Chương
VI
KINH
THÂN HÀNH NIỆM
(trích:
Trung Bộ Kinh, Tập III, HT. Thích Minh Châu dịch, tr.230-244)
http://www.thuvienhoasen.org/u-trung119.htm
KINH
THÂN HÀNH NIỆM
(Kàyagatàsatisuttam)[21],[22]
Như
vầy tôi nghe,
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ) Jetavana (Kỳ Đà Lâm),
tại tinh xá ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Rồi một
số đông Tỳ Kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở
về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này
được khởi lên giữa chúng tăng: “Thật vi diệu thay, chư
hiền giả! Thật hy hữu thay, chư hiền giả, thân hành niệm,[23]
khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn,
có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn tuyên bố,
bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”
Và câu chuyện này giữa các vị Tỳ Kheo ấy đã bị gián
đoạn. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh độc cư
đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ
soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các vị Tỳ Kheo: “Ở
đây này các Tỳ Kheo, các ngươi hiện nay đang ngồi bàn vấn
đề gì? Câu chuyện gì của các ngươi bị gián đoạn?”
“Ở
đây bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở
về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện
sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền Giả!
Thật hy hữu thay, chư Hiền Giả, thân hành niệm này, được
tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức
lớn, đã được Thế Tôn tuyên bố, bậc tri giả, kiến giả,
bậc A La Hán. Chánh Đẳng Giác.” Bạch Thế Tôn, câu chuyện
này của chúng con chưa bàn xong, thời Thế Tôn đến.”
“Và
này các Tỳ Kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm
cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn?
Ở đây này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo[24] đi đến khu rừng,
hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi
kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh
niệm vị ấy thở vô. Chánh niệm vị ấy thở ra. Hay thở
vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”, hay thở ra dài,
vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”, hay thở vô ngắn, vị
ấy biết: “Tôi thở vô ngắn” hay thở ra ngắn, vị ấy
biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi
sẽ thở vô” vị ấy tập, “Cảm giác cả toàn thân,
tôi sẽ thở ra.” vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi
sẽ thở vô” vị ấy tập, “An tịnh thân hành, tôi sẽ
thở ra” vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy[25] thuộc về thế
tục[26] được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy,
nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như
vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo đi[27] biết rằng: “Tôi
đi” hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”; hay ngồi, biết
rằng: “Tôi ngồi”; hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”.
Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân
thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục
được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm
được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này
các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
“Lại
nữa này các TỳKheo, vị TỳKheo khi bước tới, bước lui
biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ
việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình
đang làm; khi mang áo tăng già lê (Sanghàti), mang bát, mang y
biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm biết
rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói,
im lặng biết rõ việc mình đang làm.”
Trong
khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các
niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên
nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này, dưới
từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi
da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân
này, đây là tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, thận,
tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,
phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước
mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương,
nước tiểu. Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu
trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh,
đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ
các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột
lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây
là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, một
vị Tỳ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên,
trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những
vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật đàm,
mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước
mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.
Trong
khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các
niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên
nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về các
vị trí các giới và sự sắp đặt các giới. “Trong thân
này có địa đại , thủy đại, hoả đại và phong đại”
Này các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay
đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi
cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này
các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về vị trí các
giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có
địa đại, thủy đại, hoả đại và phong đại.”
Trong
khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các
niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên
nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, như thấy một thi thể
quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể
ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Vị Tỳ
Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy,
bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
Trong
khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các
niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên
nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng
bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn; hay bị các loài
diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó
ăn; hay bị các loài giả can ăn; hay bị các loài côn trùng
ăn. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất
là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản
chất ấy”.
Trong
khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các
niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên
nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết
với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân
cột lại … với các bộ xương còn liên kết với nhau, không
còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường
gân cột lại…. chỉ còn có xương không dính lại với nhau
rãi rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là
xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp
vế ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây
là xương đầu. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân
này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt
khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy sống không phóng dật….như
trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng
bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc….
chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm…. chỉ còn là
xương thối trở thành bột. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy
như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như
vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy
sống không phóng dật…… như trên…. vị Tỳ Kheo tu tập
thân hành niệm”.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly dục,[28] ly ác pháp, chứng
và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh với tầm với tứ. Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt,
làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục
sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc do
ly dục sanh ấy thấm nhuần.”
“Này
các Tỳ Kheo, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ
tử của người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng
đồng, liền nhồi bột ấy [29] với nước, cục bột tắm
ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước
ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không
chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo
thắm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình
với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn
thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật…. như trên…
vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ấy diệt tầm và tứ,
chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỳ Kheo
ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân
mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn
thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.”
“Này
các Tỳ Kheo, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên,
phương Đông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không
có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy
ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra và thỉnh thoảng
trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun
ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước
ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước
ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này
các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung
mãn tràn đầy thân mình, với hỷ lạc do định sanh, không
một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định
sanh ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống không phóng đật….như
trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm
tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba.
Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy
thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ
nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy
thấm nhuần. Như vậy, vị Tỳ Kheo an trú không phóng
dật… như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Này
các Tỳ Kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen
trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông
sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi
nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc
rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi
nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen
xanh, sen hồng hay sen trắng, không được nước mát lạnh ấy
thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm
nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với
lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân
không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Như vậy
vị Tỳ Kheo an trú không phóng dật…. như trên….vị Tỳ
Kheo, tu tập thân hành niệm”.
“Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, xả lạc, xả khổ, diệt
hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị Tỳ Kheo ấy
ngồi, thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong
sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần
tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.”
“Này
các Tỳ Kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng
trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được
vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ
Kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh,
trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được
tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy
sống an trú không phóng dật…. như trên…. vị Tỳ Kheo tu
tập thân hành niệm[30].”
“Này
các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập, làm cho sung mãn thân
hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm (Antogadhà?)
đều thuộc về minh phần (Vijjàbhàgiyà)[31]. Ví như này các
TỳKheo, biển lớn của ai được thấm nhuần bởi tâm[32]
thời các con sông của vị ấy đi vào trong biển, đều thuộc
về biển lớn (?). Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị
nào tu tập làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp
của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về minh phần. Này
các Tỳ Kheo, đối với vị Tỳ Kheo nào không tu tập thân
hành niệm, không làm cho sung mãn, thời Ma (Vương) có cơ hội
với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như
này ác Tỳ Kheo, có người quăng một hòn đá nặng vào một
đống đất sét ướt nhuyễn, này các Tỳ Kheo, các người
nghĩ thế nào? Có phải hòn đá nặng ấy có cơ hội (lún
sâu) vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy?”.
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành
niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với vị
ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ
Kheo, một cây khô không có nhựa[33] có người đến cầm phần
phía trên của đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho ngọn
lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên”. Này các
Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang đến phần
phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có
nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sanh ra, có làm
cho sức nóng hiện lên không?”
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành
niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với người
ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với người ấy. Ví như này các
Tỳ Kheo, một bình nước, trống rỗng, trống không, được
đặt trên cái giá, có một người đi đến, mang theo đầy
nước. Này các Tỳ Kheo, các người nghĩ thế nào? Người
ấy có thể đổ nước vào (bình) không ?”
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, vị nào không tu tập thân hành niệm,
không làm cho sung mãn Ma (Vương ) có cơ hội với vị
ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy.”
“Này
các Tỳ Kheo, vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung
mãn, Ma (vương) không có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) không
có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, có người
quăng một trái banh giây nhẹ vào một cánh cửa (14) làm hoàn
toàn bằng lõi cây. Này các Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào?
Trái banh giây nhẹ ấy có cơ hội đối với cánh cửa làm
hoàn toàn bằng lõi cây không?”
“Thưa
không, bạch Thế Tôn”.
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành
niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với
vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví
như này các Tỳ Kheo, một cây ướt có nhựa, (15) rồi một
người đi đến mang theo phần trên đồ quay lửa và nói: “Tôi
sẽ làm cho lửa sinh ra, tôi sẽ làm cho hơi nóng hiện lên.”
Này các Tỳ kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang
theo phần trên đồ quay lửa, quay với các cây ướt và có
nhựa, có thể làm cho lửa sanh ra, làm cho hơi nóng hiện lên
được không?
“Thưa
không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành
niệm, làm cho sung mãn. Ma (Vương) không có cơ hội đối với
vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví
như này các Tỳ Kheo một bình nước (16) đầy tràn nước
đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên
cái giá, rồi có người đi đến, mang theo đầy nước. Này
các Tỳ Kheo, nhà ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể
đổ được nước vào (bình ấy) không?”
“Thưa
không,bạch Thế Tôn.”
“Cũng
vậy này các Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành
niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với
người ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với người
ấy.”
“Này
các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm
cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ
thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng
trí, vị ấy đối mặt đạt được sự tinh xảo, (của pháp
ấy?) dầu thuộc giới xứ nào (Sati sati àyatane) (17) (?) Ví
như này các Tỳ Kheo, một bình đầy tràn nước đến nỗi
con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá và
có người lực sĩ đến và lắc qua lắc lại cái bình ấy,
như vậy nước có thể trào ra ngoài không?”
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành
niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng
ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ
thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp
ấy) dầu thuộc giới xứ nào. Ví như có một hồ nước (18)
trên một miếng đất bằng, bốn phía có đê đắp làm cho
vững chắc, và tràn đầy nước đến nỗi con quạ có thể
uống được. Rồi có người lực sĩ đến và phá một
khúc đê, nước có thể tràn ra ngoài không?”
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng
vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân
hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được
chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng
ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo
(của pháp ấy) dầu với giới xứ nào. Ví như này các Tỳ
Kheo (19) trên đất bằng tại chỗ ngã tư có một chiếc xe
đậu, thắng với những con ngựa thuần thục, có roi ngựa
đặt ngang sẳn sàng, có người mã thuật sư thiện xảo, người
đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự,
leo lên xe ấy, tay trái nắm dây cương, tay mặt cầm lấy roi
ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ
nào và như thế nào, theo ý mình muốn. Cũng vậy này các vị
Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho
sung mãn vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng
trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị
ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy), dầu với
giới xứ nào.
“Này
các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập,
được làm cho sung mãn, được làm như thành cỗ xe, được
làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được
làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành (20), thời
mười công đức này có thể được mong đợi. Thế nào là
mười?”
Lạc
bất lạc (21) được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp
phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất
lạc được khởi lên; khiếp đảm sợ hải (22) được nhiếp
phục, và khiếp đảm sợ hải không nhiếp phục vị ấy,
và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hải
được khởi lên. Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói,
khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các
loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị
ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân
khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả
ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng. Tùy theo ý muốn,
không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phiền toái,
vị ấy chứng được bốn thiền, thuần túy tâm tư, hiện
tại lạc trú. Vị ấy chứng được các loại thần thông,
một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân;
hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường qua núi như
đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền
như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất
liền. Ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với
bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật
có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể, thân có
thần thông bay cho đến Phạm Thiên. Với thiên nhĩ thanh tịnh
siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người,
ở xa hay gần. Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của
các chúng sanh, các loài người: Tâm có tham, biết tâm có tham;
tâm không tham biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có
sân; tâm không sân biết tâm không sân. Tâm có si biết tâm
có si, tâm không si biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết
tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Tâm đại
hành, biết tâm đại hành. Tâm không đại hành, biết tâm
không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng.
Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết
tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết tâm không thiền
định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải
thoát, biết tâm không giải thoát. Vị ấy nhớ đến các đời
sốâng quá khứ như một đời, hai đời…, như trên…. vị
ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại
cương và các chi tiết. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân,
vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy
biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người
đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều
do hạnh nghiệp của chúng. Với sự diệt trừ các lậu hoặc,
sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng
đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải
thoát không có lậu hoặc”.
“Này
các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập
làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như thành
căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích
tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công
đức này có thể mong đợi”.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín
thọ lời Thế Tôn dạy.
KINH
THÂN HÀNH NIỆM[34]
THỨ
MỘT TRĂM MƯỜI CHÍN
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 324a 27- b1 trích
một đoạn thế này: “Khương Tăng Hội chú thích kinh An Ban
Thủ yù, đề tựa nói: “Kinh này do Thế Cao dịch, lâu bị
chìm che, nhờ gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bỉ Nghiệp từ Dĩnh
Xuyên, Trần Huệ từ Cối Kê, ba vị hiền này tin đạo dốc
lòng, Hội cũng xin hỏi. Nên Trần Huệ giải nghĩa. Tôi giúp
châm chước”
[2]
Kinh này xét bài tựa đầu kinh và xem văn kinh thì hình
như là người chép lãnh kinh chứ không phân tích ra mà
chép liền vào. Đáng lẽ phải cắt ra mà chú, nhưng thường
có nhiều chỗ không thể thêm nên không dám tự tiện cắt
ra, xin để lại cho các bậc hậu hiền
[3]
Về Mâu Tử, xem thêm Lê Mạnh Thát, nghiên cứu về Mâu Tư,û
Sài Gòn,Vạn Hạnh ,1974.
[4]
Lê Mạnh Thát, Sơ khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, tu
thư Vạn Hạnh, 1974
[5]
Kinh Hán tạng tương đương là Trị ý kinh (Đại 1,919).
[6]
Trong khi tu thiền với các nghiệp xứ Kammatthana. Xem M.A. iv.
137. D.1.233.
[7]
Lễ Tự tứ tổ chức sau mùa an cư.
[8]
Araddha, giải thích là Tuttha. M.A. 137.
[9]
Komudim Càtumasinim xem B.D.ii. 157. Số 3.iv.137 nói, gọi là Komudi
vì có sen trắng và gọi Càtumasini vì là cuối tháng tư mùa
an cư.
[10]
Sau ngày rằm Kattika.
[11]
Putosenàpi M.A. iv . 139 chép Putamsena. Xem G.S.ii .192.số 1.
[12]
Xem M.i.424 v.v…
[13]
Vijjàvimutti,như S.v. 28.335.
[14]
Xem M.Kinh số 10; M.425 A.v. III. Và Anapana Samyutta (S.v.311).
[15]
Kàyesu.M.A. iv: 140 – đây chỉ cho một trong bốn đại và đây
chỉ cho phong đại ( Vàyokàya). Hay thân này thuộc về sắc
pháp. Ở đây hơi thở được xem thuộc về thân vì gồm vào
trong các xúc. Vị này hoặc xem phong đại là 1 trong bốn thân
hay xem hơi thở là 1 trong 25 sắc pháp.
[16]
Sự triền cái của dục vọng là tham,sự triền cái của sân
là ưu.
[17]
Sau khi biết được đã đoạn trừ, mới đến quán những
gì là vô thường, viễn ly đoạn diệt và đọan trừ.
[18]
Ajjhupekkhita vị ấy nhìn đối tượng tu hành hay sự vật,
không bị chúng ảnh hưởng, với niệm xả ly M.A.iv.142.
[19]
Xem M.iii.275.
[20]
M.A.iv.144 nói trong kinh này, nhập tức xuất tức niệm, thuộc
về thế gian, đưa đến sự viên mãn bốn niệm xứ cũng thuộc
thế gian. Và bốn niệm xứ đưa đến sự viên mãn bảy giác
chi cũng thuộc thế gian. Và bảy giác chi đưa đến chứng
đạt cứu cánh niết bàn và quả giải thoát nhờ chánh
tri.
[21]
Kinh hán tạng tương đương là kinh niệm thân kinh (Đại 1.554
c)
[22]
Như kinh số 118, kinh số 119 là một phần của kinh satipatthana
số 10 cũng xem A. I 43.Vbh 226.
[23]
Đây gồm cả Sâmtha (chỉ) và Vipassana (quán) M.A.iv.144.
[24]
Xem kinh M.i 56 v.v…
[25]
Sarasankappa, như M.i .453.iii 132 S. iv.76.190.
[26]
Gehasita, thuộc vào cư sĩ, như tư tưởng thuộc về 5 loại
dục lạc.
[27]
Xem M.i. 56.
[28]
Như M.i.276.278.
[29]
Paripphosakam Paripphosakam. Như M.i.276.ii.15.iii,140 D.i.74 xemP.E.D.
[30]
Các đoạn văn tương đương ở M. i276-278 chấm dưt ở đây.
[31]
Về đoạn này, xem A.i .43, các thiện pháp thuộc minh phần
Dhamma Vijabhgi và được kể là sáu. Ở A. iii, 334vô thường
tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ,
đọan trù tưởng, viễn ly tưởng, diệt tưởng. Nhưng M.A..iv.145
nói ở đây, quán trí, thần thông do thắng trí, sáu thắng
trí đều câu hữu với trí.
[32]
Với thiên nhãn. M.A. iv. 145.
[33]
Xem M.1. 242
[34]
Bài kinh này còn thiếu 9 chú thích!