NGHI THỨC
TRÌ TỤNG
BÀI TÁN
LƯ HƯƠNG
Lư hương
vừa ngún chiên đàn,
Khói thơm
ngào ngạt muôn ngàn cõi xa,
Lòng con
kính ngưỡng thiết tha,
Ngửa mong
chư Phật thương mà chứng minh.
Nam mô Hương
Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
CHƠN NGÔN
TỊNH PHÁP GIỚI:
Án lam. (7
lần)
CHƠN NGÔN
TỊNH KHẨU NGHIỆP:
Tu rị tu
rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta bà ha. (3 lần)
CHƠN NGÔN
TỊNH BA NGHIỆP:
Án ta phạ,
bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật
độ hám. (3 lần)
CHƠN NGÔN
PHỔ CÚNG DƯỜNG:
Án nga nga
nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
BÀI VĂN
PHÁT NGUYỆN
Nam mô thập
phương thường trụ Tam Bảo. (3 lần)
Lạy đấng
Tam Giới Tôn,
Quy mạng
mười phương Phật,
Nay con phát
nguyện lớn,
Trì tụng
Đại Bảo Tích,
Trên đền
bốn ơn nặng,
Dưới cứu
khổ tam đồ,
Nếu có
ai thấy nghe,
Đều phát
Bồ Đề tâm,
Khi mãn báo
thân này,
Sanh qua cõi
Cực Lạc.
Nam Mô Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)
BÀI KỆ KHAI
KINH
Phật pháp
rộng sâu rất nhiệm mầu
Trăm nghìn
muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con nghe
thấy chuyên trì tụng
Nguyện tỏ
Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Đại
Bảo Tích Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
I
PHÁP HỘI
TAM TỤ LUẬT NGHI
THỨ NHẤT
(Hán bộ
từ quyển thứ nhất đến quyển thứ ba)
Hán dịch:
Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ đề Lưu Chi.
Việt dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh.
Như vậy,
tôi nghe: một thuở nọ đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật nơi
thành Vương Xá. Núi đó cao đẹp, cỏ cây hoa quả đều xanh
tốt xum xuê. Hàng Thiên, Long, Dạ Xoa, Tỳ Xá Xà, Khẩn
Na La v.v... thường ở nơi đó.
Trong núi
lại có các loài muông thú: sư tử, cọp, sói, kỳ lân, voi,
ngựa, gấu v.v...
Núi này
có đủ các loài chim: chim công, chim két, nhồng, sáo, le le,
chim nhạn, chim uyên ương, chim cộng mạng v.v...
Các loài
chim muông trong núi nhờ oai thần của Phật nên tất cả đều
hiền lành chẳng giết hại ăn thịt nhau, thương yêu nhau như
tình mẫu tử.
Những cây
mộc hương, cây am la, cây chân thúc ca, cây ni câu đà, cây
chiên đàn, cây trầm thủy mọc rậm thành rừng.
Khắp núi
đầy những hoa đẹp. Trên đất có những hoa: a đề,
chiêm bà, ba tra, bà sư, tô mạng, do đề. Dưới nước
có những hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hoa sen vàng, hoa sen trắng,
hoa ca la. Màu hoa hương hoa xen nhau làm cho núi Kỳ Xà Quật
vừa đẹp vừa thơm.
Trên núi
này, nửa đêm thường có mây bao phủ, văng vẳng tiếng sấm,
láy pháy mưa bay, nước bát công đức chảy thấm khắp núi.
Khoảng thời gian vắt sữa, mây mưa đều tan. Kế đó
gió mát thoang thoảng làm vui thích thân tâm mọi người.
Trong núi
này có loài cỏ dịu mềm đủ cả sắc lẫn hương, xanh mướt
bóng láng như lông ức chim công, thơm như hoa bà sư ca, chạm
đến mịn nhuyễn như bông đâu la. Do đây mặt đất
mềm dịu, làm êm chân người đi không bao giờ đau rát.
Trong núi
có nhiều ao, hồ, suối chảy. Giữa nước trong mát đủ
các loại hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía mọc lên.
Hương sen ngào ngạt khắp núi.
Đảnh núi
có tòa sen báu lớn tốt đẹp: kim cương xanh làm cọng, lưu
ly làm tua, vàng diêm phù đàn làm cánh rộng lớn, chiên đàn
làm gương, ngọc mã não làm nhụy. Tòa sen báu này to
rộng mênh mông.
Mười ức
A Tu La Vương thường cầm mười ức lưới báu ma ni giăng
che phía trên bảo tòa. Mười ức Long Vương rưới mưa
thơm. Mười ức Kim Xí Điểu Vương miệng ngậm giải
lụa màu. Mười ức Khẩn Na La Vương chí thành chiêm
ngưỡng. Mười ức Ma Hầu La Dà Vương cung kính cúi nhìn.
Mười ức Càn Thát Bà Vương ca ngâm khen ngợi. Mười
ức Thiên Đế bủa mây lành, rải các thứ hương, các thứ
hoa, cùng tràng phan bảo cái. Mười ức Phạm Vương cúi
mình kính ngưỡng. Mười ức trời Tịnh Cư chắp tay
đảnh lễ. Mười ức Chuyển Luân Vương mang theo thất
bảo. Mười ức Hải Thần đến kính lễ bảo tòa.
Tòa sen báu
này lại có vô số bảo châu như ý kết hợp trang nghiêm:
Mười ức bảo châu Quang minh ma ni chiếu sáng, mười ức bảo
châu Tịnh phước ma ni xinh đẹp, mười ức bảo châu Biến
chiếu ma ni trong sạch, mười ức bảo châu Diệu quang ma ni
chõi rỡ, mười ức bảo châu Tạp sắc ma ni chiếu khắp,
mười ức bảo châu Diêm phù tràng ma ni vững vàng, mười
ức bảo châu Kim cương sư tử ma ni trang nghiêm, mười ức
bảo châu Nhựt tạng ma ni rộng lớn, mười ức bảo châu
Bất tư nghị ma ni ánh đủ màu, mười ức bảo châu Như ý
trang nghiêm vô tận.
Bảo tòa
liên hoa này có ra là từ nơi thiện căn vô thượng của đức
Như Lai. Là chỗ mà chí ý của Bồ Tát ái mộ khắp hiện
các nơi.
Bảo tòa
này cũng là từ pháp như huyễn mà có, cũng là từ thiện
nghiệp, từ pháp tánh vô tránh, pháp tánh như mộng mà có.
Pháp vô hành dùng để ấn. Thuận với lý vô trước,
nên cùng khắp mười phương tất cả pháp giới. Do công
đức thuận với cảnh giới Phật mà tạo nên.
Giả sử
trong vô lượng a tăng kỳ kiếp cũng không thể ca ngợi hết
sắc tướng xinh đẹp và công đức trang nghiêm của tòa sen
báu này được.
Đức Thích
Ca Mâu Ni Thế Tôn ngự kiết già trên bảo tòa này.
Bên bảo
tòa có tám ngàn vị đại Tỳ Kheo câu hội: Tôn giả Kiều
Trần Như, Tôn giả A Tháp Bà, Tôn giả Ma Sử Ba, và các Tôn
giả: Ma Ha Nam, Ưu Đà Di, Gia Xá, Phú Na, Vô Cấu Thiện Tý,
Kiều Phạm Ba Đề, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp,
Na Đề Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền
Liên, A Na Luật, Tu Bồ Đề, Ly Bà Đa, Phú Lâu Na Di Đa La Ni
Tử, Ưu Ba Ly, La Hầu La, Nan Đà v.v... các vị Thượng thủ
Tỳ Kheo này đều đã giác ngộ đế lý tự tánh, qua khỏi
biển tam giới. Các Ngài đi trong hạnh hư không của Như
Lai, đều dứt hẳn phiền não, đều trụ nơi vô trụ, dứt
hết nghi hoặc đối với đức Như Lai. Các Ngài đã vào
trong biển trí huệ của Phật, là bạn bất thỉnh cầu đem
lợi ích cho thế gian. Các Ngài luôn vệ hộ tất cả
chúng sanh mà làm bạn đi sát theo họ. Các Ngài đã thông
đạt cảnh giới Phật pháp. Các Ngài thệ nguyện thủ
hộ thọ trì chánh pháp của chư Phật, hiện tiền đặng sanh
chủng tánh Như Lai có thể hướng đến nhất thiết chủng
trí.
Tám ngàn
vị đại Bồ Tát câu hội. Thượng thủ là các Ngài
Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Tối Thượng
Trí Trí Bồ Tát, Tối Thượng Bửu Trí Bồ Tát, Nhứt Thiết
Ngữ Ngôn Trí Bồ Tát, Vô Trước Trí Bồ Tát, Hoa Thượng
Trí Bồ Tát, Nhựt Thượng Trí Bồ Tát, Nguyệt Thượng Trí
Bồ Tát, Vô Cấu Thượng Trí Bồ Tát, Kim Cang Trí Bồ Tát,
Viễn Trần Trí Bồ Tát, Quang Tràng Bồ Tát, Diệu Cao Tràng
Bồ Tát, Bửu Tràng Bồ Tát, Vô Ngại Tràng Bồ Tát, Hoa Tràng
Bồ Tát, Tịnh Tràng Bồ Tát, Nhựt Tràng Bồ Tát, Đoan Nghiêm
Tràng Bồ Tát, Ly Cấu Tràng Bồ Tát, Biến Chiếu Tràng Bồ
Tát, Đà La Ni Oai Đức Bồ Tát, Bửu Oai Đức Bồ Tát, Đại
Oai Đức Bồ Tát, Kim Cang Trí Oai Đức Bồ Tát, Vô Cấu Oai
Đức Bồ Tát, Nhựt Oai Đức Bồ Tát, Nguyệt Oai Đức Bồ
Tát, Phước Sơn Oai Đức Bồ Tát, Trí Chiếu Oai Đức Bồ
Tát, Phổ Thắng Oai Đức Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Hư
Không Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Bửu Tạng Bồ
Tát, Nhựt Tạng Bồ Tát, Thanh Tịnh Công Đức Tạng Bồ Tát,
Pháp Hải Tạng Bồ Tát, Biến Chiếu Tạng Bồ Tát, Tề Tạng
Bồ Tát, Thắng Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Nhựt Nhãn Bồ Tát,
Tịnh Nhãn Bồ Tát, Vô Cấu Nhãn Bồ Tát, Vô Ngại Nhãn Bồ
Tát, Phổ Minh Nhãn Bồ Tát, Thiện Lợi Trí Nhãn Bồ Tát, Kim
Cang Nhãn Bồ Tát, Bửu Nhãn Bồ Tát, Hư Không Nhãn Bồ Tát,
Phổ Nhãn Bồ Tát, Thiên Quan Bồ Tát, Chiếu Pháp Giới Ma Ni
Quan Bồ Tát, Diệu Bồ ề Ma Ni Quan Bồ Tát, Chiếu Thập Phương
Quan Bồ Tát, Xuất Hiện Nhứt Thiết Phật Tạng Quan Bồ Tát,
Siêu Nhứt Thiết Thế Gian Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Quan Bồ
Tát, Vô Ánh Tể Quan Bồ Tát, Chấp Trì Như Lai Sư Tử Tòa
Quan Bồ Tát, Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quan Bồ Tát, Phạm
Vương Kế Bồ Tát, Long Vương Kế Bồ Tát, Phật Biến Hóa
Ảnh Tượng Kế Bồ Tát, Diệu Bồ Đề Kế Bồ Tát, Nguyện
Hải Âm Thanh Ma Ni Vương Kế Bồ Tát, Phóng Như Lai Viên Quang
Ma Ni Bửu Lôi Thinh Kế Bồ Tát, Hư Không Biểu Thị Ma Ni Bửu
Võng Phú Kế Bồ Tát, Như Lai Pháp Luân Thinh Kế Bồ Tát, Tam
Thế Danh Luân Thinh Kế Bồ Tát, Đại Quang Bồ Tát, Vô Cấu
Quang Bồ Tát, Bửu Quang Bồ Tát, Ly Trần Quang Bồ Tát, Chiếu
Quang Bồ Tát, Pháp Quang Bồ Tát, Tịch Tịnh Quang Bồ Tát,
Nhựt Quang Bồ Tát, Thần Biến Quang Bồ Tát, Thiên Quang Bồ
Tát, Phước Quang Bồ Tát, Trí Quang Bồ Tát, Pháp Quang Minh
Bồ Tát, Thần Thông Quang Bồ Tát, Quang Chiếu Bồ Tát, Hoa
Quang Bồ Tát, Bửu Quang Bồ Tát, Giác Quang Minh Bồ Tát, Phạm
Quang Bồ Tát, Phổ Chiếu Quang Bồ Tát, Phạm Âm Bồ Tát, Hải
Âm Bồ Tát, Địa Hống Âm Bồ Tát, Thế Gian Vương Âm Bồ
Tát, Sơn Vương Âm Bồ Tát, Sơn Vương Tướng Kích Âm Bồ
Tát, Biến Pháp Giới Âm Bồ Tát, Pháp Hải Lôi Âm Bồ Tát,
Tồi Phục Chư Ma Âm Bồ Tát, Đại Bi Lý Thú Vân Lôi Âm Bồ
Tát, Biến Tức Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não Âm Bồ Tát,
Pháp Thắng Dũng Bồ Tát, Thù Thắng Dũng Bồ Tát, Trí Thắng
Dũng Bồ Tát, Phước Tu Di Thắng Dũng Bồ Tát, Công Đức Tối
Thắng Dũng Bồ Tát, Danh Văn Thắng Dũng Bồ Tát, Phổ Quang
Thắng Dũng Bồ Tát, Đại Từ Thắng Dũng Bồ Tát, Trí Chiếu
Thắng Dũng Bồ Tát, Như Lai Chủng Tánh Thắng Dũng Bồ Tát,
Quang Đức Bồ Tát, Thắng Đức Bồ Tát, Pháp Dũng Đức Bồ
Tát, Biến Chiếu Đức Bồ Tát, Pháp Đức Bồ Tát, Nguyệt
Đức Bồ Tát, Hư Không Đức Bồ Tát, Bửu Đức Bồ Tát,
Thiệt Đức Bồ Tát, Quang Đức Bồ Tát, Trí Đức Bồ Tát,
Bà La Đế Vương Bồ Tát, Pháp Đế Vương Bồ Tát, Tượng
Đế Vương Bồ Tát, Phạm Đế Vương Bồ Tát, Sơn Đế Vương
Bồ Tát, Chúng Đế Vương Bồ Tát, Thiên Đế Vương Bồ Tát,
Tịch Tịnh Đế Vương Bồ Tát, Bất Động Đế Vương Bồ
Tát, Tối Thắng Đế Vương Bồ Tát, Bồ Đề Tịch Tịnh Thinh
Bồ Tát, Vô Trước Thinh Bồ Tát, Địa Thinh Bồ Tát, Đại
Hải Thinh Bồ Tát, Âm Thinh Bồ Tát, Chiếu Pháp Thinh Bồ Tát,
Hư Không Thinh Bồ Tát, Nhứt Thiết Thinh Bồ Tát, Thiện Căn
Vân Lôi Thinh Bồ Tát, Phát Ngộ Bổn Nguyện Thinh Bồ Tát,
Tồi Nhứt Thiết Ma Quân Thinh Bồ Tát, Trí Tu Di Giác Bồ Tát,
Hư Không Giác Bồ Tát, Thanh Tịnh Giác Bồ Tát, Vô Ngại Giác
Bồ Tát, Khai Mụ Giác Bồ Tát, Chiếu Tam Thế Giác Bồ Tát,
Bửu Giác Bồ Tát, Quảng Đại Giác Bồ Tát, Phổ Quang Giác
Bồ Tát, Pháp Giới Lý Thú Chiếu Giác Bồ Tát, v.v...
Các vị đại Bồ Tát này đều an trụ nguyện hạnh Phổ Hiền,
chỗ làm không trụ trước, vì khắp tất cả cõi Phật.
Các Ngài biến hiện vô biên thân, vì gần gũi tất cả chư
Phật. Các Ngài duyên cảnh thanh tịnh vô hạn, vì rõ
biết tất cả thần biến của chư Phật. Các Ngài đến
đi vô lượng, vì không ngớt qua đến chỗ chư Phật hiện
thành Chánh đẳng giác. Các Ngài quang minh vô biên, vì
trong biển thiệt tướng được trí quang vô biên. Các
Ngài nói vô tận công đức trong vô biên kiếp, vì biện tài
thanh tịnh. Các Ngài đồng hư không, vì trí thanh tịnh, Các
Ngài không chỗ y ỷ, vì tùy ý lạc thế gian mà hiện sắc
thân. Các Ngài lìa được sự che lòa, vì rõ biết không
có chúng sanh giới. Các Ngài trí huệ như hư không, vì
phóng lưới quang minh khắp pháp giới. Các Ngài rốt ráo
tịch tịnh, vì tâm rất tịch tịnh. Các Ngài trụ cảnh
giới tánh trí tất cả tổng trì. Các Ngài dũng mãnh
vô úy nơi chánh định. Các Ngài mắt thấy suốt ngằn
mé pháp giới. Các Ngài trụ vô sở đắc đối với tất
cả pháp, đi nơi biển trí vô biên, đã qua đến bờ trí huệ
Bát nhã ba la mật, đến ba la mật của tất cả thế gian,
được tự tại nơi Chánh định ba la mật.
Năm trăm
vị Tỳ Kheo Ni đồng câu hội: Ma Ha Ba Xà Ba Đề Tỳ Kheo Ni,
Cù Đàm Di Tỳ Kheo Ni, An Ổn Tỳ Kheo Ni, Ưu Bát La Hoa Tỳ Kheo
Ni, Dũ Cù Đàm Di Tỳ Kheo Ni, Gia Du Đà La Tỳ Kheo Ni v.v...
Năm trăm
vị Ưu Bà Tắc câu hội, hàng thượng thủ là các Ưu Bà Tắc:
Thiện Oai Đức, Huệ Quang, Thiên Oai Đức, Danh Xưng Oai Đức,
Siêu Danh Xưng Oai Đức, Thiện Huệ, Nguyệt Đức, Nguyệt Hoan
Hỷ, Đại Hoan Hỷ, La Hầu Hiền, Đại Hiền v.v...
Năm trăm
vị Ưu Bà Di câu hội, dẫn đầu là các vị Ưu Bà Di: Đại
Quang, Thiện Quang, Thiện Thân, Khả Lạc Thân, HIền Đức,
Nguyệt Quang, Quang Minh, Thắng Quang, Thiện Nhãn v.v...
Và có vô
lượng Thiên, Long, Bát bộ cung kính hầu quanh đức Phật.
Đức Phật
vì đại chúng mà nói ba luật nghi, luật tạng của tất cả
Như Lai, hiện bày công hạnh của tất cả Bồ Tát, chiếu
rõ pháp giới có thể trang nghiêm tất cả cõi Phật, dẹp
các tà hạnh, hàng phục ma oán, làm cho chúng sanh vui mừng
được tỏ ngộ.
Lúc đó Tôn
giả Đại Ca Diếp đứng dậy trịch y vai hữu, quỳ chắp
tay bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu chúng sanh cầu được thập
trí lực, vô sở úy của Phật, thời phải thọ trì và tu
hành pháp gì? Thọ trì pháp gì để được thành tựu đạo
hạnh của Như Lai? Thọ trì pháp gì để được viên mãn công
đức chứng Vô thượng Chánh giác?”
Phật bảo
Đại Ca Diếp: “Lành thay! Lành thay! Này Ca Diếp! Lời ông
hỏi sẽ đem lại nhiều sự an ổn lợi ích cho người, cho
trời. Ông lắng nghe kỹ và khéo suy nghĩ ghi nhớ.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu chúng sanh cầu được trí lực vô sở úy của
Phật, những chúng sanh này, thật ra không có chút pháp gì
để được, cũng không chỗ nương dựa để gieo căn lành.
Nầy Đại
Ca Diếp! Lúc Bồ Tát cầu Vô thượng Chánh giác, nếu có chỗ
được thời là chấp trước. Nếu chấp trước thời là chấp
lấy hữu vi ngoài Phật pháp, ngoài hữu vi chấp lấy vô vi.
Như thế là đối với Phật pháp sanh sự chấp trước mà
cho là giải thoát. Lúc chấp lấy giải thoát thời nắm cứng
lấy Phật pháp chẳng bỏ rời. Nên biết người như vậy
chẳng gọi là hướng đến đạo Vô thượng. Vì người này
ở trong Phật pháp chấp có ngã chuyên cần tu tập, đó là
luôn tương ưng với ngã chấp mà không lìa bỏ được, do
đây có năng phân biệt cùng sở phân biệt, bị phân biệt
này sai sử. Nếu theo phân biệt để duyên cảnh thời có lưu
chuyển. Đã có lưu chuyển thời có quán xuyên. Đã có quán
xuyên thời có vọng tưởng. Có vọng tưởng thời có phân
biệt, do phân biệt càng thêm vọng tưởng. Đã thêm vọng
tưởng thời nhiều chấp trước mà lìa xa tịch tịnh. Đã
lìa tịch tịnh thời chạy theo cảnh duyên. Đã chạy theo cảnh
duyên thời mất sự an ổn. Sự an ổn đây là vô phân biệt.
Đã mất an ổn thời thường vào cảnh duyên. Đã thường
vào thời thân cận. Đã thân cận thời có phiền ão. Đã
có phiền não thời có tương tục, có thêm lớn tương tục,
có cùng khắp tương tục. Do đây lời nói tất cuồng loạn,
tất sai lầm, bèn có ưu não, có hối hận. Đã có hối hận
thời nương tựa vô minh màbị ưu não làm tổn hại. Nhưng
thực ra trong đây không có chút pháp gì có thể nương tựa
được. Dầu vậy, từ trong vọng tưởng sanh lưu chú mà bị
vọng tưởng ràng buộc. Do sự ràng buộc này mà vọng tưởng
tương tục, do đây nên gọi là vọng tưởng ràng buộc không
có chân thật. Tất cả chỗ tham, sân, si đều hư vọng, là
thêm phân biệt, là khắp phân biệt, là thêm chấp trước,
là khắp chấp trước. Do đây không thể sớm đặng Vô thượng
Bồ đề.
Nầy Ca Diếp!
Như trên đó gọi là ái kiến. Dầu vậy, nhưng không có pháp
nhứt định gọi đó là ái, chỉ do chấp trước quá bền
chắc mà có ái. Nếu đã là chấp trước thời ái này vẫn
trống rỗng. Nếu đã trống rỗng mà sanh chấp trước thời
là nhơn ái chấp trước, là ngã ái chấp trước, là chúng
sanh ái chấp trước, là thiện bất thiện ái chấp trước.
Nầy Ca Diếp!
Người như vậy, đối với tất cả pháp không, mà phân biệt
là chẳng phải không, đối với chẳng phải vật mà tưởng
là vật. Vật nói đây chính là Bồ đề. Nếu cho Bồ đề
là vật, người đó do ngã chấp bèn chẳng phải Bồ Tát.
Sự chấp trong đây nếu là bất khả đắc, thì sự chấp
trong kia cũng là bất khả đắc, đây gọi là ngã chấp không
chơn thật, chỉ có danh từ ngã mà thôi.
Nếu có thể
viên mãn hữu tình thì viên mãn Bồ đề. Thế nào gọi là
viên mãn Bồ đề? Chính là như huyễn. Như huyễn đây là
nói đại ngã, đại mạn. Nếu đem tưởng nương nơi tưởng,
thời khác nào chẳng phải tưởng nương nơi chẳng phải tưởng.
Nếu đem chẳng phải tưởng nương với chẳng phải tưởng
thời như cuồng như say. Nếu cuồng say thì là đem khổ chạy
theo khổ. Nếu đem khổ chạy theo khổ thì chư Phật đều
nói là kẻ ở trong vòng cuồng ngôn rảo chạy, vì kẻ này
nhiều tác ý. Đã nhiều tác ý thì có cống cao. Đã có cống
cao thì có ngôn thuyết. Đã có ngôn thuyết thì càng thêm ngôn
thuyết. Vì thêm nhiều ngôn thuyết, nên Phật gọi là kẻ
ngôn thuyết, kẻ giáo thọ, kẻ thọ trì. Do đây nên các pháp
đều từ tác ý mà được sanh trưởng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như trong hư không có mây nhóm giăng, mây này chẳng
từ mười phương đến. Biết rõ mây nhóm như vậy chẳng
phải từ mười phương. Đức Như Lai nói đúng sự thật,
nói đúng nghĩa, nói đúng lý. Vì nói đúng lý chân thật,
nên đức Như Lai gọi là đấng thật ngữ.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nói rằng mây nhóm, chính là chẳng phải nhóm mà
gọi là mây nhóm. Do đâu gọi là mây nhóm? Vì mây kia kết
thành tướng trạng riêng biệt. Tướng trạng này do sự mê
lầm thấy là rộng lớn, thật ra trong đó không có tướng
nhỏ tướng lớn thật. Ông nhìn xem mây nhóm thành tướng
rộng lớn kia, chính là chẳng phải tướng. Đã chẳng phải
tướng thì chẳng thiệt có mây nhóm.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như có kẻ bảo người khác rằng: nên cùng nhau qua
chỗ râm mát mà ngồi. Người trí bảo tôi chẳng qua ngồi.
Kẻ kia nói nay tôi chẳng nói như vậy, tôi chỉ nói là bóng
râm mát. Người trí lại bảo: Anh nói râm mát chính nơi đó
chẳng phải râm mát!
Nầy Đại
Ca Diếp! Ông xem người trí kia thuận theo thế tục mà còn
có thể tỏ ngộ như vậy như vậy.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đức Như Lai đúng như thật biết rõ lý tánh chân
thật của các pháp, rồi ở trong đại chúng tự tại tuyên
thuyết.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đức Như Lai thích ở trong pháp tùy thuận mà trụ
nơi chẳng tùy thuận. Nơi ngã chấp của chúng sanh, ở Như
Lai là đệ nhất nghĩa. Vì nay đức Như Lai đã biết rõ ngã
chấp kia: biết rõ sự chấp của chúng sanh là chẳng phải
chấp. Đây là lời bí mật tối thắng của Phật.
Hoặc có
kẻ ngu sanh lòng ngang trái tranh cãi với Như Lai, do đây Phật
nói thế gian tranh cãi với Phật, Phật chẳng bao giờ tranh
cãi với thế gian. Thế nào là thế gian? Chính là chúng sanh.
Tại sao chúng sanh gọi là thế gian? Đức Như Lai biết rõ
thế gian như vậy nên gọi chúng sanh là thế gian. Như kẻ
ngu kia chỗ hiểu biết sai lầm, bị sự biết sai này làm tổn
hại. Những kẻ này thường tin và ở mãi trong thế gian, theo
mãi nơi thế tục, đây gọi là vô minh, vì họ ở trong sự
tối tăm lớn nên gọi là ở thế gian. Nếu ở thế gian thì
có tham. Nếu đã có tham thì có sân. Nếu đã có sân thì có
si. Nếu đã có si thì là bất tịnh. Đã bất tịnh thì trái
ngược. Trái ngược với ai? Trái với Như Lai và hàng Thanh
Văn. Đã trái ngược thời chống trả. Đã chống trả thì
thêm trái ngược. Thêm trái ngược thì thích hữu lậu. Đã
thích hữu lậu thì tâm mong cầu. Đã mong cầu hữu lậu bèn
khắp mong cầu. Đã khắp mong cầu thì chẳng biết đủ. Đã
chẳng biết đủ thì nhiều gây tạo. Đã nhiều gây tạo thì
nhiều tham dục. Đã nhiều tham dục thì kẻ đó chìm ngập
trong ba cõi. Đã tự chìm ngập trong ba cõi thì làm cho người
khác cũng chìm ngập. Đã làm người khác chìm ngập thì họ
theo dòng và cũng trôi theo dòng. Nếu theo dòng và trôi theo
dòng thì thẳng đến chỗ chết. Nếu thẳng đến chỗ chết
thì chẳng đến được Niết Bàn. Đã chẳng đến Niết Bàn
thì đến chỗ lỗi quấy. Đã đến chỗ lỗi quấy thì thẳng
đến địa ngục.
Nầy Ca Diếp!
Do tương ưng với pháp chẳng lành như vậy nên tâm trở thành
giận hờn độc hại và chẳng biết đậy che. Chẳng đậy
che đây là nói chẳng quán ngã chấp. Vì chẳng quán sát nên
chấp làm một hiệp tướng, do đây không thể tiêu diệt được
ngã và ngã sở.
Thế nào
gọi là ngã? Vì chấp trước chẳng đúng thật, ở nơi các
thú vọng tưởng tạo những nghiệp thế gian. Nơi đây họ
chấp ngã tướng cho là ngã.
Thế nào
là ngã sở? Chính do tham dục gọi là ngã sở. Do các cảnh
dục hòa hiệp với thân mà có tâm tham. Đã có tâm tham thì
hư hoại giới tụ. Do đây sanh tâm chẳng lành đối với sở
hữu của người khác. Do giận hờn mà khinh khi hủy báng lẫn
nhau. Thâu lấy tài vật làm sở hữu của mình rồi ôm ấp
giữ gìn, chính đây gọi là ngã sở.
Người có
ngã sở thì có lưu chuyển. Đã có lưu chuyển thì có mê lầm.
Đã có mê làm thì có phỉ báng. Đã có phỉ báng thì có giận
hờn. Đã có giận hờn thì có giết hại. Đã có hại nhau
thì bị sự hại này đốt cháy. Đã bị đốt cháy thì có
khắp đốt cháy. Những lỗi trên đây đều do lòng tham dục
nơi sở hữu, nên gọi là ngã sở.
Do những
nghĩa trên đây nên nói ngã sở thì đã là mắng nhiếc thân
mình. Kẻ ngu si vì chấp ngã mà thành ngu phu, cho nên gọi đó
là ngã sở.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu có chúng sanh chẳng nghe pháp này mà nói Bồ
đề và Bồ Tát hạnh, thời là phi hạnh. Nên biết Bồ Tát
hạnh thật không có chỗ thật hành mới chính là Bồ Tát
hạnh.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu Bồ Tát công hạnh viên mãn không kém, không
thiếu, thanh tịnh, rất thanh tịnh, khắp thanh tịnh, thời
có thể gọi là tuyên thuyết đại pháp này, gọi là bực
có thế lực, bực dũng mãnh tinh tấn. Chỗ thuyết pháp của
Bồ Tát này đồng với hư không, chẳng chứa đọng, chẳng
trệ ngại.
Người làm
đúng lý, người có công đức, người khéo tu hành, trọn
chẳng bao giờ làm điều phi lý, không công đức, chẳng tu
hành.
Các ông phải
thọ trì pháp này. Ở trong pháp này chớ sanh lòng chấp trước.
Vì pháp của Như Lai nói rất là đệ nhứt. Vì là bực căn
tánh tối thượng thưa hỏi, nên ta đem thắng pháp mà giải
thuyết. Thế nào là thắng pháp? Chính là không pháp chấp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát như vậy hộ trì đầy đủ tịnh giới ban
đầu, tâm chẳng cống cao, chẳng tạo nghiệp vô gián, chẳng
phạm Tỳ Kheo Ni, chẳng gần gũi nhà người tục, không sát
sanh, trộm cắp, tà hạnh, vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt,
ác khẩu, và lìa bỏ tham dục, sân hận, tà kiến. Bồ Tát
này chẳng tự não hại cũng chẳng não hại người khác, chẳng
chung cùng với cảnh dục, cũng chẳng thọ dục, chẳng bài
bạc cũng chẳng bảo người. Bồ Tát này trọn chẳng gần
gũi kẻ lai căn, chẳng đến nhà dâm nữ, đàn bà góa, xử
nữ, chẳng gẫn gũi vợ người, cũng chẳng gẫn gũi kẻ lưới
chim bắt cá, kẻ săn bắn và và Chiên Đàn La, chẳng đấu
tránh và chẳng nắm tay người uống rượu. Bồ Tát lìa xa
những việc trên đây như tránh chó điên cùng kẻ sát nhân.
Do có lòng từ nên đối với tất cả chỗ xa lìa trên, Bồ
Tát không bao giờ sanh một niệm ác.
Có hai mươi
chỗ Bồ Tát phải xa lìa. Bồ Tát xa lìa người nữ, cũng
chẳng cùng họ đùa cợt nói thô nói tục, chẳng cùng họ
luận bàn cãi cọ. Đối với cha mẹ và Tam Bảo, Bồ Tát tránh
lỗi chẳng cung kính. Chẳng thuyết pháp cho nhóm người nữ
dưới số hai mươi, trừ khi có người nam. Trọn chẳng đến
hội thuyết pháp của chúng Tỳ Kheo Ni, cũng chẳng nên thăm
hỏi các Tỳ Kheo Ni. Chẳng viết thơ từ cho người nữ. Nếu
vì người khác đem thơ cho người nữ thì phải giao cho người
chồng chớ trao cho vợ.
Thân tộc
thỉnh mời riêng trọn chẳng nhận không luận lúc nào. Chẳng
bao giờ có dục tâm ở trước người nữ dầu trong giây lát.
Lại cũng chẳng nên rời chỗ ở của mình đến chỗ khuất
chuyện vãn với người nữ. Chẳng cùng Tỳ Kheo Ni đi chung
đường. Chẳng lãnh y phục của Tỳ Kheo Ni bố thí, trừ lúc
vì tứ chúng thuyết pháp, lúc được thí y, nên có quan niệm
như mặt đất hứng chịu đồ vật rồi sau sẽ lãnh lấy
y phục, chẳng nên nhìn riêng mặt của người bố thí. Nếu
nghe có Tỳ Kheo Ni khuyên người thí y phục thì chẳng nên
thọ. Nếu Tỳ Kheo Ni mời thỉnh ăn uống; dầu có bịnh cũng
chẳng thọ huống là lúc không bịnh. Nếu có đàn bà góa
đến mời ăn, Tăng số chẳng đủ thì cũng chẳng thọ. Cũng
chẳng nên vào trong chúng Tỳ Kheo Ni. Chẳng nên kêu Tỳ Kheo
Ni đến. Nếu Tỳ Kheo Ni đến kêu Bồ Tát, thì phải vòng
tay ngước đầu xây lưng lại bỏ đi. Lúc Bồ Tát thuyết
pháp nếu có Tỳ Kheo Ni đến đảnh lễ dưới chân, thì chớ
động chân, mắt nên nhìn ngay hai bàn tay.
Bồ Tát chẳng
nên chỉ nơi thân tu tập tinh tấn, mà tâm cũng phải siêng
cần chánh niệm. Đối với tất cả cảnh duyên chớ sanh lòng
tham sân. Nên phát thệ nguyện vững chắc để cầu nhứt thiết
chủng trí. Khi được nghe pháp này rồi phải có lòng tin và
nên siêng tu học.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu có thiện nam hay thiện nữ muốn hướng đến
Bồ Tát thừa, vừa nghe được pháp này nếu không có lòng
tin thiết thiệt sâu chắc, thì trọn chẳng thể được Vô
thượng Chánh giác. Vì do tu học mới chứng được quả Bồ
đề, chẳng phải không tu học mà có thể chứng được. Nếu
không tu tập mà chứng được Bồ đề, thì những loại mèo,
thỏ v.v... lẽ ra cũng được chứng. Phải có chánh hạnh mới
chứng được Bồ đề. Nếu không chánh hạnh mà vẫn được
Bồ đề, thì ngôn thuyết tiếng tăm lẽ ra cũng chứng được
Bồ đề. Giả sử tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế
giới đồng vì một chúng sanh trải qua trăm ngàn kiếp mà
bảo rằng: Ngươi nên làm Phật! Ngươi phải làm Phật! Rồi
đồng vây quanh liền tiếng xướng rằng: Sẽ được thành
Phật! Sẽ được thành Phật! Bảo và xướng luôn như vậy
không xen hở vẫn không thể nên được tâm Bồ đề ban đầu,
huống là có thể chứng quả Phật vô thượng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Chúng sanh nào tu học được hạnh này thì đáng gọi
là hi hữu. Đức Như Lai xuất hiện ra đời là việc rất
khó. Trong thời kỳ mạt pháp sau khi ta diệt độ, các ông
cũng đã nhập Niết Bàn, chư Thiên lại chẳng tin, chẳng hộ
trợ, lúc đó có nhiều chúng sanh nghe công đức của Phật
mà phát tâm Bồ đề. Hoặc có hàng Tỳ Kheo dầu đã phát
tâm Bồ đề nhưng vẫn phạm hai mươi lỗi trên.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như hiện nay hàng đa văn Tỳ Kheo ở chỗ tịch tịnh,
hoặc ở xóm làng, siêng tu chánh pháp, thì đời mạt pháp
sau này các Tỳ Kheo ở chỗ tịch tịnh, hoặc ở xóm làng
trái lại phạm lỗi: họ cùng các Tỳ Kheo Ni hội họp luận
bàn vấn đáp pháp nghĩa. Các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni này phần
nhiều sanh nhiễm tâm, ít có người sanh pháp tâm.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ông quan sát hạng người đó được tên Bồ Tát
mà sa vào chỗ rất nguy hiểm thẳng đến ác thú.
Trong thời
kỳ mạt pháp đó, ban đầu họ vì pháp duyên mà gần gũi
nhau, do thường thấy nhau nên lửa dục nhen nhúm trong lòng,
động nơi môi miệng để nêu bày niệm dục. Ban đầu họ
gần nhau lấy lễ đệ tử cung kính A Xà Lê. Từ đó về sau
họ sai người hỏi han thăm viếng rồi lần lần hẹn gặp
nhau ngoài đường ngoài ngõ, kế đến trong chùa đứng xa liếc
ngó nhau. Trong lúc ra vào họ hỏi thăm nhau, kết làm anh em,
chị em. Vì họ thường gặp nhau bèn sanh nhiễm tâm, đã có
nhiễm tâm bèn cùng nhau làm sự ô uế. Đã làm sự ô uế
bèn dùng danh từ chẳng phải phạm hạnh để kêu gọi nhau.
Do đây họ thối thất tâm Bồ đề, mất quả lành, xa Niết
Bàn, bỏ Phật, trái Pháp, nhàm Tăng. Những người này ở
chỗ khuất sanh những tưởng niệm tham dục, sân hận, não
hại. Những người này không có thắng nghiệp của Bồ Tát
và bốn hạnh thanh tịnh.
Như hiện
nay, các Bồ Tát chuyên cần tu phạm hạnh, trái lại, đời
mạt pháp sau này phần nhiều sinh lòng tham dục, sân khuể,
não hại, trụ trong chủng loại ác hạnh, tặc hạnh, kiểu
hạnh.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ông quan sát đời vị lai những người phá hủy cấm
giới nghe kinh này liền sanh lòng phỉ báng. Nếu có người
đã trụ nơi giới thật hành bố thí, phát Bồ đề tâm, lúc
sau nghe kinh này trở lại sanh lòng hủy báng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời vị lai sau này, nếu có người trí tu hành tịnh
giới thọ trì chánh pháp, biết Tỳ Kheo chẳng thật hành đúng
pháp như trong kinh này đã nói, phải liền lánh xa. Vì hạng
Tỳ Kheo này không có lòng mến ưa và kính trọng chánh pháp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời mạt pháp sau này có người dối hiện tu hạnh
Bồ Tát, tự khoe khoang rằng hơn bực Độc Giác và A La Hán.
Những người này phi pháp, phi lý, không thể sửa trị được,
họ sẽ đọa ác thú.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời mạt pháp sau này có người thật hành tà nghiệp,
vì thuyết pháp mà đi khắp nơi. Họ chỉ thật hành những
hạnh tương tợ với sáu môn ba la mật. Nếu có người đúng
như thật giảng nói kinh này thì bị họ ganh ghét bỏ rơi.
Đối với kinh này, họ sanh tà kiến hủy báng. Những người
ngu si này chẳng rõ biết trong kinh đây quở trách sự phá
giới.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời mạt pháp sau này đều bị tặc hạnh làm ô
uế, nên những người ngu si đây chẳng suy nghĩ lỗi quấy
của mình, có thể phá hoại Vô thượng Bồ đề. Do ôm ấp
tội lỗi nên họ thẹn mà hủy báng Phật quả Vô thượng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời vị lai sau này nhiều Tỳ Kheo chẳng tùy thuận
Tăng chúng, chẳng biết báo ân, thường dùng lời khôn khéo
dối lầm mọi người để được cúng dường. Họ chẳng
gìn lời nói, chê trách giới biệt giải thoát của Như Lai.
Họ chẳng nhiếp oai nghi, ở chỗ bất tịnh, rồi vì những
người ở chỗ bất tịnh mà giảng nói những pháp môn.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ta quan sát vào thời kỳ đó những pháp môn sai quấy
có đến số năm trăm. Những người chẳng tu hành sẽ thường
tùy thuận theo. Do đây, năm trăm phiền não của họ không
một mảy giảm bớt. Những việc làm của họ không khác nhà
người tục. Lần lần hàng phụ nữ có nhiều người bỏ
chồng vào chùa để nghe pháp. Các Tỳ Kheo vì họ mà giảng
nói tương tợ Niết Bàn. Thời kỳ đó có những sự rất
đáng sợ như vậy, mà họ lại ở trong đó mong cầu được
lợi ích.
Vì những
cớ trên đây, nên người cầu đạo Bồ đề chẳng nên gần
gũi các Tỳ Kheo Ni, cũng chẳng nên làm những hạnh như vậy.
Phải tránh tất cả sự giao du. Bỏ các lợi dưỡng mà đi
khất thực. Bỏ y phục ưa thích mà mặc y phấn tảo. Bỏ
lầu đài phòng nhà giường nệm chăn gối, mà ở bên khe suối,
trong hang hóc, dưới bóng cây. Xa y sĩ thuốc men, mà dùng thuốc
cũ thuốc thối nát.
Rõ biết
tất cả chúng sanh là thân thuộc đời trước của mình nên
thật hành tâm đại từ bi. Thường phải cam chịu sự đánh
đập mắng nhiếc, không bao giờ đánh đập mắng nhiếc người
khác.
Tránh xa nhà
quyến thuộc, nhà thí chủ thân hữu. Phải tùy thuận trí
hạnh xuất gia, chẳng nên đồng với người tục tại gia.
Thường phải
tùy thuận phụng trì giáo pháp ba la đề mộc xoa.
Nầy Đại
Ca Diếp! Trong thế gian nếu có người sanh quan niệm trái với
giới biệt giải thoát, thời chính là móng lòng trái với
trí lực vô sở úy của Phật. Đã sanh lòng trái với trí
lực vô sở úy thời là sanh lòng trái với tam thế chư Phật.
Do đây đời vị lai họ sẽ mang lấy quả báo khổ sở vô
lượng. Khổ báo của họ trăm ngàn muôn ức lần nhẫn đến
ưu ba ni sa đà lần hơn sự đau khổ của chúng sanh địa ngục.
Nếu muốn
khỏi sự khổ não như vậy, thì phải tránh xa những hạng
ác hạnh Tỳ Kheo ấy. Giả sử đã cách xa họ ngàn do tuần
cũng còn phải tránh xa thêm, huống là gần họ. Nếu nghe tên
của họ còn phải quên bỏ, huống là thấy mặt nghe tiếng
mà chẳng tránh xa.
Phải nên
quen gần một pháp, chính là tất cả pháp đều không chỗ
có. Nếu được trí nhẫn các pháp không chỗ có, tất chẳng
gần gũi, tôn thờ cúng dường những Tỳ Kheo ác như vậy.
Lại phải
đi sát hai pháp: một là cầu ngộ chứng các pháp vốn không
chỗ có, hai là cầu ngộ chứng pháp tánh nhưng cũng chẳng
nên sanh tâm mong cầu. Phải cầu thế nào? Như chỗ mong cầu
đều bất khả đắc. Trong bất khả đắc chẳng nên sanh tâm
bất khả đắc, như là chẳng sanh tà kiến. Được như vậy
thì lìa được tất cả tâm trong tam giới mà thuận Bồ đề
hạnh, thời lìa được tất cả tâm hữu tướng mà thuận
Bồ tát hạnh.
Chính những
điều đã nói trước kia là Bồ Tát hạnh. Do đây nên khi
được nghe pháp nầy rồi cần phải xa lìa tà hạnh. Được
như vậy thì sẽ được gần gũi phụng thờ đức Phật Di
Lặc vị lai. Người nầy tâm chẳng cống cao, cũng chẳng ty
liệt, tự thấy sung sướng an vui được ra khỏi lưới ma
và ác đạo.
Nầy Đai
Ca Diếp! Đời sau nếu có người nghe kinh điển nầy mà chẳng
sợ hãi, và thấy thân mình tùy thuận theo những điều đã
dạy trong đó, lại có thể phát tâm thọ trì, Phật thấy
rõ người này quyết định sẽ hộ trì chánh pháp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như ông trưởng giả giàu có lớn, con trai ông thấy
những đồ vật trong nhà nhẫn đến chậu đựng nước đều
nghĩ là của cha mình. Lúc sau trưởng giả chết, tài sản
hư hao, con trai ông tình cờ thấy chậu đựng nước, liền
nhớ là vật của cha mình, bèn lấy cất hoặc đem theo.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời sau nầy các Tỳ Kheo cũng như vậy. Họ được
nghe kinh này, liền nghĩ rằng đây là những lời từ phạm
âm nhu nhuyến vi diệu của đức Như Lai nói ra. Họ sẽ đính
chánh với hàng Tỳ Kheo hủy báng rằng: Kinh này chính thật
là của Đức Như Lai nói: Tỳ Kheo trì pháp nầy, chúng ít
yếu thế, đem kinh điển nầy cất giữ ngày đêm, bị nhiều
người bài bác!
Nầy Đại
Ca Diếp! Hạng Tỳ Kheo trì pháp đời sau này, ta thấy và biết
rõ họ, ta đem họ giao phó cho Phật Di Lặc, họ sẽ là những
người bảo vệ chánh pháp của Như Lai trong thời kỳ cuối
cùng, sau đó họ sẽ là bực đại thí chủ vô ngại.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu người nào được nghe pháp này, tùy theo trí
huệ của mình mà tu hành, làm cho chúng sanh có chánh kiến
và chánh tín, thời đời vị lai sẽ được gặp Phật Di Lặc,
trong pháp hội ban đầu đầy đủ phạm hạnh và cũng sẽ
bảo vệ chánh pháp trong thời kỳ cuối cùng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ta quan sát khắp tất cả không có người nào chẳng
được gần gũi ta mà có thể chẳng hủy báng, sau khi được
nghe kinh điển này và có thể thọ trì đọc tụng trong thời
kỳ năm mươi năm ơ đời sau này. Nếu hiện nay người nào
được gặp ta và kính thờ cúng dường, trong năm mươi năm
ở đời sau này, sẽ thọ trì đọc được kinh điển đây.
Những người này chẳng đợi ta tán thán công đức, họ sẽ
tự thành nhứt thiết chủng trí. Lúc đó những người này
sẽ nhớ đến ta, lòng họ vui mừng tự nói rằng rầt kỳ
đặc, rất hy hữu! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khéo nhiếp thọ
hộ niệm chúng tôi.
Nầy Đại
Ca Diếp! Vì lẽ trên đây, các ông và mọi người phải học
pháp này. Người học pháp này thời sự chứng được tất
cả công đức theo chỗ nguyện cầu đều không khó đối với
họ”.
Đại Ca Diếp
bạch rằng: “Thế Tôn! Việc làm của tôi đã trọn đã xong,
không còn cầu mong gì khác. Đối với pháp này tôi thối thất
đạo Vô thượng Bồ đề. Tôi rất biết đủ, trọn không
thể thành nhứt thiết chủng trí.
Bạch Thế
Tôn ! Vô thượng Bồ đề là sự quá hi hữu, hàng Thinh Văn
chúng tôi khó chứng được”.
Phật bảo
Đại Ca Diếp: “Ta chẳng phải vì ông mà nói pháp này nhưng
nay do ông hỏi nên ta vì người khác và giảng nói. Đối với
pháp này ông chớ sanh lòng nghi. Các ông cũng sẽ sớm chứng
được vô thượng Bồ đề.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu có chúng sanh khao khát pháp này, mong cầu pháp
này, lần lần đều sẽ chứng Vô thượng Bồ đề. Khi đã
chứng được bèn vì dứt tất cả tâm mong cầu nên tuyên
nói chánh pháp cho chúng sanh.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát phải trọn nên bốn pháp và phát tâm tinh
tấn.
Những gì
là bốn pháp? Tinh tấn như thế nào? Nghĩa là chẳng cầu sắc
thọ, tưởng, hành, thức mà cầu pháp vô lậu, chính là không
địa, thủy, hỏa, phong, chẳng nói địa, thủy, hỏa, phong.
Bao nhiêu ngôn thuyết đều gọi là phương tiện biểu thị.
Những pháp biểu thị này đều chẳng phải có thiệt. Bồ
Tát chẳng nên cho pháp biểu thị là chơn thật”.
Đại Ca Diếp
bạch rằng: “Thế Tôn! Đối với Như Lai chúng tôi thiệt
không nghi ngờ.
Nếu có
người hỏi rằng pháp biểu thị đây nếu chẳng phải chân
thật, thời âm thanh ngôn thuyết biểu thị của Phật cũng
là hư vọng ư?
Bạch Thế
Tôn! Nếu có người hỏi như vậy, thời phải đáp thế nào?”.
Đức Phật
dạy: “Này Đại Ca Diếp! Đời vị lai có hàng Tỳ Kheo chẳng
tu thân, giới, tâm và huệ, nhiều sân hận, lời nói thô xẵng,
không thể thọ trì đọc tụng kinh điển này. Vì họ ở nơi
sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà sanh tâm.
Lại có một
hạng Tỳ Kheo trụ nơi pháp tại gia, không cầu mong thắng
nghĩa.
Như người
sanh manh lấy tràng hoa bằng vàng đội lên đầu để trang
sức, mà họ chẳng tự thấy được. Đời sau đây, hàng Tỳ
Kheo này cũng như vậy. Họ nghe kinh điển đây còn chẳng thọ
trì được văn tự ngôn thuyết, huống là có thể tu và chứng
nhập thắng nghĩa!
Như bọn
trẻ thơ bị người lớn quở rầy, lúc sau nghe đến tên người
lớn, bọn trẻ thơ này đều sợ hãi. Hàng Tỳ Kheo sau này
cũng như vậy, nghe trong kinh này cứ theo sự thật mà nói những
điều lỗi lầm, họ đã chẳng ăn năn mà trở lại sợ hãi
đối với kinh này.
Như cột
con ễnh ương nơi tay khỉ, mà con khỉ này chẳng xây mặt
ngó đến. Hàng Tỳ Kheo đời sau này cũng như vậy. Họ nghe
kinh điển đây bèn chống trái chẳng đoái đến, cũng chẳng
chịu đứng ở trước.
Như chồn
cáo bị chó rượt bèn chạy đến gò mả, trong hang, xuống
hầm sâu. Hàng Tỳ Kheo đời sau này cũng như vậy, họ nghe
kinh điển đây bèn trốn lánh.
Trên đây
nói chồn cáo chạy là nói phạm giới cấm rồi hủy báng
kinh này. Họ đã nghe kinh này bèn bỏ đạo về nhà chạy theo
cảnh dục, theo phụ nữ, theo đấu tranh, theo y thuật, theo
xử đoán, rồi ở trong đó phạm nhiều cấm giới.
Ta nói những
người này như chồn chạy vào gò mả. Những người sau khi
chết đọa ác đạo, như chồn chui xuống hang. Những người
này sẽ sa địa ngục, như chồn rớt xuống hầm sâu. Những
người này trọn nên pháp tắc của chồn cáo, không thể ngộ
nhập kinh điển này, chỉ có thể hủy báng và ca ngợi những
lỗi lầm. Sau khi chết họ sẽ đọa đại địa ngục.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như có người hỏi: Nếu phương pháp biểu thị không
phải chân thật, thời ngôn thuyết của Như Lai cũng chẳng
chân thật. Còn nếu pháp biểu thị của Phật là chân thật,
thời các pháp biểu thị cũng phải đều chân thật?
Người trí
nên gạn lại hỏi rằng: Nay Đại Đức chấp lấy sự gì?
Là chấp lấy không, hay chấp lấy pháp biểu thị?
Nếu họ
nói là họ chấp lấy pháp biểu thị, thời nên bảo họ rằng:
Đại Đức là Phật. Vì Đại Đức có ngôn thuyết biểu thị
pháp.
Nếu họ
nói là họ chấp lấy không, thời nên bảo họ chỉ rõ chấp
lấy những không gì? Vì không thể lời nói gọi là không.
Nếu họ
chấp lấy biểu thị cho là không, hoặc nơi ngã, ngã sở,
chúng sanh, thọ giả, chẳng phải không mà chấp là không,
thời hỏi họ có thích tất cả pháp không chăng? Nếu họ
nói là chẳng thích, thì nên bảo họ rằng từ lâu ông đã
quên mất bổn phận Sa Môn Thích tử, vì đức Phật dạy tất
cả không vô ngã. Đức Phật chẳng nói có ngã, chúng sanh,
thọ giả, hữu tình.
Nếu họ
nói rằng họ thích tất cả pháp không, thời nên bảo họ
rằng lòng ông còn thích tất cả pháp không, huống là đức
Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác.
Lại nầy
Đại Đức! Nhãn là Như Lai hay nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý là
Như Lai? Nếu họ nói rằng nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý là
Như Lai, thời nên bảo họ rằng nay Đại Đức cũng là Như
Lai.
Nếu họ
nói nhãn, tỷ, thiệt, thân, ý chẳng phải Như Lai, thời nên
bảo họ rằng: Đại Đức nói nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý biểu thị chẳng phải Như Lai, thế thì chẳng phải biểu
thị chính là Như Lai vậy.
Nếu họ
nói nhãn, nhĩ v.v... chẳng phải Như Lai, cũng chẳng phải rời
nhãn, nhĩ v.v... có Như Lai. Thời nên bảo họ rằng: Đức
Như Lai nói thập nhị xứ : nhãn, nhĩ v.v... sắc, thinh, v.v...
đây chính là chúng sanh, và là danh tự chúng sanh. Nay Đại
Đức cho nhãn là Như Lai hay chẳng phải là Như Lai? Nhẫn đến
pháp là Như Lai hay chẳng phải là Như Lai?
Nếu họ
nói nhãn là Như Lai, nhẫn đến pháp là Như Lai. Thời nên
bảo họ rằng cứ như lời Đại Đức nói thời tất cả
chúng sanh và núi, rừng, cây, đất lẽ ra là Như Lai cả!
Nếu họ
nói nhãn chẳng phải là Như Lai, nhẫn đến ý chẳng phải
là Như Lai. Thời nên bảo họ rằng cứ như lời Đại Đức
thời Như Lai chính là pháp và phi pháp?
Nếu họ
lại nói sắc chẳng phải là Như Lai, nhẫn đến pháp chẳng
là Như Lai. Thời nên bảo họ rằng nếu như vậy có lẽ cho
phi pháp là Như Lai chăng?
Nếu họ
nói cho phi pháp là Như Lai. Thời nên bảo họ rằng nếu như
vậy thời những chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ,
chẳng kính trọng bực Sa Môn, Bà La Môn và Sư Trưởng, những
kẻ sát sanh, trộm cướp đến tà kiến v.v... lẽ ra là Như
Lai cả.
Nếu họ
nói phi phi pháp là Như Lai, thời nên bảo họ rằng: Nếu phi
phi pháp là Như Lai thời không có biểu thị. Đại Đức cho
không biểu thị là Như Lai ư?
Nầy Đại
Ca Diếp! Nên vấn đáp như vậy để chiết phục kẻ ngu si.
Ta không thấy
trong loài người hay trên trời có ai đối luận được với
người nói đúng pháp như vậy. Chỉ trừ hạng ngu si, sân
hận không nhận lấy pháp đúng thật. Dầu có vì họ mà khai
thị, họ vẫn không có lòng tin, họ chê bai pháp không mà
bỏ đi.
Các ông phải
thọ trì kinh nầy.
Đời vị
lai sau nầy, có các Tỳ Kheo thọ trì kinh điển đây sẽ có
ba danh từ để biểu thị chính là nói đoạn diệt: không
vật, không uẩn và không cung kính. Kinh điển này sẽ bị
họ hủy báng.
Các ông xem
vào thời kỳ đó, họ chẳng kính Phật, chẳng kính Pháp.
Họ chỉ theo danh tự biểu thị. Họ luống mang danh từ là
Tăng mà không có thật đức. Dầu họ xưng niệm danh hiệu
của Phật, có người khai thị, họ cũng chẳng hiểu được.
Như thế thời làm sao phụng trì Như Lai được! Dầu họ thuyết
pháp, mà họ cũng chẳng biết được ý thú của Như Lai. Như
thế thời làm sao được gọi là thuyết pháp giỏi.
Cả bốn
đôi tám chúng Thanh Văn đệ tử Phật chỉ biết danh từ kia,
mà chẳng biết thật nghĩa đối với công đức kia. Họ vì
tứ sự cúng dường mà hủy báng chánh pháp.
Chư Bồ
Tát phải tinh tấn thọ trì đọc tụng kinh điển này, hết
lòng mến ưa tôn trọng, để làm người bảo hộ thành trì
chánh pháp sau này.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ta nhớ thuở quá khứ cả chín mươi mốt kiếp, thời
kỳ không có chánh pháp, kinh điển nầy không có lưu hành.
Ta lại nhớ
thuở quá khứ có đức Phật Hưu Tức Nhiệt Não trụ thế
tám muôn bốn ngàn kiếp giáo hóa Bồ Tát, lợi ích chúng sanh.
Ta lại nhớ
thuở quá khứ có Vô Biên Lực Như Lai trụ thế hai mươi ức
kiếp, thật hành Bồ Tát đạo hai mươi ức kiếp, rồi sau
mới chứng Vô thượng Bồ đề!
Nầy Đại
Ca Diếp! Ông xem chư Phật tu tập biết bao nhiêu là công hạnh
khó làm để lợi ích cho chúng sanh!
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời trược ác mạt thế nầy, chúng ta không nên
khinh tiện thân mình. Vì trong đời trược ác, nhẫn đến
có một người nhân nơi ta mà tin hiểu pháp này thời là rất
hi hữu. Tất cả chúng sanh không làm tổn hại ta cũng là hi
hữu.
3Vì pháp
nầy là pháp lành của bực trượng phu. Nghĩa là đối với
các hành pháp mà không chấp lấy lành pháp, đây là khó hiểu
khó biết.
Nếu có ngã
kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, hữu tình kiến, nếu
thấy là có: có giới, có đa văn, có Phật, có Pháp, có Niết
Bàn, nếu chấp có Niết Bàn, thời Phật gọi đó là tà kiến.
Vì chính đức Phật đối với Niết Bàn vẫn vô phân biệt
và vô sở đắc. Do đây nên nếu có phân biệt cùng có sở
đắc đối với Niết Bàn, đức Phật đều gọi là tà kiến.
Đã là tà
kiến thời gọi là vô trí. Đã là vô trí thời tổn hại.
Đã là tổn hại thời gọi là ngu phu. Đã là ngu phu thời
không ưa thích đại Bồ đề và cũng xa lìa thắng đạo nhẫn
đến xa lìa quả báo cõi trời.
Nầy Đại
Ca Diếp! Đời vị lai, sẽ có các Tỳ Kheo vì già yếu mà
trang nghiêm y phục. Dầu họ cạo bỏ râu tóc, mà hủy hoại
oai nghi, không có oai quang, xu hướng tà pháp. Do ý tội che
chướng nên hoặc dối hiện oai nghi, hoặc dối hiện tu trì
phạm hạnh, hoặc tự xưng không ai bằng ta. Họ dùng ba điều
trên để tỏ rằng họ đã có chứng đắc. Họ sa vào lỗi
tăng thượng mạn. Lúc lâm chung họ nghĩ gẫm những lỗi mà
họ đã phạm, tự biết giải đãi không siêng tu hành, lòng
họ ăn năn đau khổ. Sau khi chết họ phải đọa địa ngục.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nay Phật tuyên bố rõ ràng với các ông: Phật là
chơn thiện tri thức của các ông, luôn thương mến muốn làm
lợi ích cho các ông, không để các ông sau nầy phải chịu
khổ nơi ba ác đạo.
Nầy Đại
Ca Diếp! Phật không bao giờ cho những kẻ chấp lấy ngã kiến,
chúng sanh kiến, thọ mạng kiến, hữu tình kiến được xuất
gia trong chánh pháp của Phật. Phật đã không cho mà vẫn cố
xuất gia thời đều là kẻ giặc ăn nhờ tín thí, và cũng
không thành được Tỳ Kheo chơn thật.
Nầy Đại
Ca Diếp! Thà tuyệt thực, chớ không nên đã được xuất
gia trong chánh pháp ăn nhờ tín thí mà chấp lấy ngã, chúng
sanh, thọ mạng, hữu tình nhẫn đến chấp lấy Niết Bàn.
Do đây nên
chư Bồ Tát phải phát tâm tinh tấn, chẳng nên có kiến chấp
ngã, chúng sanh, thọ giả, hữu tình cùng chấp lấy Niết Bàn.
Phải thuyết pháp để dứt trừ tất cả kiến chấp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Kinh điển nầy, nay Phật giao phó cho chư Bồ Tát.
Vì ý chí của chư Bồ Tát đồng với Phật, là bạn lữ của
Phật, có thể lãnh được sự giao phó của Phật”.
Lúc đó đức
Phật nói kệ rằng:
“Sự đau
khổ quần sanh bị bức
Không có
ai cứu hộ vẹn toàn
Chỉ có
nhờ bực Đại Đạo Sư
Chính là
đấng không còn hí luận.
Những chúng
sanh chìm trôi khổ não
Tu học theo
tà đạo kém hèn
Lần lần
thêm dục nhiễm tham sân
Do đây phải
vào ba ác đạo
Không ai
dắt cũng không người cứu
Ở mãi nơi
nguy hiểm xa xuôi
Thẳng đến
trong mê chấp đạo tà
Trọn không
chỗ an vui yên ổn.
Ví như người
đi buôn cầm vốn
Muốn lợi
nhiều dong ruổi đường xa
Nơi giữa
đường gặp giặc xông ra
Cướp tiền
hết hóa hàng cũng hết
Mất của
cải tay không trở lại
Tiếc của
tiền đau xót nơi lòng
Mất hết
luôn cả vốn mượn vay
Bị đòi
nợ càng thêm sầu khổ.
Những chúng
sanh đời sau cũng vậy
Vì pháp
nên dốc chí xuất gia
Bao nhiêu
pháp đã thọ đã trì
Cùng thiện
nghiệp đều tiêu tan sạch.
Chỉ cạo
được sạch râu cùng tóc
Mà ngu si
vào giữa đạo tà
Chấp lấy
ngã, thọ giả, chúng sanh
Cũng chấp
lấy hữu tình là thật.
Với Tỳ
Kheo đúng theo chánh pháp
Giảng pháp
không chẳng chấp ngã nhơn
Họ không
tin hủy báng chê bai
Do tà kiến
sa vào địa ngục
Lại thêm
vì giận hờn ganh ghét
Nên kiếm
điều bài bác lẫn nhau
Tự phạm
lỗi vì sợ người hay
Nên họ
vọng vu người phạm tội
Thân đã
ác miệng càng thêm ác
Ý nghiệp
nhiều tưởng niệm chẳng lành
Mãi đảo
điên theo kiến chấp tà
Hạng người
này tất vào ác đạo.
Đã gây
tạo rất nhiều nghiệp ác
Tất mau
qua đến cửa tam đồ
Biết bao
nhiêu đau đớn đốt thiêu
Rất khổ
sở không ai cứu được.
Đời vị
lai có Tỳ Kheo chúng
Lòng vội
vàng nhiều giận nhiều hờn
Bức não
người chơn chánh xuất gia
Đã phát
tâm Bồ đề Vô thượng.
Đây là
hạng đáng kinh đáng sợ
Đã bác
bài kinh điển đại thừa
Lại không
lòng lãnh thọ kính tin
Giáo pháp
của Thích Ca Văn Phật
Họ giận
hờn lẫn nhau ganh ghét
Nên lẫn
nahu làm khổ làm nàn
Lại rêu
rao bày lỗi lẫn nhau
Tiếng xấu
xa truyền lan khắp chỗ.
Đem việc
xấu vu khống người khác
Lỗi của
mình thời thẹn dấu che,
Người nhu
hòa yếu thế ít người
Kẻ tà ác
chúng đông thế mạnh,
Thấy như
thế biết chánh pháp suy
Nên người
ác thêm nhiều thế lực.
Những đệ
tử đáng thương của Phật
Chính chỉ
cho các thiện Tỳ Kheo
Phải dắt
nhau tìm chỗ tìm nơi
Lánh kẻ
ác ở nơi an ổn
Khỏi tai
nạn sanh lòng bi mẫn
Người nhu
hòa khó được chung cùng
Phải gẫm
suy giáo nghĩa trong kinh
Cố thật
hành theo lời Phật dạy.
Nếu người
bảo đây là xứ ác
Chớ nên
ở phải gấp lìa xa
Nên mau qua
đến thánh đạo tràng
Là nơi Phật
thành Vô thượng giác.
Hoặc có
người hảo tâm chỉ bảo
Chính các
Ngài khéo nói lời lành
Kinh hành
quanh tháp để cầu chơn
Đúng thật
là Thế Tôn giáo pháp
Thiện Tỳ
Kheo phải cùng nhau đến
Chốn đạo
tràng an ổn tu hành
Chớ chẳng
nên thường ở nơi đây
Phải mang
lấy ác tà bứt ngặt.
Đến đạo
tràng thấy di tích Phật
Nhớ xưa
kia đức Phật kinh hành
Chính chỗ
này Phật ngự tu hành
Thành đạo
chuyển pháp luân Vô thượng
Pháp hữu
vi vô thường biến hoại
Giờ đâu
còn thấy được cảnh xưa
Thiên, Long,
Bát bộ, Nhơn, phi Nhơn
Bồ Tát,
Thanh Văn đồng nghe pháp
Thiện Tỳ
Kheo đã đồng vân tập
Phải nhiếp
tâm đúng lý nghĩ suy
Chính chỗ
này đức Phật đạo thành
Bố ma quân
dẹp trừ tà ngoại
Sau khi quán
Bồ đề giác thọ
Vì năm người
A Nhã Trần Như
Chuyển pháp
luân tứ đế ba vòng
Nên Phật
ngự đến vườn Lộc Uyển
Và kia là
Ta La Song Thọ
Nơi cuối
cùng Phật nhập Niết Bàn
Kim thân
thành Xá lợi Kim cương
Để lợi
ích quần sanh mãi mãi.
Kính mến
thay! Thế Tôn Đại Thánh
Đau lòng
thay! Phật nhập Niết Bàn
Nay chỉ
còn nghe được Phật danh
Chẳng gặp
Phật thật là đáng tiếc.
Vì trí Phật
đã thấy xa biết rộng
Giờ cuối
cùng lại độ Thiện Hiền
Đây là
lần giáo hóa rốt sau
Duyên đã
mãn hiện bày tịch diệt.
Đời còn
Phật người tu chơn chánh
Đương tu
chết hoặc lúc phát tâm
Hoặc tu
rồi thân chết mạng vong
Đều được
sanh cõi lành tất cả.
Đời mạt
pháp còn đâu chánh pháp
Được cúng
dường không luận phạm trì
Của thí
kia thọ dụng quá nhiều
Sau khi chết
tất vào ác đạo
Này Ca Diếp!
Ông nên quan sát
Hàng Tỳ
Kheo thiện ác phân hai
Người chơn
tu dầu ở đời sau
Vẫn được
hưởng quả lành phước huệ.
Chư Bồ
Tát những người đại trí
Có lòng
từ lợi ích chúng sanh
Phải chuyên
cần tu học kinh nầy
Tâm an ổn
vui mừng hớn hở.
Được như
thế sau đây thành Phật
Ngày gần
đây gặp đức Từ Tôn
Nghe pháp
lành cung kính cúng dường
Được Di
Lặc xoa đầu thọ ký.
Này Ca Diếp!
Nay ta thành thật
Thốt ra
lời an ủi người lành.
Đời sau
này dầu chẳng thấy ta.
Nhưng không
khác hiện tiền gặp Phật.
Ta cũng nhắc
đời sau phụ nữ
Nếu phát
tâm Vô thượng Bồ đề
Ta sẽ cùng
chư Phật mười phương
Hộ niệm
họ ban lời an ủi.
Họ sẽ
sớm rời thân phụ nữ
Được thân
nam gặp đức Từ Tôn
Hầu Di Lặc
cung kính cúng dường
Lòng sở
nguyện thảy đều như ý.
Ta nhắn
nhủ đời sau đệ tử
Phải học
đòi người trí xuất gia
Tín tâm
sâu chí nguyện vững bền
Thông chánh
pháp kiên trì giới luật.
Để sau
này dự hội Long Hoa
Được Di
Lặc xoa đầu thọ ký.
Hàng đệ
tử đã nghe lợi ích
Sanh tín
tâm tu hạnh thiện hiền
Tâm vững
bền chí nguyện cao xa
Tận vị
lai nhiếp quần sanh loại.
Này Ca Diếp!
Nơi đây ai được?
Ông lắng
nghe ta sẽ nói đây
Người tinh
cần có huệ siêng tu
Quả Vô
thượng chứng liền không khó.
Siêng tu
tập từ bi rộng lớn
Xa hẳn lòng
dua bợ vạy vò
Nên thích
ưa vắng vẻ rảnh rang
Chính đó
là Bồ đề đạo cả.
Chánh pháp
đây nếu không tin thọ
Luống nói
suông không thể thật hành
Được mọi
người lễ kính cúng dường
Đây là
kẻ giặc loàn đáng sợ.
Nếu lại
có người vì ăn mặc
Cầu mong
nhiều lợi lộc cúng dường
Mà thọ
trì chánh pháp kinh đây
Truyền lẫn
nhau luận bàn giảng thuyết
Đây là
kẻ ác tà hoạt mạng
Cũng gọi
là luống sống qua ngày
Sau khi rời
bỏ mất thân người
Tất phải
đọa tam đồ thọ khổ
Hoặc có
kẻ vào trong Phật pháp
Giả danh
làm Đại Đức Tỳ Kheo
Họ không
tin hủy báng khế kinh
Khéo rành
rẽ giảng bày giới cấm
Rằng ta
đây hoằng tuyên đầy đủ
Ba la đề
giới pháp mộc xoa
Hạng này
dầu có tướng Tỳ Kheo
Trọn sa
đọa mất thân thiện đạo
Nếu có
kẻ chê bai thiện đạo
Hủy báng
luôn nhứt thiết trí lành
Đây là
người báng chánh pháp luân
Tội nầy
lại nặng hơn tội trước
Nếu người
nào khéo gìn thân ý
Cũng gìn
lời không lỗi không lầm
Ác nghiệp
xa thêm lớn hạnh lành
Tất sẽ
được Niết Bàn quả tốt”.
Xem Tiếp
Theo Trang 2