Chương
II
GIỚI
THIỆU, XÁC MINH VỀ TRUYỀN BẢN
VÀ
TÊN GỌI, XÁC MINH VỀ NIÊN ĐẠI
I–
PHẦN GIỚI THIỆU:
An
ban thủ ý kinh chú giải là một trong ba tác phẩm chú giải
kinh của Khương Tăng Hội. Hai bản chú giải kia là Pháp kính
kinh chú giải và Đạo thọ kinh chú giải ngày nay đã thất
lạc, tuy lời tựa viết cho Pháp kính kinh chú giải do Tăng
Hựu chép lại trong Xuất tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ 46b
19-c12 biết dưới tên Pháp kính kinh tự còn được bảo tồn.
Chỉ bản chú giải viết cho kinh An ban thủ ý cùng lời tựa
nó hiện lưu lại nguyên vẹn trong bản dịch kinh An ban thủ
ý của An Thế Cao ở bản in Đại chính của Đại tạng kinh
có nhan đề Phật thuyết Đại An ban thủ ý kinh.
1 –
Xác minh về vấn đề truyền bản và tên gọi:
Các
kinh lục từ Xuất tam tạng ký tập 13 tờ 97a15, chúng kinh
mục lục 6ĐTK 2146 tờ 147a22 đến Lịch đại tam bảo ký 5
ĐTK 2034 tờ, 59b4, Đại đường nội điển lục 2ĐTK 2149 tờ
230a19, Cổ kim dịch kinh đồ ký 1ĐTK 2151 tờ 352b21, Khai nguyên
Thích Giáo Lục 2 ĐTK 2154 tờ 491b20 và Trinh nguyên tân định
thánh giáo mục lục 3ĐTK 2157 tờ 788c19 cùng với Cao tăng truyện
1ĐTK 2059 tờ 326 a23 đều ghi nhận Khương Tăng Hội có chú
giải kinh An ban thủ ý một quyển. Nhưng trong bản in Đại
chính ngày nay không có một bản An ban thủ ý kinh chú giải
riêng. Ngược lại, chỉ có bản Phật thuyết Đại an ban thủ
ý kinh được ghi là do An Thế Cao dịch và xếp vào kinh tập
bộ số ĐTK 602 tờ 163a1-173a28 gồm hai quyển thượng và hạ,
với lời tựa An ban thủ ý kinh tự của Khương Tăng Hội.
Tuy
nhiên, nếu đọc trực tiếp Phật thuyết Đại an ban thủ
ý kinh, thì ngay câu đầu ta thấy đây không phải là một
bản kinh dịch bình thường, mà là một bản chú giải kinh
đó. Thực vậy, nó khởi đầu với câu: “Phật ở nước
Việt kỳ thì tiếp đến là cụm từ “nước Xá mi sậu,
cũng nói một tên Gìa nặc ca la”. Rõ ràng cụm ấy là một
chú giải cho từ “nước Việt kỳ” của câu đi trước.
Rồi câu kế “Bấy giờ đức Phật ngồi hành An ban thủ
ý chín mươi ngày”. Cũng vậy, tiếp theo là cả một đoạn
chú giải dài về ý nghĩa bốn chữ an ban thủ ý. Nhưng từ
đó trở đi, chính văn của bản dịch An Thế Cao với lời
chú của Khương Tăng Hội trở nên có đoạn không phân biệt
được tách bạch rõ ràng.
Sự
tình này, một ghi chú cuối bản kinh ở tờ 173a25-28 xác nhận:
“Kinh này, xét lời tựa đầu kinh và xem kinh, hình như là
người chép lầm lẫn, lời chú kinh không phân ra mà chép liền
vào. Đáng lẽ phải cắt mà chia ra. Nhưng thường có nhiều
chỗ không tách được, nên không dám tự tiện cắt. Xin để
lại cho các bậc hiền sau.”
Ghi
chú đây không có trong các bản in đời Tống năm 1104-1148
và 1239, đời Nguyên năm 1290 và đời Minh khoảng năm 1601,
song lại xuất hiện trong bản in Cao ly 1151. Bản in này chắc
chắn phải dựa vào bản in Đại tạng kinh Phật giáo đầu
tiên tại Trung Quốc do Tống Thái Tổ ra lệnh in năm 972 và
hoàn thành năm 983 gồm cả thảy 1076 kinh, 480 tập, và 5048
quyển, chứ không thể dựa trên bản in Sùng Ninh vạn thọ
bắt đầu năm 1080 nhưng phải đến năm 1176 mới xong. Vậy,
ghi chú trên dứt khoát phải viết ra trước năm 972. Nhưng
do ai và trước năm 972 ấy bao nhiêu, ta hiện chưa thể
biết được đích xác.
Điểm
thú vị là việc chép lẫn lời chú giải vào chính văn
kinh An ban thủ ý đã xảy ra từ lâu và người ta đã nhận
thấy rất sớm. Một nổ lực sửa sai nhằm tách chính văn
ra khỏi chú giải đã được tiến hành, nhưng không thành
công do “thường có nhiều chỗ không thể tách”, nên “xin
để lại cho các bậc hiền sau”. Vì thế, bản Phật thuyết
Đại An ban thủ ý kinh hiện nay thực chất phải nói là bản
An ban thủ ý kinh chú giải. Và An ban thủ ý kinh chú giải
này phải là của Khương Tăng Hội, chứ không thể của Đạo
An. Bởi vì nó đã bắt đầu với lời tựa của Hội chứ
không phải lời tựa của An.
Không
những vì bắt đầu với lời tựa, nó còn chứa đựng một
văn phong đặc biệt Khương Tăng Hội, đó là sự pha trộn
một ít cấu trúc mang tính ngữ pháp tiếng Việt trong các
tác dịch phẩm tiếng Trung Quốc của ông mà ta đã có dịp
đề cập tới trong phần giới thiệu Lục độ tập kinh và
Cựu tạp thí dụ kinh. Và văn phong này không chỉ xuất hiện
trong bản chú giải, mà còn cả trong lời tựa. Cụ thể là
câu “ngưỡng chiêm vân nhật” (tờ 163c1) với nghĩa
“ngữa trông mây trời”. “Vân nhật” của tiếng
Trung Quốc không có nghĩa mây và mặt trời bình thường của
nó, mà đã được hiểu theo “mây trời” tiếng Việt, nghĩa
là mây trên trời. Trong bản chú giải, ta cũng có những cấu
trúc tương tự, như câu “kiến sắc vạn vật” (tờ 169a6)
với nghĩa “thấy sắc của vạn vật”. Cấu trúc “quá
tinh tấn” (tờ 166a8) nhắc nhở chúng ta lối dùng trạng từ
“quá”ù trong tiếng Việt hiện đại, kiểu “quá tốt”,
“quá đẹp”, cấu trúc “thuỷ vũ” (tờ 172a20) với nghĩa
“nước mưa”, các cấu trúc “tín bản nhân duyên” (tờ
172b21), “hành hạnh vô vi” (tờ 172b26) với nghĩa“tin gốc
nhân duyên”, “làm hạnh vô vi” v.v…
Những
cấu trúc vừa nêu tất không thể nào xuất hiện dưới ngòi
bút của một người Trung Quốc tầm cở thiên tài là Thích
Đạo An được. Thực tế, một kiểm tra sơ bộ những tác
phẩm của Đạo An bảo tồn cho đến ngày nay, cụ thể là
các bài tựa do Tăng Hựu sưu tập lại trong Xuất tam tạng
ký tập 6 – 10, ta không phát hiện có những cấu trúc pha
trộn trên. Do thế, bản An ban thủ ý kinh chú giải hiện biết
dưới tên Phật thuyết Đại An ban thủ ý kinh chắc chắn
không phải do Đạo An viết. Ngược lại, nó là một tác phẩm
của Khương Tăng Hội. Việc đặt bài tựa của Hội lên đầu
bản văn vì vậy không phải là một động tác ngẫu nhiên
tuỳ tiện của người chép truyền bản, mà phản ảnh một
đánh giá đúng đắn về tương quan nội dung và tác quyền
giữa lời tựa và bản chú giải.
Như
thế, từ đây trở đi ta gọi Phật thuyết Đại An ban thủ
ý kinh số ĐTK602 là An ban thủ ý kinh chú giải. Tên này xuất
hiện trong Chúng kinh mục lục của Pháp kinh. Lịch đại tam
bảo kỷ, Đại đường nội điển lục, Cổ kim dịch kinh
đồ kí, Khai nguyên Thích Giáo Lục và Trinh nguyên tân định
Thích giáo mục lục có tên gọn hơn là An ban kinh chú giải.
Xuất tam tạng ký tập và Cao tăng truyện chỉ nói “Khương
Tăng Hội chú An ban thủ ý kinh”. Do vậy, có lúc người ta
đã gọi bằng tên Chú An ban thủ ý kinh, như Cao tăng truyện
1 tờ 32a27 – đã có.
2-
Xác minh về vấn đề niên đại:
Kể
từ ngày Tăng Hựu viết trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK
2145 tờ 97a13-16 là “Hội ở chùa Kiến sơ, dịch ra kinh pháp
(…..) lại chú ba kinh An ban thủ ý, Pháp kính, và Đạo thọ
cùng viết tựa kinh, lời lẽ trong đẹp, nghĩa lý vi diệu,
đều được đời sau kính trọng”, những người viết sử
và kinh lục Phật giáo Trung Quốc tiếp theo đã thống nhất
đặt thời điểm xuất hiện các tác dịch phẩm của Khương
Tăng Hội vào sau năm 247 lúc Hội đang ở chùa Kiến sơ tại
Kiến Nghiệp, Trung Quốc. Huệ Hạo viết Cao tăng truyện 1
ĐTK 2059 tờ 326a19-24 đã nói: “Hội ở chùa Kiến sơ dịch
ra các kinh (……) lại chú ba kinh A ban thủ ý, Pháp kính và
Đạo thọ, cùng viết tựa kinh, lời lẽ đẹp tiện, nghĩa
lý vi diệu, đều thấy ở đời”.
Đạo
Tuyên soạn Đại đường nội điển lục 2ĐTK 2149 tờ 230c17-20
cũng ghi: “(Hội) ở chùa Kiến sơ dịch ra các kinh, phần
nhiều đã mất bản, như riêng đã rõ, lại chú thuật các
kinh cùng viết tựa, đều khéo được chính thể, văn nghĩa
chuẩn hạp. Kinh do ông chú giải là An ban thủ ý, Pháp kính,
và Đạo thọ, xem đủ ở Lục”. Nhưng đến tỉnh Mại do
tiếp thu những mẫu tin của Phí Trường Phòng trong Lịch đại
tam bảo kyù, đã nói thẳng ra ở Cổ kim dịch kinh đồ kyù
1ĐTK 2151 tờ 352b15-22 là vào năm Thái nguyên thứ hai (252)
nhà Ngô nhằm năm Tân mùi ở Dương đô (Hội) dịch Lục độ
tập kinh (….) An ban kinh chú giải một quyển”.
Trí
Thắng nhậân ra năm Tân Mùi là Thái nguyên thứ nhất, chứ
không phải thứ hai, nên đã viết trong Khai nguyên Thích Giáo
Lục 2ĐTK 2154 tờ 491b14-21 : “Hội vào năm Tân Mùi, Thái nguyên
thứ nhất (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến sơ do mình sáng
lập dịch Lục đoä v.v… 7 bộ kinh (……) lại có Pháp kính
kinh chú giải 2 quyển, Đạo thọ kinh chú giải một quyển,
An ban kinh chú giải một quyển, ba kinh trên này Hội gồm viết
tựa………” Viên chiếu chép lại ý kiến vừa dẫn của
Trí Thắng trong Trinh nguyên tân định Thích giáo mục lục
3ĐTK 2157 tờ 788c-21 không thêm bớt.
Quan
điểm chung của các nhà kinh lục và sử học Phật giáo Trung
Quốc như vậy coi toàn bộ sự nghiệp phiên dịch và trước
tác của Khương Tăng Hội được thực hiện sau năm 248 ở
Trung Quốc, cụ thể là tại chùa Kiến Sơ của Kiến Nghiệp.
Song vấn đề không đơn giản đến thế, đặc biệt đối
với An ban thủ ý kinh chú giải, bởi vì ta có An ban chú tưï
của Đạo An do Tăng Hựu chép lại trong xuất tam tạng ký
tập 6ĐTK 2145 tờ 43c4-24. Trong lời tựa này, Đạo An nói:
“Nguỵ sơ, Khương Hội chú nghĩa cho nó, nghĩa hoặc ẩn mà
chưa rõ, An trộm không tự lượng mình, dám nhân người trước,
viết giải ở dưới……”.
“Ngụy
sơ” là những năm đầu nhà Ngụy. Nhà Ngụy do con Tào Tháo
là Tào Phi thành lập năm 221 và chấm dứt năm 265 Hàm ly thứ
nhất của Nguyên đế Tào Hoán, tổng cộng được 45 năm.
Cho nên, nếu Đạo An nói đầu đời nhà Ngụy, Khương Tăng
Hội viết chú nghĩa cho kinh An ban thủ yù như thế chắc chắn
An ban thủ ý kinh chú giải không thể viết vào năm 247 về
sau, mà phải từ năm 221 trở đi cho tới khoản năm 230. Lý
do nằm ở chỗ từ những năm 247 về sau dứt khoát không thể
gọi là “Ngụy sơ”, “những năm đầu nhà Ngụy được”,
trái lại chúng thực tế là những năm cuối cùng của nó
là “Ngụy mạt”.
Điều
này cũng có nghĩa là Khương Tăng Hội đã không viết An ban
thủ ý kinh chú giải tại chùa Kiến sơ ở Trung Quốc, như
các bản kinh lục đã có, mà đã viết nó tại nước ta vào
giữa những năm 221-230. Đây là một kết luận khá lôi cuốn,
bởi vì như vậy ngoài Mâu Tử Lý hoặc luận, ta bây giờ
có thêm một tác phẩm khác của không những lịch sử Phật
giáo, mà còn của văn hoá và tư tưởng Việt Nam, vào những
thế kỷ đầu của cuộc đấu tranh với kẻ thù phương Bắc.
Kết luận này ta không có gì để nghi ngờ cả do việc Đạo
An sống đã cách Khương Tăng Hội không xa về mặt thời gian,
mà còn là người “đã hiệu duyệt các kinh, chép ghi truyền
dịch” như Cao tăng truyện 1ĐTK 2059 tờ 324a23-24 đã ghi.
Tiểu
sử của Đạo An trong Cao tăng truyện 5 ĐTK 2059 tờ 353c11-12
nói An mất vào năm Thái nguyên thứ 10 (382) nhà Tấn thọ
72 tuổi. Vậy, An phải sinh năm 311, như thế chỉ cách thời
gian Hội mất hơn 30 năm. Mẫu tin về niên đại An ban thủ
ý kinh chú giải trong lời tựa trên của An, do đó là một
mẫu tin sớm nhất liên quan đến Hội và có độ dáng tin
cậy cao. Không những vậy, An còn là một nhân vật kiệt xuất
của lịch sử Phật giáo cũng như văn học và tư tưởng Trung
Quốc, một con người đã đào tạo ra cả một thế hệ những
nhà văn hoá có tài năng như Huệ Viễn, Pháp Thái v.v…. Cho
nên, không phải chỉ sống gần thời với Khương Tăng Hội,
mà với tư cách của một thiên tài tầm cỡ, những gì Đạo
An viết trên về Hội có giá trị hơn nhiều so với những
nhà kinh lục và viết sử đời sau như Tăng Hựu, Huệ Hạo
chứ khoan nói chi đến Đạo Tuyên và Trí Thắng.
Không
những thế, Đạo An đã dựa theo An ban thủ ý kinh chú giải
của Khương Tăng Hội, để viết An ban chú, như lời tựa
dẫn trên đã ghi nhận và mở đầu cho phong trào nghĩa học
ở Trung Quốc. Theo tiểu sử An trong Cao tăng truyện 5 ĐTK 2050
tờ 352a21-27, “xưa kinh dịch ra đã lâu, mà cựu dịch có
lúc sai lầm đến nổi khiến nghĩa sâu chìm mất chưa thông,
mỗi khi giảng thuyết chỉ nói sơ đại ý, rồi đọc kinh
thôi. An xem hết kinh điển, móc sâu với xa, các kinh Bát nhã
đạo hành, Mật tích, An ban do ông chú giải đều tìm văn
so câu, nêu hết các nghĩa, rồi bẻ nghi ngờ giải rõ phàm
22 quyển. Lời tựa uyên bát, phong phú, khéo được nghĩa sâu,
điều mục đã bày, văn ý đựơc thông, nghĩa kinh khắc rõ,
bắt đầu từ An”. Công tác chú giải kinh điển và viết
tựa của Đạo An công phu như vậy. Cho nên, khi An nói: “Ngụy
sơ Khương Tăng Hội viết chú nghĩa”, thì đây không phải
là một câu nói vô trách nhiệm, không căn cứ.
Hơn
nữa, Đạo An cũng là người đầu tiên viết bản kinh lục
đầy đủ về lịch sử truyền dịch kinh điển Trung Quốc.
Cao tăng truyện 5 tờ 352a27-b1 nói: “Từ Hán Ngụy đến Tấn,
kinh điển càng nhiều, tên tự của người dịch không nói,
người sau suy tìm, không biết niên đại. An bèn tổng hợp
danh mục, chép ra người thời nào, ghi phẩm mới cũ, soạn
làm kinh lục, các kinh có chứng cứ, thật do công của An”.
Như thế, không chỉ nghiên cứu, An ban thủ ý kinh chú giải
của Khương Tăng Hội để viết An ban chuù, Đạo An còn tập
hợp các kinh điển tiếng Trung Quốc, truy tìm niên đại và
tên tự người dịch chúng, để viết thành Tổng lý chúng
kinh mục lục, mà Tăng Hựu trong Xuất tam tạng ký tập 2 ĐTK
2145 tờ 5c2 nói đó là bản kinh lục “đầu tiên chép lại
tên kinh, ghi ra phẩm chương người dịch, nêu lên năm tháng”.
Do đó, niên đại “Ngụy sơ” do An đưa ra ở trên đã trải
qua một quá trình thẩm tra cân nhắc kỷ càng dưới sức ép
của các dữ kiện và tư liệu thu thập được.
Thực
tế, vào thời An các tác phẩm của Hội chưa đến nổi thất
lạc nhiều. Viết Thập pháp cú nghĩa kinh tưï mà Hựu sao
lại trong Xuất tam tạng ký tập 10 ĐTK 2145 tờ 74b11-13, An
nói: “Xưa Nghiêm Điều soạn Thập tuệ chương cuù, Khương
Tăng Hội biên tập Lục độ yếu mục, mỗi tìm câu họ,
tôi mừng có hiểu nhưng còn thiếu, lưu hành lâu mà chưa chép,
nay sao ra đề tân Thập pháp cú nghĩa …” Vậy, Khương Tăng
Hội có viết Lục độ yếu mục, mà An đã xử dụng cùng
với Thập tuệ chương cuù của Nghiêm Phật Điều, để viết
Thập pháp cú nghĩa. Điểm đáng tò mò là từ Tăng Hựu trở
về sau không một nhà kinh lục nào nhắc đến tác phẩm của
Hội.
Nói
thế cũng có nghĩa niên đại “Ngụy sơ”, khi nêu lên, Đạo
An không phải không có căn cứ của nó. Ngoài những tư liệu
Đạo An có thể có mà ngày nay đã mất như Lục độ yếu
mục, chỉ cần đọc lại lời tựa do Khương Tăng Hội viết
cho An ban thủ ý kinh chú giải của ông, ta thấy ngay đề ra
một niên đại như vậy là hợp lý. Khi mô tả việc An Thế
Cao đến ở Lạc dương, Hội viết: “Bèn ở kinh sư”. Gọi
Lạc dương bằng kinh sư, Hội dứt khoát không thể ở Kiến
nghiệp mà làm việc ấy được, bởi vì năm 220 Tôn Quyền
xưng đế và đóng đô ở Kiến Nghiệp, như Ngô chí 2 tờ
16a12 đã ghi, trong lúc Lạc dương vẫn là kinh sư của nhà
Ngụy, kẻ thù của Tôn Quyền.
Thêm
vào đó, năm Hoàng vũ thứ năm (226) Sỹ Nhiếp chết, Tôn Quyền
bộc lộ ý định thôn tính nước ta của mình, bằng cách
ngay năm đó chia Giao châu thành hai châu, như Ngô chí 2 tờ
14b6 đã ghi. Hợp phố về bắc gồm Thương Ngô, Nam hải, Uất
lâm và Hợp phố làm Quãng châu, cử Lữ đại làm Thứ sử.
Giao chỉ về sau gồm thêm Cửu chân, Nhật nam làm Giao châu,
cử Tải lương làm thứ sử, Trần thì làm thái thú thay Nhiếp.
Tải lương đến Hợp phố Sĩ Huy con Nhiếp đã tự xưng làm
thái thú, cử binh đóng cửa biển để chống Lương v.v…
Đại do thế dâng sớ xin cách tội Huy, thúc quân ba ngàn người
ngày đêm vượt biển. Có người bảo Đại: “Huy nhờ ơn
nhiều đời, cả châu dốc theo, chưa dễ khinh địch”. Đại
nói: “Huy tuy có nghịch kế, nhưng chưa xong. Ta biết chợt
đến, như dấu quân nhẹ cử, ập vào khi nó không chuẩn bị,
thắng là chuyện chắc. Nếu ở lâu không nhanh, khiến nó sinh
lòng ôm thành cố thủ, trăm mọi của bảy quận hưởng ứng
như mây dồn, thì tuy có người tài mưu trí, ai có thể làm
được”, như truyện Đại trong Ngô chí 15 tờ 7b5-10 đã chép.
Chép
vậy thực chất “phần nhiều đã bị nhuận sắc, nên chỗ
chép thuật trước có điều chẳng thực, những tác giả sau
lại sinh ý cải đổi thất thật, càng không xa ư?” Như lời
than của Bùi Tùng Chi trong Ngụy chí 1 tờ 12 b1-2 đã biểu
lộ. Và quả đúng thế, Lữ Đại thắng Sĩ Huy không phải
do Đại tiến quân nhanh, mà chủ yếu do Huy “tài cán tầm
thường”. Như Trần Thọ bình luận, nên đã giết thuộc
hạ mình là Hoàn Lân, dẫn anh và con Lân là Hoàn Trị và Hoàn
Phát vây thành chống lại Huy. Rồi sau đó không kiên quyết,
nghe Sĩ Khuông, do Lữõ Đại phái tới thuyết phục, Huy ra
đầu hàng và bị Đại giết, như truyện Sĩ Nhiếp của Ngô
chí 4 tờ 8b9-9a5 ghi. Việc này xảy ra khoảng vào năm 228.
Qua
năm 229 Tôn Quyền xưng đế, đóng đô Kiến nghiệp. Do thế,
nếu Khương Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh chú giải trong
khoảng 221-230, thời điểm có khả năng Hội viết chắc hẳn
rơi vào những năm 226-228, khi Sĩ Huy công khai thách thức
Tôn Quyền và từ đó chắc có ý định liên minh với nhà
Ngụy, như Lữ Hưng sẽ làm về sau, để cho Hội gọi Lạc
dương là kinh sư. Kết luận này hoàn toàn phù hợp với những
gì Hội viết trong bài tựa về quá trình hình thành của bản
chú giải ấy.
II
– QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ MÂU TỬ:
Hội
nói: “Tôi sinh muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ chết
mất, ba thầy viên tịch, ngữa trông mây trời, buồn không
biết hỏi ai, nghẹn lời trông quanh, lệ ra lã chã. Song phước
xưa chưa hết, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ
Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ từ Cối kê. Ba vị hiền này tin đạo
dốc lòng, giữ đức rộng thẳng, khăng khăng vươn tới, chí
đạo không mỏi. Tôi theo xin hỏi, thước giống góc đúng,
nghĩa không sai khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước,
chẳng phải chỗ thầy truyền, thì không dám tự do.
Ta
biết Hội mất năm 280 và viết An ban thủ ý kinh chú giải
trong khoảng 221-230. Do đó, ông phải sinh sớm lắm là khoảng
năm 200. Năm “ba thầy” trao giới Tỳ kheo hẳn là 220, lúc
ông đã hai mươi tuổi, một qui định tuổi bắt buộc, dù
cũng có vài ngoại lệ. Sau khi trao đổi xong “ba thầy điêu
táng”. Với chí tánh hiếu thảo, ông chắc đã để tang thầy.
Cho nên, nếu có viết An ban thủ ý kinh chú giải, thì cũng
phải từ những năm 223 trở đi, và trước khi viết, Hội
đã gặp Hàn Lâm, Bì Nghiệp và đặc biệt Trần Tuệ, để
đem những gì Hội học với thầy mình ra hỏi họ. Hội phát
hiện không có gì “sai khác cả”. Quá trình học và so này
chắc phải mất một thời gian. Vì thế, Hội có đặt bút
viết thì cũng từ những năm 224-225. Từ đó, Hội hoàn thành
khoảng vào năm 226-228.
Điểm
lôi cuốn là Hội nói “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm
chước”, trong khi từ Đạo an trở về sau cho đến Trí Thăng,
Viên chiếu, ai cũng nhận Hội là tác giả của An ban thủ
ý kinh chú giải. Thế phải chăng bản chú giải này là của
Trần Tuệ? Cứ chính vào nội dung hiện có của An ban
thủ ý kinh chú giải ngày nay, mà trong quá trình lưu truyền
sao chép đã bị “nhuộm sắc” ít nhiều, ta vẫn còn
phát hiện một số cấu trúc mang sắc thái ngữ pháp tiếng
Việt, như đã thấy. Cho nên, không thể một người từ Cối
kê sang như Trần Tuệ lại viết An ban thủ ý kinh chú giải
với những cấu trúc kiểu đó. Vì vậy, Đạo An cũng như
những nhà kinh lục về sau đã không lầm, khi ghi nhận Hội
viết chú nghĩa cho kinh ấy.
Từ
đó, việc Hội bảo “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm
chước” một mặt biểu lộ sự khiêm tốn và lòng biết
ơn đối với Trần Tuệ. Mặt khác, nó xác nhận sự kiện
Trần Tuệ có một ảnh hưởng nhất định trên công tác chú
giải của Khương Tăng Hội. Sự thật, Cao tăng truyện 1 ĐTK
2059 tờ 324a11-b12 có ghi một truyền thuyết về quan hệ giữa
Trần Tuệ và Khương Tăng Hội trong sự nghiệp truyền bá
học phong của An Thế Cao qua câu “Tôn đạo ta là cư sĩ Trần
Tuệ, truyền thiền kinh là tỳ kheo Khương Tăng Hội”. Và
đấy là tất cả những gì ta hiện biết về nhân vật Trần
Tuệ này. Hai nhân vật kia, Hàn Lâm và Bì Nghiệp (Cao tăng
truyện có tên Văn Nghiệp), ngoài lời tựa trên, không thấy
đâu nhắc tới nữa.
Tuy
nói “Trần Tuệ chú nghĩa” Hội không quên thêm câu “chẳng
phải lời thầy truyền thì không dám tự do”, để rõ ràng
xác nhận bản chú giải do Hội viết là ghi lại lời thầy
Hội truyền. Thầy đây là thầy của Hội, chứ không phải
chỉ An Thế Cao, như có người đã lầm tưởng và bảo Trần
Tuệ đã học với An Thế Cao. Thực tế như Cao tăng truyện
1ĐTK 2059 tờ 324a9-10 đã dẫn, Tổng lý chúng kinh mục lục
của Đạo An nói: “An Thế Cao từ Hán hoàng đế Kiến hòa
năm thứ 2 (152) đến trong khoảng Kiến ninh (169-172) của Linh
đế hơn 20 năm dịch ra hơn 30 bộ kinh”. Vậy, An Thế Cao
sống cho tới khoảng những năm 170, trong khi Trần Tuệ gặp
Khương Tăng Hội sau khi thầy Hội đã mất, tức từ khoảng
năm 220 đến 230. Trần Tuệ như thế phải gặp An Thế Cao
lúc mới mười mấy tuổi, nếu ta giả thuyết Tuệ có học
với Cao về An ban thủ ý kinh.
Đấy
là một điểm đáng nghi ngờ, giả như Tuệ có học với Cao,
thì tuy Hội nói “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước”,
An ban thủ ý kinh chú giải vẫn không phải do Tuệ viết, ngược
lại, nó do Hội thực hiện. Cho nên, vị thầy nói tới trong
lời tựa là thầy của Hội, chứ không thể thầy của Trần
Tuệ. Việc nhắc tới thầy mình trong khi viết chú giải hay
phiên dịch là một nét đặc trưng của học phong Khương Tăng
Hội. Ta đã thấy lúc dịch Cựu tạp thí dụ kinh, Hội đã
ghi lại 14 lời bình luận của thầy ông với câu: “Thầy
nói “ (sư viết). Rồi khi viết Pháp kính kinh tưï trong Xuất
tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ 46c9, ông một lần nữa nói:
“tang thầy nhiều năm nên không do đâu hỏi lại.”
Nói
khác đi, tuy Trần Tuệ cùng với Hàn Lâm và Bì Nghiệp có
một ảnh hưởng nhất định với Khương Tăng Hội, sẳn sàng
thừa nhận, tư tưởng chủ yếu khi viết An ban thủ ý kinh
chú giải vẫn là những gì do “thầy” của Hội truyền
dạy lại. Thế thì, vị thầy này là ai? Căn cứ vào chính
lời của Hội, khi viết chú giải, Hội chủ trương “Chẳng
phải lời thầy thì không truyền, không dám tự do” ta thấy
lời tựa tóm tắt ý chính của bản chú giải đã chứa đựng
quá nhiều văn cú liên quan đến Lý hoặc luận.
Cụ
thể là khi định nghĩa tâm là gì, Khương Tăng Hội viết:
“Ở tờ 163a8-12”. Tâm chi dật đảng, vô vi bất hiệp, hoảng
hốt phảng phất, xuất nhập vô gián, thị chi vô hình, thính
chi vô thanh, nghênh chi vô tiền, tầm chi vô hậu, thân vi tế
diệu, hình vô ty phát, phạn thính tiên thánh, bất năng chiếu
minh, mặc chủng vu thử, hoá sinh hồ bỉ, phi phàm sở đổ,
vi chi ấm giả…” Và khi mô tả thành quả của người thực
hành An ban, Hội lại viết: “Ở tờ 163b12-16: “Đắc An ban
hành giả, quyết tâm tức minh (….), vô hà bất kiến, vô
thanh bất văn, hoảng hốt phảng phất, tồn vong tự do, đại
di bất cực, tế quán mao ly, chế thiên địa, trụ thọ mạng
(….).
Văn
cú hai đoạn vừa trích rõ ràng ít nhiều phản ảnh quan niệm
Phật và đạo của Mâu Tử trong điều 2 và 3 của Lý hoặc
luận ở Hoằng Minh Tập 1ĐTK 2102 tờ 2a9-11 và 2a14-18: “Phật
chi ngôn giác giả, hoảng hốt biến hoá, phân thân tán thể,
hoặc tồn hoặc vong, năng tiểu năng đại, năng viên năng
phương (…) Đạo chi ngôn đạo giả, đạo nhân trí vô vi,
khiên chi vô tiền, dẫn chi vô hậu, cử chi vô thượng, ác
chi vô hạ, thị chi vô hình, thích chi vô thanh, tứ biểu
vi đại, uyển duyên kỳ ngoại, hào ly vi tế, gián quan kỳ
nội cố vi chi đạo”
Rõ
ràng, so sánh các đoạn trích văn trên, ta thấy chúng có nhiều
câu đồng nhất hay gần như đồng nhất với nhau. Sự tình
này có thể giải thích dễ nhất bằng cách nói đến việc
tiếp thu văn phong Mâu tử của Khương Tăng Hội thông qua công
tác tìm hiểu nghiên cứu Lý hoặc luận. Nhưng ta cũng có thể
giải thích Khương Tăng Hội đã học trực tiếp với Mâu
tử. Chính nhờ nghe Mâu tử giảng dạy trực tiếp, Khương
Tăng Hội mới có được những tương đồng văn cú trên.
Chúng thể hiện chủ trương của Hội khi viết An ban thủ
ý kinh chú giải là “chẳng phải lời thầy truyền, không
dám tự do”. Và trên thực tế, Hội đã làm như vậy.
Hẳn
dưới sự dạy dỗ, dìu dắt, hướng dẫn của Mâu tử, Khương
Tăng Hội đã hoàn thành một hướng đi cho mình. Đó là truyền
bá Phật giáo Việt Nam qua Trung Quốc, thực sự chứng minh
khả năng văn hoá Việt Nam đã phục hồi, sau sự biến chính
trị năm 42 đánh vỡ hệ thống nhà nước Hùng vương. Đây
phải nói là một đòn phản công văn hoá và nó đã thắng
lợi hoàn toàn, khẳng định sự tồn tại và thách đố của
nó đối với nền văn hoá Trung Quốc đang ồ ạt tràn sang,
có nguy cơ nhận chìm nó. Chắc với ý đồ ấy, Mâu tử đã
hứơng dẫn cho Khương Tăng Hội viết những tác phẩm tiếng
Trung Quốc đầu tiên nhắm đối tượng là người Trung Quốc.
Song việc đang tiến hành, Mâu tử cùng hai thầy kia của Hội
đã mất, vì tuổi lớn, (Mâu tử lúc ấy phải trên sáu mươi),
để lại trong lòng Hội một niềm tiếc thương vô hạn.
Nhìn
sự việc dưới góc độ này, ta bây giờ mới thấy tại sao
những tác phẩm đầu tay của Khương Tăng Hội ở nước ta
lại được viết bằng tiếng Trung Quốc, chúng được thực
hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ và chuẩn bị phục
vụ công tác truyền bá Phật giáo cho người Trung Quốc, mà
lúc đó đang cần đến những bản chú giải như An ban thủ
ý kinh chú giải hay Pháp kính kinh giải tử chuù v.v… Lý do
nằm ở chỗ “ban đầu kinh dịch ra đã lâu, mà cựu dịch
có lúc sai lầm, đến nỗi khiến nghĩa sâu chìm mất chưa
thông, mỗi tối giảng thuyết, chỉ nói sơ đại ý, rồi đọc
kinh mà thôi...”, như Cao tăng truyện 5 ĐTK 2059 tờ 352a21-4
đã ghi. Nói khác đi, kinh điển do An Thế Cao, chi sấm v.v…
dịch ra, vì khó hiểu nên chỉ để mà tụng, chứ không thể
đọc mà hiểu, vì thế đang cần những bản giải thích.
Ý
thức được nhu cầu ấy, nên những vị thầy của Hội, chủ
yếu là Mâu Tử đã hướng dẫn Hội tập sự chú giải một
số kinh điển Phật giáo Trung Quốc lưu hành ở nước ta đời
bấy giờ, cụ thể là An ban thủ ý kinh của An Thế Cao, Pháp
kính kinh của An Huyền và Đạo thọ kinh v.v…,mà kết quả
là bản An ban thủ ý kinh chú giải hiện có. Tuy thế, nền
Phật giáo do Mâu Tử và Khương Tăng Hội truyền đạt vẫn
mang tính Việt Nam, vì nó do người Việt Nam nhận thức, tiếp
thu và truyền thụ. Nó vì thế mang sắc thái văn hoá Việt
Nam. Đây là lý do giải thích tại sao những truyền thuyết
như trăm trứng vẫn được giữ nguyên trong Lục độ tập
kinh, trong khi ta biết chắc chắn là truyền thuyết một trăm
cục thịt đã lưu hành ở Kiến Nghiệp với bản dịch Soạn
tập bách duyên kinh của Chi Khiêm, lúc Hội mới qua Trung Quốc
và bắt đầu dịch bản kinh ấy.
Vậy
người thầy tham gia vào quá trình hình thành An ban thủ ý
kinh chú giải có khả năng không ai khác hơn là Mâu Tử, những
bản chú giải khác như Đạo thọ kinh chú giải và Pháp kính
kinh giải tử chuù của Khương Tăng Hội, Mâu Tử có tham gia
không, ta ngày nay không thể trả lời dứt khoát được, dù
Pháp kính kinh tự có nhắc đến sự kiện “tang thầy nhiều
năm nên không do đâu hỏi lại”. Nhắc thế cũng có nghĩa
Hội viết Pháp kính kinh giải tử chuù theo những gì thầy
mình đã dạy. Một lần nữa, Mâu Tử có thể ít nhiều tham
gia vào quá trình hình thành Pháp kính kinh giải tử chuù, nhưng
ta không có một chứng cớ nào cả. Mâu Tử một khi trở thành
một trong các vị thầy của Khương Tăng Hội, có khả năng
– Chúng tôi nói “có khả năng”, vì Mâu Tử không
nhất thiết phải xuất gia mới làm thầy của Khương Tăng
Hội, bởi bản thân Mâu Tử với học lực và tài ba của
mình cũng có thể đủ để làm thầy của Hội. Mâu Tử đã
xuất gia, sau thời gian cư tang mẹ xong, khoảng vào năm 198.
Nghĩa là chính vào năm Mâu Tử viết Lý hoặc luận. Viết
Lý hoặc luận, ngoài nhiệm vụ chính là trả lời “bọn
thế tục cho ông bỏ năm kinh, mà đi theo đạo khác”, ông
hẳn gián tiếp trình bày lý do ông đi xuất gia. Cụ thể là
thời buổi nhiễu nhương chẳng phải là lúc ra làm quan và
chọn lối sống “thiên tử không có bề tôi, chư hầu không
có người bạn”. Nói thế tức cũng gần như nói “Không
tham dự việc đời” một nét đặc trưng của các sa môn,
theo Mâu Tử.
Điều
này giải thích cho ta không ít tại sao Lý hoặc luận có một
quan tâm đặc biệt đối với lối sống của những người
xuất gia Phật giáo thể hiện qua các điều 1,9,10,11,16,27 và
35, tưc chiếm hơn 20% tác phẩm. Đặc biệt điều 27 nói: “Tôi
xưa ở kinh sư, vào Đông quan, chơi Thái học, thấy nề nếp
của Tuấn sĩ, nghe luận bàn của rừng nho, chưa nghe tu đạo
Phật là quí, bớt dung nhan là hay, sao bạn lại mê thế? Phàm
đi lạc thì đổi đường, cùng thì về cũ, há không đáng
suy nghĩ ư? Đặt câu hỏi thế này, rõ ràng muốn nói Mâu
Tử đã “xuống tóc” đi tu. Vì thế, khi Mâu Tử viết ông
“dốc chí vào đạo Phật”, nó không chỉ có nghĩa “dốc
chí” chung chung, mà đã hiến mình hoàn toàn cho cuộc sống
đạo, nghĩa là đã trở thành một nhà tu. Như vậy, Mâu Tử
là nhà sư đầu tiên được biết tên của lịch sử Phật
giáo nước ta.[3]
Việc
Mâu Tử có quan hệ với quá trình hình thành An ban thủ ý
kinh chú giải đến lượt nó trở lại giải thích cho ta khá
nhiều những điểm chưa sáng tỏ trong Lý hoặc luận. Điển
hình là câu hỏi kết thúc của người đối thoại với Mâu
Tử về lý do “tại sao chỉ viết 37 điều, thế có khuôn
mẫu không?”.
Mâu
Tử trả lời: “Tôi xem Phật kinh chi yếu có ba mươi bảy
phẩm, Đạo kinh họ Lão cũng có 37 thiên, nên làm theo mẫu
đó”. Trước đây, khi nghiên cứu Lý hoặc luận, chúng tôi
nói câu “Phật kinh chi yếu có 37 phẩm” và 37 phẩm ở đây
là 37 phẩm trợ đạo truyền thống của Phật giáo. Nhưng
cũng có thể hiểu là có một cuốn sách lưu hành vào thời
Mâu Tử có tên Phật kinh chi yếu gồm 37 chương.
Bây
giờ, nếu chấp nhận Mâu Tử đã dạy An ban thủ ý kinh cho
Khương Tăng Hội và Khương Tăng Hội đã viết kinh An ban thủ
ý kinh chú giải để truyền lại lời thầy, thì rõ ràng cách
hiểu thứ nhất trên là có cơ sở hơn. Lý do nằm ở chỗ
trong bản chú giải ngày nay ở tờ 172c4-5 có câu: “Mười
hai bộ kinh đều thảy nằm trong kinh Ba mươi bảy phẩm, vì
như muôn suối, bốn sông đều chảy về biển lớn. Kinh Ba
mươi bảy phẩm đây không chỉ gì khác hơn là ba mươi bảy
phẩm trợ đạo bao gồm bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn
như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám con đường
chính. Và một khi đã nói “Mười hai bộ kinh thảy đều
nằm trong kinh Ba mươi bảy phẩm” thì cũng muốn nói “Yếu
lý kinh Phật có ba mươi bảy phẩm”.
Do
đó, “yếu lý kinh Phật có ba mươi bảy phẩm” thực chất
là kinh Ba mươi bảy phẩm của An ban thủ ý kinh chú giải,
mà khi viết Lý hoặc luận Mâu Tử đã lấy làm khuôn
mẫu để hình thành 37 điều của mình. Như thế, vào thời
Mâu Tử, ngoài Lục độ tập kinh, Tạp thí dụ kinh, Cựu tạp
thí dụ kinh và những bản kinh tiếng Trung Quốc khác như Tứ
thập nhị chương kinh, An ban thủ ý kinh, Pháp kính kinh, Đạo
thọ kinh v.v… ta bây giờ phải ghi nhận thêm Tam thập thất
phẩm kinh, một bản kinh ra đời trước Tam thập thất phẩm
kinh do Đàm Vô Lan tập thành vào năm Tấn Thái nguyên 21 (393)
từ các văn bản kinh khác nhau, như Tam thập thất phẩm kinh
tự của ông trong Xuất tam tạng ký tập 10 ĐTK 2145 tờ 70b16-c12
đã ghi.
Sự
thực, trước thời Đàm Vô Lan, Đạo An đã thu thập được
một bản Tam thập thất phẩm kinh không tên người dịch,
như Xuất tam tạng ký tập 3ĐTK 2145 tờ 16c29 đã chép. Bản
này Đạo tuyên viết Đại đường nội điển lục 1ĐTK 2149
tờ 225c24 xếp vào loại thất dịch đời Hán, nhưng không
nói rõ. Đến Trí Thăng viết Khai nguyên Thích giáo lục 1ĐTK
2154 tờ 484b22, dẫn Lịch đại tam bảo kyù 5 ĐTK 2034 tờ 55b17
của Phí Trường Phòng, nó được xếp hẳn vào loại thất
dịch đời Hán. Viên chiếu cũng làm thế trong Trinh nguyên
tân định Thích giáo mục lục 2ĐTK 2157 tờ 781c13. Bản Tam
thập thất phẩm kinh do Đạo An thu thập được có khả năng
do bản Tam thập thất phẩm kinh tiếng Việt Mâu Tử xử dụng
dịch ra, như trường hợp Tạp thí dụ kinh ĐTK 206 ta đã bàn
tới.
Có
thể Mâu Tử đã gọi Tam thập thất phẩm kinh là Phật kinh
chi yếu, để cho nó đối với Lão thi đạo kinh ở câu sau.
Cho nên, hiểu Phật kinh chi yếu như tên một cuốn sách không
phải là không có cơ sở. Thêm vào đó, An ban thủ ý kinh chú
giải tờ 169c7 có dẫn một bản văn có tên Yếu kinh. Yếu
kinh này phải chăng là Phật kinh chi yếu? Đây là một có
thể, bởi vì tra lại các bản kinh lục hiện nay không có
một bản văn nào tên Yếu kinh trước thời Khương Tăng Hội
cả. Chỉ Xuất tam tạng ký tập 4ĐTK 2145 tờ 32a6 dưới mục
Điều tân soạn mục lục khuyết kinh có ghi Xuất yếu kinh
20 quyển và nói là khuyết bản “chưa thất văn kinh”. Vậy
phải chăng Yếu kinh trên là Xuất yếu kinh này chăng? Một
lần nữa, đó là một có thể. Nếu thế, ta biết thêm vào
thời Mâu Tử có lưu hành một bản văn gọi là Xuất yếu
kinh, hay Yếu kinh tại nước ta. Và Yếu kinh đó có thể là
Phật kinh chi yếu. Của Lý hoặc luận, vì An ban thủ ý kinh
chú giải tờ 172b13 có nói tới Tam thập thất phẩm kinh yếu.
Chỉ có điều Xuất yếu kinh có tới 20 quyển, trong khi ta
không biết Yếu kinh và Phật kinh chi yếu có bao nhiêu quyển.
Có khả năng Yếu kinh và Phật kinh chi yếu có số quyển như
vậy, bởi vì người đối thoại với Mâu Tử than phiền “Kinh
Phật quyển lấy muôn kể, lời lấy ức đếm” trong điều
5 của Lý hoặc luận, còn trong điều 1 Mâu Tử nói: “Phật
viết kinh phàm 12 bộ hợp tám ức bốn ngàn vạn quyển, quyển
lớn vạn lời trở xuống, quyển nhỏ ngàn lời trở lên”.
Đúng là nếu Yếu kinh hay Phật kinh chi yếu tóm tắt “yếu
lý kinh Phật” đã lên đến 20 quyển, thì bình thường
ra kinh Phật có thể nhiều và dài tới mức nào, phải lấy
số vạn số ức mà đếm. Thế, tình hình kinh điển Phật
giáo ở nước ta có cho phép nói đến những số lượng như
vậy không vào thời Mâu Tử ?
Đây
là điển hình thứ hai, mà An ban thủ ý kinh chú giải có thể
giúp soi sáng Mâu Tử Lý hoặc luận, khi ta trả lời câu hỏi
vừa nêu. Sự thực, quan điểm coi “Yếu lý kinh Phật có
37 phẩm” của Lý hoặc luận hay “mười hai bộ kinh thảy
đều nằm trong kinh 37 phẩm” của An ban thủ ý kinh chú giải
là một quan điểm đặc biệt A tỳ đàm của Phát trí túc
luận mà A tỳ đạt ma đại Tỳ bà sa luận 183 ĐTK 1545
tờ 917b7-918a17 chép thế này: “Chánh pháp là gì ? Đáp: Là
căn, lực, giác chi, đạo chi vô lậu (…).
Hỏi:
Niệm trụ, chánh đoạn, thần túc cũng là chánh pháp
không ? (…)
Đáp:
Kia cũng là chánh pháp (…) bốn niệm trú tức bao gồm trong
tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chính kiến, bốn
chính đoạn tức bao gồm trong tinh tấn căn, tinh tấn lực,
tinh tấn giác chi, chính cần. Bốn thần túc tức bao gồm trong
định căn, định lực, định giác chi, chính định (….)Trong
đó có hai thứ chánh pháp. Một là thế tục chánh pháp. Hai
là thắng nghĩa chánh pháp. Thế tục chánh pháp là tên, câu,
văn tức kinh, luật, luận. Thắng nghĩa chánh pháp là thánh
đạo, tức vô lậu căn, lực, giác chi, giác đạo…”.
Thế,
chính pháp, đặc biệt “thắng nghĩa chính pháp”, chứ không
phải “Thế tục chánh pháp” là ba mươi bảy phẩm trợ
đạo. Cho nên, khi nói “Yếu lý kinh Phật có Ba mươi bảy
phẩm” và “Mười hai bộ kinh thảy đều nằm trong kinh Ba
mươi bảy phẩm”, rõ ràng phản ảnh quan điểm vừa nêu
của A tỳ đạt ma đại Tỳ bà sa luận. Và A tỳ đạt ma
đại Tỳ bà sa luận, tuy đến thời Huyền Trang (600-664) mới
được dịch trọn vẹn gồm cả thảy 200 quyển, nhưng đã
xuất hiện vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch, như bài
kệ của Trang chép ở cuối quyển 200 tờ 1004 a5-7 ghi
nhận:
Sau
Phật Niết bàn bốn trăm năm
Vua
Ca sắc nị Ca đất Ấn
Triệu
tập năm trăm bậc ứng chân
Ca
thân di la giải ba tạng
Trong
đó đối pháp Tỳ bà sa
Có
đủ bản văn nay dịch xong.
Vì
vậy, có khả năng văn bản đã truyền tới đất nước ta
và ít nhiều được trích dịch, để cho một mặt ta có Tam
thập thất phẩm kinh và quan điểm “Yếu lý kinh Phật”
nói trên, và mặt khác Mâu Tử mới mô tả kinh Phật “quyển
lấy vạn kể, lời lấy ức đếm”. Quả thế, chỉ dựa
vào bản dịch của Huyền Trang hiện có, thời Đạo An đã
biết nó có 15072 “thủ lô”, tức 482304 “lời” tương
đương với tiếng Tần là 195250 “lời”. Xem A tỳ đàm tự
của Đạo An trong Xuất tam tạng ký tập 10 ĐTK 2145 tờ 72b5-7,
của A tỳ đạt ma đại tỳ bà sa luận thôi ta cũng có tới
200 “quyển” và một triệu rưỡi “lời”, chứ khoan nói
chi đến một số bộ khác, mà ta biết có khả năng hiện
diện ở nước ta. Cụ thể là Bát nhã bát thiên tụng, mà
sau này Khương Tăng Hội đã dịch thành Ngô phẩm hay Đạo
phẩm. Tính về lời, cứ trên số tụng của Phạn văn, ta
có ít nhất 250.000 “lời”. Đạo An viết Đạo hành kinh
tưï trong Xuất tam tạng ký tập 7 ĐTK 2145 tờ 47b14 cũng nói
nó có “ba mươi vạn lời”. Điều này cũng dễ tính thôi.
Bộ Bát nhaõ do Hội dịch thuộc dạng 8000 kệ, mỗi kệ có
32 âm, nên tất cả có 250.000 “lời”. Về văn kệ Bát nhã,
xem Lê Mạnh Thát, Lược khảo lịch sử hình thành văn kệ
bát nhaõ, cảo bản 1968. Cũng nên nhớ điển huấn Trung Quốc
“thánh nhân vốn chế bảy kinh, không quá ba vạn lời”.
Cho
nên, với một tình hình hiểu biết kinh sách, như vừa mô
tả, Mâu Tử đã không quá lời khi nói: “Kinh Phật quyển
cùng vạn kể, lời lấy ức đếm”. Là từ số kinh sách
giới hạn được biết chắc chắn ở nước ta này, có thể
Mâu Tử đã suy luận ra, để viết câu: “Kinh được trước
tác phàm có 12 bộ hợp thành tám ức bốn ngàn vạn quyển”,
để ghi nhận sự phong phú của kinh điển Phật giáo khi so
với bảy kinh Nho giáo cở “Ngủ nhạc đối với gò đồi”,
“sông biển đối với kinh rạch”. An ban thủ ý kinh chú
giải do thế giúp ta hiểu thêm những gì Mâu Tử đã viết
trong Lý hoặc luận là có cơ sở, chứ không phải là những
lời khoa đại vô căn cứ. Thế Mâu Tử đã truyền những
tư tưởng chủ yếu gì cho Khương Tăng Hội không qua An ban
thủ ý kinh chú giải ?
III
– NỘI DUNG TƯ TƯỞNG:
An
ban thủ ý kinh chú giải tự tên sách đã xác định đây là
một bản chú giải về kinh An ban thủ yù do An Thế Cao dịch.
Văn kinh và văn bản chú giải từ trước thế kỷ thứ X,
như đã nói, nhiều chỗ đã bị chép lẫn vào nhau không dễ
gì tách ra một cách dễ dàng. Cho nên, nội dung tư tưởng
của bản chú giải chính là nội dung tư tưởng của bản
kinh, và ngược lại. Vì thế, những gì An Thế Cao dịch cũng
chính là những gì Khương Tăng Hội giải thích. Yêu cầu giải
thích kinh điển vào thời Hội đã trở nên bức thiết, vì
tình hình “Xưa kinh dịch đã lâu, mà cựu dịch có lúc sai
lầm đến nỗi khiến nghĩa sâu chìm mất chưa thông, mỗi
khi tới giảng thuyết chỉ nói sơ đại ý, rồi đọc kinh
thôi”, như Huệ Hạo đã nhận xét trong Cao tăng truyện 5ĐTK
2059 tờ 352a21-23.
Chính
do nguyên nhân đó, mà nội dung tư tưởng của kinh cũng chính
là nội dung những lời giải thích của Khương Tăng Hội.
Tuy nhiên, vì bản thân kinh An ban thủ ý ngày nay đang có những
tương đương nguyên bản Phạn và Pali cũng như bản dịch
chữ Hán, nên ta có thể truy ít nhiều về nội dung chính của
nó. Từ đấy ta có thể phân biệt tối thiểu đây là nguyên
ý của kinh văn và đây là những đóng góp của Khương Tăng
Hội cùng vị thầy của mình là Mâu Tử, dù biết rằng An
Thế Cao có thể dùng một bản khác với các bản tương đương
ta hiện có, trong khi dịch An ban thủ ý kinh của ông.
An
ban thủ yù là một nửa phiên âm, một nửa dịch chữ Phạn
Ànàpànasmrti (pali: Ànàpànasati) với nghĩa niệm hay nhớ nghĩ
hơi thở ra và hơi thở vào. Đọan phiên Phạn bản của kinh
này đã tìm thấy ở Thổ phồn (Turfan) và đã được Hàn
lâm viện khoa học Đức ở Beclin xuất bản năm 1972. Nguyên
bản Pali Ànàpànasatiputta hiện nằm trong Trung bộ kinh M. III.18
cùng với bản dịch chữ Hán Trị ý kinh ĐTK. Điểm đặc
biệt là khi so sánh các bản này với An ban thủ ý kinh và
An ban thủ ý kinh chú giải chúng không nói gì đến “Sáu
phương pháp mầu nhiệm” (Lục diệu pháp môn), mà An ban thủ
ý kinh và An ban thủ ý kinh chú giải đã kê ra và có một
quan tâm nổi bật trong việc giải thích.
Sự
tình này đã gây thắc mắc cho một số người về nguồn
gốc của sáu phương pháp ấy. Người ta tự hỏi phải chăng
chúng do An Thế Cao hay Khương Tăng Hội đã chú giải thêm
thắt vào. Thực tế, ngay vào hậu bán thế kỷ thứ VI, Trí
Khải (538-597) trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn
7ĐTK 1916 tờ 524b18 đã dẫn kinh Thụy ứng bản khỉ, nói:
“Kinh Thụy ứng nói: “Nhân sáu pháp đó (Ngài) đến nghỉ
tam (thiền) tứ (thiền), xuất sinh mười hai (thiền môn)”.
Tờ tiếp 525b16-20, tuy không nêu đích danh kinh Thụy ứng bản
khỉ, nhưng rõ ràng đã dẫn từ kinh ấy, nói: “Như đức
Thích Ca lúc mới đến cây Bồ đề, bên trong liền nghĩ An
ban, một sổ, hai tuỳ, ba chỉ, bốn quán, năm hoàn, sáu tịnh,
đến nghĩ ba bốn, xuất sinh mười hai, nhân đó chứng hết
thảy mọi pháp môn, hàng ma thành đạo”.
“Sáu
phương pháp mầu nhiệm” như vậy không phải chỉ giới hạn
vào kinh An ban thủ yù của An Thế Cao và bản chú giải của
Khương Tăng Hội. Nói theo Trí Khải trong Thích thiền ba la
mật thứ đệ pháp môn 7 tờ 525b14–16”, nên biết sáu phương
pháp mầu nhiệm tức là đại thừa,…ba đời các đức Phật
lúc mới vào đạo, trước hết đều lấy sáu phương pháp
mầu nhiệm làm gốc”. Đây là một cách phát biểu khác ý
chính câu mở đầu của lời tựa do Khương Tăng Hội đề
cho bản chú giải mình: “An ban là đại thừa của chư Phật
để cúu chúng sanh phiêu dạt. Nó có sáu việc để trị sáu
tình”. Vậy, nội dung kinh An ban thủ yù cùng bản chú giải
là trình bày rõ “sáu việc” hay sáu phương pháp mầu nhiệm
ấy”.
Quả
đúng vậy, sau một đoạn giải thích về ý nghĩa bốn chữ
An ban thủû yù cả đen lẫn bóng, bản xác định ngay nội
dung chính của bản kinh cũng như bản chú giải với câu: “An
ban thủ ý có mười trí, tức là sổ tức, tương tuỳ, chỉ,
quán, hoàn, tịnh và bốn sự thật. Đó là thành tựu mười
trí. Nên hợp với kinh Ba mươi bảy phẩm là thành tựu đạo
hạnh”. Nội dung chính, chủ đề tư tưởng chính của An
ban thủ ý kinh và An ban thủ ý kinh chú giải do thế là mười
trí và ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Việc
kết hợp sáu phương pháp mầu nhiệm với bốn sự thật và
ba mươi bảy phẩm trợ đạo được trình bày như sau: “Đối
với bốn sự thật, nó viết: “Tại sao sổ tức? Vì không
muốn theo năm ấm. Tại sao tương tùy? Vì muốn biết năm ấm.
Tại sao chỉ? Vì muốn quán năm ấm. Vì sao quán năm ấm? Vì
muốn biết gốc của thân. Tại sao muốn biết gốc của thân?
Vì muốn bỏ khoå. Tại sao hoàn? Vì chán sinh tử. Vì sao tịnh?
Vì muốn phân biệt năm ấm không nhận. Rồi theo tám con đường
trí tuệ đạt được hiểu biết là đạt sở nguyện”.
Vậy
sáu phương pháp mầu nhiệm là bốn sự thật, là đưa bốn
sự thật vào cuộc sống hằng ngày của từng cá nhân, từng
con người. Nội dung bài giảng đầu tiên của đức Phật
ở vườn Nai từ đó nằm ngay trong việc thi hành sổ, tùy,
chỉ, quán, hoàn, và tịnh.
Không
chỉ nội dung bài giảng đầu tiên của đức Thế tôn, mà
ngay cả toàn bộ kinh điển đạo Phật đều nằm trong sáu
phương pháp đó. Lý do nằm ở chỗ “mười hai bộ kinh thảy
đều nằm trong kinh Ba mươi bảy phẩm”. Mà quan hệ của
kinh Ba mươi bảy phẩm này với sáu phương pháp cũng được
xác định rõ ngay từ đầu: “Sổ tức là bốn ý chỉ (niệm
xứ). Tương tuỳ là bốn ý đoạn (chính cần). Chỉ là bốn
thần túc (như ý túc). Quán là năm căn, năm lực. Hoàn là
bảy giác chi. Tịnh là tám hạnh” (Chính đạo là con đường
chính). Thế, hiển nhiên ba mươi bảy phẩm bao gồm trong tám
phương pháp mầu nhiệm”.
Thực
hành sáu phương pháp ấy là thực hành ba mươi bảy phẩm
trợ đạo, là đưa tới sự giác ngộ trọn vẹn, viên mãn,
đúng như Khương Tăng Hội đã nói ngay câu đầu của bản
chú giải: “An ban là đại thừa của chư Phật để cứu
giúp chúng sanh nổi trôi.”
Sau
khi đã xác định quan hệ giữa bốn sự thật và ba mươi
bảy phẩm trợ đạo với phương pháp An ban, Khương Tăng Hội
tiếp tục trình bày nội dung cụ thể của từng phương pháp
từ sổ tức, tương tùy cho đến hoàn và tịnh. Chẳng hạn,
về sổ tức, ông viết: “Sổ tức có ba việc. Một là phải
ngồi và hành. Hai là thấy sắc, phải nghĩ vô thường bất
tịnh. Ba là phải hiểu sân giận, nghi ngờ, ganh ghét, khiến
qua đi”. Khi đã giải thích sổ tức như thế, ông viết tiếp:
“Có ba lối ngồi theo đúng đạo. Một là ngồi sổ tức,
hai là ngồi tụng kinh. Ba là ngồi vui nghe kinh”. Nhân đó
ông ghi nhận luôn ba phẩm chất của việc ngồi: “Ngồi có
ba tính chất: Một là ngồi hiệp vị, hai là ngồi tịnh, ba
là ngồi không có kiết sử. Sao gọi là ngồi hiệp vị? Là
ý bám hành không rời, đó là ngồi hiệp vị. Sao gọi
là ngồi tịnh? Tức là không niệm, là ngồi tịnh. Ngồi không
kiết sử là gì? Tức là kiết sử đã hết, là ngồi không
có kiết sử”û.
Đó
là ngồi. Còn về hành, hành đây là “hành tức”, tức là
thực hành hơi thở. Theo Khương Tăng Hội thì, “lúc thực
hành hơi thở (hành tức) là theo sổ”. Thế thì, ngồi cũng
ngồi sổ tức, và hành cũng hành sổ tức. Vậy, “ngồi với
hành giống hay không giống?” Khương Tăng Hội trả lời:
“có lúc giống có lúc không giống. Sổ tức, tương tùy,
chỉ, quán, hoàn, tịnh, sáu việc này, có lúc là ngồi, có
lúc là hành. Vì sao? Sổ tức, ý định, đó là ngồi. Ý theo
pháp (đối tượng), đó là hành. Đã khởi ý không rời là
hành, cũng là ngồi”. Dù ngồi hay hành, việc chủ yếu là
đếm hơi thở, là sổ tức, là đếm hơi thở mình từ 1 đến
10.