Chương
IV
KINH
NIỆM XỨ.
(trích:
Trung Bộ Kinh, Tập I, HT. Thích Minh Châu dịch, tr.56-62B)
http://www.thuvienhoasen.org/u-trung10.htm
KINH
NIỆM XỨ.
(Satipatthànasutta)
Như
vầy tôi nghe,
Một
thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), Kammàssadhamma (Kiềm Ma
Sắc Đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các
Tỳ Kheo: “Này các Tỳ Kheo” Các Tỳ Kheo vâng đáp Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn” Thế Tôn thuyết giảng như sau:
“Này
các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh
tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu,
thành tựu chánh lý chứng ngộ Niết Bàn. Đó là bốn Niệm
Xứ.”
“Thế
nào là bốn? Này các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán
thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, tinh cần,
tỉnh giác, giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô,” Vị ấy
tập: “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy
tập: “An tịnh cả toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy
tập: “An tịnh cả toàn thân tôi sẽ thở ra.” Vị
ấy tập. Như vậy, vị ấy sống, quán thân trên nội thân
hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên
cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy quán tánh sanh khởi
trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống
quán tánh sanh diệt trên thân, “Có thân đây” vị ấy an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh tri,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ
Kheo sống quán thân trên thân.”
Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo đi biết rằng: “Tôi đi”
hay đứng biết rằng: “Tôi đứng” hay ngồi, biết rằng:
“Tôi ngồi” hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm” Thân thể
được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế
ấy. Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống
quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên
nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi
trên thân; hay vị ấy sống quán sanh diệt tận trên thân,
hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân
đây” vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng
đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo,
như vậy vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân.”
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, khi bước tới bước lui,
biết rõ việc mình đang làm. Khi ngó tới ngó lui, biết rõ
việc mình đang làm. Khi mang áo Sanghàti (Tăng Già Lê), mang
bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm. Khi ăn, uống, nhai,
nếm, biết rõ việc mình đang làm. Khi đi đại tiện, tiểu
tiện, biết rõ việc mình đang làm. Khi đi, đứng, ngồi, nằm,
biết rõ việc mình đang làm. Như vậy, vị ấy sống quán
thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay
sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy
sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt
tận trên thân, hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có
thân đây” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng
hướng đến chánh tri chánh niệm. Và vị ấy sống không nương
tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ
Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân.”
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này, dưới
từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi
da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân
này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương thận,
tuỷ, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,
phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước
mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương,
nước tiểu. Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu
trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh,
đậu lớn, mè gạo, đã xay rồi. Một người có mắt, đổ
các loại ấy ra và quán sát: “Đây là hột gạo, đây là
hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè,
đây là bột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo,
một vị Tỳ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở
lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy
những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc,
lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan,
hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật,
đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mở da, nước miếng,
nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Như vậy vị
ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên
ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán
tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên
thân. “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh tri chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì
trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán
thân trên thân.”
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về các
vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân
này có địa đại, thủy đại, hoả đại và phong đại.”
Này các tỳ kheo, như một người đồ tể thiện xão, hay đệ
tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt
chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các
tỳ kheo, vị tỳ kheo quan sát thân này về vị trí các giới
và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa
đại, thủy đại, hoả đại và phong đại”. Như vậy vị
ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên
ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân, hay sống quán
tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên
thân. “Có thân đây” vị ấy an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm, và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán thân
trên thân.”
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng
bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy
trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Vị Tỷ kheo
quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản
tánh là như vậy. Không vượt khỏi tánh chất ấy.” Như
vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán
thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại
thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống
quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt
trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm, như
vậy, với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì
trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán
thân trên thân”.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng
bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn; hay bị các loài
diều hâu ăn; hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó
ăn; hay bị các loài giả can ăn; hay bị các loài côn trùng
ăn. Vị tỳ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất
là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh
chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân;
hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên
nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi
trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống
quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây,” vị ấy an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh tri,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy
vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân.”
“Này
các Tỳ Kheo, lại nữa vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể
bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên
kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường
gân cột lại….Với các bộ xương còn liên kết với nhau,
không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường
gân cột lại, thân chỉ còn có xương không dính lại với
nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây
là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp
vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây
là xương đầu. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân
này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt
khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên
nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán
thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh
sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận
trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây”. Vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm, và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở
trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán
thân trên thân”.
“Lại
nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng
bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ
ốc……Chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm……chỉ
còn là xương thối trở thành bột. Vị Tỳ Kheo quán thân
ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là
như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.” Như vậy vị
ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên
ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.
Hay sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh
diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây,” vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán thân
trên thân,”
“Này
các Tỳ Kheo, như thế nào vị Tỳ Kheo sống quán thọ trên
các thọ?” “Này các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo khi cảm
giác lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ;” khi
cảm giác khổ thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ”,
khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm
giác bất khổ bất lạc thọ.” Hay khi cảm giác lạc thọ
thuộc vật chất biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc
vật chất;” hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất,
biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”.
Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi
cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác
khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác
khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ
bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác
bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác
bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng:
“Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật
chất”. Như vậy vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ;
hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ
trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay sống quán tánh sanh khởi
trên các thọ; hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ;
hay sống với tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”
Vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo
như vậy vị Tỳ Kheo sống quán thọ trên các thọ.”
“Này
các Tỳ Kheo, như thế nào vị Tỳ Kheo sống quán tâm trên
tâm? Này các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo, với tâm có tham,
biết rằng: “Tâm có tham”;
Hay
với tâm không tham, biết rằng: “Tâm không tham”.
Hay
với tâm có sân, biết rằng: “Tâm có sân”.
Hay
với tâm không sân, biết rằng: “Tâm không sân”.
Hay
với tâm có si, biết rằng: “Tâm có si”.
Hay
với tâm không si, biết rằng: “Tâm không si”
Hay
với tâm thâu nhiếp, biết rằng: “Tâm được thâu nhiếp”.
Hay
với tâm tán loạn, biết rằng: “Tâm bị tán loạn”;
Hay
với tâm quãng đại, biết rằng: “Tâm được quãng đại”;
Hay
với tâm không quãng đại, biết rằng: “Tâm không được
quãng đại”;
Hay
với tâm hữu hạn, biết rằng: “Tâm hữu hạn”;
Hay
với tâm vô thượng, biết rằng: “Tâm vô thượng”;
Hay
với tâm có định, biết rằng: “Tâm có định”;
Hay
với tâm không định, biết rằng: “Tâm không định”;
Hay
với tâm giải thoát, biết rằng: “Tâm có giải thoát”
Hay
với tâm không giải thoát, biết rằng: “Tâm không giải thoát”.
Như
vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm
trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm.
Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm, hay sống quán tánh diệt
tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm, “Có
tâm đây” vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy. Với
hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy sống
không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ Kheo sống quán tâm trên
tâm.”
“Này
các Tỳ Kheo, thế nào là vị Tỳ Kheo sống quán pháp trên
các pháp? Này các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỷ Kheo sống quán
pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ
Kheo, thế nào là vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với năm triền cái? Này các Tỷ Kheo, ở đây vị Tỷ
Kheo, nội tâm có ái dục, biết rằng: “Nội tâm tôi có ái
dục”; hay nội tâm không có ái dục, biết rằng: “Nội
tâm tôi không có ái dục,” và với ái dục chưa sanh nay sanh
khởi, vị ấy biết như vậy. Và với ái dục đã sanh nay
được đoạn diệt, vị ấy biết như vậy, và với ái dục
đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị
ấy biết như vậy. Hay nội tâm có sân hận, biết rằng: “Nội
tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, biết
rằng: “Nội tâm tôi không có sân hận” và với sân hận
chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy, và với sân
hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy biết như vậy,
và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh
khởi nữa, vị ấy biết như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm
thụy miên, biết rằng: “Nội tâm tôi có hôn trầm thuỵ
miên;” hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, biết rằng:
“Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên” và với hôn
trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy.
Và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt,
vị ấy biết như vậy. Và với hôn trầm thụy miên đã được
đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết
như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, biết rằng: “Nội tâm
tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, biết
rằng, “Nội tâm tôi không có trạo hối” và với trạo
hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy. Và với
trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy niết như
vậy. Và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai
không sanh khởi nữa.Vị ấy biết như vậy. Hay nội tâm có
nghi, biết rằng: “Nội tâm tôi có nghi”; Hay nội tâm không
có nghi, biết rằng: “Nội tâm tôi không có nghi” và với
nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy, và với
nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy biết như vậy,
và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi
nữa, vị ấy biêt như vậy.”
“Như
vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội
pháp, ngoại pháp, hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp;
hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán
tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây” vị
ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo,
như vậy vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp, đối với
năm triền cái,”
“Lại
nữa này các Tỷ Kheo, vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các
pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ Kheo, thế nào là
vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ
uẩn? Này các Tỷ Kheo, vị Tỷ Kheo suy tư: “Đây là sắc,
đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Đây là thọ, đây là
thọ tập, đây là thọ diệt. Đây là tưởng, đây là tưởng
tập, đây là tưởng diệt. Đây là hành, đây là hành tập,
đây là hành diệt. Đây là thức, đây là thức tập, đây
là thức diệt. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội
pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán
pháp trên các nội pháp, ngoại pháp; hay sống quán tánh sanh
khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các
pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những
pháp ở đây,” vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy vị Tỷ Kheo sống quán pháp
trên các pháp đối với năm thủ uẩn”.
“Lại
nữa này các Tỷ Kheo, vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các
pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ Kheo, thế
nào là vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với
sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ Kheo, ở đây vị Tỷ Kheo
biết con mắt và biết các sắc, do duyên hai pháp này, kiết
sử sanh khởi, vị ấy biết như vậy; và với kiết sử chưa
sanh nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy; và với kiết sử
đã sanh nay được đoạn diệt; vị ấy biết như vậy;
và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không
sanh khởi nữa, vị ấy biết như vậy……biết tai và biết
các tiếng…biết mũi và biết các hương….biết lưỡi và
biết các vị…..biết thân và biết các xúc…..biết ý và
biết các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị
ấy biết như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi,
vị ấy biết như vậy, và với kiết sử đã sanh nay
được đoạn diệt, vị ấy biết như vậy; và với kiết
sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa,
vị ấy biết như vậy. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên
các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay
sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay sống quán
tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận
trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp.
“Có những pháp ở đây” vị ấy sống an trú chánh niệm
như vậy, với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một
vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy vị Tỷ Kheo
sống quán pháp trên các pháp, đối với sáu nội ngoại
xứ.”
“Lại
nữa, này các Tỷ Kheo, vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các
pháp đối với bảy giác chi. Này các Tỷ Kheo, thế nào là
vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với bảy giác
chi? Này các Tỷ Kheo, ở đây vị Tỷ Kheo, nội tâm có niệm
giác chi, biết rằng: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay
nội tâm không có niệm giác chi, biết rằng: “Nội tâm tôi
không có niệm giác chi”; và với niệm giác chi chưa sanh nay
sanh khởi, vị ấy biết như vậy, và với niệm giác chi đã
sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy biết như vậy.
Hay nội tâm có trạch pháp giác chi … như trên…hay nội tâm
có tinh tấn giác chi… như trên…., hay nội tâm có hỷ giác
chi….như trên….., hay nội tâm có khinh an giác chi…như trên….,
hay nội tâm có định giác chi….như trên…., hay nội tâm
có xả giác chi, biết rằng: “Nội tâm tôi có xả giác chi,”
hay nội tâm không có xả giác chi, biết rằng: “Nội tâm
tôi không có xả giác chi” Và với xả giác chi chưa sanh
nay sanh khởi, vị ấy biết như vậy; và với xả giác chi
đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy biết như vậy”
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống
quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các
nội pháp, ngoại pháp. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống
quán tánh sanh diệt trên các pháp, “Có những pháp ở đây”
vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh tri, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo,
như vậy vị Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với
bảy giác chi”.
“Lại
nữa, này các Tỷ Kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp
đối với Bốn Sự Thật. Này các Tỷ Kheo, thế nào là vị
Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự Thật?
Này các Tỷ Kheo, ở đây vị Tỷ Kheo như thật biết: “Đây
là khổ” như thật biết: “Đây là khổ tập” như
thật biết: “Đây là khổ diệt” như thật biết : “Đây
là con đường đưa đến khổ diệt.” Như vậy vị ấy sống
quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại
pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay
sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh
diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên
các pháp, “Có những pháp ở đây” vị ấy sống an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh tri, chánh
niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước
một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy vị Tỳ
Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Đế”.
“Này
các Tỳ Kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong
bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây:
Một là chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu
dư y, chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ Kheo, không cần gì
đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này, như
vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm,
trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong
hai quả sau đây: Một là chứng chánh trí ngay trong hiện tại,
hay nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ Kheo,
không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm
Xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai
quả sau đây: Một là chứng chánh trí ngay trong hiện tại,
hay nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ Kheo,
không cần gì đến một tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm
Xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai
quả sau đây: Một là chứng chánh trí ngay trong hiện tại,
hay nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn… Này các Tỷ
Kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh
cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành
tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ.”
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. các Tỳ Kheo ấy hoan hỷ tín thọ
lời dạy Thế Tôn.
KINH
NIỆM XỨ THỨ MƯỜI.
PHẦN
CĂN BỔN PHÁP MÔN, THỨ NHẤT