31.
Mua lừa
Thuở
xưa có một số tín đồ của đạo Bà La Môn cử hành cuộc
đại hội, họ cần dùng nhiều chén bạc. Vị giáo chủ của
họ bảo đệ tử lên chợ mời một người thợ đồ sứ
về làm. Ðệ tử vâng lệnh đi tìm thợ. Ði giữa đường
bọn họ gặp người thợ đang dắt một con lừa, trên lưng
chở rất nhiều đồ sứ đem ra chợ bán. Lừa sẩy chơn té
quỵ xuống, bao nhiêu đồ sứ trên lưng đều rớt xuống đất
và bể tan tành. Người thợ đồ sứ buồn rầu khóc lóc mãi.
Bọn họ thấy thế lấy làm lạ hỏi rằng:
- Tại
sao anh khóc buồn bã thế?
Người
thợ trả lời:
- Tài
nào tôi không khóc, bao nhiêu đồ sứ công phu làm trong một
năm, nay định chở đem ra chợ bán nào ngờ con lừa bị sảy
chân, trong khoảng khắc bể nát cả, như thế không đáng rầu
rĩ ư!
Bọn
họ nghe thế mừng thầm và nghĩ rằng:
- Con
lừa nầy giỏi quá, công khó người thợ làm một năm, chỉ
trong nháy mắt nó có thể làm tiêu tan hết.
Bây
giờ bọn họ mới thương lượng với người thợ để mua
con lừa. Người thợ đang tức giận muốn tống cổ nó đi,
nghe có người mua nó, vội vã bán ngay.
Bọn
họ cưỡi lừa về ra mắt giáo chủ, vị giáo chủ hỏi rằng:
- Tại
sao không tìm thỉnh người thợ đồ sứ, mà lại mua lừa
đem về?
Bọn
đệ tử trả lời:
- Bản
lảnh con lừa nầy, lớn hơn người thợ đồ sứ, vì người
thợ làm trong một năm mới thành một số đồ, mà chỉ trong
giây phút một mình nó, nó phá tan.
Vị
giáo chủ lắc đầu lia lịa và nói rằng:
- Sao
các con dại dột thế? Con lừa nầy, trong khoảnh khắc có
thể làm bề bao nhiêu đồ sứ, nhưng dù trải trăm năm, nó
cũng không thể làm ra được một cái.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ở đời có nhiều người thọ ân của
người khác giúp đỡ, chẳng những họ không thù đáp lại,
mà thường hay trả oán. Hạng người vong ân bội nghĩa như
thế, chúng ta không nên gần gũi, vì chỉ có hại chứ không
ích lợi gì.
32.
Trôm vàng
Thuở
xưa có hai người thương gia cùng ở một chỗ, một người
buôn vàng, một người buôn bông vải. Có người đến mua
vàng, để vàng vào lửa thử xem thiệt hay giả. Người buôn
bông vải kia lén trộm một cục, sợ thấy, bèn đem giấu
trong bông. Vàng đang cháy nóng đỏ làm cho bao nhiêu bông vải
cháy sạch sành sanh, công việv bại lộ. Người kia chẳng
những không trộm vàng được, mà còn bị cháy hết bao nhiêu
là bông vải.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ngoại đạo ăn cắp giáo lý của đạo
Phật đem làm của mình, nhưng vì họ không rõ nguyên lý, không
khéo xử dụng, chẳng những không hiểu Phật pháp, việc làm
không đi đến đâu, mà lại làm cho giáo pháp của họ bị
pha trộn. Chung kết cơ mưu bị bại lộ, làm trò cười cho
kẻ bàng quan.
33.
Chặt cây tìm trái
Thuở
xưa trong vườn một ông vua, có trồng một thứ trái cây rất
tốt, tàng nhánh sum xê, sanh trái ngon ngọt lạ thường, không
chỗ nào có.
Ngày
nọ có người khách ngoại quốc đến chơi, vua đưa đi xem
cây ấy và nói rằng:
- Cây
nầy sanh một thứ trái ngon vô song, chẳng nơi nào có cả.
Khách
hỏi:
- Quả
thật có trái ngon, vậy cho tôi một trái ăn thử được không?
Vua
bằng lòng, bèn gọi người đốn cây ngã xuống để tìm trái,
nhưng tìm không được trái nào. Sau đó, vua báo người đem
cây đã chặt trồng lại, rồi tìm đủ biện pháp, cũng không
thể nào làm cho nó đâm chồi nẫy tược như xưa. Cây ấy
chết tuyệt, không còn sanh trái nữa.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ðức Thích Tôn đã từng chỉ cho chúng
ta công đức trì giới, giống như cây đại thụ, có thể
sanh các thứ trái thần thông, trí tuệ, từ bi, thiền định
ngon lành. Chúng ta muốn có những thứ trái cây ấy, thì trước
tiên phải trì giới tu hành, dùng nhiều công đức pháp lành
bón tươi, mới mong kết quả tốt đẹp hoàn toàn. Nhưng có
một ít người không hiểu phương pháp ấy, buông lung hủy
phạm giới luật oai nghi, mà còn mong cầu thần thông, định,
huệ, khác nào người chặt cây tìm trái như trên, chẳng những
trái không tìm được, mà cây quí từ nay đã chết khô. Hạng
người hành động như thế thật đáng thương xót.
34.
Thâu ngắn đuờng đi
Thuở
xưa có một thôn cách kinh thành một trăm dặm, nơi ấy có
một cái giếng nước rất trong và ngon ngọt, lạ thường.
Vua hạ lệnh cho dân làng, mỗi ngày phải chở nước về kinh
thành cho vua uống.
Dân
làng ngày ngày tới lui mệt mỏi không chịu được, bèn rủ
nhau trốn đến phương xa. Việc nầy thôn trưởng biết được,
mới triệu tập một cuộc đại hội thôn dân, vị thôn trưởng
đứng ra tuyên bố:
- Các
anh em chớ đi đâu hết, tôi sẽ yêu cầu nhà vua thâu ngắn
con đường một trăm dặm thành sáu mươi dậm tức khắc.
Các anh em đi lại sẽ gần hơn, không nổi mệt mỏi như trước.
Hội
nghị bế mạc, vị thôn trưởng vội vã vào kinh yêu cầu
vua như thế. Vua phê chuẩn lời thỉnh cầu, và hạ lệnh cho
sở lục lộ thâu ngắn con đường một trăm dặm còn sáu
mươi dặm. Dân làng được tin ấy đều vui mừng và tự cảm
thấy gần hơn trước. Từ đấy họ càng tin tưởng lời vua,
họ đồng lòng tỏ không dời đi đâu cả.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời phát tâm tu học chánh pháp
mong cầu thoát ly sanh tử, luân hồi, nhưng vì thời gian tu
học dài dăng dẳng, nên càng thấy mỏi mệt, nửa đường
thối tám không muốn tiến tới.
Ðức
Như Lai có đủ phương tiện, đem pháp nhất thừa phương tiện
nói ba thừa, khiến cho hàng căn tánh kém cỏi, trí huệ cạn
gần, nghe xong cho là Phật pháp dễ tu, dễ chứng, mới mạnh
mẻ nổ lực tiến tu pháp lành công đúc, hầu thoát ly sanh
tử luân hồi. Sau khi bọn họ chứng quả vị tiểu thừa xong,
Phật trở lại chỉ trích họ. Ngài thuyết minh: Phật pháp
xưa nay chỉ có nhứt thừa chớ không có hai hay ba thừa, nghĩa
là: "Sự thật chỉ có một, hể có hai cái tương đối thì
không phài là chơn". Bây giờ bọn họ càng tin tưởng lời
Phật, có thể hồi tiểu quả hướng đến đại thừa, tin
thế không nghi, an nhiên tiến tu đạo đại thừa Bồ Tát.
35.
Thấy bóng trong gương
Thuở
xưa có một người rất nghèo khổ, mắc nợ quá nhiều, không
có biện pháp để trả nợ, chỉ còn có cách là đi trốn.
Ngày
nọ, y đi đến cánh đồng bao la bát ngát, chợt thấy một
cái rương, bèn mở ra xem thử, thấy đầy một rương ngọc
ngà, châu báu, có đậy một miếng kiếng lên trên. Bây giờ
y vui mừng không xiết, bèn thò tay vào lấy những của báu
ấy. Nhưng y thấy trong rương hiện ra một người (tức là
bóng của y) có vẻ dọa nạt y, y hoảng sợ dừng tay lại,
trong tâm lo sợ không an, bèn nói với người trong gương:
- Ta
cho là trong cái rương trong nầy, không có phương hướng, tưởng
đâu là không có người, nào dè thấy có người trong đó,
quái lạ chưa?
Nói
xong y vội vàng chạy đi nơi khác.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời thường bị vô lượng phiền
não ràng buộc, làm cho khốn đốn, khổ nảo, không có phúc
đức, duyên lành, lại thường bị sống chết quay cuồng "ma
vuông, trái chủ" áp bức khổ sở, nên muốn cầu giải thoát
khỏi vòng thống khổ, đau thương mà tu học Phật pháp.
Bọn
họ có công vun bồi cỏi phúc giống lành, dụ như cái rương
đầy của báu, rồi lại thường bị "thân kiến ngã chấp"
làm mờ, cho nên ở trong vô thường, vô ngã vọng chấp có
ngã thường còn. "Thân kiến", "ngã chấp" dụ như bóng hiện
trong gương, bọn họ lầm cho là chân thật, do đây mà không
thể tu hành thiền định, đạo phẩm, chứng thành công đức
vô lậu. Hành vi của bọn họ cùng với cử chỉ của người
đã đến rương báu mà không lấy được vật gì, đồng nhau
không khác.
36.
Lầm móc con mắt
Thuở
xưa có một người tu trên núi, học được pháp thuật, có
thể khám phá tất cả ngọc ngà, châu báu chôn dưới đất
lâu năm. Chuyện nầy thấu đến tai vua, vua rất mừng rỡ,
bảo quần thần rằng:
- Ta
muốn mời nhà nghệ thuật ấy ở luôn trong nước để giúp
ta tìm của báu đã bị chôn vùi, nước chúng ta sẽ trở nên
đại phú cường tức khắc.
Bây
giờ có vị đại thần lảnh sứ mạng đi tìm nhà nghệ thuật.
Vị đại thần quả nhiên tìm được người ấy, nhưng không
chịu thỉnh về nước, mà lại móc cặp mắt của người,
đem về dâng cho vua và nói:
- Hạ
thần đã móc mắt của nhà nghệ thuật rồi, họ sẽ không
thể đi khỏi nước được.
- Vua
nghe xong lấy làm bất mãn nói rằng:
- Ngươi
thật là dại dột, sở dĩ ta muốn thỉnh người là vì người
có cặp mắt, có thể khám phá được của báu bị mai táng.
Nay ngươi hủy hoại cặp mắt của người rồi thì người
ấy còn dùng vào việc gì được nữa!
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Phật giáo do nhận thấy các bậc đại
đức cao tăng khắc khổ thanh tu trong rừng núi, phi thường
cung kính rước về nhà cúng dường, không biết rằng làm
thể chỉ ngăn ngại sự tu khắc khổ thanh đạm của các ngài,
thậm chí làm cho các ngài hủy phá giới hạnh, lui sụt pháp
lành, không thể thành công đắc quả.
Phật
tử tại gia thường hay mắc bệnh mủ quáng và lầm lớn.
Hộ pháp không biết pháp, cúng dường không đúng pháp hoặc
đem tình đời làm lem ố giới, định thanh cao của các bậc
đại đức xuất gia, làm thế mình và người đều bị hại,
gây nên tội lỗi không vừa.
37.
Giết trâu
Xưa
có một người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn
cỏ.
Một
hôm, có con cọp vồ lấy một con ăn thịt. Người kia thấy
thế, tự nghĩ thầm: "Trâu ta mất một con, không đụ số,
ta còn dùng bầy trâu đây làm gì?" bèn đuổi cả bầy trâu
xuông hố, chúng chết tuyệt không còn lấy một con.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Phật tử xuất gia thọ trì "Giới cụ
túc" hai trăm năm mươi rất hoàn hảo. Sau đó bất cẩn lỡ
phạm một điều, đã không biết xấu hổ, ăn năn, sám hối
cho trở lại thanh tịnh như xưa; mà lại lầm tưởng: "Ta đã
phá một giới rồi, thì giới hạnh đã kém khuyết, dù có
ăn năn giữ kỹ các giới cũng chẳng ích gì". Rồi từ đây
ngang nhiên phạm giới không biết kiêng sợ, bỏ cả giới
luật không hành trì. Người tu hành như thế cùng với người
giết trâu như kia đều là hạng ngu si đáng thương cả.
38.
Bảo nước đừng chảy
Thuở
xưa có một người đi đường rất khát nước, xem thấy bên
đường có cái hang, giòng suối từ trong ấy chảy ra nước
trong leo lẻo, kế bên có cái thùng hứng nước đầy tràn.
Người kia bèn kê miệng uống. Sau khi uống đở khát rồi,
y chỉ cái thùng và nói:
- Ta
uống đở khát rồi, vậy nước ơi! Ðừng chảy ra nữa.
Nhưng
nước vẫn y nhiên chảy mãi không ngừng. Người kia tức mình
quá, đứng bên cái thùng chữi rủa om sòm. Mọi người thấy
thế cười và trách anh ta rằng:
- Anh
cần gì làm thế, hãy lánh đi nơi khác đi, hà tất phải bảo
nước đừng chảy nữa.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời thường say đắm trong biển
sanh tử tham ái, uống nước ngủ dục tanh hôi, đôi khi cũng
cảm thấy chán chê, ước mong con ma ngủ dục lạc đừng đến
quấy rầy, nhưng nào được như ý. Muốn thế ta cần phải
đề phòng các giác quan, tự kiểm thảo lấy mình cho cẩn
thận: Tạm đừng dính líu duyên trần, ý đừng vọng tưởng
sự thế. Chớ nếu chẳng dụng công xá bỏ bợn nhợ nơi
lòng, mà chỉ mong muốn ngăn cảnh ngủ dục bên ngoài đừng
đến quấy nhiểu, thì chẳng những không thể ngàn được
miếng mồi ngủ dục (I), mà lại hằng bị nó lôi cuốn vào
đường trụy lạc đau thương, mãi quay cuồng trong hố sâu
tội lỗi, chẳng hy vọng ngày nào giải thoát được phiền
não, mê lầm. Hành động như thế chỉ luống công vô ích.
(I)
Ngủ dục: Tài, sắc, danh, ăn ,ngủ; hoặc là sắc, hương,
thinh, vị, xúc, cảnh giới đây thường thường làm cho con
người điên đảo, mê hoặc.
39.
Sơn tường
Thuở
xưa có một người, y đến chơi nhà người bạn, thầy vách
tường nhà bạn sơn bóng loáng, ráo khô, sạch sẽ, mới hỏi
rằng:
- Anh
dùnh thứ chi sơn quét vách tường đẹp thế?
Người
bạn trả lời:
- Tôi
dùng cám trộn với bùn và nước.
Người
kia làm tường: Dùng cám mà còn tốt như vậy, nếu dùng nguyên
lúa trộn với bùn mà sơn tường, thì chắc tốt hơn thế
nữa.
Y bèn
trở về nhà, dùng rất nhiều lúa trộn với bùn sơn lên vách.
Kết quả chẳng những hoang phí một số lúa mà còn làm cho
vách tường trở nên chỗ lồi, chỗ lõm không bằng, nhiều
nơi sứt mẻ.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Một số người hiều lầm Phật pháp,
hoặc tự cho mình là thông minh, tu bướng theo ức kiến của
mình, rồi xa chánh pháp, thường thường mắc bệnh khổ công
tu hành mà chỉ tổn hại không ích. Thí như phàm phu nghe Thánh
nhân thuyết pháp rằng: Tu các pháp lành, sau khi chết sẽ được
sanh thiên, hoặc được giải thoát; rồi họ tự lầm lộn
giết chết thân mình mong được sanh thiên hưởng phước báo.
Kết quả chỉ luống hủy thân, đối với sự tu hành không
được chi cả. Họ với người kia đều là hạng ngu si.
40.
Người sói đầu tìm thuốc.
Thuở
xưa có một người đầu sói không có một sợi tóc, về tuyết
đông lạnh vô cùng, mùa hạ nóng không thể tả, lại bị
muỗi mòng bu cắn rất là đau đớn. Chẳng nghe đồn có vị
lương y có thể trị hết bệnh sói và bất cứ bệnh gì,
khó trị cách mấy ông cũng đều trị lành.
Người
bèn đến nơi thưa hỏi:
- Tôi
có bệnh sói đầu rất đau đớn, nghe đồn ngài có thể trị
lành bệnh tôi, cúi xin thương xót chữa cho tôi khỏi bệnh.
Lập
tức vị lương y lột nón của mình ra đưa đầu sói cho xem
và nói:
- Thấy
chăng, ta tự mắc bệnh ấy và đau khổ vô cùng. Giả sử
ta có thể trị được bệnh sói, thì ta đã tự chữa cho ta
khỏi bệnh rồi.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời mắc chứng bệnh: Sanh, già,
bệnh, chết rất khổ não; muốn cầu đạo trường sanh bất
tử mà không chịu đến với Phật, Bồ tát là những bậc
Thánh nhân siêu trần để cầu học đạo thoát ly, mà trở
lại tự mình mù quáng, đến bốn ngoại đạo thỉnh cầu,
dầu biết bọn ngoại đạo tự mình vẫn bị trôi lăn trong
vòng sanh tử, luân hồi, không có pháp giải thoát, làm sao
cứu được người.