Chương
I
NHẬN
THỨC TỔNG QUÁT
I
- XUẤT XỨ:
Đức
Phật ở nước Việt Kỳ là nước Xá mi đậu, cũng gọi là
Già nặc cala. Lúc bấy giờ Đức Phật ngồi, thực hành an
ban thủ ý chín mươi ngày. Đức Phật lại ngồi một mình
chín mươi ngày, suy nghĩ tính toán muốn độ thoát người
và các loài bò bay máy cựa mười phương. Lại nói:
“Ta thực hành an ban thủ ý chín mươi ngày”. An Ban thủ
ý được ý từ niệm tự tại, trở lại thực hành an ban
thủ ý xong, lại cất ý, thực hành niệm.
II
- VỀ MẶT HÌNH THỨC:
Nghĩa
của bốn chữ An ban thủ ý:
An
là thân. Ban là hơi thở. Thủ ý là đạo. Thủ là cấm, cũng
gọi là không phạm giới. Cấm cũng là giữ. Gĩư là giữ
hết tất cả, không chỗ phạm. Ý là hơi thở, ý cũng là
đạo.
An
là sinh. Ban là diệt. Ýùù là nhân duyên. Thủ là đạo.
An
là sổ (đếm). Ban là tương tuỳ. Thủ ý là chỉ.
An
là niệm đạo. Ban là giải kết (mở gút). Thủ ý là không
đi theo tội lỗi.
An
là tránh tội. Ban là không dính tội. Thủ ý là đạo.
An
là định. Ban là không khiến dao động. Thủ ý là không loạn
ý.
An
là thủ ý. Ban là ngự ý, đến khi được vô vi.
An
là hữu (có). Ban là vô (không). Ý nghĩ hữu thì không
được đạo. Ý nghĩ vô thì không được đạo. Cũng không
nghĩ hữu, cũng không nghĩ vô ứng với không định, ý theo
đạo mà làm. Hữu là vạn vật. Vô gọi là ngờ, cũng là
không.
An
là nhân duyên gốc. Ban là không nơi chốn. Người tu biết
gốc không từ đâu đến, cũng biết diệt không (mất) ở
đâu. Đó là thủ ý.
An
là thanh. Ban là tịnh. Thủ là vô. Ý là vi. Đó là thanh tịnh
vô vi. Vô là sống. Vi là sinh. Không còn bị khổ nên gọi
là sống.
An
là chưa. Ban là dấy. Vì chưa dấy, nên là thủ ý. Nếu ý
đã dấy thì chạy, nên không thủ (ý) phải trở về. Cho nên
Đức Phật dạy An Ban thủ ý.
An
là nhận năm ấm. Ban là trừ năm ấm. Thủ ý là hiểu nhân
duyên, không theo thân, miệng, ý. Thủ ý, không chỗ bám víu
là thủ ý. Có chỗ bám víu là không thủ ý. Tại sao? Vì ý
dấy lên lại diệt mất. Ýùkhông còn dấy lên là đạo. Đó
là thủ ý. Thủ ý là chẳng khiến ý sinh. Sinh nhân có tử
là không thủ ý, chẳng khiến ý chết. Có chết nhân có sinh,
ý cũng không chết. Đó là đạo.
1
- Những cận vệ giúp An ban thủ ý hoàn thành nhiệm vụ:
An
ban thủ ý có mười trí gọi là sổ tức, tương tuỳ, chỉ,
quán, hoàn, tịnh và bốn sự thật. Đó là mười trí thành.
Nếu hiệp với kinh ba mươi bảy phẩm thì hạnh thành. Thủ
ý ví như lửa đèn, có hai chức năng, một là dẹp tối, hai
là chiếu sáng. Thủ ý có hai chức năng, một là dẹp si, hai
là thấy trí. Thủ ý thì ý từ nhân sinh duyên, nên nhờ nhân
duyên, mà chớ bám víu. Đó là thủ ý.
Thủ
ý có ba nhóm: Một là giữ khiến không được sinh. Hai là
đã sinh thì mau diệt. Ba là việc đã làm thì ăn năn vạn
ức kiếp về sau sẽ không còn làm nữa. Thủ và ý, mỗi tự
khác nhau. Giữ hết thảy mười phương, biết quả báo, mà
không phạm, đó là thủ. Biết kia là vô vi, đó là ý. Đó
là thủ ý.
Trong
thủ ý có bốn nỗi sướng. Một là nỗi sướng tri yếu.
Hai là nỗi sướng tri pháp. Ba là nỗi sướng tri chỉ. Bốn
là nỗi sướng tri khả. Đó là bốn nỗi sướng. Pháp là
hạnh. Đắc là đạo. Sáu việc thủ ý có trong và ngoài. Sổ,
tuỳ và chỉ, đó là ngoài. Quán, hoàn và tịnh, đó là trong.
Tại sao theo đạo? Niệm tức, tương tùy, chỉ, quán, hoàn,
tịnh, vì muốn tập ý gần với đạo. Rời sáu việc đó
là theo thế gian.
Sổ
tức là chặn ý. Tương tùy là kiểm ý. Chỉ là định ý.
Quán là rời ý. Hoàn là nhất ý, nên làm sáu việc đó. Vì
sao sổ tức? Vì ý loạn. Vì sao không được? Vì không biết.
Vì sao không được thiền? Vì không bỏ tập, chứng diệt
và thực hành (bát chánh) đạo.
Sổ
tức là đất. Tương tùy là cày. Chỉ là bừa. Quán là giống.
Hoàn là mưa. Tịnh là làm. Sáu việc như vậy, đó là theo
đạo.
Sổ
tức là dứt ngoài. Tương tùy là dứt trong. Chỉ là ngưng
tội. Hành quán là dẹp ý. Không nhận thế gian là hoàn. Niệm
dứt là tịnh. Ý loạn, nên sổ tức. Ý định, nên tương
tùy. Ý dứt, nên hành chỉ. Được ý đạo, nên quán. Không
hướng về năm ấm nên hoàn. Không có gì nên là tịnh.
Nhiều
việc, nên sổ tức. Ít việc, nên tương tuỳ. Ý hết trong
nhà, nên hành chỉ. Sợ thế gian, nên quán. Không muốn thế
gian, nên hoàn. Niệm dứt là tịnh.
Tại
sao sổ tức? Vì không muốn theo năm ấm. Tại sao tương tùy?
Vì muốn biết năm ấm. Tại sao chỉ? Vì muốn quán năm ấm.
Tại sao quán năm ấm? Vì muốn biết gốc của thân. Tại sao
muốn biết gốc của thân? Vì muốn dứt bỏ khổ đau. Tại
sao hoàn? Vì chán sinh tử.
Tại
sao tịnh? Vì phân biệt năm ấm không nhận. Rồi theo tám con
đường trí tuệ hiểu biết là đạt sở nguyện. Lúc hành
tức là theo sổ, lúc tương tuỳ là theo niệm, lúc chỉ là
theo định, lúc quán là theo tịnh, lúc hoàn là theo ý, lúc
tịnh là theo đạo, cũng là theo hành.
Sổ
tức là bốn niệm xứ. Tương tuỳ là bốn chánh cần. Chỉ
là bốn như ý túc. Quán là năm căn năm lực. Hoàn là bảy
giác chi. Tịnh là tám chính đạo. Đạt (sổ) tức mà không
tương tuỳ là không thủ ý. Đạt tương tùy, mà không chỉ,
là không thủ ý. Đạt chỉ, mà không quán là không thủ ý.
Đạt quán mà không hoàn là không thủ ý. Đạt hoàn mà không
tịnh là không thủ ý. Đạt tịnh lại tịnh mới là
thủ ý.
Đã
niệm tức thì ác không sinh. Lại sổ là để cùng chặn ý,
và vì không theo sáu suy. Hành tương tuỳ là muốn rời sáu
suy. Hành chỉ là muốn dẹp sáu suy. Hành quán là muốn
dứt sáu suy. Hành hoàn là không muốn nhận sáu suy. Hành tịnh
là muốn diệt sáu suy. Đã diệt sạch thì theo đạo.
Sổ
tức muốn chặn ý. Trong hơi thở (tức) có dài ngắn. Lại
phải chặn ý dài ngắn. Tại sao thủ ý? Vì muốn ngăn ác.
Ác cũng có thể giữ, cũng không thể giữ. Tại sao? Ác
đã hết thì không phải giữ.
Sổ
tức có ba việc. Một là phải ngồi mà hành. Hai là thấy
sắc phải nghĩ vô thường bất tịnh. Ba là phải hiểu sân
giận, nghi ngờ, ganh ghét. Khiến qua đi.
Sổ
tức loạn, nên biết nhân duyên do đó nổi lên. Nên biết
đó là nội ý. Hơi thở thứ nhất loạn, đó là lỗi của
ngoại ý, vì hơi thở do ngoài vào. Hơi thở thứ hai loạn,
đó là lỗi của nội ý, vì hơi thở ở trong ra. Ba, năm, bảy,
chín là thuộc ngoại ý. Bốn, sáu, tám, mười thuộc nội
ý. Ganh ghét, sân giận, nghi ngờ, đó là ba ý ở trong. Giết,
trộm, dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, đó
là bảy ý và các việc còn lại thuộc ngoài. Được hơi thở
là ngoài. Không được hơi thở là trong. Hơi thở sinh ra từ
ý. Niệm hơi thở hiệp làm một đếm. Hơi thở hết đếm
là một, cũng không phải một, vì ý ở ngoài hơi thở chưa
hết. Ví như đếm tiền, ý ở số năm, đếm là một.
Sổ
tức sở dĩ trước đếm vào, vì ngoài có bảy ác, trong có
ba ác, dùng ít không thể thắng nhiều, nên trước đếm vào.
Sổ
tức không được, vì mất ý gốc của nó. Ý gốc gọi là
vô thường, khổ, không, vô ngã. Vì mất ý đó là đi theo
điên đảo, cũng là mất thầy. Thầy là lúc mới ngồi, hơi
thở vào thứ nhất thì được thân an, rồi tuần tự làm,
vì mất ý gốc của nó, nên không được hơi thở.
Sổ
tức, ý thường phải nghĩ vô thường, khổ, không, vô ngã,
đếm hơi thở ra cũng mất. Đã biết điều đó thì được
đạo. Mau phải giữ vô thường, e sợ y. Được ý ấy tức
được hơi thở.
Hơi
thở vào và hơi thở ra sở dĩ khác nhau, hơi thở ra là hành
uẩn, hơi thở vào là tưởng uẩn, có lúc hơi thở ra là thọ
uẩn, hơi thở vào là thức uẩn, vì thế chúng là khác nhau.
Người
ta nên phân biệt ý ấy. Hơi thở vào là không nhận tội.
Hơi thở ra là trừ bỏ tội. Thủ ý là rời bỏ tội. Hơi
thở vào là nhận nhân duyên. Hơi thở ra là đến nhân duyên.
Thủ ý là không rời nhân duyên.
Sổ
tức không được có ba lý do. Một là tội đến. Hai là làm
không kết hợp. Ba là không tinh tấn.
Hơi
thở vào ngắn, hơi thở ra dài, không do đâu nghĩ là đạo,
ý có cho nghĩ là tội. Tội ác ở ngoài, không ở trong. Lúc
sổ tức, có rời ý thì hít hơi thở dài. Đạt được hơi
thở thì hít hơi thở ngắn. Hành tức không yên thì dài, định
thì ngắn, chưa đến mười hơi thở, hư lại đếm lại thì
hơi thở dài. Đạt được mười hơi thở thì ngắn. Vì sao?
Vì ngưng không đếùm lại. Đạt được hơi thở thì
cũng dài. Vì sao? Vì hơi thở không dừng, nên là dài.
Hít
hơi thở dài, mình tự biết. Hít hơi thở ngắn, mình tự
biết. Ấy gọi là ý ở chỗ đó là tự biết dài ngắn. Ý
nhận dài ngắn là tự biết. Ý không biết dài ngắn là không
tự biết. Người tu thực hành an ban thủ ý, muốn ngưng ý
thì phải có điều kiện gì đạt được ngưng ý? Nghe nói
an ban thủ ý, an là gì? Ban là gì? An là hơi thở vào. Ban là
hơi thở ra. Niệm tức không rời thì gọi là an ban. Thủ
ý là muốn được ngưng ý.
Đối
hành giả mới học, có bốn cách thực hành an ban thủ
ý, trừ hai ác mười sáu thắng, tức thời tự biết đó là
hạnh an ban thủ ý, khiến được ngưng ý. Bốn loại là gì?
Một là sổ. Hai là tương tuỳ. Ba là chỉ. Bốn là quán. Hai
ác là gì? Không quá mười hơi thở và không bớt mười đếm.
Mười sáu thắng là gì? Là tức thời tự biết hít hơi thở
dài, tức tự biết hít hơi thở ngắn, tức tự biết hít
hơi thở động thân, tức tự biết hít hơi thở nhỏ, tức
tự biết hít hơi thở nhanh, tức tự biết hít hơi thở không
nhanh, tức tự biết hít hơi thở ngưng, tức tự biết hít
hơi thở không ngưng, tức tự biết hít hơi thở vui lòng,
tức tự biết hít hơi thở không vui lòng, tức tự biết
nội tâm nghĩ vạn vật đã đi không thể lại được, hít
hơi thở tự biết trong không gì lại nghĩ, hít hơi thở tự
biết, vứt bỏ điều đã nghĩ, hít hơi thở tự biết buông
bỏ thân mạng, hít hơi thở tự biết không buông bỏ thân
mạng. Hít hơi thở tự biết đó là mười sáu tức thời
tự biết.
2
- Phần vấn đáp về những cận vệ cuả An ban thủ ý.
Hỏi:
Không quá mười đếm, không bớt mười đếm là
gì?
Đáp:
Hơi thở đã đến mà chưa đếm, đó là quá. Hơi thở chưa
hết mà đếm, đó là bớt. Mấùt đếm cũng ác, không kịp
cũng ác. Được mười hơi thở là hơi thở nhanh. Tương tuỳ
là nhỏ. Ý ở dài thì chuyển ý ta tại sao nghĩ dài. Ý ở
ngắn, tức thời biết không được, khiến ý ngưng. Ngưng
là bám. Buông bỏ thân mạng gọi là hành tức. Đạt được
ý đạo thì buông bỏ thân mạng. Chưa được ý đạo
thì đựơc nhận thân, nên không buông bỏ thân mạng. Hơi
thở nhỏ nhẹ là đạo, dài là sinh tử. Hơi thở ngắn, rung
là sinh tử, dài ở đạo là ngắn. Vì sao? Vì không được
ý đạo, không biết thấy nên là ngắn.
Sổ
tức là đơn, tương tùy là phức, chỉ là một ý, quán là
biết ý, hoàn là hành đạo, tịnh là vào đạo. Lúc sổ tức
thì niệm đến mười, hơi thở là trí, đó là ngoại thiền,
niệm thân bất tịnh theo không, đó là nội thiền. Pháp thiền,
ác đến không nhận, đó gọi là bỏ. Ngậm miệng, đếm hơi
thở theo khí ra vào, biết khí phát chỗ nào, mất chỗ nào.
Ý có chỗ nghỉ thì không được đếm hơi thở, có chậm
nhanh lớn bé cũng không được đếm, tai nghe tiếng loạn cũng
không được đếm. Đếm hơi thở mà ý tại hơi thở là đếm
không rành. Luyện ý ở ý, mới là ngưng. Đếm hơi thở mà
ý chỉ tại hơi thở đó là không rành. Nên biết ý do đâu
dấy lên, khí mất ở đâu, đó mới nên đếm. Nhân duyên
đến thì được định ý. Thủ ý là niệm hơi thở ra vào.
Đã niệm hơi thở thì không sinh ác, nên gọi là thủ ý. Hơi
thở gặp nhân duyên thì sinh, không có nhân duyên thì diệt.
Nhân duyên dứt, hơi thở ngưng.
Sổ
tức là chí thành. Hơi thở không loạn là nhẫn nhục. Sổ
tức, khí nhẹ, không còn biết ra vào. Nên giữ một niệm
như vậy là ngưng. Hơi thở ở thân cũng là ở ngoài. Được
nhân duyên, hơi thở sinh. Tội chưa hết, nên có hơi thở.
Dứt nhân duyên, hơi thở không còn sinh nữa.
Sổ
tức để là theo thiền thứ hai. Tại sao? Vì không đợi niệm,
nên là theo thiền thứ hai. Sổ tức là không thủ ý. Niệm
tức mới là thủ ý. Hơi thở từ ngoài vào, hơi thở chưa
hết, hơi thở đang vào, ý đang hết, thức đang đếm. Mười
hơi thở có mười ý là mười giây. Tương tùy có hai
ý là hai giây. Chỉ có một ý là một giây. Không được hơi
thở mà đếm là ác ý không thể buộc. Ác ý ngưng mới được
đếm. Đó là hoà điệu, có thể dùng ý buộc. Đã được
hơi thở thì bỏ hơi thở. Đã được tương tuỳ thì bỏ
tương tùy. Đã được chỉ thì bỏ chỉ. Đã được quán
thì bỏ quán, chớ trở lại. Chớ trở lại là chớ lại đếm.
Hơi thở cũng khiến ý. Ý cũng khiến hơi thở. Có chỗ niệm
là hơi thở khiến ý. Không có chỗ niệm là ý khiến hơi
thở.
Hơi
thở có bốn việc: Một là gió, hai là khí, ba là thở, bốn
là hít. Có tiếng là gió, không tiếng là khí, ra vào là thở,
khí ra vào không hết là hít.
Sổ
tức dứt ngoài. Tương tuỳ dứt trong. Đếm từ ngoài vào
là dứt ngoài, cũng là muốn rời ngoại nhân duyên. Đếm từ
trong ra là muốn rời nội nhân duyên. Ngoài là rời thân. Trong
là rời ý. Rời thân, rời ý đó là tương tùy. Hơi thở ra
vào đó là hai việc.
Sổ
tức là muốn dứt nhân duyên trong ngoài. Trong ngoài là những
gì? Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý gọi là trong. Sắc, tiếng,
mùi, vị, xúc, niệm là ngoài. Hành tức là khiến ý hướng
không. Chỉ muốn ngưng các ý còn lại. Vì sao hướng không?
Vì trong hơi thở không làm gì cả. Sổ tức ý chạy không
tức thời biết là tội nặng, ý nhẹ tội vì dẫn ý đi nhanh,
nên không biết. Hành đạo đã được hơi thở, tự chán hơi
thở, ý muốn chuyển, không còn muốn đếm. Như vậy là được
hơi thở. Tương tùy, chỉ, quán cũng vậy. Biết hơi thở ra
vào diệt. Diệt là được tướng hơi thở biết sinh tử không
còn dùng là được tướng sinh tử. Đã được tứ thiền,
chỉ niệm không là trồng giống đạo.
Hành
tức đã được định, không còn biết khí ra vào thì có thể
quán. Một là nên quán năm mươi lăm việc. Hai là nên quán
mười hai nhân duyên trong thân.
Hỏi:
Hơi thở ra vào, há có chỗ?
Đáp:
Lúc hơi thở vào, đó là chỗ của nó. Khi ra hơi thở, đó
là chỗ của nó.
Sổ
tức, thân ngồi, thọ, tưởng, hành, thức ngưng không hành
động. Đó là ngồi. Niệm tức đắc đạo lại tính toán
là vì hơi thở không biết gì!
Hỏi
: Niệm tức đắc đạo tại sao không biết?
Đáp:
Ý biết hơi thở, hơi thở không biết ý. Đó là không biết
gì.
Người
ta không thể được tính toán ý, nên khiến sổ tức, muốn
khiến ý định. Tuy sổ tức, chỉ không sinh ác, không có trí
tuệ. Nên làm gì để được trí tuệ? Từ một đến mười,
phân biệt định và loạn, biết cách đối trị cho thuốc.
Khi đã được định ý thì theo trí tuệ, mà được tính toán
theo quán.
Hỏi:
Đếm (sổ) là gì?
Đáp:
Đếm là việc làm, ví như người có việc mới đi làm. Đó
là đếm tội. Người tu đếm phước.
Vì
sao chỉ là mười? Một ý dấy lên là một. Hai ý dấy lên
là hai. Đếm hết ở mười, đến mười là xong. Cho nên, nói
đến mười là phước. Lại có tội, vì không thể phá hơi
thở, nên là tội. Cũng nói ý sinh tử không mất, theo thế
gian rồi, không cắt đứt việc thế gian là tội. Sáu tình
là sáu việc hiệp với thọ, tưởng, hành, thức là mười
việc, ứng với mười hơi thở trong. Giết, trộm, dâm, hai
lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, tật đố, sân giận,
si mê ứng với mười hơi thở ngoài. Đó gọi là
chỉ không làm.
Hỏi:
Mười sáu việc là gì?
Đáp:
Mười sáu việc nghĩa là đếm đến mười sáu gọi là sổ,
tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Đó là mười sáu việc,
làm không rời là theo đạo.
Hỏi:
Sổ tức niệm gió là theo sắc, lấy gì ứng với đạo?
Đáp:
Hành ý ở việc đếm không niệm sắc, khí hết thì diệt,
theo vô thường, biết vô thường là đạo. Người tu muốn
được đạo, nên phải biết hai việc ngồi và hành. Một
là ngồi hai là hành.
Hỏi:
Ngồi với hành giống hay không giống?
Đáp:
Có lúc giống, có lúc không giống. Sổ tức, tương tuỳ, chỉ,
quán, hoàn, tịnh, sáu việc này có lúc là ngồi, có lúc là
hành. Vì sao? Sổ tức thì ý định, đó là ngồi. Ý theo các
pháp, đó là hành. Đã dấy ý không rời là hành, cũng là
ngồi. Phép toạ thiền thì một không đếm hai, hai không đếm
một. Một đếm hai nghĩa là đếm một hơi thở chưa xong thì
nói là hai. Đó là một đếm hai. Như vậy là quá tinh tấn.
Hai đếm một nghĩa là hơi thở đã vào hai, liền nói một.
Đó là hai đếm một. Như vậy là tinh tấn bất cập. Từ
ba đến bốn, năm đến sáu, bảy đến tám, chín đến mười,
mỗi tự có bộ phận, nên phân biệt sở thuộc. Ở một đếm
một, ở hai đếm hai, đó là làm đúng pháp, liền theo tinh
tấn.
Có
ba lối ngồi theo đạo. Một là ngồi sổ tức. Hai là ngồi
tụng kinh. Ba là ngồi vui nghe kinh. Đó là ba. Ngồi có ba cấp.
Một là ngồi hiệp vị. Hai là ngồi tịnh. Ba là ngồi không
có kết. Ngồi hiệp vị là gì? Là ý bám lấy hạnh không
rời, đó là ngồi hiệp vị. Ngồi tịnh là gì? Là không niệm
nghĩ, đó là ngồi tịnh. Ngồi không có kết là gì? Là kết
đã hết, đó là ngồi không có kết.
Hơi
thở có ba nhóm. Một là hơi thở tạp. Hai là hơi thở tịnh.
Ba là hơi thở đạo. Không hành đạo, đó là hơi thở tạp.
Đếm đến mười, hơi thở không loạn, đó là hơi thở tịnh.
Đã được đạo, đó là hơi thở đạo.
Hơi
thở có ba nhóm. Có hơi thở lớn. Có hơi thở vừa. Có hơi
thở nhỏ. Miệng có nói gì, gọi là hơi thở lớn ngưng. Nghĩ
đạo hơi thở vừa ngưng. Đạt tứ thiền, hơi thở nhỏ ngưng.
Hỏi:
Phật vì sao dạy người sổ tức thủ ý?
Đáp:
Có bốn lý do. Một là vì không muốn cảm thọ. Hai là vì
tránh loạn ý. Ba là vì đóng cưả nhân duyên, không muốn
gặp sanh tử. Bốn là vì muốn được đạo Nê hoàn.
Ví
như nói mặt trời không chiếu sáng có bốn lý do. Một là
vì có mây. Hai là vì có bụi. Ba là vì có gió lớn. Bốn là
vì có khói. Sổ tức không được cũng có bốn lý do.
Một là vì nghĩ sinh tử tính toán. Hai là vì ăn uống nhiều.
Ba là vì mệt mỏi. Bốn là ngồi không được đổi đất
tọâi. Bốn việc ấy đều có tướng dạng. Ngồi sổ tức
bỗng nghĩ việc khác thì mất ý hơi thở, đó là tướng nghĩ
tính toán. Xương khớp đều đau, không thể ngồi lâu, đó
là tướng ăn nhiều. Thân thể nặng nề, tâm ý mờ mịt,
chỉ muốn ngủ, đó là tướng mệt mỏi. Bốn mặt ngồi không
được một hơi thở, đó là tướng đất tội.Vì biết tội,
nên kinh hành. Nếu ngồi đọc văn kinh, ý không làm tội, ma
cũng tiêu dần.
Người
tu hành đạo, nên nhớ gốc. Gốc là gì? Là tâm, ý, thức.
Đó là gốc. Ba gốc đó đều không thấy. Đã sinh liền diệt.
Ý gốc không còn sinh, được ý đó là ý đạo. Ý gốc đã
diệt, không bị thọ nhân duyên sinh thì dứt. Ý định ngày
càng thắng. Ngày càng thắng thì ý định. Có khi được ý
định từ sổ tức. Có khi được ý định từ tương tuỳ.
Có khi được ý định từ chỉ. Có khi được ý định từ
quán. Tuỳ lúc được định nhân duyên mà làm thẳng.
Hành
tức cũng theo tham. Vì sao? Vì ý đã định nên vui. Bèn phải
đếm hơi thở ra, hơi thở vào, khi niệm diệt. Hơi thở sinh
thì thân sinh. Hơi thở diệt thì thân diệt, vẫn chưa thoát
nổi khổ sinh tử. Tại sao? Vì vui đã đếm như vậy thì tham
ngưng.
Sổ
tức muốn nhanh, tương tuỳ muốn chậm. Có lúc sổ tức phải
yên từ từ, tương tuỳ lúc ấy lại phải nhanh. Vì sao? Sổ
tức, ý không loạn, nên yên từ từ. Sổ (tức) loạn, nên
phải nhanh. Tương tuỳ cũng giống như vậy. Đếm thứ nhất
cũng tương tuỳ, chỗ nghĩ khác. Tuy sổ tức, nên biết khí
ra vào, ý bám vào đếm. Sổ tức lại thực hành tương tuỳ
chỉ quán là không được hơi thở đời trước có tập ở
tương tuỳ chỉ quán, tuy được tương tuỳ chỉ quán, phải
trở về dấy lên từ sổ tức. Sổ tức ý không rời, đó
là rời pháp. Làm phi pháp, sổ tức, ý không theo tội, ý tại
thế gian theo tội.
Sổ
tức là vì không muốn loạn ý. Ý vì không loạn, lại thực
hành tương tuỳ, chứng được bậc trên. Ý biết là chỉ.
Chỉ đồng nhất với quán. Hoàn đồng nhất với tịnh.
Hành
đạo được vì ý thì phải đảo ý, nghĩa là nên lại sổ
tức. Nếu đọc kinh rồi, lại hành thiền vì ý, nghĩa là
không sổ tức và thực hành tương tuỳ.
Đức
Phật có sáu ý sạch, gọi là sổ tức, tương tuỳ, chỉ,
quán, hoàn, tịnh. Sáu việc ấy có thể chế ngự vô hình.
Hơi thở cũng là ý, cũng chẳng phải ý. Vì sao? Khi đếm,
ý tại hơi thở, nên là vậy. Khi không đếm, ý và hơi thở
mỗi tự đi, nên là chẳng phải ý. Từ hơi thở, ý sinh. Khi
đã ngưng, không có ý. Người ta không sai khiến ý, ý sai khiến
người ta. Người sai khiến ý nghĩa là sổ tức, tương tuỳ,
chỉ, quán, hoàn, tịnh. Niệm kinh 37 phẩm, đó là sai khiến
ý. Người không hành đạo, tham cầu theo dục, đó là ý sai
khiến con người ta. Hơi thở có dơ, dơ hơi thở không bỏ
thì không được hơi thở. Dơ hơi thở là gì? Đó là lúc
ba độc dấy lên thì trong thân thật tối, nên gọi ba tối.
Ba độc, một là tham dâm, hai là sân giận, ba là ngu si.
Lúc
sổ tức, ý ở sổ tức. Lúc chưa sổ tức, có ba ý. Có ý
thiện, có ý ác, có ý không thiện, không ác. Muốn biết người
được tướng hơi thở, nên xem vạn vật và các sắc đẹp,
ý không còn bám vào, đó là được tướng hơi thở. Ý còn
bám vào, đó là chưa được, phải lại tinh tấn thực hành.
Ý dục trong nhà hết, nghĩa là sáu tình là nhà ý, tham ái
vạn vật đều là nhà ý.
Tương
tuỳ là làm các pháp lành, từ đó được thoát, phải cùng
tương cũng nói không tuỳ năm ấm sáu nhập, hơi thở cùng
ý tương tuỳ.
Hỏi:
Thứ ba (là) chỉ . Vì sao ngưng (chỉ) ở đầu mũi ?
Đáp:
Vì sổ tức, tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh đều từ
mũi ra vào. Ý quen chỗ cũ, cũng dễ hết, vì thế nên
bám vào đầu mũi. Ý ác đến, cắt dứt hành thiền. Có lúc
ngưng ở đầu mũi. Có lúc ngưng ở trong lòng. Ngưng là ở
chỗ bám vào. Tà đến loạn ý người ta, quán thẳng một
việc, các ác đến, lòng không phải động. Lòng vì thế không
sợ. Chỉ có bốn. Một là sổ chỉ. Hai là tương tuỳ chỉ.
Ba là tỉ dầu chỉ. Bốn là tức tâm chỉ. Chỉ là năm
sướng sáu nhập phải chặn ngưng.
Hơi
thở vào đến đầu mũi thì ngưng, nghĩa là ác không còn vào,
đến đầu mũi thì ngưng. Hơi thở ra đến hết thì bám đầu
mũi, nghĩa là ý không còn rời thân làm hướng theo ác, nên
bám vào mũi. Cũng có nghĩa lúc hơi thở mới vào, thì một
niệm hướng theo không còn chuyển, hơi thở ra vào cũng không
còn biết. Đó là chỉ.
Chỉ
là thở ra thở vào, biết ý trước ra, không biết ý sau ra.
Biết ý trước là quán ý tướng, liền xem xét hơi thở ra
vào, thấy chúng băng hoại thì nhận được tướng. Sợ sinh
tử, bèn bỏ ý, liền theo tướng đạo ý.
Chớ
làm tương tùy, chỉ nhớ bám vào đầu mũi, nhân duyên năm
ấm không còn nhớ, tội dứt, ý diệt cũng không hít hơi thở.
Đó là chỉ.
Chớ
làm tương tuỳ, nghĩa là nhớ lại ý niệm ra vào, theo nhân
duyên năm ấm, không còn hít hơi thở.
Thứ
tư là quán. Quán hơi thở lúc băng hoại cùng quán thân thể
khác hơi thở, có nhân duyên thì sinh, không nhân duyên thì
diệt. Tâm ý nhận tướng, nghĩa là ý muốn có chỗ được,
tâm tính toán nhân duyên gặp lúc phải diệt, bèn cắt dứt
chỗ muốn không còn hướng tới, đó là tâm ý nhận tướng.
Vì
biết nhân duyên nên cùng quán nhau, nghĩa là thức biết nhân
duyên năm ấm, hơi thở ra cũng quán, hơi thở vào cũng quán.
Quán là quán năm ấm. Đó là cùng quán, cũng ứng với ý và
ý tướng quán, là hai nhân duyên, ở trong dứt ác, nhớ đạo.
Quán
hơi thở ra khác, hơi thở vào khác, nghĩa là hơi thở ra là
hành uẩn, hơi thở vào là tưởng uẩn. Có lúc hơi thở ra
là thọ uẩn, hơi thở vào là thức uẩn, tuỳ nhân duyên dấy
lên, mà nhận uẩn. Chỗ ý hướng tới không có thường
dùng cho nên là khác. Người tu nên phân biệt, biết đó cũng
là hơi thở ra diệt thì hơi thở vào sinh, hơi thở vào diệt
thì hơi thở ra sinh. Vì không có, nghĩa là ý người và ý
muôn vật dấy lên thì đã diệt, vật sinh lại chết, đó
là vì không có. Chẳng phải hơi thở ra là hơi thở vào, chẳng
phải hơi thở vào là hơi thở ra, chẳng phải nói lúc hơi
thở ra, ý không nhớ hơi thở vào, khi hơi thở vào, ý không
nhớ hơi thở ra. Chỗ nhớ khác, nên nói chẳng phải.
Tin
trong, nghĩa là vào trong đạo, gặp nhân duyên đạo thì tin
đạo, đó là tin trong.
Thứ
năm hoàn bỏ kiết, nghĩa là bỏ bảy ác của thân.
Thứ
sáu tịnh bỏ kiết, là bỏ ba ác của ý.
Đó
gọi là hoàn. Hoàn là ý không còn dấy lên ác. Ác thì không
hoàn. Hoàn thân gọi là hoàn ác. Đạt thứ năm hoàn vẫn có
thân, cũng không thân. Vì sao? Có ý có thân, không ý không
thân. Ý là hạt giống của người. Đó gọi là hoàn. Hoàn
nghĩa là ý không còn dấy ác. Dấy ác, đó là không hoàn,
cũng có nghĩa trước trợ thân, sau trợ ý. Không giết, trộm,
dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, đó là trợ
thân. Không ganh ghét, sân giận, ngu si, đó là trợ ý. Hoàn
năm ấm ví như mua vàng mà được đá, bèn vứt quẳng xuống
đất không dùng. Con người đam ái năm ấm, bị đau khổ,
liền không tham muốn, đó là hoàn năm ấm. Liền thấy chỗ
diệt hết là gì? Không có gì, đó là chỗ diệt.
Hỏi:
Đã không có gì, vì sao là chỗ?
Đáp:
Chỗ không có gì có bốn chỗ. Một là chim bay lấy không trung
làm chỗ. Hai là La Hán lấy Niết bàn làm chỗ. Ba là đạo
lấy không có làm chỗ. Bốn là pháp tại chỗ quán.
Hơi
thở ra, hơi thở vào, nhận tướng năm ấm nghĩa là ý niệm
tà nhanh chuyển hoàn về chính, dùng hiểu biết sống động
mà cắt đứt, là nhận tướng năm ấm. Nói nhận, nghĩa là
nhận tướng không nhận, vì nhận tướng năm ấm, biết nó
dấy lên chỗ nào, diệt chỗ nào. Diệt là nhận mười hai
nhân duyên. Con người sinh ra từ mười hai nhân duyên, cũng
từ mười hai nhân duyên mà chết. Không nhớ (niệm) là không
niệm năm ấm. Biết dấy chỗ nào, diệt chỗ nào, nghĩa là
nhân duyên thiện ác dấy lên rồi lại diệt, cũng có nghĩa
khí sinh diệt, niệm thì sinh, không niệm thì chết. Ý với
thân giống nhau, đó là đạo cắt đứt sinh tử. Tại cõi
sinh tử đó, mọi việc ác đều từ ý mà đến.
Nay
không phải là trước, trước không phải là nay, nghĩa là
niệm nghĩ trước đã diệt, niệm bây giờ không phải là
niệm trước, cũng có nghĩa việc làm đời trước, việc làm
đời nay, mỗi tự có phước. Cũng có nghĩa việc thiện nay
làm không phải việc ác làm trước đó.
Cũng
có nghĩa hơi thở bây giờ không phải là hơi thở trước
đó, hơi thở trước đó không phải là hơi thở bây giờ.
Làm
phân biệt sinh tử là ý niệm sinh thì sinh, niệm diệt thì
diệt, nên gọi sinh tử, phải phân biệt vạn vật và thân,
quá khứ vị lai phước là rút hết. Vì sao? Hết vì sinh liền
diệt, diệt liền hết. Đã biết hết, nên phải hết sức
tìm.
Thấy
từ trên đầu không có gì đến, nghĩa là con người không
do đâu mà tới, ý dấy lên làm người. Cũng có nghĩa con người
không tự làm mà đến, là có chỗ từ đó mà đến. Con người
tự làm tự được, đó là không có chỗ từ đó mà đến.
Sinh
tử nên phân biệt, nghĩa là biết phân biệt năm ấm, cũng
có nghĩa biết phân biệt ý sinh tử. Ý con người là thường,
biết không có thường, cũng là phân biệt.
Sau
xem không có chỗ nghĩa là nay hiện tại không thấy tội vì
con người ở tại sinh tử nên sẽ không thoát được tội,
nên gọi sau xem không có chỗ.
Chưa
được dấu đạo thì không được trung mạng hết, nghĩa là
đã được 15 ý thì không được chết nửa chừng. Đòi hỏi
phải được 15 ý thì theo đạo cũng chuyển lên tới A la hán.
Được đạo nửa chừng cũng không được trung mạng hết
là hơi thở, ý, thân gồm ba việc, nghĩa là ý thiện ác đòi
hỏi phải được đấu đạo, cũng lại vỡ nửa chừng. Hơi
thở chết, lại sinh, ý thiện khởi lại diệt, thân cũng không
được chết nửa chừng.
Tịnh
là gì? Các điều tham dục là bất tịnh, trừ khử tham dục,
đó là tịnh. Tướng năm ấm là gì? Ví như lửa là ấm, củi
là tướng. Từ sổ tức đến tịnh, đó đều là quán, nghĩa
là quán thân tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh vốn là không
có. Nội ý sổ tức, ngoại ý dứt ác nhân duyên, đó là hai
ý.
Hỏi:
Vì sao không trước trong ngoài quán thân thể, ngược lại
trước sổ tức, tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh?
Đáp:
Vì ý không tịnh, không thấy thân. Ý đã tịnh, liền thấy
hết thân trong ngoài. Đạo hành có 19 hành dụng, vì con người
có 19 bệnh, cũng có19 món thuốc. Quán thân, nghĩ chất dơ,
đó là thuốc ngưng tham dâm, nghĩ lòng bốn đẳng, đó là
thuốc ngưng sân giận, tự tính vốn do nhân duyên gì mà có,
đó là thuốc ngưng ngu si, an ban thủ ý, đó là thuốc đa niệm.
Trong
ngoài tự quán thân thể. Thân là gì? Thể là gì? Xương thịt
là thân. Sáu tình hợp lại là thể. Sáu tình là gì? Là mắt
hạp sắc, tai nhận tiếng, mũi tìm hương, miệng muốn mùi,
thân rờ nhỏ láng, ý làm gieo hồng là si, là vật hữu sinh.
Thân thể trong ngoài sở dĩ vì sao lại nói lại? Là người
tham cầu có lớn nhỏ, có trước sau. Là điều muốn được
phải phân biệt quán. Quán thấy là niệm, niệm nhờ thấy
quán là biết. Thân thể ngưng là ngồi thì nghĩ đứng, đứng
thì nghĩ ý, không rời ở chỗ thực hành, chỗ ý bám vào
là thức. Đó là thân quán ngưng.
Hơi
thở ra, hơi thở vào lúc niệm diệt. Lúc niệm diệt là gì?
Là lúc niệm khí ra vào hết, ý và hơi thở diệt là lúc niệm
hơi thở ra hơi thở vào diệt. Ví như vẽ lên không trung thì
không có chỗ, ý sinh tử, ý đạo đều vậy. Hơi thở ra,
hơi thở vào lúc niệm diệt cũng không nói hơi thở và hơi
thở ý, mà nói lúc diệt là lúc hơi thở ra hơi thở vào niệm
diệt. Vật từ nhân duyên sinh, dứt gốc là lúc diệt. Quán
thấy thống dạng trong ngoài là thấy thống dạng do đâu nổi
lên, mà quán, đó là kiến quán.
Thống
dạng trong ngoài là vật tốt ngoài là dạng ngoài, vật xấu
ngoài là thống ngoài, thích ý trong là dạng trong, không thích
ý trong là thống trong (nhân duyên) ở trong là pháp trong, nhân
duyên, ở ngoài là pháp ngoài. Cũng có nghĩa mắt là trong,
sắc là ngoài, tai là trong tiếng là ngoài, mũi là trong hương
là ngoài, miệng là trong mùi là ngoài, tâm là trong niệm là
ngoài. Thấy đẹp nhỏ láng, ý muốn được là dạng, thấy
thô xấu, ý không dùng là thống. Chúng đều theo tội, quán
thống dạng ngưng. Nếu tay người đau, ý không thấy đau,
ngược lại nghỉ mọi nổi đau khác của thân, như vậy đem
ý ở chỗ đau để ngưng đau, đau cũng có thể nghỉ, cũng
có thể không nghỉ, nghĩ đau không có chỗ bám. Tự ái thân,
phải quán thân người khác, ý yêu thân người khác, phải
tự quán thân mình, cũng để ngưng.
Thống
dạng trong ngoài sở dĩ nói lại là vì sao? Là người ta thấy
sắc, yêu có dày mỏng, ý họ không đẳng quán, vì có khác
nhiều với ít. Lại phân biệt quán, đạo thì phải nội quán,
có si thì phải ngoại quán, để tự chứng. Thống dạng của
thân tâm, mỗi tự khác. Bị lạnh nóng, dao gậy đau lắm,
đó là thân thống. Được cơm ngon, xe chở, áo đẹp, các
tiện nghi thân thể, đó là thân dạng. Tâm thống là thân
lo mình, lại lo người khác và muôn việc, đó là tâm thống.
Tâm được điều nó thích và các niềm vui, đó là tâm dạng.
Quán
tướng ý có hai nhân duyên, ở trong dứt ác, nhớ đạo. Một
là năm sướng, sáu duyên phải chặn đứt. Người quán tự
quán thân mình, thân không biết thô tế, vì đạt được mới
biết, đó là ý ý tương quán. Ý ý tương quán thì hơi thở
cũng là ý, đếm cũng là ý. Khi đếm, quán hơi thở là ý
ý tương quán. Ý quán ngưng là muốn dâm chặn không làm, muốn
sân nhuế chặn không giận, muốn si chặn không phát, muốn
tham chặn không tìm, hết thảy các việc ác không nhắm tới,
đó là quán ngưng, cũng nói vì biết kinh ba mươi bảy phẩm
thường niệm không rời , là chỉ.
Hơi
thở ra hơi thở vào hết định thì quán. Hết là hết tội,
định là hơi thở ngăn ý. Định quán là quán chỉ hoàn tịnh.
Tận chỉ là ta có thể nói phải, hiểu phải, thay đổi hết
phải, đó là tận chỉ. Hơi thở được dấy lên như bố
thí, làm phước, hết thảy pháp lành, đã dấy lên thì liền
diệt. Ý lại niệm tà, nhắm tập làm tội, cũng vô số. Đời
xưa đời nay, ý không tương tuỳ như vậy. Người khác
cũng vậy. Đã biết giác thì thường dứt, đã dứt là ý
trong ngoài. Ý quán ngưng. Nội ngoại các pháp, nội pháp là
thân, ngoại pháp là tha nhân, có pháp tự giữ giới, có pháp
không giữ giới, đó là các pháp nội ngoại. Nội pháp gọi
là thực hành trí tuệ không rời kinh Ba mươi bảy phẩm, hết
thảy việc khác, ý không rơi vào trong, hành đạo thì được
đạo. Đó là nội pháp. Ngoại pháp là theo sanh tử, là làm
sinh tử nên được sinh tử không thoát. Hết thảy
phải dứt, đã dứt là nội ngoại pháp quán ngưng.
Pháp
quán ngưng: Là mọi người đều tự thân làm thân, biết thực
chẳng phải thân ta. Vì sao? Có mắt có sắc, mắt cũng không
phải thân, sắc cũng không phải thân. Vì sao? Người đã chết,
có mắt vẫn không thấy gì, có sắc cũng không đáp lại gì.
Thân như vậy chỉ có thức, nó cũng chẳng phải thân. Vì
sao? Thức không có hình, cũng không có chỗ ngưng nhẹ.
Như thế, hiểu mắt, tai , mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Có
được sự thấy hiểu đó là pháp quán ngưng. Cũng nói không
niệm ác là ngưng, niệm ác là không ngưng. Vì sao? Vì ý làm.
III
– VỀ MẶT NỘI DUNG : Phật dạy kinh an ban thủ ý quyển
thượng.
Hơi
thở ra, hơi thở vào tự hiểu, hơi thở ra, hơi thở vào tự
biết. Đương lúc ấy là hiểu, về sau là biết. Hiểu là
hiểu hơi thở dài ngắn. Biết là biết hơi thở sinh diệt
thô tế chậm nhanh.
Hơi
thở ra hơi thở vào hiểu hết tâm. Là hiểu hơi thở ra vào,
lúc muốn báo là hết, cũng biết vạn vật và thân sinh lại
diệt. Tâm là tâm ý. Thấy quán không là hành đạo, được
quán thì không còn thấy thân, liền theo không. Không có gì
là ý không có chỗ bám. Ý không có chỗ bám, nhân vì có cắt
đứt sáu nhập, liền được hiền minh. Hiền là thân. Minh
là đạo. Biết ra chỗ nào, diệt chỗ nào nghĩa là ví như
nghĩ đá, đá ra thì gỗ vào, đá liền diệt. Năm ấm cũng
vậy. Sắc ra thì thống dạng vào. Thống dạng ra thì tưởng
vào, tưởng ra thì hành vào, hành ra thì thức vào. Đã phân
biệt điều đó, mới theo kinh Ba mươi bảy phẩm.
Hỏi:
Tư duy đạo vô vi là gì ?
Đáp:
Tư là tính toán. Duy là nghe. Vô là không nghĩ vạn vật. Vi
là làm như nói. Đạo là được. Cho nên nói tư duy đạo vô
vi. Tư là niệm, duy là phân biệt trắng đen. Đen là sinh tử,
trắng là đạo. Đạo không có gì, đã phân biệt không có
gì thì không làm gì, nên nói tư duy đạo vô vi. Nếu biết
có chỗ làm, chỗ bám là chẳng phải tư duy. Tư cũng là sự
vật, duy là hiểu ý. Ý hiểu liền biết việc 12 nhân duyên.
Cũng nói tư là nghĩ, duy là biết.
Dứt
sinh tử, được thần túc là ý có chỗ niệm thì sinh, không
chỗ niệm thì tử. Được thần túc thì có thể bay đi, nên
nói phải dứt sanh tử. Được thần túc có năm ý. Một là
hỷ, hai là tin, ba là tinh tấn, bốn là định, năm là thông.
Bốn thần túc, niệm không tận lực thì được năm thông,
tận lực thì tự tại hướng sáu thông. Người tu đạo bốn
thần túc, được năm thông tận ý thì có thể được sáu
thông tận ý, nghĩa là vạn vật ý không muốn. Một tín,
hai tinh tấn, ba ý, bốn định, năm trí, năm việc này là bốn
thần túc.
Niệm
là lực gồm sáu việc, từ tín là thuộc niệm bốn thần
túc, từ hỷ, từ niệm tinh tấn, từ định, từ trí. Đó
là thuộc năm căn. Từ tín định gọi là tín đạo. Từ lực
định gọi là tinh tấn, từ ý định gọi là ý niệm định,
từ thí định gọi là hành đạo. Vì trồng nên có gốc. Việc
hữu vi đều là ác, liền sinh tưởng không thể được thắng,
nghĩa là đắc thiền thì nhân là lực, cũng có nghĩa ác không
thể thắng thiện ý, diệt lại nổi lên, nên là lực. Lực
định là ý ác muốn đến không thể phá được ý thiện,
nên là lực định.
Người
tu hành đạo chưa được quán, nên tính toán được quán.
Khi quán gì, ý không còn chuyển là được quán. Chỉ ác một
pháp là toạ thiền quán hai pháp. Có lúc quán thân. Có lúc
quán ý. Có lúc quán hít hơi thở. Có lúc quán hữu. Có lúc
quán vô. Ở chỗ nhân duyên, nên phân biệt quán.
Chỉ
ác một pháp là quán hai pháp. Ác đã hết thì ngưng. Quán
là quán đạo.
Ác
chưa hết không thấy đạo. Ác đã hết mới được quán đạo.
Chỉ
ác một pháp là biết ác hết thảy có thể chặn. Không bám
ý là ngưng, cũng là được tưởng hơi thở theo ngưng. Được
tưởng hơi thở theo ngưng là chỉ ác một pháp, vì ác đã
ngưng thì được quán là quán hai pháp, là được bốn sự
thật, là hành tịnh.
Phải
còn hành tịnh là biết khổ, bỏ tập, biết diệt, hành đạo,
như khi mặt trời mọc, trong sạch chuyển ra 12 cửa, nên kinh
nói theo đạo để được thoát. Dẹp tối chiếu sáng như
khi mặt trời mọc, ví như mặt trời mọc phần nhiều thấy
là dẹp các tối. Tối là khổ. Sao biết là khổ? Có nhiều
cản trở nên biết là khổ. Bỏ tập là gì? Là không gây
sự. Chứng diệt là gì? Là không có gì. Đạo là biết rõ
khổ, dứt tập, chứng diệt, niệm đạo. Biết từ khổ sinh.
Không bị khổ thì cũng không có biết. Đó là khổ. Chứng
diệt là biết người thảy phải già bệnh chết, chứng là
biết vạn vật đều phải diệt. Đó là chứng diệt. Ví như
mặt trời mọc làm bốn việc. Một là dẹp tối, nghĩa là
trí tuệ phá dẹp được ngu si. Hai là chiếu sáng, nghĩa là
si trừ thì trí tuệ còn lại. Ba là thấy sắc vạn vật
là thấy các chất dơ của thân. Bốn là làm thành thục vạn
vật, nếu không có mặt trời mặt trăng, vạn vật không thành
thục. Con người không có trí tuệ thì ý si cũng không nấu
chín.
Làm
trên đầu đều làm là việc phải làm đã làm. Không nói
phân biệt, có nghĩa làm năm đúng. Tiếng, thân, tâm đều
làm.
Từ
sự thật, niệm ý pháp bám vào trong pháp:
Từ
sự thật niệm ý pháp bám vào chỗ niệm thì liền sinh, đó
là tìm sinh tử. Được sinh tử thì tìm đạo. Được đạo
thì trong ngoài tuỳ chỗ dấy lên. Đó là niệm ý pháp.
Bám
vào trong pháp là từ bốn sự thật tự biết ý sinh thì phải
được, không sinh là không được. Thế liền dẹp ý, sợ
không dám phạm, làm gì, niệm gì thường ở đạo. Đó là
ý bám vào trong pháp.
Đó
gọi là pháp chính từ gốc sự thật dấy lên vốn bám ý.
Pháp chính gọi là pháp đạo. Từ sự thật nghĩa là bốn
sự thật. Dấy lên vốn bám yù nghĩa là chỗ muôn việc sinh
tử hướng tới đều vốn từ ý dấy lên, liền bám
ý, liền có ý do năm ấm dấy lên cần phải cắt đứt. Cắt
gốc thì năm ấm liền dứt, có lúc nó tự cắt, không niệm.
Ý tự dấy lên là tội, lại không định ở đạo là tội.
Vì chưa hết.
Ý
bám vào pháp trong có nghĩa ý sự thật niệm vạn vật là
theo ngoại pháp, ý trong không niệm vạn vật là không theo
đạo pháp trong. Năm ấm là pháp sinh tử. Kinh 37 phẩm
là pháp đạo.
Ý
bám pháp trong là chặn năm ấm không phạm, cũng có nghĩa thường
niệm đạo không rời. Đó là ý bám pháp trong. Chỗ gốc chính
là chỗ ở ngoài là vật, gốc là phước, chỗ ở trong gồm
37 kinh phẩm, hành đạo chẳng phải mỗi một lúc. Cho nên,
nói chỗ gốc có nghĩa kinh pháp 37 phẩm, khi theo thứ tự mà
làm thì ý không vào tà làm chánh, nên gọi là chỗ gốc chính.
Chỗ gốc chính mỗi tự làm khác, đem vô vi đối với gốc,
đem vô cầu đối với chính, đem vô vi đối với vô vi, đem
không thường làm đối với đạo, đem không có đối với
cũng không có chỗ, cũng không có gốc, cũng không có chính,
là không có gì. Định giác thì nhận thân. Như vậy pháp nói
đạo gọi là pháp định. Nói đạo là nói do từ nhân duyên
mà đắc đạo. Thấy nhận hiện ấm là nhận năm ấm. Có
vào là vào trong năm ấm. Nhân có sinh tử ấm là nhận chính.
Chính là đạo tự chính, chỉ phải tự chính tâm. Người
hành an ban thủ ý, được sổ tức, được tương tuỳ, được
chỉ, thì hoan hỷ. Bốn thứ ấy ví như cọ lửa thấy khói,
không thể nấu chín đồ, được vui gì vì chưa được điểm
chính thoát ra.
An
ban thủ ý có 18 quấy rối, khiến người không theo đạo.
Một là ái dục. Hai là sân nhuế. Ba là si. Bốn là hỉ lạc.
Năm là mạn. Sáu là nghi. Bảy là không nhận hành tướng.
Tám là nhận tha nhân tướng. Chín là không niệm. Mười là
tha niệm. Mười một là không niệm đầy. Mười hai là quá
tinh tấn. Mười ba là tinh tấn bất cập. Mười bốn là khiếp
sợ. Mười lăm là cưởng chế ý. Mười sáu là lo. Mười
bảy là hấp tấp. Mười tám là không lường ý hành ái. Đó
là 18 quấy rối. Không giữ 18 nhân duyên đó thì không được
đạo. Gĩư lấy thì được đạo.
Không
nhận hành tướng là không quán 36 vật, không niệm kinh 37
phẩm. Đó là không nhận hành tướng.
Nhận
tha nhân tướng, nghĩa là chưa đạt được 12 thở, liền thực
hành tương tuỳ. Đó là nhận tha nhân tướng.
Tha
niệm là khi hơi thở vào, niệm hơi thở ra, khi hơi thở ra,
niệm hơi thở vào. Đó là tha niệm.
Không
niệm đầy là chưa được thiền thứ nhất, liền niệm thiền
thứ hai. Đó là không niệm đầy.
Cưởng
chế ý là ngồi loạn ý không được hơi thở, nên kinh hành
đọc kinh để loạn không khởi. Đó là cưỡng chế ý.
Tinh
tấn vì trí tuệ mà đi trong sáu việc ấy, nghĩa là sổ tức,
tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Đó là sáu. Hít là gì?
Hơi thở là gì? Khí là gì? Lực là gì? Gió là gì? Ngăn là
hơi thở ý, là mạng thủ khí, là gió nghe thấy, là lực có
thể nói năng co duỗi theo đạo, là có cử động sân
nhuế.
Phải
từ thủ ý mà được đạo, thì nhờ gì mà được thủ ý?
Từ đếm chuyẻân được hơi thở, hơi thở chuyển được
tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh cũng vậy.
Hành
đạo muốn được ngưng ý, phải biết ba việc. Một là trước
quán niệm thân vốn từ đâu lại, chỉ từ năm ấm làm mà
có, dứt năm ấm thì không sinh ra lại, ví như gởi gấm chốc
lát. Ý không hiểu, niệm chính đạo để tự chứng. Hai là
phải tự nội thị trong lòng theo hơi thở vào ra. Ba là hơi
thở ra, hơi thở vào, khi niệm diệt, hơi thở ra nhỏ nhẹ.
Khi niệm diệt, thì biết không có gì là gì? Ý định thì
biết không. Biết không thì biết không có gì. Vì sao? Hơi
thở không trở lại thì chết. Biết thân chỉ do khí làm nên,
khí diệt thì không. Hiểu không thì theo đạo.
Cho
nên, hành đạo có ba việc. Một là quán thân. Hai là ngưng
tiếng miệng. Ba là ngưng ý niệm hành. Sáu việc này nhanh
được hơi thở. Yếu kinh nói nhất niệm gọi là nhất tâm,
gần niệm gọi là biết thân, đa niệm gọi là nhất tâm,
bất ly niệm gọi là bất ly niệm. Thân hành bốn việc đó
thì nhanh được hơi thở.
Tọa
thiền sổ tức, tức thời định ý, đó là phước bây giờ.
Bèn an ổn không loạn, đó là phước vị lai. Càng lâu tiếp
tục lại an định, đó là phước quá khứ. Toạ thiền sổ
tức không được định ý, đó là tội bây giờ. Bèn không
an ổn, loạn ý dấy lên, đó là tội đương lai. Toạ thiền
càng lâu, mà không an định, đó là tội quá khứ. Cũng có
lỗi của thân, lỗi của ý. Thân sổ tức đúng, mà không
được, đó là lỗi của ý. Thân sổ tức vậy mà không được
đó là lỗi của thân.
Toạ
thiền tự biết được định ý, ý vui là loạn ý, không vui
là đạo ý. Toạ thiền niệm hơi thở đã ngưng, liền quán.
Quán ngưng lại hành hơi thở. Người hành đạo nên lấy điều
đó làm phép thường.
Đức
Phật dạy có năm niềm tin. Một là tin có Phật, có kinh. Hai
là bỏ nhà xuống tóc cầu đạo. Ba là ngồi hành đạo. Bốn
là được hơi thở. Năm là định ý chỗ niệm không niệm
là không.
Hỏi:
Không niệm là không vì sao niệm hơi thở?
Đáp:
Trong hơi thở không có năm thứ là sắc, tham dâm, sân nhuế,
ngu si, ái dục. Đó cũng là không. Có thể giữ ý trong thân
gọi là quán ý tại thân. Đó là ý trong thân. Người ta không
thể chặn ý, nên khiến sổ tức. Dùng trí có thể chặn ý,
không còn sổ tức.
Hỏi:
Tự biết là gì? Tự chứng là gì?
Đáp:
Là có thể phân biệt năm ấm, đó là tự biết. Không
nghi đạo, đó là tự chứng.
Hỏi:
Vô vi là gì?
Đáp:
Vô vi có hai thứ. Có ngoại vô vi, có nội vô vi. Mắt không
thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không nhận hương, miệng
không nếm mùi, thân không tham trơn mịn, ý không vọng niệm.
Đó là ngoại vô vi. Sổ tức, tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn,
tịnh, đó là nội vô vi.
Hỏi:
Hiện có chỗ niệm, tại sao là vô vi?
Đáp:
Vô nghĩa là không niệm muôn vật. Vi là theo kinh điển mà
làm. Chỉ việc xưng tên, nên gọi vô vi.
Hỏi:
Nếu quả báo đời trước đến, phải làm gì để tránh?
Đáp:
Làm sổ tức, tương tuỳ, chỉ, hoàn, tịnh, quán, niệm kinh
Ba mươi bảy phẩm thì có thể tránh nạn.
Hỏi:
Quả báo đời trước không thể tránh, sổ tức và hành kinh
ba mươi bảy phẩm, làm sao tránh được?
Đáp:
Vì niệm đạo nên tiêu ác. Nếu sổ tức, tương tuỳ, chỉ,
quán, hoàn, tịnh, không thể diệt ác, thì người thế gian
đều không đắc đạo. Vì tiêu ác nên đắc đạo. Sổ tức,
tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh, thực hành kinh Ba mươi
bảy phẩm còn được làm Phật, huống nữa là quả báo của
tội chất đống như núi tại mười phương, tinh tấn
hành đạo thì không gặp được tội.
Hỏi:
Kinh nói làm thế, vì sao không gặp?
Đáp:
Vì làm thế. Sổ tức là theo mười hai phẩm. Sao gọi mười
hai phẩm? Lúc sổ tức thì theo bốn niệm xứ. Lúc hơi thở
không loạn thì theo bốn chính cần. Lúc có được mười hơi
thở thì theo bốn thần túc. Đó là theo mười hai phẩm.
Hỏi:
Niệm kinh Ba mươi bảy phẩm là gì?
Đáp:
Là sổ tức, tương tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh là sáu việc.
Đó là niệm kinh Ba mươi bảy phẩm. Hành sổ tức cũng là
hành kinh Ba mươi bảy phẩm.
Hỏi:
Vì sao hành kinh Ba mươi bảy phẩm?
Đáp:
Sổ tức là theo bốn niệm xứ. Vì sao bốn niệm xứ cũng
theo bốn chính cần? Vì không đợi niệm. Làm bốn chánh cần
cũng theo bốn thần túc, vì từ tín nên làm thần túc. Sổ
tức là theo tín căn, vì tin Phật, ý vui nên sinh tín căn. Cũng
theo năng căn vì ngồi hành căn là theo năng căn, cũng theo thức
căn vì biết sự thật là thức căn, cũng theo định căn vì
ý an là định căn, cũng theo tuệ căn vì rồi ý si mờû kiết
là tuệ căn. Sổ tức cũng theo tín lực vì không nghi
là tín lực, cũng theo tiến lực vì tinh tấn là tiến lực,
cũng theo niệm lực vì các ý khác không thể khuấy động
nên niệm lực, cũng theo định lực vì nhất tâm nên là định
lực, cũng theo tuệ lực vì trước phân biệt bốn niệm xứ,
chính cần, thần túc nên là tuệ lực. Sổ tức cũng theo giác
chi vì biết khổ nên là giác chi, cũng theo pháp thức giác
chi vì biết đạo nhân duyên nên là pháp giác chi cũng theo
lực giác chi vì bỏ ác nên là lực giác chi, cũng theo ái giác
chi, vì ham thích đạo nên là ái giác chi cũng theo giác
chi hơi thở vì ý ngưng nên là giác chi hơi thở, cũng theo
định giác chi cũng theo thủ giác chi vì hành không rời nên
là thủ giác chi.
Sổ
tức cũng theo tám chính đạo vì ý chính nên vào tám chính
đạo. Định ý, từ tâm, niệm định pháp, đó là thân đúng.
Lời chí thành, lời nhu nhuyến, lời đúng, lời không rút
lại, đó là lời đúng. Tuệ tại ý, tín tại ý, nhẫn nhục
tại ý, đó là tâm đúng. Đó gọi là dùng hơi thở của tiếng,
thân, tâm. Đó là mười lành theo đạo làm.
Sổ
tức cũng theo thấy đúng với quán sự thật nên là thấy
đúng, cũng theo làm đúng vì nhắm đạo nên là làm đúng,
cũng theo sống đúng vì thực hành kinh Ba mươi bảy phẩm nên
là sống đúng, cũng theo ý đúng vì niệm sự thật nên là
ý đúng, cũng theo định đúng vì ý trong trắng phá ma binh
nên là định đúng. Đó là tám chính đạo. Ma binh là gì?
Là sắc, tiếng, hương, vị, mịn thơm, đó là ma binh. Không
nhận, đó là phá ma binh. Ba mươi bảy phẩm nên kiểm soát.
Quán
thân mình, quán thân người khác chặn dâm. Không loạn ý chặn
các ý khác, quán thống dạng mình, quán thống dạng người
khác chặn sân nhuế. Quán ý mình, quán ý người khác chặn
si. Quán pháp mình, quán pháp người khác thì đắc đạo. Đó
gọi là bốn chặn ý.
Tránh
thân là tránh sắc, tránh thống dạng là tránh năm lạc. Tránh
ý là tránh niệm. Tránh pháp không theo nguyện nghiệp trị
sinh. Đó gọi là bốn chánh cần.
Biết
khổ vốn là khổ, vì khổ là có thân, từ khổ do nhơn duyên
dấy lên mà thấy vạn vật. Khổ tập vốn là khổ, từ khổ
do nhơn duyên sinh ra. Diệt là vạn vật đều phải hoại diệt
làm tăng khổ tập. Lại phải theo trong tám chánh đạo.
Đạo người ta phải niệm là tám đạo (chính). Đó gọi là
bốn. Vì bốn gom khó, thì được bốn thần túc.
Tin
Phật ý vui, đó gọi là tín căn. Để tự giữ pháp hạnh,
ý thân nhận từ sự thật, đó gọi là năng căn. Để tinh
tấn, từ sự thật niệm thành sự thật, đó gọi là thức
căn. Để thủ ý, nhất ý từ sự thật, nhất ý từ sự thật
ngưng, đó gọi là định căn. Để chính ý, từ sự thật
quán sự thật, đó gọi là tuệ căn. Vì đạo ý, đó
gọi là năm căn.
Từ
sự thật tin không còn nghi, đó gọi là tín lực. Bỏ tham,
hành đạo, từ sự thật tự tinh tấn, ý ác không thể phá
tinh tấn, đó gọi là tấn lực. Ý ác muốn nổi, phải tức
thì diệt, từ sự thật, ý đó không có thể hoại ý, đó
gọi là niệm lực. Từ sự thật, quán trong ngoài để định,
ý ác không thể phá ý thiện, đó gọi là định lực. Niệm
bốn thiẹân, từ sự thật được tuệ, ý ác không thể phá
tuệ ý, đó gọi là tuệ lực. Niệm (hơi thở) ra vào hết
lại sinh, đó gọi là năm lực.
Từ
sự thật, niệm sự thật, đó gọi là giác chi được ý đạo.
Từ sự thật, quán sự thật, đó gọi là pháp tên giác chi
biết pháp được ý sinh tử. Từ sự thật ý thân giữ, đó
gọi là lực giác chi, giữ đạo không mất là lực. Từ sự
thật đủ vui sự thật, đó gọi là ái giác chi ham đạo pháp,
hành đạo và hành đạo pháp. Từ sự thật, ý được nghỉ
ngơi, đó gọi là tức giác chi đã nghỉ yên ổn. Từ sự
thật, ý nhất niệm, đó gọi là định giác chi tự biết
ý để an định. Từ sự thật, ý tự tại ở chỗ thực hành
theo quán, đó gọi là thủ giác chi. Từ bốn sự thật
quán ý, đó gọi là bảy giác chi.
Từ
sự thật, giữ sự thật, đó gọi là tín đạo đúng. Từ
sự thật, theo đúng làm sự thật, đó là theo đúng hành niệm
đạo. Từ sự thật ý thân giữ, đó gọi là pháp sống đúng
không muốn rơi vào bốn ác tức bốn điên đảo. Từ sự
thật niệm sự thật, đó gọi là ý đúng không loạn ý. Từ
sự thật ý nhất tâm, đó gọi là định đúng, là nhất tâm
trên đầu, là hạnh ý ba pháp đều làm dùng thân miệng ý.
Như vậy, tám hạnh của đệ tử Phật, đó gọi là bốn thiền,
là bốn chính cần.
Hạnh
thứ nhất là niệm đúng, dặn lòng thường niệm đạo. Hạnh
thứ hai là nói đúng dặn miệng dứt bốn ý. Hạnh thứ ba
là quán đúng, dặn thân quán thân trong ngoài. Hạnh thứ tư
là thấy đúng tin đạo. Hạnh thứ năm là làm đúng không
theo bốn ác tức bốn điên đảo. Hạnh thứ sáu là sống
đúng dứt các ý khác. Hạnh thứ bảy là ý đúng không theo
tham dục. Hạnh thứ tám là định đúng lòng ngay. Đó là tám
hạnh, Phật, Bích Chi Phật và A la hán không làm.
Hạnh
thứ nhất là niệm đúng. Niệm đúng là gì? Là không niệm
vạn vật, ý không rơi vào trong đó, đó là niệm đúng. Niệm
vạn vật, ý rơi vào trong đó là không niệm đúng.
Bốn
ý ngưng. Một là ý ngưng vì thân niệm hơi thở. Hai là ý
ngưng vì niệm thống dạng. Ba là ý ngưng vì niệm hơi thở
ra vào. Bốn là ý ngưng vì niệm pháp nhân duyên. Đó là bốn
ý ngưng, người tu nên niệm bốn ý ngưng đó. Một là ta đời
trước yêu thân nên không được thoát. Hai là nay có oan gia
đáng gớm.Vì sao? Muốn gì thì ái sinh phải dứt. Đã dứt
thì quán ngoại thân ngưng.
Bốn
ý ngưng. Ý ngưng là ý không tại thân là ngưng, ý không tại
thống dạng là ngưng, ý không tại ý là ngưng, ý không tại
pháp là ngưng, ý theo sắc, thức liền sánh, đó là không ngưng.
Hỏi:
Người ta vì sao không theo bốn ý ngưng?
Đáp:
Vì không niệm khổ, không, vô ngã, bất tịnh, nên không theo
bốn ý ngưng. Nếu ý người thường niệm khổ, không, vô
ngã, bất tịnh mà hành đạo, thường niệm bốn việc đó
không rời. Liền mau được bốn ý ngưng.
Hỏi:
Thân ý ngưng là gì?
Đáp:
Là niệm già bẹânh chết, đó là thân ý ngưng.
Hỏi:
Ý thống dạng ngưng là gì?
Đáp
: Là chỗ không thể ý, đó là ý thống dạng ngưng
Hỏi:
Ý ý ngưng là gì?
Đáp:
Đã niệm lại niệm, đó là ý ý ngưng.
Hỏi:
Pháp ý ngưng là gì?.
Đáp:
Là lúc trước làm (nay) báo trở lại là pháp, cũng nói làm
cái đó thì được cái đó, đó là pháp ý ngưng.
Bốn
ý ngưng bốn thứ. Một là niệm vô thường, ý ngưng. Hai là
niệm khổ, thân ý ngưng. Ba là niệm không, hữu ý ngưng. Bốn
là niệm bất tịnh, lạc ý ngưng. Đó là bốn ý ngưng. Hết
thảy việc thiên hạ đều tuỳ thân, thống dạng, tuỳ pháp
đều rặt không qua bốn việc ấy.
Bốn
ý ngưng. Một là chỉ niệm hơi thở, không niệm tà. Hai là
chỉ niệm thiện, không niệm ác. Ba là tự niệm chẳng phải
của ta, vạn vật đều chẳng phải của ta, liền không còn
hướng tới. Bốn là mắt không thấy sắc, ý tại trong pháp.
Đó gọi là bốn ý ngưng.
Người
tu nên làm bốn ý ngưng. Một là mắt (thấy) sắc, nên xét
chất dơ trong thân. Hai là ý hoan hỷ, niệm lạc, phải niệm
khổ thống dạng. Ba là ý ta sân, ý tha nhân cũng sân, ý ta
chuyển, ý tha nhân cũng chuyển, liền không còn chuyển ý.
Bốn là ý ta ganh, ý tha nhân cũng ganh, ta niệm ác của tha
nhân, tha nhân cũng niệm ác của ta, liền không còn niệm
đó là pháp.
Ý
thân ngưng là quán thân mình, quán thân người khác. Thân là
gì? Muốn nói thống dạng là thân thì thống không có số.
Muốn nói pháp là thân, thì pháp chẳng lại phải thân vì
có pháp quá khứ và vị lai. Muốn nói hành là thân, mà hành
không có hình thể, nên biết là chẳng phải thân. Đạt được
sự hiểu biết đó là bốn ý ngưng.
Ý
không theo sắc, thì niệm thức cũng không sinh. Tai, mũi, miệng,
thân cũng vậy. Ý không tại thân là tâm. Ý không tại thống
dạng, ý không tại niệm, ý không tại pháp là tâm.
Hỏi:
Ai làm chủ việc thân, ý, thống dạng?
Đáp:
Có thân, ý thân biết. Có thống dạng, ý thống dạng biết.
Có ý ý, ý của ý biết. Có đói, ý đói biết. Có khát, ý
khát biết. Có lạnh, ý lạnh biết. Có nóng, ý nóng biết.
Dùng phân biệt đó mà biết. Ý thân dấy ý thân. Ý thống
dạng dấy ý thống dạng. Ý của ý dấy ý của ý. Ý pháp
dấy ý pháp.
Bốn
ý ngưng là ý niệm ác, chặn khiến cho không dấy, đó là
ngưng. Bốn ý ngưng cũng theo bốn thiền, cũng theo bốn ý ngưng.
Theo bốn ý ngưng là gần đạo, không bám vào ác thì ý thiện
sinh. Bốn thiền là bốn định ý, là ý ngưng.
Hành
đạo có bốn nhân duyên. Một là ngưng thân. Hai là ngưng thống
dạng. Ba là ngưng ý. Bốn là ngưng pháp. Ngưng thân là thấy
sắc thì niệm bất tịnh. Ngưng thống dạng là không tự cống
cao. Ngưng ý là ngưng không sân nhuế. Ngưng pháp là không nghi
đạo. Người hành bốn ý ngưng, ý dấy, niệm sinh, tức thì
biết dùng thuốc đối trị, được một ý ngưng thì được
bốn ý ngưng.
Bốn
ý định. Một là quán thân mình, cũng lại quán thân người
khác. Hai là quán thống dạng mình, cũng lại quán thống dạng
người khác. Ba là quán tâm mình, cũng lại quán tâm người
khác. Bốn là quán pháp nhân duyên của mình, cũng lại quán
pháp nhân duyên của người khác. Như vậy, thân hết thảy
quán việc thành bại nhân duyên trong ngoài, thì phải niệm
thân ta cũng phải thành bại như vậy. Đó là bốn ý định.
Người
muốn ngưng bốn ý thì bỏ là ngoài, nhiếp là trong. Đã nhiếp
thì ý là ngoài, bỏ là trong. Quán thân người khác là quán
thân mình, mà không rời nó, thì quán thân khổ người khác.
Quán thân người khác là chẳng phải thống dạng, ý, pháp
cũng vậy. Tham thân mình, phải quán thân người khác. Niệm
thân người khác thì quán thân mình. Như vậy là ý ngưng.
Hỏi:
Ý thấy hành, làm sao ngưng?
Đáp:
Ý dùng quán thân mình tham, liền khiến quán thân người khác,
vì ý theo tham chuyển, nên phải ngưng. Nếu ý tham thân người
khác, nên phải trở về quán thân mình. Có lúc quán thân mình,
không quán thân người khác. Có lúc phải quán thân người
khác, mà không phải quán thân mình. Có lúc có thể quán thân
mình, cũng có thể quán thân người khác. Có lúc không thể
quán thân mình, cũng không thể quán thân người khác. Quán
thân mình là tính toán quán thân người khác. Ý không ngưng
đợi niệm thân mình để bám vào, rồi chuyển bám vào thân
người khác. Quán thân người khác là thấy sắc béo trắng,
mày đen, môi đỏ. Thấy béo, phải niệm người chết sình.
Thấy trắng, phải niệm xương người chết. Thấy mày đen,
phải niệm người chết thâm đen. Thấy môi son, phải niệm
máu chính đó. Xem xét những gì thân có, đã được ý đó,
liền chuyển không còn yêu thân nữa.
Quán
có nội ngoại. Ganh ghét, sân giận, ngu si phải nội quán.
Tham dâm, phải ngoại quán. Tham, phải niệm vô thường hư
hoại. Dâm, phải niệm những gì có chất dơ, như quán thân
mình. Dâm, phải niệm bốn chính cần.
Quán
có hai loại. Một là quán ngoại. Hai là quán nội. Quán thân
có ba mươi sáu vật, tất cả hữu đối đều thuộc ngoại
quán. Quán không có gì là đạo, đó là nội quán.
Quán
có ba việc. Một là quán bốn sắc của thân, tức đen, xanh,
đỏ, trắng. Hai là quán sinh tử. Ba là quán chín con đường.
Quán trắng thấy đen là bất tịnh, nên trước nghe để học,
sau đắc đạo, chưa đắc đạo thì nghe được biết
đểõ được chứng là biết.
Quán
có bốn. Một là quán thân. Hai là quán ý. Ba là quán hạnh.
Bốn là quán đạo. Đó là bốn quán. Ví như người giữ đồ,
trộm đến, liền bỏ đồ mà trông trộm, người đã được
quán liền bỏ thân, quán vật.
Quán
có hai việc. Một là quán ngoại những gì có sắc. Hai là
quán nội, tức không có gì. Quán không đã được bốn thiền
thì quán không không có gì, có ý không ý không có gì. Đó
là không, cũng gọi bốn bỏ được bốn thiền.
Muốn
dứt việc thế gian, phải thực hành bốn ý ngưng. Muốn trừ
bốn ý ngưng, phải thực hành bốn ý dứt. Con người theo
tham mà tham, nên thực hành bốn thần túc bay. Chỉ có năm
căn, không có năm lực, không thể chận. Chỉ có năm lực,
không có năm căn thì không sinh được bốn thần túc, vẫn
chuyẻân năm lực có thể chặn mười hai phẩm trên. Bốn
ý dứt không gây tội hiện tại, chỉ trả
tội cũ. Đó là bốn ý dứt.
Trả
cũ không nhận mới là bốn ý ngưng. Cũ trả, mới ngưng là
bốn ý dứt, cũ xong, mới dứt là bốn thần túc. Biết đủ
không còn cầu thủ ý, ý là xong. Sinh là mới, già là cũ,
chết thân thể tan hoại là hết.
Bốn
ý dứt là thường niệm đạo, niệm thiện sinh thì niệm ác
dứt, nên là đạo dứt ngưng. Niệm thiện ngưng thì niệm
ác sinh, nên là không dứt. Bốn ý dứt là ý tự không muốn
hướng ác, đó là dứt, cũng gọi không niệm tội là dứt.
Bốn
thần túc, một là thần túc thân, hai là thần túc miệng,
ba là thần túc ý, bốn là thần túc đạo. Niệm bay, niệm
không muốn diệt là không theo đạo.
Bốn
y đề bát. Bốn là số. Y đề (iddha) là ngưng bát (pada) là
thần túc.
Muốn
bay liền bay. Có lúc tinh tấn ngồi bảy ngày liền được,
hoặc bảy tháng, hoặc bảy năm. Được thần túc thì có thể
ở lâu tại thế gian. Không chết có thuốc. Một là ý không
chuyển. Hai là tín. Ba là niệm. Bốn là có sự thật. Năm
là có tuệ. Đó là thuốc thần túc.
Được
bốn thần túc, mà không sống lâu tại thế gian, có ba lý
do. Một là chán thân mình hôi dơ, nên bỏ. Hai là không có
người có thể theo nhận kinh giáo, nên bỏ. Ba là sợ
người ác oán phỉ báng mắc tội, nên bỏ.
Thần
túc có chín loại. Đó là cỡi, xe, ngựa, đi, đi nhanh, chạy
cũng là thần túc. Ngoại giới vững cũng là thần túc. Chí
thành cũng là thần túc. Nhẫn nhục cũng là thần túc.
Hành
thần túc sẽ ý bay.
Hỏi:
Bay ý là gì?
Đáp:
Có bốn lý do. Một là tín. Hai là tinh tấn. Ba là định. Bốn
là không chuyên ý. Tín là gì? Tín bay đi. Tinh tấn là gì?
Tinh tấn bay đi. Định là gì? Định bay đi. Không chuyển ý
là gì? Là bám bay đi không chuyển ý.
Thân
không muốn hành đạo, ý muốn hành liền hành. Thần túc như
vậy, ý muốn bay liền có thể bay.
Năm
căn ví như trồng đồ, vững thì sinh gốc, không vững thì
không có gốc. Tín là nước mưa. Không chuyển ý là lực.
Vạn vật được thấy là căn. Chặn ý là lực. Trong tín căn
có ba ấm: Một là thống dạng, hai là tư tưởng, ba là thức
ấm. Trong định căn có một ấm là thức ấm.
Năm
căn, năm lực, bảy giác chi, trong có một ấm, trong có hai
ấm, trong có ba ấm, trong có bốn ấm, đều có ấm.
Hỏi:
Là đạo hành sao có ấm?
Đáp:
Vì Nê hoàn không có ấm, còn lại đều có ấm.
Bảy
giác chi, ba giác chi trên thuộc miệng, ba giác chi giữa thuộc
thân, một giác chi dưới thuộc ý. Giác là gì? Niệm niệm
là giác. Niệm niệm là được, giác được là ý thì theo
đạo. Bảy giác chi ngoài là theo sinh tử. Bảy giác chi trong
là theo đạo. Bảy giác chi trong tức kinh Ba mươi bảy phẩm.
Bảy giác chi ngoài tức vạn vật. Giác là biết việc theo
giác ý. Có giác ý thì theo đạo. Giác có giác ý thì theo giác
tội. Kinh Ba mươi bảy phẩm là ý chính, đó là theo đạo.
Giác thiện ác, đó là theo tội.
Hỏi:
Từ sự thật ý thân giữ là gì?
Đáp:
Là thân giữ bảy giới, ý giữ ba giới, đó là thân ý giữ.
Từ
sự thật ý được hưu tức (là) từ bốn sự thật ý nhân
thế hưu. Hưu là ngưng nghỉ. Tức là suy nghĩ, đắc đạo
là nhận suy nghĩ.
Tham
vui đạo pháp nên hành đạo là ái giác ý. Giữ đạo không
mất là lực giác ý. Đã được mười hơi thở, thân an ổn
là tức giác ý. Tự biết đã yên là định giác ý.
Thân
ý giữ, ý không chạy là giữ. Từ sự thật, ý tự tại ở
chỗ hành gọi là được bốn sự thật, cũng có thể niệm
bốn ý ngưng, cũng có thể niệm bốn ý dứt, cũng có thể
bốn thần túc, cũng có thể năm căn, năm lực, bảy giác ý,
tám chính đạo. Đó là ý tự tại ở chỗ hành. Quán từ
sự thật là quán kinh yếu ba mươi bảy phẩm. Đó là giác
thủ ý là sự thật không còn nhận tội.
Tám
chính đạo có trong, ngoài, thân là giết, trộm, dâm. Tiếng
là hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt. Ý là ganh
ghét, sân nhuế, ngu si. Ba pháp đầu trên đó là mười việc
ở ngoài, năm đạo là ở trong.
Từ
sự thật, giữ sự thật, từ là thần, giữ là hộ, nghĩa
là giữ pháp không phạm tội. Sự thật là đạo, biết
vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh là thấy đúng.
Vô thường người ta gọi là thường, nghĩ khổ là sướng,
không coi là có, vô ngã dùng làm ngã, bất tịnh coi là tịnh,
đó là thấy không đúng. Thấy đúng là gì? Tin gốc nhân duyên,
biết có từ đời trước, đó gọi là thấy đúng. Xử lý
đúng là gì? Phân biệt suy nghĩ có thể đến ý thiện,
đó là xử lý đúng. Nói đúng là gì? Gĩư lời lành, không
phạm pháp, như nên nhận lời, đó là nói đúng. Làm đúng
là gì? Thân phải làm việc làm không phạm, đó gọi là làm
đúng. Sống đúng là gì?
Theo
người đắc đạo dạy giới hạnh, đó gọi là sống đúng.
Tinh tấn đúng là gì? Hành hạnh vô vi, ngày đêm không nghỉ
nửa chừng không bỏ phương tiện, đó gọi là phương tiện
tinh tấn đúng. Niệm đúng là gì? Thường hướng tới kinh
giới, đó gọi là niệm đúng. Định đúng là gì? Ý không
lầm, cũng không bỏ hạnh, đó gọi là định đúng. Như vậy
mà làm khiến người hiểu tám nghiệp hạnh đầy đủ. Đã
làm đầy đủ, liền hành đạo.
Tám
đúng có sống, có làm, làm được tám đúng mới được ra
khỏi đòi hỏi. Thân không phạm giới, đó là sống đúng.
Tuệ, tín, nhẫn, đó là làm. Thân ý giữ, đó gọi là sống
đúng, tức không niệm gì là đúng, có niệm gì là không đúng.
Mười
hai bộ kinh đều rơi vào trong kinh Ba mươi bảy phẩm. Ví như
bốn sông muôn suối đều về biển lớn. Kinh Ba mươi bảy
phẩm là ngoài. Tư duy là trong, tư duy sinh đạo, nên là trong.
Người tu hành đạo, phân biệt kinh Ba mươi bảy phẩm đó
là lạy Phật. Kinh Ba mươi bảy phẩm cũng tuỳ thế gian, cũng
tuỳ đạo. Đạo kinh miệng giảng, đó là thế gian. Ý niệm,
đó là theo đạo. Giữ giới là chế ngự thân, thiền là để
tán ý. Hành theo nguyện, nguyện cũng theo hành, hành đạo chỗ
ý hướng tới, không rời ý, đến ý Phật cũng không
trở về. Cũng có người theo thứ tự hành mà đắc đạo.
Tức là hành bốn ý ngưng, bốn ý dứt, bốn thần túc, năm
căn, năm lực, bảy giác ý, tám hạnh, đó là theo thứ tự.
Sợ thế gian, ghét thân liền nhất niệm theo đó mà đắc
đạo, đó là không theo thứ tự.
Người
tu đã được hạnh ý ba mươi bảy phẩm thì có thể không
thuận theo sổ tức, tương tuỳ, chỉ.
Thân
miệng bảy việc: tâm, ý, thức, mỗi có mười việc, nên
thành ba mươi bảy phẩm. Bốn ý ngưng, bốn ý dứt, bốn thần
túc thuộc ngoài. Năm căn, năm lực thuộc trong. Bảy giác ý,
tám hạnh (chính đạo) thuộc đắc đạo.
Niết
bàn có bốn mươi việc, tức kinh Ba mươi bảy phẩm cùng với
ba hướng, phàm bốn mươi việc đều là Niết bàn.
Hỏi:
Sổ tức là Niết bàn phải không?
Đáp:
Sổ tức, tương tuỳ, đầu mũi ngưng ý, có chỗ bám là không
Niết bàn.
Hỏi:
Niết bàn có không?
Đáp:
Niết bàn là không có, chỉ là khổ diệt, một tên là ý diệt.
Hỏi:
Niết bàn là diệt?
Đáp:
Chỉ thiện ác diệt thôi.
Người
biết hành có lúc có thể hành bốn ý ngưng, có lúc có thể
hành bốn ý dứt, có lúc có thể hành bốn thần túc, có lúc
có thể hành năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám hạnh. Sự
thật là biết định loạn. Định là biết hành. Loạn là
không biết hành.
Hỏi:
Vì sao chính có năm căn, năm lực, bảy giác ý và tám hạnh?
Đáp:
Người có năm căn, thì đạo có năm căn. Người có năm lực,
đạo có năm lực, người có bảy sử, đạo có bảy giác
ý. Hạnh có tám đúng, ứng với tám thứ đạo. Tùy bệnh
báo thuốc, nhân duyên theo nhau. Mắt nhận sắc, tai nghe tiếng,
mũi hưởng hương, miệng muốn vị, thân tham mịn trơn, đó
là năm căn. Vì sao gọi là căn? Đã nhận phải sinh lại, nên
gọi là căn. Không nhận sắc, tiếng, hương, vị, trơn mịn,
đó là lực. Không theo bảy sử là giác ý. Đem tám đúng để
theo đạo hành. Năm căn là kiên ý. Năm lực là ý không chuyển.
Bảy giác là ý chính. Tám hạnh là ý đúng.
Hỏi:
Ý thiện là gì, ý đạo là gì?
Đáp:
Là bốn ý ngưng, bốn ý dứt, bốn thần túc, năm căn, năm
lực, đó là ý thiện. Bảy giác ý, tám hạnh, đó là ý đạo.
Có thiện đạo, có thiện thế gian. Từ bốn ý ngưng đến
năm căn, năm lực, đó là thiện đạo. Không dâm, hai lưỡi,
ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, tham, sân, si, đó là thiện
thế gian.
Thấy
sự thật là biết vạn vật đều phải diệt, đó là thấy
sự thật. Vạn vật hoại diệt, thân phải chết, nên không
cần phải lo, đó là quán sự thật. Ý ngang, ý chạy, liền
trách, đối trị và được chặn, đó là trừ tội. Các ác
đến không nhận là thiền. Nhất tâm một ý mười hai
việc là trí tuệ, bảy là sổ tức, tám là tương tuỳ, chín
là chỉ, mười là quán, mười một là hoàn, mười hai là
tịnh. Đó là mười hai việc nội ý. Ngoại lại có mười
hai việc. Một là mắt, hai là sắc, ba là tai, bốn là tiếng,
năm là mũi, sáu là hương, bảy là miệng, tám là vị, chín
là thân, mười là trơn mịn, mười một là ý, mười hai là
thọ dục. Đó là mười hai việc ngoại.
Thuật
xả (vidyàjna) là trí, phàm có ba trí. Một là biết cha mẹ
anh em vợ con từ vô số đời. Hai là biết trắng đen dài
ngắn từ vô số đến nay, biết điều nghĩ trong lòng người
khác. Ba là độc đã dứt. Đó là ba.
Sa
la trụy đãi (sadabhijnã) là sáu thông trí. Một là thần túc.
Hai là nghe suốt. Ba là biết ý người khác. Bốn là biết
vốn đến từ đâu. Năm là biết đời trước ở đâu. Sáu
là biết sách lậu hết. Đó là sáu.