LỜI
NGƯỜI DỊCH
Kinh
Bát Đại Nhân Giác là bộ Kinh ngắn gọn, song nội dung lại
bao quát hầu như toàn bộ tư tưởng căn bản, chủ yếu của
Phật giáo; lại thêm, văn Kinh trong sáng, gảy gọn, dễ đi
vào lòng người, nên xưa nay rất được các bậc thiền đức
coi trọng, truyền bá. Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc,
các tăng ni sinh trong Tòng lâm và Phật Học Viện phải học
thuộc lòng và đọc tụng Kinh này hàng ngày.
Ở
Việt Nam, Kinh Bát Đại Nhân Giác được dịch và dạy trong
chốn tòng lâm và Phật Học Viện như môn học bắt buộc
của người sơ tâm xuất gia, cũng như được lưu truyền rộng
rãi trong giới Phật tử lâu nay. Pháp sư Diễn Bồi năm 1958
sang Việt Nam giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác ở chùa Xá Lợi
từng bảo: "Hành giả Phật giáo Trung Quốc trước nay thường
tụng niệm Tâm Kinh Bát Nhã, càng nên thọ trì thêm Kinh Bát
Đại Nhân Giác; hành giả Phật giáo Việt Nam trước nay thường
tụng niệm Kinh Bát Đại Nhân Giác, càng nên chí tâm tụng
đọc thêm Tâm Kinh Bát Nhã."
Như
vậy đủ thấy, Kinh Bát Đại Nhân Giác và Tâm Kinh Bát Nhã
có vai trò quan trọng trong đời sống tu học của người con
Phật như thế nào!
Nội
dung Kinh này bao gồm tám điều giác ngo?của bậc Đại nhân
(Phật, Bồ tát), nghĩa lý uẩn súc, bao quát cả hệ thống
tư tưởng Giải thoát đạo và Bồ tát đạo trong Phật giáo,
nên trước giờ có rất nhiều vị Cao tăng Thạc đức chú
thích, giảng giải.
Quyển
sách này biên tập mười bài giảng về Kinh Bát Đại Nhân
Giác của đại sư Tinh Vân, Tông chủ Phật Quang Sơn ở Đài
Loan hiện nay, nên có tên: Mười Bài Giảng Kinh Bát Đại Nhân
Giác. Đây là một tác phẩm Phật học phổ thông được giới
Phật tử trân trọng, truyền bá rộng rãi ở Đài Loan gần
đây. Đại sư giải thích một cách dễ hiểu, sinh động,
thực tế, cộng thêm nhiều mẫu chuyện lý thú để giúp người
nghe, người đọc dễ dàng thâm nhập diệu lý trong Kinh.
Năm
1993, người viết phụ trách môn Kinh Bát Đại Nhân Giác ở
trường hạ chùa Bửu Liên ( Bình Thạnh), Chùa Định Thành
(quận 7)…, đã sử dụng quyển sách này như tài liệu chính
để tham khảo, giảng dạy trong mùa an cư. Nhận thấy đây
là một tài liệu rất hữu ích cho tăng ni và Phật tử trong
bước đầu học Phật, nên chúng tôi vừa dạy vừa dịch
ra Việt văn, khi mãn hạ thì dịch phẩm cũng hoàn thành, và
cho in photo lưu hành nội bộ để tăng ni, Phật tử có tài
liệu tu học.
Thấm
thoát thời gian đã tám năm, bản dịch này mới được chính
thức xuất bản để kết Pháp duyên cùng đại chúng. Trải
qua thêm một đoạn đường tu học, đương nhiên khi nhìn lại
mình trong quá khứ sẽ thấy có những điểm chưa vừa ý.
Đó là do học vấn tiến bộ và tư tưởng chín chắn hơn.
Cho nên bản dịch này được bút giả xem lại, so với bản
dịch cũ có sửa lại lời văn, bổ túc thêm phần dịch thơ,
chú thích xuất xứ, nguyên văn…, để tiện cho người dạy,
người học tham khảo, tra cứu.
Trong
phần trình bày ở mỗi bài giảng, bút giả chia làm năm phần:
1. Hán văn, 2. Phiên âm, 3. Dịch nghĩa, 4. Giảng giải, 5. Dịch
thơ. Phần Hán văn và phiên âm giúp ai học chữ Hán, nhất
là tăng ni sinh lớp sơ cấp có nguyên bản tham khảo, học
hỏi. Phần dịch nghĩa dịch theo nhịp câu năm chữ, tương
ứng với nhịp câu bốn chữ Hán văn, giúp cho việc tụng
đọc và hiểu rõ nghĩa câu chữ Hán. Phần giảng giải là
của Đại sư Tinh Vân, những câu Kinh trích dẫn, bài thơ bài
kệ trong đó, dịch giả phần lớn đều nêu rõ xuất xứ,
nguyên văn ở phần cước chú, rất tiện cho việc đối chiếu,
nghiên cứu thêm. Phần dịch thơ được dịch theo thể song
thất lục bát, chú trọng âm vận, nhưng không đánh mất nguyên
ý, nhằm giúp cho việc ghi nhớ, thọ trì mỗi ngày.
Trong
phần xuất xứ, ghi tắt dựa theo qui định học thuật quốc
tế. Ví dụ xuất xứ ghi: (T09, no. 278, p. 467, a21~22). Như vậy
có nghĩa: Đại Chánh Tạng, quyển 9, Kinh số 278, trang 467,
phần trên, từ dòng 21 đến dòng 22. Đại Chánh Tạng tức
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh do Nhật Bản biên tập, là
bộ Đại Tạng Kinh phổ biến nhất hiện nay. Một trang Đại
Tạng Kinh chia làm ba phần: phần trên, phần giữa, phần dưới,
dùng a, b, c để ký hiệu.
Trước
khi soạn được một quyển Kinh Bát Đại Nhân Giác Giảng
Giải mang tính giáo khoa và hoàn thiện hơn để sử dụng chính
thức trong các trường Sơ Trung Phật Học Việt Nam, thiết
nghĩ quyển Mười Bài Giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác này sẽ
giúp thêm tài liệu tham khảo học tập cho tăng ni sinh trong
nước. Còn đối với người Phật tử nói chung, quyển sách
này sẽ khơi mở cho người đọc một nhận thức đúng đắn
về Phật giáo, tức Bồ tát đạo nhập thế với tinh thần
xuất thế! Đó là:
Sự
đời đã tắt lửa lòng
Vẫn
len vào chốn bụi hồng lợi sinh!
Người
đọc sẽ phát hiện: Giải thoát đạo và Bồ tát đạo bổ
túc và thành tựu cho nhau. Đại thừa và tiểu thừa chỉ xác
định trên tâm lượng rộng lớn hay nhỏ hẹp, mà không phải
ở pháp này thấp, pháp kia cao. Như Kinh Kim Cang nói: "Các pháp
bình đẳng không có cao thấp."
Kinh
Bát đại nhân giác có giá trị về tư tưởng và hành trì
như vậy, mong rằng những ai là đệ tử Phật luôn ghi nhớ,
tụng niệm mỗi ngày, để tự tỉnh thức và thức tỉnh mọi
người, cùng sống đời Đại nhân an lạc, giải thoát.
Cuối
cùng, xin dẫn lời của Đại sư Tinh Vân để thay lời kết:
Tám điều giác ngộ như la bàn của nhà đi biển, chỉ ra con
đường phía trước cho nhân sinh! Tám điều giác ngộ như
tiếng chuông vang vọng giữa đêm trường, thức tỉnh những
ai đang còn mơ màng trong giấc mộng! Đây chính là Thánh điển
chỉ cho chúng sinh nhận rõ đường mê, quay về nẻo giác;
giúp người Phật tử cải thiện cuộc sống, thăng hoa nhân
cách, ngày một tốt đẹp hơn!
Nghiên
cứu Sở Taipei ngày 31/10/2000
Dịch
giả: Thích Minh Quang cẩn chí
LƯỢC
SỬ NGÀI AN THẾ CAO
(Người
dịch Kinh này từ Phạn sang Hán)
Ngài
tên Thanh, tự Thế Cao là vương tử nước An Tức (một nước
cổ thuộc vùng đất Ba Tư, phía tây bắc Ấn Độ hiện nay).
Vì họ của Ngài lấy theo tên nước, nên mới có các tên
như An Thanh, An Hầu, An Thế Cao. Thuở nhỏ, An Thế Cao có tiếng
hiếu thảo, lại thêm thông tuệ, có chí cầu học; các sách
vở nước ngoài, thiên văn, địa lý, y học v.v…, thảy đều
tinh thông. Đặc biệt về phương diện ngôn ngữ, Ngài thông
thạo hơn ba mươi sinh ngữ, cho đến nghe hiểu được tiếng
chim thú. Một hôm, An Thế Cao cùng các bạn đang đi trên đường,
bổng gặp một đàn chim én ríu rít, liền nói: Chúng bảo
nhau sắp có người đem thức ăn đến. Một lát sau quả nhiên
như vậy! Mọi người ai cũng lấy làm kinh dị. Tiếng tăm
của Ngài vì thế sớm đã lừng lẫy khắp nơi.
Thế
Cao tuy ở nhà mà giữ gìn giới pháp vô cùng nghiêm tịnh.
Sau khi vua cha mất, Ngài lên nối ngôi, song do thấu đáo lẽ
vô thường khổ không, nên sớm đã xem vinh hoa phú quý như
bèo bọt mây nổi. Khi mãn tang cha xong, Thế Cao liền nhường
ngôi lại cho chú, còn mình xuất gia du phương học đạo. Với
tài đức sẵn có, chẳng bao lâu Ngài đã thông đạt Tam Tạng,
sở trường về A Tỳ Đàm và thiền quán đến mức nhập
diệu. Sau đó, Thế Cao đi qua các nước ở Tây Vực để hoằng
hóa; vào niên hiệu Kiến Hòa thứ 2 đời Đông Hán Hoàn Đế
(148), lại đến Lạc Dương Trung Quốc. Với sức thông tuệ
nghe một biết ngàn, Ngài ở đây chẳng bao lâu đã thông thạo
tiếng Hoa và tham gia công tác dịch thuật hơn hai mươi năm
(đến niên hiệu Kiến Ninh thứ 3 đời Hán Linh Đế – 170).
Đây là thời kỳ đầu của Phật giáo Trung Quốc, thuật ngữ
Phật giáo còn chưa phong phú, ít có người thông thạo cả
hai thứ tiếng Phạn và Hoa nên việc dịch thuật rất khó
khăn và khó tránh có chỗ lầm lẫn. Thế Cao nhờ là người
Tây Vực, lại thông thạo cả hai ngôn ngữ, nên dịch Kinh
rất chính xác. Kinh điển Ngài dịch nghĩa lý rõ ràng, văn
từ xác đáng, lời không hoa mỹ mà văn chất lại chẳng quê
mùa chút nào. Độc giả đọc văn, ai cũng say mê không biến
chán. Ngài được đánh giá là vị đứng đầu trong các nhà
dịch thuật thời đó, là một trong những vị mở đường,
đặt nền móng cho Phật giáo Trung Quốc. Những Kinh Ngài dịch
như An Ban Thủ Ý, Ấm Trì Nhập, A Tỳ Đàm, Ngũ Pháp Tứ Đế,
Thập Nhị Nhân Duyên, Chuyển Pháp Luân, Bát Chánh Đạo, Thiền
Hành Pháp Tưởng , Tu Hành Đạo v.v…, khoảng ba mươi bốn
bộ, bốn mươi quyển. Đây là theo Tam Tạng Ký. Ngoài ra còn
nhiều thuyết khác, như Cao Tăng Truyện nói có ba mươi chín
bộ….
Thế
Cao là người thông đạt sự lý, biết rõ nghiệp duyên của
mình. Sự tích thần dị về đời Ngài thật không ai lường
nổi.Thế Cao từng nói tiền thân của mình là một vị xuất
gia ở chung với người bạn đồng tu. Vị này ưa thích bố
thí cúng dường nhưng tánh tình lại hay sân hận. Mỗi khi
đi khất thực, gặp thí chủ nào trái ý là ông liền nổi
giận. Thế Cao từng nhiều lần khuyên bảo mà ông ta vẫn
không ăn năn cải đổi. Như thế hơn hai mươi năm, một hôm
Ngài từ biệt người bạn ấy ra đi, nói rằng:
- Tôi
đi Quảng Châu để trả cho hết túc nghiệp. Ông tinh tấn,
thông đạt Kinh điển chẳng kém gì tôi, nhưng tánh còn nhiều
sân hận. Sau khi mạng chung, e rằng ông phải bị đọa, mang
thân hình xấu xa đáng sợ. Nếu tôi đắc đạo sẽ đến
độ ông.
Sau
đó Thế Cao đến Quảng Châu, gặp thời giặc cướp hoành
hành, khắp nơi loạn lạc. Trên đường Ngài gặp một tên
thiếu niên, hắn ta rút dao ra nói:
- Ta
tìm gặp được ngươi rồi!
Ngài
mỉm cười trả lời:
- Ta
vì đời trước mắc nợ mạng của ông, nên từ xa đến đây
để trả. Ông sở dĩ gặp ta liền nổi sân, là do có lòng
hờn giận từ đời trước.
Nói
xong, thản nhiên không chút sợ hãi, ung dung đưa cổ cho chém!
Lúc ấy, người xem đứng chật cả hai bên đường, không
ai là không kinh dị.
Sau
đó, thần thức Thế Cao thác sinh lại làm vương tử nước
An Tức, chính là An Thế Cao hiện đời. Sau khi du hóa Trung
Quốc, việc dịch Kinh hoằng Pháp đã xong, gặp loạn Mạc
Quan Lạc thời Hán Linh Đế (niên hiệu Kiến Ninh thứ ba -
170) Ngài bèn chấn tích đi đến Giang Nam, nói rằng: Tôi sẽ
đến Giang Nam để độ người bạn đồng tu xưa.
Thuyền
đi đến hồ Cung Đình. Nơi đây có một miếu thờ thần nổi
tiếng linh thiêng. Các thương khách đi ngang nếu ghé lại cúng
lễ, thì đi đường sẽ xuôi buồm thuận gió. Trước đây
từng có người đến đốn trộm trúc trồng ở quanh miếu,
rồi cho thuyền chở đi. Nhưng thuyền đi được một đỗi
liền bị lật chìm, trúc trôi trở lại nơi cũ. Từ đó thuyền
nhân đều kinh sợ, không ai dám động phạm đến miếu này.
Lúc An Thế Cao cùng hơn ba mươi người khách đồng thuyền
đi ngang qua, một vài người đại diện mang lễ vật lên miếu
cúng tế để cầu bình an. Thần miếu liền giáng xuống bảo
rằng: Trong thuyền có Sa môn, xin mời lên đây! Mọi người
đều kinh ngạc, vội mời An Thế Cao lên miếu.
Ngài
vào miếu, thần liền bảo:
- Thuở
xưa tôi cùng Ngài xuất gia học đạo. Tôi thích bố thí mà
tánh lại hay sân hận nên phải bị đọa làm thần giữ miếu
ở hồ Cung Đình, cai quản chu vi cả ngàn dặm. Tôi nhờ phước
bố thí nên tài vật dồi dào, song do sân hận phải bị đọa
làm thần giữ miếu. Nay gặp lại bạn tu xưa thật vui buồn
lẫn lộn, khôn xiết bùi ngùi. Thọ mạng tôi chẳng còn bao
lâu. Thân hình to lớn xấu ác của tôi nếu chết ở đây
e rằng sẽ làm ô uế sông hồ, nên định dời sang đầm Sơn
Tây. Tôi chết đi sợ sẽ đọa vào địa ngục. Tôi có ngàn
xấp lụa và các thứ bảo vật, xin Ngài nhận lấy để xây
chùa tháp, cầu siêu độ cho tôi.
An
Thế Cao nói:
- Tôi
đến đây là cốt để độ ông. Sao ông không hiện ra cho
thấy nguyên hình?
Thần
đáp:
- Thân
tôi quá xấu xa đáng sợ, e rằng khiến mọi người kinh hãi.
Thế
Cao bảo:
- Xin
chỉ hiện một phần nào mà mọi người trông thấy không
kinh sợ.
Thần
liền từ phía sau giường đưa đầu lên. Thì ra là con mãng
xà lớn, không biết cả mình dài bao nhiêu, chỉ thấy đầu
cao đến gối. Ngài An Thế Cao liền đọc vài biến Kinh tiếng
Phạn cho nó nghe. Nghe xong, mãng xà buồn bã, lệ rơi lã chã,
giây lát liền ẩn mất.
Sau
đó, Thế Cao thu dọn lụa là và đồ vật trong miếu rồi
xuống thuyền ra đi. Thuyền dong buồm rời bến, mãng xà leo
lên núi nhìn theo đến hút tầm mắt. Khi đến Dự Chương,
Ngài đem những đồ vật của thần miếu dùng vào việc xây
cất chùa Đông Tự.
Lúc
Thế Cao đi rồi, thần mạng chung. Tối đến, mọi người
thấy có một thiếu niên đến quì trước An Thế Cao nhận
lời chú nguyện, giây lát bổng nhiên không thấy đâu cả.
Thế Cao nói với những người chung thuyền:
- Thiếu
niên đó chính là vị thần ở ngôi miếu tại hồ Cung Đình,
nay đã thoát được thân xấu ác.
Từ
đó miếu hết linh thiêng. Sau này người ta thấy một con mãng
xà rất lớn chết ở đầm Sơn Tây, đầu đuôi dài đến
mấy dặm! Nơi đây nay trở thành Xà thôn (làng Rắn) ở huyện
Tầm Dương.
An
Thế Cao sau đó đi Quảng Châu, tìm đến nhà vị thiếu niên
đời trước giết mình. Vị thiếu niên kia nay vẫn còn, song
đã trở thành ông lão tóc bạc. Thế Cao gặp vị đó, liền
nhắc lại chuyện trả nợ mạng xưa kia của mình và nói rõ
nhân duyên đời trước, rồi hoan hỷ bảo: Ta nay vẫn còn
chút dư báo, nên phải đi Cối Kê để trả cho xong!
Vị
khách Quảng Châu đó nhận ra Thế Cao là bậc phi phàm nên
chợt tỉnh ngộ, ăn năn tội lỗi trước kia. Từ đó vô cùng
cung kính An Thế Cao và tình nguyện đi theo đến Cối Kê. Đến
nơi vào chợ, gặp lúc có loạn, người ta đánh lầm trúng
đầu Ngài, nhân đó liền qua đời. Vị khách Quảng Châu hai
lần chứng kiến việc trả báo của Ngài nên vô cùng tin sợ
nhân quả, tinh tấn tu tập và thuật lại đầu đuôi câu chuyện
này cho mọi người biết. Xa gần hay biết, không ai là không
thương tiếc!
Soạn
dịch theo Cao Tăng Truyện và Phật Quang Đại Từ Điển
BÀI
GIẢNG THỨ I
KHÁI
THUẬT VỀ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC
Tôi
rất hoan hỷ khi giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác, bộ thánh điển
ứng dụng nhập thế của Phật giáo, trước các vị thính
chúng.
Trước
khi giảng vào nội dung, tôi xin thuật khái quát về bộ Kinh
này.
Tôi
dự định sẽ giảng bộ Kinh này trong mười buổi. Kinh tên
là Bát Đại Nhân Giác, nội dung có tám điều giác ngộ của
bậc đại nhân. Mỗi một điều tôi sẽ giảng trong một bài,
nên phần chánh tông sẽ có tám bài giảng. Còn đề Kinh, dịch
giả, phần tự tôi sẽ giảng một bài trong phần khái thuật.
Phần lưu thông ở cuối Kinh văn là phần tổng kết, cũng
giảng một bài. Như vậy, tổng cộng là mười bài giảng.
Vì thế giảng thuyết Kinh này, tôi gọi là Mười Bài Giảng
Kinh Bát Đại Nhân Giác(Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh
Thập Giảng).
NHÂN
DUYÊN PHẬT NÓI KINH NÀY
Phàm
một việc gì cũng có nhân duyên của nó. Đức Phật vì sao
lại giảng Kinh này? Tất nhiên đây cũng có nhân duyên. Đó
là lúc Phật ở tinh xá Kỳ Viên, một hôm trong Pháp hội,
tôn giả A Na Luật thiên nhãn đệ nhất thưa với Phật rằng:
- Bạch
Đức Thế Tôn, trong Tăng đoàn với tinh thần lục hòa, thì
việc quên mình, xả bỏ tự ngã là điều chúng con có thể
làm được; đối với chúng sanh phải tuyệt đối từ bi,
tuyệt đối nhân ái, đây cũng là điều mà chúng con đã biết…
Nhưng bạch đức Thế Tôn! Những Phật tử tại gia học đạo
rất nhiều, đệ tử xuất gia tiếp cận xã hội hoằng Pháp
lợi sinh cũng rất đông. Những vị như vậy làm thế nào
để cầu được giác ngộ, tiến nhập niết bàn? Cúi xin đức
Thế Tôn từ bi khai thị!
Đức
Phật an lành mĩm cười, hoan hỷ trả lời:
- Này
A Na Luật, lời nói của ông rất đúng. Điều ông hỏi là
vấn đề học hạnh Đại nhân (Bồ tát). Tôi sẽ vì ông mà
nói tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân, mà đệ tử
Phật nên ngày đêm chí tâm tụng niệm….
Đây
chính là nhân duyên đức Phật giảng nói Kinh này.
BỐ
CỤC KINH VĂN
Mở
đầu tất cả Kinh Phật đều có: Ta nghe như vầy, một thuở
Phật ở nơi đâu, cùng với ai v.v…., gọi là sáu việc thành
tựu. Vậy tại sao Kinh này lại không có? Đây là do Kinh này
không phải đức Phật nói ra trong một Pháp hội, mà là trích
đoạn những lời Phật dạy trong các Kinh khác, rồi biên tập
lại, nên phần tự của Kinh không có những câu Ta nghe như
vầy v.v…, và phần lưu thông ở sau cũng không có câu: Tin
nhận vâng làm.
Bố
cục của Kinh tuy không giống với các kinh khác, song vẫn có
đầu đuôi, điều mục rõ ràng, người học rất dễ dàng
nắm được bản ý của Kinh văn.
NỘI
DUNG VÀ GIÁ TRỊ
Trong
Phật giáo, phần đông các đại đức đều thừa nhận Kinh
này rất thích hợp cho hàng Phật tử tại gia thọ trì. Chúng
ta thường nghe người ta đề xướng khẩu hiệu: Phật giáo
nhân sinh, Phật giáo tại gia. Nhưng rốt cuộc làm thế nào
để kiến lập nhân sinh Phật giáo? Như thế nào mới là tại
gia Phật giáo? Điều này nhất định phải y cứ vào thánh
ngôn lượng để quyết đoán. Theo tôi nghĩ, Kinh này là một
quyển bảo điển trân quí nhất, để kiến lập nhân sinh
Phật giáo, tu học tại gia Phật giáo.
Phật
giáo tuy có xuất gia, tại gia, song tín đồ tại gia lại chiếm
đa số; Phật giáo lại chia làm nhập thế và xuất thế, nhưng
tinh thần vẫn chú trọng nhập thế; Phật giáo lại có nhân
sinh trong hiện thật và thọ sinh ở đời sau, nhưng trọng
điểm vẫn là nhân sinh trong hiện thật.
Kinh
nói:
Phật
Pháp vốn ở thế gian
Xin
đừng tìm kiếm muôn ngàn cõi xa
Bồ
đề sẳn tại lòng ta
Tìm
ngoài cuộc sống, chỉ là uổng công!
Đại
sư Thái Hư cũng nói: "Chỉ mong cầu quả Phật, song thành tựu
hay không là ở nơi nhân cách; nhân cách thành tựu thì Phật
thành tựu, đây chính là thực tế chân thật." Như vậy đủ
thấy, Phật giáo nhân sinh và Phật giáo tại gia có địa vị
quan trọng như thế nào!
Do
đó, Kinh Bát Đại Nhân Giác, quyển sách quí ứng dụng vào
nhân sinh nhập thế này, Kinh văn tuy ngắn chỉ vài trăm chữ
mà giá trị lại vô cùng trọng yếu! Tám điều giác ngộ
như la bàn của nhà đi biển, chỉ ra con đường phía trước
cho nhân sinh! Tám điều giác ngộ như tiếng chuông vang vọng
giữa đêm trường, đánh thức những ai còn mơ màng trong giấc
mộng! Cho nên, đây là Thánh điển giúp chúng sinh nhận rõ
đường mê, quay về nẻo giác; giúp người Phật tử tại
gia cải thiện, thăng hoa cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn!
GIẢI
THÍCH ĐỀ KINH
Hán
văn:
Phật
thuyết Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
Giảng
nghĩa:
Đức
Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni vốn là vương tử nước Ca Tỳ
La Vệ ở Ấn Độ. Vì muốn liễu sinh thoát tử, cứu độ
chúng sinh, nên vào năm mười chín tuổi Ngài quyết tâm lìa
bỏ ngôi vua, xuất gia học đạo. Năm ba mươi mốt tuổi Ngài
thành tựu Vô thượng Chánh giác dước cội Bồ đề. Sau bốn
mươi chín năm thuyết Pháp độ sinh, Ngài nhập Niết bàn ở
nước Câu Hy La, giữa hai cội cây Sala, khi vừa đúng tám mươi
tuổi. Tất cả tựa đề Kinh Phật đều có hai chữ Phật
thuyết, có nghĩa tất cả Kinh điển đều do đức Phật Bổn
sư Thích Ca Mâu Ni nói ra. Kinh này đương nhiên cũng không ngoại
lệ.
Khi
giảng đề Kinh này, chúng ta trước phải hiểu ý nghĩa hai
chữ Đại nhân. Vì đại nhân ở đây không đồng nghĩa với
chữ đại nhân trong khái niệm đại nhân va tiểu nhân. Song
nó cũng không phải chỉ người làm quan lớn, hay nhà kinh doanh
buôn bán lớn, vì Kinh này không phải chỉ cách cho người
ta thăng quan hay phát tài! Thực ra, Đại nhân ở đây là chỉ
người lo việc liễu sinh thoát tử và rộng độ chúng sinh,
cũng chính là ý Bồ tát! ( Dịch giả viết hoa chữ Đại nhân,
cũng là để phân biệt với chữ đại nhân theo nghĩa mà người
Trung Quốc thường dùng. )
Bồ
tát nói lược của Bồ đề tát đỏa, dịch ý là giác hữu
tình, tức là người lo viê? giác ngộ cho mình và người;
hay Đại đạo tâm chúng sinh, tức chúng sinh phát đạo tâm
lớn, trên cầu thành Phật dưới độ chúng sinh. Chúng tôi
vừa nói đến Bồ tát, có người liền nghĩ đến Bồ tát
Quan Âm, Bồ tát Địa Tạng v.v…. Vâng, các vị đó đều
là Bồ tát. Nhưng Bồ tát Đại nhân ở đây chủ yếu là
chỉ những người bước vào cửa Phật, phát tâm học đạo.
Các vị nghe xong chắc muốn hỏi: Người sao lại có thể gọi
là Bồ tát? Thực ra, Bồ tát không phải là tranh ảnh, cũng
không phải là những pho tượng làm bằng đồng, xi măng, thạch
cao v.v…, được bày ở điện Tam Bảo cho người cúng dường
lễ bái. Bồ tát là tượng trưng cho những đức tính sống
động trong nhân sinh. Ai có nhiệt tình vô hạn, bi nguyện vô
lượng, có thể làm lợi ích cho mình, cho người, mới là
Bồ tát sống chân chính!
Thế
gian chỉ cần thêm một vị phát tâm Bồ đề: Trên cầu Phật
đạo, dưới độ chúng sinh, thì sẽ thêm một vị Bồ tát.
Bồ tát vốn chia ra rất nhiều bậc: Thập tín, thập hạnh,
thập trụ, thập hồi hướng, thập địa, diệu giác v.v…,
tất cả có năm mươi mốt bậc. Các vị Bồ tát Quán Âm,
Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền đương nhiên đều là Bồ
tát từ thập địa trở lên. Nhưng nếu các vị là những
người phát tâm gánh vác sự nghiệp lớn giải thoát sinh tử,
hóa độ chúng sinh, thì cũng có thể gọi là Bồ tát. Song
đây chẳng qua chỉ là Bồ tát mới phát tâm, hay Bồ tát mới
khởi lòng tin. Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật,
mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát
tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngo? nên gọi là Kinh
Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân. (Bát Đại Nhân Giác
Kinh).
Nói
đến sự giác ngộ của Bồ tát, là muốn đề cập vấn đề
tâm yếu trong Phật giáo. Phật giáo là tôn giáo cốt đem lại
sự giác ngộ cho chúng sinh. Đức Phật vì một nhân duyên
lớn mà thị hiện ra đời, đó là khiến chúng sanh thể nhập
tri kiến Phật; chỉ dẫn chúng sinh bước đi trên con đường
giác ngộ. Ngược lại với giác là mê. Chúng sinh lang thang
trong sinh tử, trôi lăn nơi sáu đường, quên mất bản lai
diện mục của mình, nên gọi là mê. Nay biết luân hồi là
khổ, sinh tử đáng sợ, nhận ra rằng phải dựa theo tám Pháp
môn mà Kinh này chỉ dạy để tu hành, hầu mong giác ngộ,
giải thoát, gọi là giác.
Tập
hợp tám ý nghĩa giúp chúng sanh giác ngộ lại, gọi là Kinh.
Kinh có nghĩa là con đường thẳng. Noi theo con đường thẳng
mà Phật chỉ dạy để đi, sẽ đạt đến mục đích liễu
sinh thoát tử, tự tại an lạc. Phàm đạo lý mà có thể gọi
là Kinh, thì trên phải kế hợp với chân lý muôn đời không
thay đổi, dưới phải khế hợp với căn cơ chúng sinh muôn
ngàn sai khác. Kinh này do đức Phật nói, là chỗ tu học của
chúng sinh phát Bồ đề tâm, cho nên tên là Phật Thuyết Kinh
Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân. (Bát Đại Nhân Giác
Kinh).
KHẢO
CHỨNG VỀ NGƯỜI DỊCH
Sa
môn An Thế Cao, nước An Tức, đời Hậu Hán dịch.
Giảng
Nghĩa:
Tất
cả Kinh điển Phật nói vốn được ghi chép bằng Phạn văn
Ấn Độ, nên phải cần có dịch giả dịch sang chữ Hán.
Người dịch Kinh này là Sa môn Pháp sư An Thế Cao đời Hậu
Hán. Hậu Hán là tên triều đại, chính là nhà Hậu Hán Quang
Vũ Trung Hưng của Trung Quốc. Nước An Tức là nước Ba Tư
hiện nay. Sa môn là chỉ chung cho người học đạo. Người
Hoa dịch nghĩa là cần tức (??), ý nói: Siêng tu giới định
tuệ, dứt trừ tham sân si. Hậu Hán là chỉ thời đại An
Thế Cao ra đời. Nước An Tức là chỉ quê quán, còn Sa môn
là chỉ thân phận của Ngài. An Thế Cao chính là dịch giả
của Kinh này.
Pháp
sư An Thế Cao còn gọi là An Thanh, vốn là vương tử nước
An Tức. Vốn là người xem phú quí vinh hoa chỉ là vô thường,
giả tạm, lại thêm chán cuộc sống vua chúa suốt ngày phải
phiền phức bởi chuyện triều chính, không được tự tại,
nên sau khi lên ngôi không bao lâu, Ngài liền nhường ngôi lại
cho chú, còn mình ra đi xuất gia, chỉ với bình bát, ca sa.
Pháp sư bẩm sinh có thiên tài về ngôn ngữ, thông hiểu hơn
ba mươi thứ tiếng, nhất là tinh thông Hán văn, xem khắp các
Kinh, lại còn nghe hiểu được tiếng chim thú. Đời Ngài sự
tích thần dị rất nhiều, thế gian không sao lường hết chỗ
cao thâm. Vào thời Hán Hoàn Đế, Ngài từ nước An Tức đến
Lạc Dương, phiên dịch Kinh điển tất cả hơn một trăm bộ,
ngày nay còn truyền lại chừng hơn ba mươi bộ. Kinh luận
do Pháp sư phiên dịch nghĩa lý rõ ràng, văn từ xác đáng,
dùng từ không hoa mỹ mà văn chất lại chẳng quê mùa chút
nào. Trong lịch sử phiên dịch Kinh luận thời kỳ đầu ở
Trung Quốc, Pháp sư An Thế Cao được tán thán là vị đứng
đầu. Qua đó có thể thấy, địa vị của Ngài trong giới
dịch thuật cao cả như thế nào.
GIẢNG
VỀ PHẦN TỰA
Việt
dịch:
Là
đệ tử Phật ngày đêm nên thường chí tâm tụng niệm tám
điều giác ngộ của bậc đại nhân.
Giảng
Nghĩa:
Pháp
sư Đạo An đời Đông Tấn đã chia một bộ Kinh làm ba phần:
Phần tự, phần chánh tông và phần lưu thông. Lấy thân thể
con người để tỉ dụ, Phần tự như đầu, phần chánh tông
như thân và phần lưu thông như chân. Pháp sư Đạo An phân
phán như thế, mọi người đều khen là: "Phân phán cao minh
trùm thiên hạ, học giả xưa nay thảy tuân hành". Như vậy
đủ thấy, tính chính xác, cao minh trong sự phân định của
Ngài như thế nào.
Kinh
này tuy không phải đức Phật nói trong một Pháp hội, nhưng
cũng có phần tự, phần chánh tông, phần lưu thông một cách
hoàn chỉnh như những Kinh điển khác. Đoạn Kinh ở trên,
có thể được xem là phần tư, duyên khởi mở đầu cho bản
Kinh này.
Là
đệ tử Phật sớm tối nên có công khoá tu trì nhất định.
Trong các tự viện, phần lớn lấy chú Lăng Nghiêm, Kinh Di
Đà làm công khoá tu tập sớm tối. Thực ra, theo phần tự
của bản Kinh này, muốn thực hành Phật giáo nhân sinh, muốn
cải biến khí chất thân tâm của con người, phải lấy Kinh
Bát Đại Nhân Giác làm thời khóa tụng niệm sớm tối! Điều
này thật vô cùng xác đáng.
Người
Phật tử tại gia đương nhiên nên sớm tối thọ trì quyển
Kinh này, song hàng đệ tử xuất gia còn cần phải thọ trì
hơn nữa. Đệ tử Phật không có phân biệt gái trai già trẻ,
giàu nghèo sang hèn, xuất gia, tại gia. Chỉ cần phát tâm tin
Phật, quy y Tam Bảo, thực hành theo lời Phật dạy, đều gọi
là đệ tử Phật.
Đệ
tử Phật phải đem tâm chí thành chí thiết, không giả dối,
tạp loạn, bốn mùa xuân hạ thu đông chẳng kể là sớm hay
tối, đều phải luôn luôn ghi nhớ, miên mật quán niệm tám
điều mà Bồ tát nên giác ngộ này. Hoặc lớn tiếng tụng
đọc, hoặc niệm thầm trong tâm đều là cách tu trì tốt
nhất.
Đệ
tử Phật có bảy chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na
ni, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Kinh này đặc biệt
thích hợp cho hàng Ưu bà tắc, Ưu bà di thọ trì hơn cả.
Chúng
tôi nay đem tám điều giác ngộ trong Kinh Bát Đại Nhân Giác
trình bày ở biểu đồ sau. Sau này chúng tôi sẽ dựa vào
biểu đồ để giảng giải, mong rằng mọi người cùng chí
tâm thọ trì.
Dịch
thơ:
Người
con Phật phát tâm học đạo
Luôn
ngày đêm y giáo phụng hành
Đại
nhân giác ngộ đành rành
Tám
điều ghi nhớ, chí thành niệm tu.
BÀI
GIẢNG THỨ II
THẾ
GIAN QUAN CỦA PHẬT GIÁO
Phiên
Âm:
Đệ
nhất giác ngộ: Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy,
tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị,
hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu; như
thị quán sát, tiệm ly sinh tử.
Dịch
Nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ nhất: Thế gian vốn vô thường, cõi nước
rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã,
luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là
nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội; nếu quán sát như
thế, lần lần lìa sinh tử.
Giảng
giải:
Đây
là điều giác ngộ thứ nhất mà người tu học Bồ tát đạo,
lo việc liễu sinh thoát tư cần phải có.
Đoạn
Kinh văn này có thể nói đã chỉ tổng quát thế gian quan của
Phật giáo. Kinh văn nói: Thế gian vô thường, cõi nước mong
manh là vô thường quán; bốn đại khổ không là khổ không
quán; ngũ ấm vô nga là vô ngã quán; tâm là nguồn ác, thân
là rừng tội là bất tịnh quán.
Trước
hết tôi xin giảng về thế gian vô thường quán. Thế gian
là chỉ thời gian và không gian. Thế là thời gian ba đời:
Quá khứ, hiện tại, vị lai; gian là không gian mười phương:
Đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc,
phương trên, phương dưới.
Thế
gian cũng đồng nghĩa với vũ tru. Thời gian từ xưa đến nay
gọi là vũ; không gian bốn phương trên dưới gọi là tru.
Chúng ta sống trong không gian vô cùng và thời gian vô tận
tất phải có nhận thức về thế gian. Trong phật giáo, thế
gian không phải chỉ là hiện tượng trong thế giới tự nhiên,
mà tất cả vũ trụ và nhân sinh đều gọi chung là thế gian.
Vũ trụ quốc độ mà chúng sinh nương tựa gọi là khí thế
gian; sắc thân của chúng sinh do hoặc nghiệp tạo thành phải
chịu sinh tử là hữu tình thế gian.
Anh
thấy chăng?
Hoàng
hà nước tự trời cao
Xuôi
ra biển cả chẳng bao giờ về.
Anh
thấy chăng?
Cha
soi kính tóc bạc phơ
Sớm
tơ tối tuyết, ngẫn ngơ chợt buồn!
(Tương
Tiến Tửu – Lý Bạch)
Vì
chúng ta không biết thế gian vô thường, nên đã sinh ra nhận
thức sai lầm, cho rằng mọi sự vật là thật có, rồi khởi
tâm tham luyến, chấp trước. Song cuối cùng nhìn lại, có
mấy ai thắng vượt được vô thường?
Kinh
Kim Cang nói:
Tất
cả pháp hữu vi
Như
mộng, huyễn, bọt, bóng
Như
sương sớm, điện chớp
Nên
quán chiếu như vậy.
Đại
Trí Độ Luận cũng nói:
Thế
gian biết mấy vô thường!
Bóng
trăng, thân chuối, giả nương hợp thành.
Phước
dù đến tận trời xanh
Gió
vô thường đến, hóa thành hư vô!
Phú
quí vinh hoa trong đời khác chi giấc mộng giữa đêm. Ngay như
tấm thân mà ta mỗi ngày tắm rửa, quí tiếc, rốt cuộc sống
được bao năm? Hoàn cảnh, thân thể, tâm lý đều đang hoạt
động, đang thay đổi từng phút từng giây, không ngừng lưu
chuyển. Ruộng dâu ngày xưa nay đã trở thành biển cả; biển
cả bây giờ rồi sẽ hóa ra ruộng dâu ở tương lai! Cho nên
tục ngữ bảo: Bãi bể nương dâu là vậy. Như thế, trong
thế gian này có cái gì là trường cửu? Có cái gì là chân
thật đâu? Nếu bảo thế gian có cái gì chân thật, thì đó
chính là vô thường! Tất cả đều vô thường, huyễn hóa,
như áng mây trôi giữa trời cao, như bọt nước trên đầu
ngọn sóng, như bóng hoa ảnh hiện trong gương, như ánh trăng
long lanh trên nước!
Thế
gian đã vô thường, thì cõi nước mong manh (nguy thúy) là điều
tất nhiên không cần nói nữa. Cõi nước không an gọi là
nguy, chẳng thật gọi là thúy. Không nói chi xa, chỉ xem động
đất ở Đài Loan và Nhật Bản cũng đủ thấy. Mỗi lần
động đất có biết bao tài sản bị tổn thất, sinh mạng
bị tử vong! Cõi nước như vậy, chẳng phải mong manh là gì?
Ở
trên đã giảng rõ thế gian vô thường quán rồi, giờ lại
giải thích tiếp tứ đại khổ không quán. Chúng ta thường
nghe người không thông hiểu Phật Pháp cũng biết nói câu
tứ đại giai không. Chẳng qua tứ đại giai không ở đây
nói, không phải như người ta thường hiểu lầm, cho rằng
tứ đại là tửu, sắc, tài, khí và tứ đại giai không là
không tham luyến tửu, sắc, tài, khí. Thực ra, tứ đại khổ
không mà đức Phật ở đây, là thuyết minh về bản chất
của hiện tượng nhân sinh và thế giới.
Nói
tứ đại là chỉ bốn nguyên tố tổ hợp thành vật thể.
Nhỏ từ cánh hoa cọng cỏ, lớn đến thế giới, nhân sinh,
không một thứ nào là không do bốn nguyên tố này kết hợp
tạo thành. Bốn nguyên tố là đất, nước, lửa, gió (địa,
thủy, hỏa, phong). Đất là chất mang tính chất rắn chắc,
nước là chất mang tính ẩm ướt, lửa là chất mang tính
ấm nóng, gió chất mang tính lưu động. Tất cả hiện tượng
trong vũ trụ không có thứ nào là không do bốn chất này hợp
thành. Ví dụ lấy con người nói, lông, tóc, móng, răng, thịt,
da, gân, xương… mang tính rắn chắc là địa đại; đàm,
dãi, nước tiểu… mang tính ẩm ướt là thủy đại; nhiệt
độ trong người mang tính ấm nóng là hỏa đại; hơi thở
ra vào mang tính lưu động là phong đại.
Người
ta sống là do bốn đại hòa hợp. Nếu bốn đại không điều
hòa sẽ sinh ra bệnh, bốn đại phân tán sẽ đưa đến tử
vong. Người đã như vậy, hoa cỏ cũng như vậy. Như một cây
hoa cần phải có đất để lấy chất dinh dưỡng (địa đại),
cần có nước tưới thích nghi (thủy đại), cần có ánh nắng
của mặt trời sưởi ấm (hỏa đại), cần có không khí lưu
động (phong đại) mới mọc lên tươi tốt và đơm hoa kết
nụ. Thiếu một trong bốn điều kiện này, hoa không thể nào
sống được.
Thân
tứ đại hòa hợp của con người sao lại nói là khổ không?
Nhà triết học Lão Đam (Lão tử) nói: "Ta sở dĩ có tai hoạn
lớn là do ta có thân; nếu ta không có thân, làm gì có tai
hoạn!" Thân thể chúng ta chỉ là chỗ tích tụ của các khổ.
Trong tâm thì có các khổ phiền não: tham, sân, si; trên thân
thì có các khổ: già, bệnh, chết; ở gia đình thì khổ vì
lo ăn lo mặc, ân ái xa lìa; ngoài xã hội lại khổ do đấu
tranh phải trái, oán thù gặp gỡ; còn hoàn cảnh lại khổ
vì bão lụt, động đất, chiến tranh. Khổ cứ luôn đeo đẳng,
khống chế chúng ta. Thật đúng là chúng sinh đang sống trong
biển khổ!
Có
một số người mới học Phật Pháp, nghe nói đến chữ khổ,
liền cho học Phật chính là học chịu đựng đau khổ, không
chịu đựng được khổ, thì không thể nào học Phật! Thực
ra, đây là cách nói hoàn toàn sai lầm. Phật giáo là một
tôn giáo an lạc hạnh phúc. Chúng ta vì muốn lìa khổ được
vui, nên mới tu học Phật Pháp. Người tu học Phật Pháp trước
hết phải nhận thức đúng đắn về khổ. Ý thức được
khổ mới biết tìm cầu an lạc. Nếu như sống trong khổ mà
không cho là khổ, hoặc sống trong khổ mà lại cho là vui,
thì người như thế làm sao chịu tu học Phật Pháp?
Biết
khổ chính là cánh cửa bước vào đạo.
Thuở
xưa, có đôi vợ chồng sống trong một ngôi làng xa xôi hẻo
lánh. Hai người cực khổ làm ăn, dành dụm tài sản rất
nhiều, nhưng tuy lớn tuổi mà vẫn hiếm muộn. Họ đi cầu
cúng mọi nơi, xin Phật trời ban cho đứa con, mà mãi vẫn
không được như nguyện. Hai vợ chồng già tha thiết muốn
biết rõ nguyên nhân vì sao mình hiếm muộn, nhưng không biết
hỏi ai, vì trong làng không có người đạo hạnh. Ngày kia,
có một vị mới xuất gia đi du phương ghé ngang. Hai vợ chồng
vừa trông thấy liền mừng rỡ, mời vị ấy về nhà để
cúng dường. Thọ trai xong, hai người mới thỉnh vị xuất
gia thuyết Pháp, khai thị về nguyên nhân không có con. Vị
này vì mới xuất gia, chưa biết thuyết Pháp, nên rất bối
rối không biết nói như thế nào mới phải. Vợ chồng ấy
thành tâm thành ý quỳ trước ghế, phủ phục sát đất không
ngước đầu lên. Vị xuất gia thấy vậy trong ruột nóng như
thiêu, nghĩ rằng mình là người xuất gia không lẽ lại bảo
là không hiểu Phật Pháp, không biết thuyết Pháp hay sao? Lúc
ấy vị đó mới cảm thấy làm người xuất gia quả thật
rất khó, bất giác buột miệng thốt lên: Quả thật là khó!
Hai
vợ chồng quỳ dưới đất nghe câu ấy, thấy nói trúng tâm
trạng của mình. Họ cảm thấy câu khai thị này thật là
danh ngôn chí lý, cả hai người cầu xin chút con mà làm cách
nào cũng không cầu được, quả thật là khó! Hai người vô
cùng cảm động vội dập đầu lễ bái không ngừng!
Ngồi
ở trên thấy đôi vợ chồng đó chí thành như thế, vị này
càng thêm bối rối, tiến thoái lưỡng nan, thấp thỏm như
ngồi trên bàn chông, mồ hôi ướt đầm cả người, buột
miệng than rằng: Quả thật là khổ!
Câu
này vừa thốt ra, cả hai vợ chồng như nghe được tiếng
chuông thức tỉnh, thấy rõ chân lý. Mình cao tuổi như thế
này mà ngay một đứa con cũng không có, quả thật là kho?!
Cuộc đời quả thật là khổ! Hai vợ chồng xúc động sâu
xa, vừa quỳ vừa khóc, nước mắt đầm đìa. Vị mới xuất
gia thấy vậy không biết tính sao, ba mươi sáu kế, rút lui
là thượng sách!
Hai
vợ chồng khóc lóc hồi lâu, lại lắng nghe chờ khai thị
tiếp nhưng không thấy nói gì, vội ngước lên nhìn thì vị
xuất gia ấy đã đi mất tự bao giờ! Hai người cho rằng
đây chính là Phật Bồ tát thị hiện, chỉ cho họ biết cuộc
đời là đau khổ. Từ đó họ trở nên ngưòi Phật tử thuần
thành, tin sâu Phật Pháp, tinh tấn tu học, cuối cùng được
giải thoát khỏi não phiền.
Cho
nên, ý thức được khổ mới biết cầu giải thoát; khổ
cũng chính là tăng thượng duyên cho người học đạo.
Sao
lại nói: Bốn đại khổ không? Trong thế gian, từ thân thể
con người cho đến mọi vật đều do tứ đại hợp thành.
Vì nó do nhân duyên hoà hợp, nên giả tạm, như huyễn, không
chân thật. Trong cái hư giả ấy, con người lại phải chịu
hành hạ bởi tám thứ khổ: Sinh, già, bệnh, chết, ân ái
chia lìa, oán thù gặp gỡ, ước muốn không thành, thân tâm
đều kho? Cho nên nói: Bốn đại khổ không là vậy.
Câu
Năm ấm vô nga là vô ngã quán trong Phật giáo. Năm ấm là
gì? Năm ấm chính là đại danh từ của cái ta (ngã). Năm ấm
gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ta là một hợp thể
giữa vật chất và tinh thần. Trong Phật Pháp, vật chất là
sắc; tinh thần là thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc
có nghĩa biến ngại (??). Đây là nói tất cả vật thể hữu
hình đều biến đổi vô thường và có sự chướng ngại.
Giữa vạn vật, cái này với cái kia nếu tính chất hợp nhau
thì có chiều hướng kết hợp lại; còn như tính chất trái
nghịch nhau sẽ có chiều hướng tan rã. Kết hợp là tạo
thành, tan rã là hoại diệt.
Thọ
có nghĩa lãnh nạp (??). Cảm giác khổ đau là khổ thọ, cảm
giác vui sướng là lạc tho; khi không đau khổ, không vui sướng
gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Tưởng
có nghĩa nắm bắt hình tượng (??). Phan duyên ngoại cảnh,
nhớ việc đã qua, mơ tưởng tương lai đều gọi là tưởng.
Hành
có nghĩa tạo tác (??). Do nắm bắt hình tướng mà có hành
động tạo tác, có khi làm thiện, có khi làm ác. Đây là sức
mạnh của hành.
Thức
có nghĩa phân biệt rõ ràng (??). Như mắt có thể phân biệt
rõ các màu xanh, vàng, trắng, đen; tai có thể phân biệt rõ
âm thanh hay dở; mũi có thể phân biệt rõ các mùi thơm hôi;
lưỡi có thể phân biệt rõ các vị chua, ngọt, cay, đắng;
thân có thể phân biệt rõ cảm giác nóng, lạnh, cứng, mềm.
Sắc
thân do nghiệp báo hình thành của chúng ta sinh rồi lại tử,
tử rồi lại sinh, chính là cái ngã ngũ ấm này. Ấm có nghĩa
là che ngăn (??). Ý nói năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức
ngăn che Phật tánh chân như là bản lai diện mục của chúng
ta. Chúng sinh sở dĩ trầm luân trong biển khổ, là do mê lầm
chấp trước, cho rằng cái ngã ngũ ấm này là thật có.
Năm
ấm vô nga chính cùng một ý với Tâm Kinh Bát Nhã nói: "Bồ
tát Quán Tự Tại khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu,
sáng soi thấy năm uẩn, đều cùng một tánh không, vượt qua
vòng khổ ách". Năm uẩn cũng chính là năm ấm. Quán chiếu
thấy được năm uẩn đều không, là thể nhận được năm
ấm vô ngã.
Hiện
nay thân ngũ ấm hòa hợp của chúng ta rõ ràng là chân thật.
Thân này hành động tự do, muốn làm gì thì làm, cảm thọ
khổ vui cũng hết sức cụ thể, vậy tại sao lại nói là
năm ấm vô nga?
Thì
ra, cái ngã năm ấm xét kỹ lại chẳng qua là do nhân duyên
tạm thời hòa hợp, không thể thường tồn, không có tự
thể, cho nên nói vô ngã.
Vừa
nghe nói đến không có cái ta (vô nga), người ta nói chung đều
giật mình lo sợ! Hai chữ vô nga như tiếng bom nguyên tử phát
nổ, phá tan tình kiến ngã chấp của chúng sinh, không còn
lưu lại chút dấu vết! Cho nên, người ta đối với lý vô
ngã Đại thừa này, làm sao mà không e sợ? Thực ra, nếu chúng
ta không thể quán chiếu thấy được cái ngã năm ấm là không,
thì không sao hiển lộ được cái ngã chân thật của Phật
tánh. Hư vọng đã dứt trừ, cái chân thật tự nhiên sẽ
hiển hiện, như mây mù tan hết, mới thấy được cảnh trời
xanh trong sáng.
Ngươi
học đạo lâu năm do không thể quán chiếu thấy được năm
ấm vô ngã, nên không cách nào giải thoát, vẫn bị giam cầm
trong thế gian hư giả!
Vào
triều Tống, Thiền sư Phật Ấn ở núi Kim Sơn khi giảng Kinh
trên Pháp tòa, tứ chúng nghe chật cả Pháp đường thì có
cư sĩ Tô Đông Pha làm quan Đại Học Sĩ vừa đến nghe Pháp.
Thiền sư liền dùng cơ ngữ nhà Thiền nói với ông:
- Nơi
đây không có chỗ ngồi của Học sĩ!
Tô
Đông Pha cũng là một vị tham thiền học Phật lâu năm, nghe
qua liền dùng thiền ngữ đáp lại:
- Sao
không mượn tạm thân tứ đại của thiền sư làm tòa ngồi?
- Này
Học sĩ, ông đã muốn lấy thân tứ đại của lão tăng làm
tòa, lão tăng có câu hỏi này, ông nếu đáp được, thì sẽ
đem thân cho ông ngồi. Còn như ông không đáp được, xin đem
đai ngọc để lại chỗ này làm vật trấn sơn môn.
- Được,
được, xin Ngài cứ hỏi!
- Phật
Pháp nói: Bốn đại vốn không, năm ấm vô ngã. Vậy xin hỏi
Học sĩ lấy cái gì làm tòa?
Học
sĩ Tô Đông Pha Kinh luận nằm lòng, thế mà bị Thiền sư
hỏi một câu này cũng đành ngậm miệng, không biết làm sao
đối đáp. Mãi đến ngày nay, Chùa Giang Thiên ở núi Kim Sơn
vẫn còn lưu giữ đai ngọc của Tô Đông Pha, trở thành vật
cổ giá trị liên thành hiếm có!
Kinh
này nói năm ấm vô ngã, cách giải thích tốt nhất vẫn là
lấy văn của Kinh này để giải thích. Vì sao nói năm ấm
vô ngã? Đó là do sinh diệt biến đổi, giả dối vô chủ.
Ở
trên chúng tôi đã giảng qua thân người do nhân duyên hòa
hợp gọi là sinh, nhân duyên ly tán gọi là diệt, thân tâm
loài hữu tình thay đổi không ngừng, khi này khi khác. Cái
ta ngũ uẩn này thực ra là giả dối không thật, không có
tự do, không thể tự tại, không có chủ tể (vô chủ).
Đã
giảng qua thế gian vô thường quán, tứ đại khổ không quán,
ngũ ấm vô ngã quán, sau hết tất nhiên sẽ giảng đến bất
tịnh quán, tức câu: Tâm là nguồn ác, thân là rừng tội.
Lương
tâm! Lương tâm! Tuy mọi người lớn tiếng kêu gọi làm người
phải có lương tâm, nhưng rốt cuộc kẻ thiếu lương tâm
vẫn nhan nhản trong xã hội!
Thân
phạm tội gian dâm, tay phạm tôi trộm cướp, miệng phạm
tội ác khẩu đều do tâm sai sử, tâm làm chủ! Những tội
ác đau thương đến cùng cực, như tạt acid phá hủy nhan sắc
người mình từng thương yêu; giết hại bạn thân lâu năm
rồi phân thây, xóa mất dấu vết…, đều không phải bắt
nguồn từ tâm của con người hay sao?
Con
người vì lòng ích kỷ cá nhân nên bản tính quang minh bị
che mất. Lòng ích kỷ cá nhân quá nặng thì đâu còn kể gì
đến đạo nghĩa, nhân tình, chuyện hại người lợi mình
nào cũng dám làm cả. Trên đời này, từ việc nhỏ như thị
phi, nhân ngã trong gia đình, cho đến việc lớn như đấu tranh
trong xã hội và chiến tranh giữa các quốc gia, đều do tâm
tự tư tự lợi này mà ra cả.
Xã
hội hiện nay đề xướng việc phát minh khoa học, khích lệ
sự tiến bộ nghệ thuật, đều không ngoài mục đích đem
lại an lạc hạnh phúc cho nhân sinh. Nhưng đây vẫn là biện
pháp tương đối, tạm thời, vì khoa học, nghệ thuật không
thể hoàn toàn ngăn được nhân loại phạm tội. Vì vậy,
sau khoa học và nghệ thuật, phải cần phát dương Phật Pháp
là phương pháp trị tận gốc khổ đau, giúp con người khai
mở lương tri, chấm dứt nguồn tâm tự tư tạo tội, khiến
tâm không còn phan duyên nơi cảnh huyễn. Được như vậy,
xã hội sẽ an ninh, thế giới sẽ hòa bình và nhân loại mới
được hạnh phúc chân thật!
Cái
mà người đời yêu quý nhất là thân thể xinh đẹp, quan
tâm nhất là tài sản dồi dào. Nhưng đến phút cuối của
cuộc đời, thân thể, tài sản tất cả đều không mang theo
được! Khi còn sống, thứ mà người ta ít quan tâm nhất đó
là tâm, nhưng đến khi giả biệt cuộc đời, chỉ có nó mới
đi theo chúng ta!
Người
vì thân bận rộn nhọc nhằn thì nhiều, người vì tâm mà
thanh tịnh tu niệm lại ít! Thảo nào thế gian có biết bao
nhiêu điều lầm lỗi thiếu sót! Thân thể, tài sản không
phải là của chúng ta, tâm mới là ông chủ của mình!
Kinh
Hoa Nghiêm nói:
Tâm
như họa sĩ khéo
Vẽ
thế giới muôn màu
Cảnh
ngũ ấm thế gian
Không
pháp nào chẳng tạo.
Lại
nói:
Nên
quán tánh pháp giới
Tất
cả do tâm tạo.
Tâm
là nguồn ác, nhưng tâm cũng là nguồn thiện! Thiện hay ác
chỉ trong một niệm của chúng ta mà thôi. Vì tâm dễ tạo
ác, nên thân hữu vi do tâm tạo nghiệp chiêu cảm ra này cũng
giống như một thùng rác, chứa đầy đồ nhơ uế! Giả sử
đổi ác làm thiện, tuy có thân thể, ngay đó đã thanh tịnh
giải thoát.
Ai
có thể quán tưởng, phản tỉnh, quán sát những đạo lý
trên, thì sẽ lần lần lìa được biển khổ sinh tử! Nên
Kinh văn trong phần tiểu kết ở điều giác ngộ thứ nhất
nói: Nếu quán sát như thế, lần lần lìa sinh tư.
Ở
trên đã giảng qua điều giác ngộ thứ nhất trong Kinh Bát
Đại Nhân Giác. Nay tóm yếu nghĩa lý của điều giác ngộ
này lại như sau: Người gánh vác sự nghiệp lớn, học Bồ
tát đạo, liễu sinh thoát tử, rộng độ chúng sinh, trước
hết cần phải giác ngộ: Nhân sinh và vũ trụ vốn vô thường,
thế gian nơi đâu cũng bất an chẳng thật. Cái ta do nhân duyên
tứ đại, ngũ ấm hòa hợp này chính thật là khổ, không,
vô ngã, sinh diệt, biến đổi, giả dối, không có chủ tể.
Vọng tâm chấp trước là cội nguồn của tội ác; sắc thân
huyễn hiện là nơi chốn của nghiệp tội. Ai có thể hiểu
được đạo lý này, thường thường tư duy quán xét, sẽ
lần lần thoát khỏi đau khổ, phiền não của sinh tử luân
hồi.
Dịch
Thơ:
Điều
thứ nhất tâm luôn giác biết
Cõi
thế gian quả thiệt vô thường
Đổi
dời sinh tử tang thương
Cõi
nước tuy lớn cũng dường mỏng manh!
Thân
tứ đại sinh thành tử hoại
Già
bệnh đeo khổ ải, giả không
Hòa
hợp năm ấm lửa vòng
Chỉ
là ảo ảnh, ngã không thể tìm.
Thế
mới biết thế gian hư huyễn
Diệt
lại sinh biến chuyển vô thường
Chúng
sinh mê đấm chấp nương
Vô
ngã chấp ngã vào đường khổ đau.
Tâm
là cội nguồn bao nghiệp ác
Thân
nghe theo tạo tác tội khiên
Xuống
lên sinh tử triền miên
Tội
kia đầy dẫy như miền rừng hoang.
Người
con Phật phải toan quán sát
Đạo
lý này bao quát đường tu
Đó
là thiền quán công phu
Dứt
mê, chuyển nghiệp, khỏi tù tử sinh.
Điều
giác ngộ thứ nhất, được thuyết minh qua biểu đồ ở trang
sau.
BÀI
GIẢNG THỨ III
ĐA
DỤC LÀ CĂN BẢN CỦA SINH TỬ LUÂN HỔI
Phiên
âm:
Đệ
nhị giác tri: Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục
khởi; thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ hai: Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc
nhằn, đều từ tham dục ra; nếu ít muốn vô vi, thân tâm
được tự tại.
Giảng
giải:
Điều
giác ngộ thứ nhất trong Kinh Bát Đại Nhân Giác nói đến
thế gian quan của Phật giáo. Từ điều giác ngộ thứ hai
đến điều giác ngộ thứ bảy là nói về nhân sinh quan của
Phật giáo.
Phật
giáo nói đến thời gian, thì chia làm ba: quá khứ, hiện tại,
vị lai; còn thuyết minh không gian, lại có thế giới này,
thế giới khác, mười phương vô lượng thế giới; nói đến
hữu tình, chia làm mười pháp giới: Phật, Bồ tát, Duyên
giác, Thanh văn, trời, người, a tu la, ngạ quỉ, súc sinh và
địa ngục. Đạo lý Phật giáo tuy có phạm trù rộng lớn,
nhưng vẫn lấy vấn đề nhân sinh làm trọng tâm.
Nói
đến nhân sinh, người ta liền liên tưởng đến những vấn
đề mà con người cần thiết như ăn mặc, dục lạc, hôn
nhân v.v…. Thực ra, những vấn đề này tuy quan trọng, nhưng
quan trọng hơn cả vẫn là vấn đề sinh tử.
Giới
văn hóa ngày nay rất đông, ai cũng nêu cao khẩu hiệu mưu
cầu hạnh phúc cho nhân loại. Nhưng khoa học phát đạt, nghệ
thuật xương minh, văn học ưu mỹ, chính trị tiến bộ cũng
không thể giải trừ hoàn toàn đau khổ cho nhân loại. Khoa
học, nghệ thuật, văn học, chính trị tuy có công năng cải
thiện cuộc sống, nhưng không thể giải thoát sinh tử cho
con người.
Chúng
sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường, sinh rồi lại tử, tử
rồi lại sinh, gánh chịu biết bao đau khổ, đều do tham dục
dẫn khởi mà ra. Học thuật tiến bộ, văn minh vật chất
đều không giúp con người thiểu dục tri túc. Dục vọng càng
nhiều thì khổ não tự nhiên cũng nhiều.
Tô
Đông Pha nói: " Lòng dục của con người không cùng, song vật
có thể làm thỏa mãn lòng dục của ta lại có hạn." Các
ngành học thuật một mặt cải thiện cuộc sống của nhân
sinh, song mặt khác cũng lại làm tăng thêm dục vọng của
con người. Cho nên khoa học, nghệ thuật, văn học, chính trị
đối với nhân loại công và tội gần bằng nhau. Nó đem lại
hạnh phúc cho nhân loại, song đồng thời cũng đào sâu biển
khổ cho con người!
Túi
tham của con người không đáy, khó đầy. Mọi người đều
tranh nhau tìm cầu dục lạc do tài lợi, thanh sắc đem đến.
Song trong dục lạc đã sẵn mầm đau khổ, mà họ lại không
biết e sợ! Đây là do chúng sinh mê mất bản tính, lấy khổ
làm vui trong sinh tử luân hồi. Một khi đã dấn sâu vào đó,
thì khó ai biết quay đầu trở lại, suốt ngày làm nô lệ
cho dục vọng, không biết hướng đến Phật Pháp tìm cầu
giải thoát.
Trong
Kinh có ghi lại một câu chuyện như sau:
Bên
bờ sông Hằng nước Ấn, có một nhóm phụ nữ mang những
giỏ cá từ chợ về nhà. Giữa đường họ gặp một trận
mưa to, trời cũng vừa tối mà cách nhà còn đến năm sáu
dặm đường. Trong lúc bối rối chưa biết tính sao, các cô
may mắn gặp được một vị chủ cửa hàng hoa, mời lưu lại
nhà mình qua đêm. Trong phòng toàn là hoa, mùi hương sực nức
cả nhà. Suốt ngày mệt nhọc, nhưng các cô nằm xuống vẫn
trằn trọc không sao ngủ được. Mùi hương hoa làm mọi người
không quen cảm thấy khó chịu, cho đến gà gáy báo sáng mà
mọi người vẫn còn trằn trọc không yên. Trong đó có một
cô thông minh, liền đem giỏ cá đặt nơi đầu giường. Mùi
tanh lấn át mùi hương, các cô mới nhắm mắt ngủ được
một lát.
Chúng
sinh bị tham dục cầm tù, ô uế tanh hôi, nhưng mọi người
ở lâu trong đó trở lại cho là khoái lạc! Đa dục là khổ,
người có từng trải mới có thể hiểu được. Tuy nhiên
dục không nhất định hoàn toàn là xấu. Kinh nói dục có
tạp nhiễm dục và thiện pháp dục. Nội tâm bất tịnh, tham
đắm danh lợi thanh sắc bên ngoài là dục. Mang lý tưởng
giúp đời, làm công tác phúc lợi xã hội cũng là dục. Vì
vậy, chúng ta nên tăng trưởng thiện pháp dục và giảm thiểu
tạp nhiễm dục.
Đại
đa số người chỉ lo tham cầu tạp nhiễm dục, mà không biết
hướng đến thiện pháp dục. Vì thế đức Phật khi thuyết
Pháp thường quở trách lòng dục. Dục vọng mà mọi người
muốn thỏa mãn nếu không phải lòng dục về quyến thuộc
đông đầy, thì cũng là lòng dục về tiền của dồi dào;
nếu không phải lòng dục về thăng quan tiến chức, thì cũng
là lòng dục về sống lâu không già. Song những dục vọng
này có thể thực sự đem lại an vui cho con người không? Lòng
dục về quyến thuộc: cha con, mẹ con, thầy trò, họ hàng,
chồng vợ, anh em, bè bạn, tôi tớ cho dù được thỏa mãn
đầy đủ, song cũng có khi lại biến thành oan gia oán thù!
Tục ngữ bảo: "Chẳng phải oan gia chẳng gặp nhau." Anh em
giành của, cha con trở mặt, chồng vợ ly hôn, tôi tớ hại
chủ…, quyến thuộc yêu thương một phen trở mặt còn tệ
hại hơn người dưng! Cho nên người thông minh đâu cần nhất
định phải thỏa mãn lòng dục về quyến thuộc!
Ở
Đài Loan, một trong những vấn đề lớn của xã hội là vấn
đề con gái nuôi. Có rất nhiều con gái nuôi thưa kiện cha
mẹ nuôi của mình ở tòa án hay sở cảnh sát. Đây chính
là do lòng dục về quyến thuộc làm hại!
Ngoài
lòng dục về quyến thuộc ra, lòng dục về của cải cũng
rất mãnh liệt. Người ta không những mong muốn việc ăn mặc
được đầy đủ, chỗ ở được rộng rãi, thoải mái, mà
còn muốn đất đai, vàng bạc càng lúc càng nhiều! Ai cũng
hy vọng mình mỗi ngày một sở hữu càng nhiều của cải,
vật chất. Thực ra, những của cải này có khi lại gây ra
lắm điều phiền lụy! Cổ nhân từng bảo: " Người vì của
mà chết, chim vì ăn mất mạng." Cho nên, có biết bao mạng
sống, nhân cách của con người bị chôn vùi dưới đống
của cải! Thấy vàng bạc, của cải trước mắt, không còn
nghĩ gì đến tình nghĩa bạn bè , chẳng kể chi đến đạo
đức lương tâm, con người tự đánh mất chất người của
mình!
Ngoài
lòng dục về quyến thuộc, của cải ra, còn có lòng dục
về thân thể. Ai cũng muốn nhan sắc mình được trẻ đẹp,
sức khỏe mình được lâu dài. Nhưng thế gian vốn vô thường,
tuổi xanh đi qua mau, trẻ đẹp có bao lâu? Ngay điều mà cổ
nhân gọi là tam bất hủ: lập công, lập đức, lập ngôn,
để xây dựng nên công nghiệp hiển hách, cũng phải chịu
không biết bao nhiêu đắng cay, khổ não!
Xét
cho cùng, người lòng dục nhiều chừng nào thì khổ não cũng
càng lắm chừng đó. Tham tài, tiền tài không nhất định
đem đến an vui, song người mất mạng vì tiền của lại không
ít; tham danh, danh không nhất định mang lại an lạc, song người
lụy vì danh lại rất đông; tham sắc, sắc không nhất định
đem đến hạnh phúc, song có biết bao người đau khổ vì sắc
đẹp! Do đó có thể thấy, câu Kinh: Đa dục phải là khổ,
quả thật là tiếng đại hồng chung ban sớm, đánh thức người
đời tỉnh khỏi giấc mộng lợi danh!
Cổ
nhân nói: Người đạt đến chỗ vô cầu, tự nhiên phẩm
cách cao thượng. Cảnh giới vô cầu cũng chính là cảnh giới
vô dục. Người mà vô dục thì phẩm cách tự nhiên sẽ cao
thượng, và khổ não tự nhiên sẽ giảm thiểu. Hãy nhìn xem,
những kẻ trong trường danh lợi, những người đầu cơ buôn
bán, cúi luồn nịnh hót, hoa ngôn xảo ngữ, làm nô lệ cho
dục vọng lại cho là khoái lạc, thật đáng thương biết
chừng nào!
Đương
nhiên, Phật giáo không phải dạy chúng ta tuyệt đối cấm
dục, song cũng không tán thành việc phóng túng lòng dục. Phật
giáo dạy chúng ta có thái độ trung đạo. Đối với các dục
về quyến thuộc, của cải, thân thể cố nhiên không thể
phóng túng, nhưng cũng không cách nào hoàn toàn thoát ly. Cần
phải dùng trí tuệ để chuyển hóa tình cảm, thực hiện
thiện pháp dục mà xa lìa phiền não dục. Giở lại lịch
sử Ấn Độ, xã hội khi Phật còn tại thế có một nhóm
người chủ trương hưởng thụ dục lạc, phóng túng lòng
dục. Họ quan niệm: Hôm nay có rượu, hôm nay say, còn chuyện
ngày mai lo làm gì, nên tìm đủ cách hưởng thụ dục lạc,
ăn chơi xa hoa trong cuộc sống hiện tại. Lại có một nhóm
người tu khổ hạnh theo ngoại đạo, chủ trương tuyệt đối
cấm dục. Nhà khổ hạnh không những đoạn tuyệt lòng dục
về nam nữ, mà còn sống hết sức khắc khổ trong cái ăn,
cái mặc, cái ở để tu luyện. Họ chỉ ăn rong rêu, hoặc
rễ cỏ, vỏ cây, hoa quả cho đỡ đói. Họ không mặc y phục,
suốt ngày thân thể để trần. Có người ngồi trên gai góc,
hay bên bờ vực thẳm; có người nằm sát bên đống lửa.
Những khổ hạnh vô ích này, chỉ làm khổ cho mình, hoàn toàn
không thể nhờ cái khổ đó mà được giải thoát. Họ tuy
xa lìa được lòng dục về lạc hạnh, song lại bị lòng dục
về khổ hạnh trói buộc, rốt cuộc vẫn không phải là pháp
giải thoát. Cho nên đức Phật sau khi thành đạo, đã tuyên
bố chân lý trung đạo, dạy người học đạo phải xa lìa
hai cực đoan là tham đắm dục lạc (túng dục) và cố chấp
khổ hạnh (cấm dục), nên y theo Bát chánh đạo để tinh tiến
tu tập.
Chúng
ta phải hãy dùng lòng từ bi thay thế tham dục, dùng trí tuệ
hóa giải tình cảm, không để lòng mình sinh khởi tạp nhiễm
dục, tự nhiên sẽ tránh được vấn đề đa dục là khổ!
Người
ta thường nói: Người không nhiều dục vọng thì không có
thất vọng; người dục vọng càng nhiều thì đau khổ càng
nhiều. Kinh Di Giáo cũng nói: "Người biết tri túc, tuy nằm
trên đất vẫn thấy an lạc; người không tri túc, dù ở thiên
đường, cũng không vừa ý." Đệ tử Phật là Tôn giả Ca
Diếp, chuyên tu nơi gò mả mà giải thoát, an lạc; học trò
Khổng Tử là Nhan Hồi, sống trong ngõ hẻm tồi tàn vẫn thanh
thản, an vui. Đây là những hình ảnh sống động, nhằm chứng
minh ý nghĩa xác thực của đoạn Kinh trên. Qua đó ta thấy,
khổ là do nhiều lòng dục mà có; nhiều lòng dục là nguồn
gốc của khổ.
Kinh
văn nói: "Bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục ra." Chúng
sinh luân hồi trong sáu nẻo, tử rồi lại sinh, sinh rồi lại
tử, những nhọc mệt khổ đau này, không phải đều từ tham
dục mà ra sao? Lấy cuộc sống hiện thực mà nói, chúng ta
suốt ngày tìm cầu, tham lam chiếm hữu, làm trâu ngựa cho
cuộc sống, lúc nào cũng lo được lo mất, bối rối bất
an, đều từ tham dục mà ra cả.
Tham
dục thật là đáng sợ! Kẻ táng thân mất mạng trong đời
thường là do nơi tham dục. Các vị hãy xem con thiêu thân lao
vào lửa, con cá mắc phải lưỡi câu, chẳng phải đều do
lòng tham dục xui nên hay sao? Những phạm nhân trong tù, người
thì phạm tội trộm cướp, kẻ thì phạm tội gian dâm, chẳng
phải đều bị lòng dục làm hại đó sao? Thuở xưa có hai
người họ Trương và họ Vương cùng nhau đi du lịch nơi xa.
Giữa đường họ nhặt được một khối vàng ròng. Cả hai
mừng quá bèn bàn nhau chia đôi. Trên đường đi, anh họ Trương
nói với anh họ Vương:
- Khối
vàng này chúng ta nhặt được là do Thành hoàng nơi đây có
mắt, cho chúng ta cơ hội phát tài. Chúng ta nên mua một ít
rượu thịt đến trước Thành hoàng cúng bái để tạ ơn.
- Được
lắm, anh đi mua đồ, tôi ở trước miễu Thành hoàng đợi.
Anh
họ Trương hoan hỷ đồng ý. Nhưng ngay sau đó trong lòng hai
người liền nảy sinh ý niệm tham lam, muốn một mình chiếm
hữu.
Anh
họ Trương nghĩ: Khối vàng ròng này nếu chia đôi, chỉ còn
phân nửa, thì tiêu xài không được bao lâu.
Anh
họ Vương cũng nghĩ: Khối vàng ròng này nếu chia đôi thật
là uổng, chi bằng ta tìm cách hưởng hết một mình.
Tâm
tham dục vừa khởi, điều ác đã đến nơi. Anh họ Trương
mua thuốc độc lén bỏ vào rượu và thức ăn để giết hại
anh họ Vương. Anh họ Vương thấy trong miếu thành hoàng không
có ai, cũng chuẩn bị một cây búa để đập chết anh họ
Trương. Hai người thầm đắc ý với diệu kế của mình,
cho rằng đối phương quyết không hay biết.
Anh
họ Trương mua rượu và thức ăn về, khi đang lạy cúng Thành
hoàng, không ngờ bị anh họ Vương đập một búa vào đầu,
ngã lăn ra chết.
Anh
họ Vương giết xong anh họ Trương lấy làm đắc ý, vừa
định lấy vàng đào tẩu thì cảm thấy bụng đói cồn cào.
Anh nghĩ: Mình hãy ăn uống no say đã, rồi trốn đi, đâu có
vội gì? Anh liền bày rượu thịt ra ăn uống một mình. Đang
ăn, bổng cảm thấy trời đất xoay chuyển, thuốc độc phát
tác, anh ta cũng ngã lăn ra chết!
Hai
người họ Trương họ Vương lòng tham quá lớn, vì muốn một
mình hưởng trọn khối vàng, có tâm hại người nên trở
lại tự hại lấy mình! Đây là nhân quả hiện tiền, cũng
là nói tất cả tội ác đều từ tham dục sinh ra.
Trung
Quốc có câu tục ngữ rất hay: Của hoạnh tài không làm giàu
được kẻ số nghèo. Giàu có vốn không phải do tham dục
mà được. Làm giàu phải có phước, không phước mà cầu
giàu sang để thỏa mãn lòng dục, thì kết quả vô cùng bi
thảm!
Có
phước giàu sang là nhờ bố thí để tích chứa phước đức,
mà không phải là do tham dục. Tham muốn nhiều là khổ, bao
sinh tử nhọc nhằn đều từ tham dục ra. Vậy chúng ta làm
thế nào để đối trị đây? Kinh nói: "Nếu ít muốn vô vi,
thân tâm được tự tại".
Chúng
tôi đã giảng qua ở trên, dục không phải nhất định là
hoàn toàn tội lỗi. Người vì xã hội lo việc phước lợi,
thiện pháp dục này không những không bị người ta phản
đối mà còn được rất nhiều người tán dương. Chẳng qua,
lòng dục về danh lợi tài sắc nếu kiêu xa quá đáng, thì
dư luận xã hội cũng không đồng tình. Đối với lòng dục
về tiếng khen, tài lợi, nam nữ, ẩm thực v.v…, Kinh điển
không phải bắt các vị hoàn toàn đoạn tuyệt. Thực ra, trong
thực tế cũng không cách gì đoạn tuyệt được tất cả.
Trong Kinh chỉ dạy chúng ta giảm thiểu lòng dục, sống đời
thanh thản, không vướng bận, não phiền (vô vi). Người lòng
dục nhiều thì phiền não tất nhiên cũng nhiều; ngươi lòng
dục ít thì phiền não tự nhiên cũng ít.
Người
ít dục vọng thì tâm không dua nịnh, không mong cầu vô lý.
Tâm không tham dục sẽ trở nên cương trực, thẳng thắn.
Người ít muốn vô vi sẽ không bị các căn mắt tai mũi lưỡi
thân ý của mình và sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp
bên ngoài trói buộc. Thân tâm của vị đó tự nhiên được
tự tại, giải thoát.
Nhan
sắc diễm lệ, giọng ca ngọt ngào, điệu múa uyển chuyển,
vị ngon ăn uống, tiếng tăm lừng lẫy… đều có sức mạnh
mê hoặc lòng người rất lớn. Nó khiến người ta phóng đãng
dục tình, cùn nhụt ý chí, đắm đuối tìm cầu. Danh lợi
tài sắc rõ ràng là biển dục khiến người ta phải trầm
luân nơi nguy hiểm. Con người như một chiếc thuyền con đang
lặn ngụp, trôi giạt giữa biển khổ sóng to, gió cả!
Người
đời lặn ngụp trong biển dục, thì thân tâm làm sao có thể
tự tại an lạc!
Cách
tốt nhất là phải xa lìa biển dục phiền não, không mạo
hiểm trong biển dục, luôn đề cao cảnh giác không bị nó
dẫn dụ, làm mê hoặc. Người Phật tử nên dùng sức thiền
định, trí tuệ để phụng hành giới học mà đức Phật
đã dạy, tuy ăn uống song không vì tham lam vị ngon mà sát
sinh; tuy giữ của, song không phải vì tham lam mà dùng thủ
đoạn để bòn rút, cướp đoạt; tuy có vợ có chồng, mà
không tà dâm gây ra việc tình ái lăng nhăng; tuy nói năng mà
không vọng ngữ, thêu dệt…. Nếu thế gian có thái độ ít
muốn vô vi như vậy, thì thân tâm chắc chắn sẽ được tự
tại, thanh thản và nhân loại cũng không có tranh chấp, hơn
thua!
Dịch
thơ:
Điều
thứ hai phải nên giác ngộ
Ham
muốn nhiều, lụy khổ càng sâu
Nhọc
nhằn sinh tử bấy lâu
Đều
do tham dục dẫn đầu gây nên.
Tâm
ít muốn, giữ bền đạo nghiệp
Hạnh
vô vi, không tiếp nghiệp duyên
Tự
nhiên sẽ hết não phiền
An
vui tự tại giữa miền nhân gian.
BÀI
GIẢNG THỨ IV
TRI
TÚC LÀ CĂN BẢN ĐỂ GÌN GIỮ ĐẠO NGHIỆP
Phiên
âm:
Đệ
tam giác tri: Tâm vô yểm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng
tội ác. Bồ tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần thủ
đạo, duy tuệ thị nghiệp.
Dịch
nghĩa:<