61.
Tạo hình người
Giáo
đồ của đạo Bà-la-môn thường tuyên truyền với mọi người
rằng: Ðai Phạm Thiên Vương là chú tể tạo ra muôn vật,
tất cả muôn vật đều từ kia tạo ra.
Phạm
Thiên có một đệ tử có ý tưởng muốn tạo người, ngày
nọ tự mình nắn một hình người kỳ dị: cổ thì nhỏ,
đầu thì to, bàn tay rất lớn, mà cánh tay lại nhỏ phi thường,
bàn chân nhỏ tí mà gót chân thì lớn kinh người. Y đem hình
người ấy đến hỏi Phạm Thiên:
- Thầy
xem con tạo hình người nầy nó giống thứ chi?
Phạm
Thiên đáp:
- Nó
giống một con quỷ!
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ngoại đạo thường thường bắt chước
lý vô ngại viên dung, hoạt bát mà cụ thể Phật pháp, nhưng
vì bọn họ tu thân không có thức học chân tu, hiểu biết
chút ít mà muốn phô trương Phật pháp. Thường thường hình
như đúng với Phật pháp mà kỳ thật là sai, trọn thành tà
pháp, chấp trước, ngu si, trộm danh dối thể.
Phạm
Thiên tạo người chỉ là câu chuyện ngụ ngôn, kỳ thật
thân chúng sanh đều do nhân quả nghiệp lực của mọi loài
gây tạo, không phải do Phạm Thiên.
Phật
pháp không chấp trước "hai bên" đã không chấp, "đoạn diệt"
cũng không chấp "thường trụ", mà thuyết minh các chúng sanh
các pháp đều từ nhân duyên sanh.
62.
Ăn thịt gà
Thuở
xưa có một người mắc bệnh trầm trọng, mời vị lương
y danh tiếng đến xem mạch.
Lương
y bảo:
- Ông
nên thường ăn thịt gà con, bệnh sẽ dần dần thuyên giảm.
Người
bệnh nghe theo lời lương y, sai người ra mua một con gà con
về ăn thịt, y ăn một con rồi không ăn nữa. Lương y đến
xem mạch lại cho y, hỏi y sau khi ăn gà con luộc, bịnh tình
như thế nào?
Y trả
lời:
- Tôi
không biết ra sao. Tôi chỉ ăn có một con gà nhỏ, theo tôi
tưởng nếm một lần với ăn hoài cũng vậy.
Lương
y nói:
- Tại
sao ông không ăn nữa? Ông phải ăn luôn mới có thể trị
lành, chớ ăn một con làm sao lành được?
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người tu học Phật pháp phải thường
học rộng hỏi nhiều, tinh tấn thật tiến tu mãi mãi. Phàm
phu ngoại đạo, thường chỉ chấp một pháp, hoặc tìm hiểu
chút ít rồi thôi, không có tâm bền bỉ, đương nhiên không
thể trị được bệnh độc phiền não ngu si.
63.
Chạy trốn
Thuở
xưa tại nước Càn Ðà Vệ có một đoàn ca kịch, nhân vì
trong nước phát sanh nạn đói hiểm nghèo, bọn họ mới sữa
soạn hành lý ra nước ngoài phô diễn. Ðường đi phải trải
qua hòn núi Bà La Tan, nghe đồn trong núi có con quỷ la sát,
nó thường ăn thịt người; nhưng đến núi thì trời đã
tối, không thể lên chợ được, đoàn hát đành phải ngủ
lại đó một đêm.
Trên
núi gió nhiều càng lúc càng lạnh, bọn họ phải nhúm lửa
để hơ, cả bọn đều nằm ngủ bên đống lửa. Trong bọn
có một người phát bệnh nóng lạnh không chịu được hơi
lạnh bên ngoài, bèn lấy một bộ đồ diễn kịch mặc nhưng
lại lấy nhầm bộ đồ diễn lớp quỷ la sát mặc vào, ngồi
bên đóng lửa hơ ấm.
Sau
đó, một người trong bọn thức dậy, ngốc đầu dòm thấy
bên đống lửa có người mặc đồ của quỷ là sát ngồi,
sớn sát không chịu xem kỹ lưỡng, tưỡng là quỷ thật ngồi
rình, lập tức ba chân bốn giò cắm đầy chạy một mạch,
cả bọn nghe ồn ào đều giật mình thức dậy, không rõ đầu
đuôi cũng cắm đầy chạy theo. Bây giờ người mặc bộ đồ
quỷ la sát thấy cả bọn đồng chạy rất nhanh, không hiểu
ất giàp gì cũng chạy theo sau lưng bọn họ. Khi bọn chạy
trước vừa chạy vừa nhìn lại sau, thấy phía sau có con quỷ
la sát rược theo rất gấp, kinh hoàng phi thường bèn gắng
sức chạy như điên, không quản chong gai đã chẳng kể suối
sông lạch nguồn, băng chạy trối chết, thân thể cả bọn
đều bị thương, tinh thần tán loạn. Bọn họ chạy đến
sáng nhìn ngoái lại xem kỹ người mặc đồ la sát chạy theo
sau không phải là quỷ thật. Cả bọn hoàn hồn dừng chân
lại.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Chúng sanh thường ở trong vòng phiễn
não buộc ràng, trong rừng "ngã kiến" mê muội. Do đấy ở
trong bản tâm thanh tịnh vọng khởi vô minh, lưu chuyển sanh
tử, hằng chịu sự khổ nã sợ sệt vô cùng, không phút nào
được tự do giải thoát. Nếu như co thể phá trừ được
"ngã kiến" mê lầm, tiêu hủy được tạp khí phiền não,
"tâm cuồng vọng nếu hết tức là bồ đề", thì ngay nơi
nhựt dụng hằng ngày, tâm thể chơn như, thanh tịnh, viên
minh, tịch chiếu xưa nay của chúng ta hiển hiện, lại có
gì đáng lo sợ hoảng kinh. Chính nghĩa là: "Trong trời đất
vốn vô sự, người ngu tự quấy nhiểu mình".
64.
Quỷ trong nhà cũ
Thuở
xưa có một cái nhà cũ, không có người ở đã lâu thiên
hạ đồn đãi có quỷ ở trong ấy, ai nấy kinh sợ phi thường
không dám vào ngủ. Bây giờ có người tự cho mình rất can
đảm, tuyên bố với mọi người rằng:
- Tôi
không sợ gì cả, chiều nay tôi sẽ vào đó ngũ cho mà coi!
Ðến chiều quả thật người ấy đi vào đó ngủ. Người
nầy đến nơi chạy vào xô cữa. Người đến trước tưởng
là quỷ lại, bèn rinh tấm phên ngăn ngang cửa không cho người
kia vào; còn người phía ngoài xô cửa tưởng bên trong nhất
định là quỷ, rán sức xô cánh cửa cho bật ra muốn vào
đánh nhau với quỷ. Sau đó xô được sấn vào, hai người
đánh nhau dữ dội. Ðánh nhau cho đến sáng, hai người nhìn
rõ mặt nhau mới biết đều không phải là quỷ, trận ác
chiến mới dừng.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Trên đời thường có hai đối phương
tranh chấp lẫn nhau, ai cũng tự cho mình có lý; kỳ thật cả
hai đều là người sai lầm.
Biết
không, tất cả sự vật trên thế gian đều do nhân duyên tạm
thời hòa hợp sanh khởi; nhơn duyên biệt ly phân tán đều
quy về nơi tiêu diệt, bại vong. Phân tẻ cho chín chắn, trong
ấy không có một cái gì cố định, bất biến, có thể tự
làm chủ tể (ngã) tạo thành? Nhưng người đời phần đông
chẳng hiểu đạo lý ấy, ở trong pháp hư vong tụ tán lăng
xăng, đua nhau đấu tranh kiên có, dụ như hai người lầm nhau
là quỷ ẩu đả với nhau, đều là hạng ngu si đáng thương
cả.
65.
Ăn bánh độc
Thuở
xưa có một người đàn bà không yêu chồng mà lại có ác
cảm. Chị ta đòi ly hôn, nhưng pháp luật không cho phép, lòng
rất buồn rầu, trong từng giờ phút tìm phương pháp để
mưu hại chồng. Chị ta suy đi nghỉ lại, không có cơ hội
thuận tiện ra tay.
Ðến
hôm nọ, chồng chị sắp đi ngoại quốc, chị ta chụp ngay
cơ hội may, bèn làm năm trăm cái bánh, lén trộn thuốc độc
vào trong, bảo chồng mang theo làm thức ăn đỡ dạ trên bước
đường thiên lý. Chị ta nói với chồng rằng:
- Anh
đi ngoại quốc, lúc nào đói bụng lấy bánh nầy mà ăn.
Người
chống không rõ tình cảnh ra sao cả, rất cảm kích lòng tốt
của vợ mình, ngậm ngùi từ biệt vợ, sốn sang cất bước
phương xa.
Ngày
thứ nhất, người kia đi rất khỏe, qua ngọ mà đã đến
nước ngoài; vì y không đói bụng, nên không ăn đến một
cái bánh mang theo. Ðến tối ngủ trong rừng, y rất sợ dã
thú nên leo lên cây nằm ngủ cho yên, bỏ quên năm trăm cái
bánh dước gốc cây ấy. Ngay trong đêm ấy giữa rừng sâu,
có năm trăm tên cường đạo, ăn cướp năm trăm con ngựa
và rất nhiều đồ quý báu của vua nước láng giềng. Bọn
họ định đến dưới gốc cây ngủ, vì chạy đường xa nhiều
nẻo, nên bụng đói như cào, bỗng nhiêu thấy năm trăm cái
bánh dưới gốc cây, chia ra vừa vặn mỗi người một cái
không thiếu, không thừa. Cả bọn ăn những mẩu bánh có thuốc
ấy, đều chết ngủm dước gốc cây.
Người
kia ngủ trên cây đến sáng, sau khi thức dậy trông thấy rất
nhiều cường đạo chết nằm la liệt dưới gốc cây. Y bèn
cầm con dau bén, đến mỗi tên cường đạo chặt trên thi
thể vài dao, giả bộ như y giết chết bọn họ. Sau đó y
mới thu lượm bảo vật và ngựa đem đến dân cho vua nước
láng giềng mong được lảnh thưởng.
Vua
đã đích thân đem một đạo binh di truy tầm cường đạo;
đi được nửa đường thì gặp người kia dắt ngựa mang
bảo vật đến cho vua.
Vua
hỏi:
- Ngươi
là ai? Bắt năm trăm con ngựa nầy ở đây vậy?
Người
kia trả lời:
- Tôi
là người ngoại quốc. Khi tôi đi đường gặp năm trăm tên
cường đạo, tôi cùng bọn họ đối địch rất hung hăng,
rốt cuộc bọn họ đều bị tôi giết chết, hiện thi thể
của họ còn nằm ngổn ngang dước gốc cây. Tôi vội vã dắt
ngựa và mang bảo vật đến ra mắt vua, xin vua ban thưởng.
Nếu vua không tin thì hãy cùng tôi đến gốc cây xem cho tường
tận.
Vua
lập tức phái người thân tín đến xem, trở về tâu lại
qua y như lời người kia, vua nghe xong vui mừng khắp khởi,
cho là việc xưa nay chưa từng có; bèn dắt người kia đồng
về kinh thành, ban thưởng cho y rất nhiều quí báu, lại phong
cho làm quan tại một địa phương.
Nhưng
có một số cựu thần trong nước, đối với y rất tật đố,
căm hờn, bèn tâu với vua:
- Người
ấy là người nước khác lại, bệ hạ không nên quá tin.
Hiện tại bệ hạ quá trọng thưởng và ưu đãi hơn tất
cả cựu thần, điều ấy e chẳng khỏi có chuyện không ổn
đáng.
Người
kia nghe bọn họ đến trước vua dèm tâu như vậy, nổi giận
đùng đùng, bèn lớn tiếng thị oai với bọn họ:
- Như
quả ai có sức mạnh phi thường có thể cùng ta đấu võ,
thì xin mời lên võ đài giao chiến để thử xem bản lãnh.
Các
cựu thần nghe xong lời hâm dọa kinh người, đều không dám
lên tiếng. Nhưng qua ngày thứ hai, bọn họ nghĩ ra một kế.
Nhân vì trong nước hiện thời, có một cụm rừng hoang vu
nguy hiểm, trong ấy có một con sư tử hung ác phi thường,
hay chạy lang ra đường vồ người ăn thịt, không ai có thể
tiêu trừ mối tai hại ấy, bọn họ bèn tâu với vua:
- Người
ngoại quốc ấy đã là người mạnh mẽ sức lực phi thường,
không ai địch nổi, giờ đây xin bệ hạ phái y đi giết cho
được con sư tử hung ác kia để trừ đại hại cho nước
chúng ta.
Vua
chấp nhận ý kiến ấy bèn cấp cho y một con đao và một
cây côn bảo y đi giết sư tử. Y đã vâng mệnh lệnh của
vua, không thể không đi được, bèn can đảm liều lĩnh một
phen vào trong rừng rậm để tìm giết sư tử.
Sư
tử thấy y đến lập tức rống lên một tiếng kinh hồn,
nhảy bổ đến trước mặt, y hoảng hốt vội vã trèo lên
cây trốn. Sư tử hả lớn miệng như chậu huyết dòm lên,
rồi cất đầu ngó y rống ầm ỹ. Y ở trên cây run sợ muốn
phát điên: Con dao đang cầm trong tay rớt xuống dưới gốc
cây hồi nào không biết, nhưng nó rớt khéo lạ lùng, rớt
ngay vào trong họng con sư tử. Con sư tử bị thương chết
liền.
Người
kia vui mừng không thể tả, bèn đem thây con sư tử về ra
mắt vua. Vua bèn thưởng cho y nhiều gấp bội lúc trước,
đa số quần thần đều kính phục y.
**
Trong chuyện nầy bánh bò thuốc độc bỏ dưới gốc cây,
thí dụ bố thí không thanh tịnh; giết năm trăm cường đạo
dụ như đoạn ngủ dục phiền não chứng được sơ quả Tu
Ðã Hoàn. Sau gặp ông vua nước láng giếng dụ như gặp hiền
thánh. Cựu thần tật đố mưu hại dụ như ngoại đạo hủy
báng và siểm hại hạnh lành. Giết sư tử dụ như chiết
phục phiền não, ma oán. Ðược phong thường đại dụ đặng
chứng đạo quả.
Chỗ
dụng ý chủ yếu trong câu chuyện nầy là nói ra tuy ban đầu
không có tịnh tâm, nhưng có lúc nhân bắt tịnh bố thí mà
nhờ thiện tri thức giúp đở, có thể gặp được thắng
duyên tấn tu đạo quả. Bất tịnh bố thí còn có lúc cũng
có thể xuất sanh ra công đức pháp lành. Huống chi ta dùng
chánh kiến, thiện tâm, thành ý, hân hoan mà bố thí, thì xuất
sanh công đức lợi lành, đương nhiên là càng thù thắng lợi
ích gấp bội.
66.
Chết chìm
Thuở
xưa có một người nhà giàu, đem nhiều người xuống biển
tìm của báu. Người nhà giàu ấy đã đọc qua rất nhiều
sách chỉ cách đi thuyền vượt bể khơi, y nhớ rất kỹ,
khoe với mọi người rằng:
- Tình
trạng trong biển tôi đều biết. Thí như nói chạm phải đá
ngầm, hoặc giả nước biển chảy ngược, trong khi chắc chắn
nguy hiểm mười phần, chỉ cần phải cầm cái lái thuyền
cho chắc, xem chừng phương hướng cho kỹ càng, kịp thời
xoay trở, trong lòng phải luôn luôn bình tỉnh khoan thai, đừng
hoảng sợ bối rối thì sẽ được bịnh yên, không có chuyện
chi đánh lo ngại. Những phương pháp ấy trong sách có biên
chép rõ ràng hiện tại tôi thuôc làu làu không quên một mảy.
Mọi
người nghe xong rất tin tưởng nơi y.
Thuyền
bọn họ nhổ neo ra giữa biển. Trong thuyền xưa nay vốn có
một anh thuyền thưởng chỉ huy, chẳng may ra giữa biển thình
lình anh ta mắc bệnh rồi chết. Bây giờ ông nhà giàu kia
mới đích thân điều khiển mội việc. Trong lúc thuyền lênh
đênh giữa mặt biển, bỗng gặp trận gió to, ba đào chuyển
động, khiến chiếc thuyền đảo lộn quay cuồng trong những
lần sóng dữ dội không thể tiến tới trước. Mọi người
đều nghe ông nhà giàu nói lầm thầm: "Phải nắm chặc mái
chèo, phải đổi hướng, phải bình tỉnh". Nhưng trên thực
tế y không hiểu chánh xác phải làm cách nào, chẳng biết
làm sao đem thuyền ra khỏi cơn sóng gió. Kết quả, sau khi
thuyền quay cuống vật lộn với sóng gió một hồi, rồi chìm
nhấm xuống đáy biển làm cho mổi người trong thuyền đều
bị chết chìm.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Có người chỉ hiểu chút ít văn tự,
danh tướng, nhưng đối với nghĩa lý và thật pháp không có
chổ nhận hiểu chắc chắn tinh tường; chỉ hiểu chút ít,
rồi tự ỷ mình thông minh, cho mình là người trí thức sâu
rộng, bèn đem văn tự trên sách bướng bỉnh dạy người
một cách hỗn loạn. Kết quả chẳng những tự lầm mà đi
hại cho mỗi người không ít. Cho nên trong Phật pháp cốt
yếu phải từ nơi "Văn tự bát nhả" mà khởi công hạnh "quán
chiếu bát nhả" để thực hành. Mỗi chổ đều đem nghĩa
lý văn tự của Phật pháp, áp dụng với sự kinh nghiệm hiểu
biết thật tế của mình, tiêu dùng và thể hội biến thành
sự hiểu biết của chính mình, rồi đem ra áp dụng tu hành
một cách thiết thực, mới có chỗ lợi ích chân thật. Một
số người học Phật cùng với một số học giả hiện nay
dung chút ít văn cú vô dụng mơ hồ, đều là hạng quan niệm
sai lầm không khác.
67.
Ðánh cuộc
Thuở
xưa có đôi vợ chồng, ngày nọ làm ba cái bánh, mỗi người
ăn một cái rồi, còn thừa một cái, hai người đánh cuộc
với nhau rằng: Ai muốn ăn cái bánh ấy thì phải không nói
một câu; nếu ai nói trước tức là thua cuộc, không được
ăn cái bánh còn thừa. Thế rồi hai vợ chồng trọn ngày nín
thinh không nói một tiếng. Chợt có tên ăn trộm vào nhà vơ
vét hết của tiền đồ đạc, sữa soạn chạy đi, hai vợ
chồng vì sợ thua cuộc mất cái bánh, nên cứ lấy con mắt
ngó trân trân tên ăn trộm đang vơ vét đồ đạc trong nhà
mà không ai nói một tiếng. Tên ăn trộm thấy vậy càng dạn
dĩ thêm lên thậm chí muốn xâm phạm đến tiết hạnh người
vợ, mà người chồng vẫn đứng xem, không nói một lời.
Người vợ đang khi hoảng hốt kêu ầm ỹ:
- Anh
thật là ngu, vì một cái bánh mà để cho quân ăn trộm làm
nhục tôi quá đỗi, không mỡ miệng nói một lời?
Người
chồng bèn vỗ tay cười lớn:
- Ha,
ha! Em đã khai khẩu nói trước, thế là thua anh mất rồi,
cái bánh về anh ăn. Thích quá!
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời vì tham trước chút danh
lợi ở thế gian, thường thường tán mất sự lợi ích rộng
lớn của pháp lành và Phật pháp. Người trí thấy thế, cho
là hạng ngu si đáng thương, giống như người chồng ngu kia
không khác.
68.
Hại người thành hại mình
Thuở
xưa có một người thù địch với một người khác, anh nghĩ
không ra phương pháp báo thù, cứ uất ức trong lòng mãi không
lúc nào vui. Có người hỏi:
- Anh
vì sao uất ức buồn rầu?
Anh
trả lời:
- Có
một ngùi thường hay nói xấu tôi thậm tệ, tôi tức giận
vô cùng, tôi hằng nghĩ cách báo phục mối thâm thù ấy, nhưng
nghĩ mãi không ra, cho nên tôi tức giận và khổ buồn vô hạn.
Người
kia nói:
- Chỉ
cần đọc một câu chú bí mật kêu là Tỳ Ðà La có thể
giết người kia chết tức khắc. Nhưng trì chú nầy sẽ có
một triệu chứng nguy hiểm, nghĩa là sau khi trị xong thì chính
thân anh phải chết trước. Tôi nhận thấy tốt hơn anh đứng
trì, thì khỏi bị thảm cảnh người thù chưa hại mà chính
thân anh đã bị hại rồi.
Người
kia nghe thế không cần tính toán, suy nghĩ, vui vẻ phi thường:
- Xin
ông làm ơn dạy tôi câu chú ấy, tâm muốn báo thù của tôi
mảnh liệt vô cùng, miển sao kẻ thù của tôi có thể chết,
dù thân tôi có chết trước tôi cũng vui lòng.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Tánh sân giận kết oán gây thù, tai hại
không ít, muốn hại người, thường thường chưa bị hại
mà trước đã hại mình; có một ít người vì lòng sân hận
sai khiến, hủy hoại thân mình một cách đáng thương. Bọn
họ bị lòng sân dẩn dắt, luống đưa mình vào con đường
hại mình hại người vô cùng bi thảm, trầm luân vĩnh kiếp
không thôi! Chỉ cần mau mau phân tỉnh dùng pháp từ bi thanh
tịnh hòa bình để sửa đổi trị thân tâm, khiến cho mình
và người đều được an lạc, mới phù hợp với đạo giải
thoát, chơn thường.
69.
Tổ truyền ăn mau
Thuở
xưa có một người ở phía nam Ấn độ, chính gốc của anh
từ bắc Ấn độ lại, vì ở lâu nên cưới vợ miền Nam.
Một hôm vợ anh dọn cơm trên bàn; không quản cơm canh nói
hổi, anh há miệng lớn lùa húp rất mau, giống như người
gần chết đói được thức ăn không khác. Vợ anh th61y thế
làm lạ vô cùng, bèn hỏi:
- Không
có ai lại dành ăn với anh, cũng không có chuyện gì gấp,
tại sao anh không chậm rãi ăn, mà lại ăn mau thế?
Anh
trả lời:
- Bí
mật lắm! Anh không nói cho em biết đâu.
Chị
vợ nghe thế rồi, cho là nhất định có lý do gì đặc biệt
lắm, bèn ân cần năn nĩ anh nói ra.
Ban
đầu anh không chịu nói, chị vợ kì kèo hoài anh mới chịu
nói:
- Tổ
tiên của anh nhiều đời đều ăn như vậy, do đó đến đời
anh, anh cũng phải y như thế không dám cãi đổi.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Có một ít người thủ cựu, thường
thường không chịu biện biệt lành dử, lợi hại thế nào,
chỉ một bế chấp chặt thói quen mê lầm, tà vạy; dương
dương tự đắc không biết lỗi mình, không biết xấu hổ,
lại cùng không biết cải chánh xả tà. Có ai giúp ý kiến
hay khuyên lơn, họ đã không nghe lời phải mà còn trở lại
nói đó là sự truyền thống hay ho, phải nên bảo thủ.
70.
Nếm trái tần bà
Thuở
xưa có người muốn ăn trái tần bà, bèn sai người làm công
đến vườn mua cho được, và dặn rằng:
- Người
xem có ngọt thì mua, bằng không ngọt thì đừng mua nhe!
Người
làm công mang tiền đến trong vườn trái cây mua.
Người
chủ vười nói:
- Tần
bà của tôi trái nào cũng ngọt, không có trái nào dở, xin
ông hãy nếm thử sẽ biết.
Anh
ta nói:
- Tôi
nếm thử một trái, làm sao biết được các trái kia, tôi
xin nếm từng trái, hể nếm trái nào thì sẽ mua trái ấy,
như thế chắc chắn hơn.
Nói
xong anh ta tự tay hái trái tần bà, hể hái một trái thì cắn
nếm một miếng. Chủ vườn thấy thế không nói gì cả. Quả
thật trái nào cũng ngọt không sai; anh ta mua đem về cho chủ.
Người chủ thấy trái nào cũng bị cắn dở, không những
hết muốn ăn mà lại gớm vô cùng, buồn nôn muốn mửa, do
đó không ăn được một trái, bao nhiêu trái tần bà đều
quăng.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Có một người nghe nói bố thí, trì
giới, sẽ được giàu sang, tâm thường an ổn, không bị hoạn
nạn tai ương; nhưng không chịu tin là thật, muốn chính mình
chứng nghiệm cho rõ ràng. Kết quả tự mình mất cơ hội.
Nên biết rằng mọi việc trên đời đều do nhơn đời quá
khứ cảm triệu hình thành quả. Bọn họ không chịu từ lý
nhân quả, khảo xét cho rõ ràng, chạm việc đều thông suốt,
đem một việc mà tỉ lệ nhiều, hiểu rỏ đạo lý nhân quá,
tiến tới tu học Phật pháp, tô bồi phước huệ căn lành.
Trở lại cố chấp: "Cần yếu mỗi việc chính mình phải
thân chứng, mới tin". Cứ phó mặc thời gian trôi qua, một
mai gần chết, tất cả đều xe bỏ tan tành, sau ăn năn không
kịp!