ ký sẽ thành bực tối chánh giác ở Hiền Kiếp.
Trong pháp
hội ấy có ông Trưởng Giả tên Hữu Chí nghe sự thọ ký
ấy mới tự nghĩ rằng, ở Hiền Kiếp lúc chư Bồ Tát sắp
thành Phật, tôi sẽ cúng dường cỏ tốt để trải tòa sư
tử trang nghiêm thanh tịnh an hòa nhu nhuyến. Nhơn đó tôi được
phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Trưởng Giả Hữu Chí thuở trước đó, nay là ông
Kiết An vậy. Vì bổn nguyện mà ông ấy dâng cỏ tốt và
phát đạo tâm. Sau nầy ông ấy thành Phật hiệu là Bửu Tịnh
Sư Tử Như Lai chí chơn.
Lúc Bồ
Tát nhận lấy cỏ trải dưới cội cây Bồ đề, Thọ Thần
và một vạn Thiên Nữ đều đem những túi đựng hoa trời,
hương trời, cùng phan lọng đến lễ lạy cúng dường nghinh
tiếp Bồ Tát.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Lúc Bồ Tát trải tòa vừa xong, liền có tám vạn
bốn ngàn Thiên Tử thấy Bồ Tát trải chỗ ngồi, trong lòng
vui mừng trần thiết tám vạn bốn ngàn tòa sư tử. Các tòa
sư tử ấy rất trang nghiêm tốt đẹp cao lớn, do các châu
báu hiệp thành, trên tòa trải thiên y. Chư Thiên Tử đồng
thỉnh Bồ Tát ngồi lên tòa sư tử của mình trần thiết.
Lúc ấy
Bồ Tát tự biến thân mình đều ngồi cả trên tám vạn bốn
ngàn tòa sư tử ấy.
Chư Thiên
Tử chẳng thấy nhau, chẳng biết nhau, chỉ tự thấy biết
là Bồ Tát ngồi lên tòa sư tử của mình để thành
tối chánh giác, nên họ rất vui mừng phát tâm Vô thượng
Bồ đề đến bậc bất thối chuyễn.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Lúc bấy giờ Bồ Tát dùng oai thần làm cho Ma Vương
hay biết.
Ma Vương
liền cùng quyến thuộc vô số ức trăm ngàn triệu quỷ thần
đều mặc giáp cầm vũ khí hiển thần thông thế lực đến
chỗ Bồ Tát bao vây khắp ba trăm ba mươi sáu vạn dặm.
Ma Vương
Ba Tuần cùng quyến thuộc quỷ thần ấy, dung mạo của họ
đều khác nhau, đầu mặt chẳng đồng, tiếng kêu nói của
họ đều sai khác, họ hiện chẳng biết bao nhiêu là hình
tượng, binh khí nghiêm chỉnh, cảnh huống rất đáng sợ.
Họ chẳng thuận nhơn nghĩa, làm chuyện rất quấy, chẳng
theo đạo đức, chuyên việc tàn bạo, gầm thét kêu la vang
động cả ba cõi. Giả sử người phàm chưa ly dục mà nghe
âm thanh ấy, thì máu sẽ theo mũi miệng mà trào ra, hoặc kinh
sợ mà chết.
Lúc ấy
Bồ Tát không chút sợ sệt cũng không e ngại, lại phát lòng
từ bi. Những âm thanh hãi hùng ấy tự nhiên tiêu diệt, chẳng
rõ về đâu.
Tại sao
vậy ?
Vì tâm Bồ
Tát thanh tịnh, dầu nghe âm thanh ấy mà thấu rõ, vốn là
hư trống, vốn là không có. Thấy ma chúng đến, ánh sáng
từ nơi thân Bồ Tát càng chiếu ra rực rỡ. Bồ Tát bảo
Ma Vương Ba Tuần rằng :
Thôi đi
Ba Tuần, chớ có hiện ra cảnh tượng vô ích ấy. Chớ có
sanh lòng sân độc rồi tự chuốc lấy tai họa vào thân mà
phải mãi mãi chẳng an.
Hôm nay Ba
Tuần sanh tâm muốn hại Bồ Tát, nhưng Bồ Tát có đức từ
rộng, có dũng mãnh lón, đại bi vô tận, đại từ vô cực,
hàng phục kẻ ác nghịch.
Ba Tuần
muốn làm loạn Bồ Tát, nhưng tâm Bồ Tát vốn thanh tịnh,
trần lao cấu trược đã tiêu trừ, Ba Tuần chẳng những không
hại được Bồ Tát, trái lại làm nên cho Bồ Tát.
Ba Tuần
muốn đem lửa đom đóm sánh hơn ánh sáng mặt trời, trùng
thú nhỏ làm kinh sợ sư tử, chưn bé gầy đạp ngã cổ thọ
to, nước vũng chưn trâu so với biển cả.
Ba Tuần
nên bỏ tâm oán hận mê lầm, chuyển quyến thuộc hung tàn
thành bạn đạo pháp, bỏ phi pháp về thánh đạo.
Ma Vương
Ba Tuần thấy Bồ Tát oai đức vòi vọi, nghe tiếng từ bi,
lòng ma vui mừng kính ngưỡng hướng về chánh đạo.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Lúc ấy Bồ Tát tự nghĩ rằng : Từ số kiếp chẳng
thể tính kể được, tôi chứa công đức, nhơn hạnh thành
tựu, đời đời phụng pháp tu hành, vì thương tưởng chúng
sanh bị tai khổ trong ba cõi mà tu tập trí huệ nhơn từ, ai
dám hủy hoại được, chỉ có đại địa chứng minh.
Từ trong
y ca sa, Bồ Tát thò tay sắc vàng tử kim rờ khắp thân mình.
Chẳng bỏ đại bi, muốn cứu độ chúng sanh, Bồ Tát cất
tay hữu lên hướng về mười phương.
Liền đó
toàn cõi Đại Thiên chấn động sáu cách, có âm thanh tự
nhiên phát ra. Âm thanh tự nhiên ấy vang suốt đến các cõi
Phật mười phương.
Ma Vương
Ba Tuần cùng ma quyến thuộc ở trên hư không, nghe âm thanh
ấy đều tự trách mình sái quấy mà ưa thích pháp lành.
Lúc ấy
Bồ Tát ban bố vô úy đại bi thương xót. Ma và quỷ thần
hướng đến Bồ Tát, tự nhiên từ hư không rơi xuống, tâm
họ quy y phát tâm ủng hộ rồi ẩn mất không còn.
Đó là Bồ
Tát thương xót chúng ma quỷ thần mà phóng đại quang minh.
Họ đều được rời khỏi bố úy mà đều trở về thiên
cung.
Lúc Bồ
Tát thị hiện hàng phục Ma Vương và ma quyến thuộc, có tám
ngàn ức triệu quỷ thần phát tâm Vô thượng Bồ đề, chín
mươi hai ức tải người được bất thối chuyển, tám muôn
bốn ngàn Thiên Tử vì đã trồng cội công đức nên được
vô sanh pháp nhẫn.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Hiện tượng hàng phục chúng ma ấy, vô số trời
người được lợi lành lớn. Dầu vậy, nhưng tâm Bồ Tát
không có phân biệt, cũng không có nạn ma, vì đã bỏ hẳn
các tội hại. Chư Thiên và thế gian tùy theo căn lành của
chính mình, đều được thấy Bồ Tát.
Hoặc có
người thấy Bồ Tát ngồi trên tòa sư tử bửu liên hoa, hoặc
thấy ở dưới đất, hoặc thấy ở hư không, hoặc thấy
ở dưới cội cây, hoặc thấy ở cung trời Đao Lợi ngồi
dưới cây báu, hoặc thấy ngồi trên tòa sư tử cao bảy nhẫn,
hoặc thấy ngồi trên tòa sư tử cao mười dặm, hoặc hai
mươi dặm, hoặc bốn mươi dặm, hoặc có chư Thiên nhơn thấy
Bồ Tát ngồi trên tòa sư tử cao bốn vạn hai ngàn do tuần
dưới cội cây Bồ đề cao tám vạn bốn ngàn do tuần.
Thưa Ngài
Tịch Ý ! Cảnh giới của Bồ Tát chẳng có hạn lượng, chẳng
thể nghĩ bàn, vì thế nên đạo tràng rất là thù đặc. Nếu
có chúng sanh nào căn tánh thuần thục thì được thấy công
hạnh của Bồ Tát, còn người căn tánh loạn động thì chẳng
hay chẳng biết.
Bồ Tát
lúc vừa mới thành tựu viên mãn Phật đạo, bảy ngày đêm
an trụ trong pháp lạc nhìn cây Bồ đề mắt chẳng nháy.
Bấy giờ
có trăm ngàn ức chư Thiên đến ca ngợi cúng dường, đặt
bàn ngọc, dâng thức ăn, thấy đức Như Lai đã thành Phật
đạo, đều phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Tứ đại
Thiên Vương đều cầm bát đến dâng lên đức Như Lai.
Như thế
giới Đại Thiên nầy có trăm ức phương vực, mỗi phương
vực có tứ đại Thiên Vương. Tất cả trăm ức tứ đại
Thiên Vương đều cầm bát đến dâng lên, đức Như Lai đều
nhận lấy cả.
Xem Tiếp
Theo Trang 3

|