MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
Lời
tri ân
LỜI
TỰA CHO KINH AN BAN THỦ Ý
TỰA
AN BAN THỦ Ý KINH CHÚ GIẢI
Chương
I. NHẬN THỨC TỔNG QUÁT
I.
Xuất xứ
II.
Về mặt hình thức
1.
Những cận vệ giúp An ban thủ ý hoàn thành nhiệm vụ
2.
Phần vấn đáp về những cận vệ giúp An ban thủ ý
III.
Về mặt nội dung
Chương
II. GIỚI THIỆU, XÁC MINH VỀ TRUYỀN BẢN VÀ TÊN GỌI,
XÁC MINH VỀ NIÊN ĐẠI
I.
Phần giới thiệu
1.Xác
minh về vấn đề truyền bản và tên gọi
2.
Xác minh về vấn đề niên đại
II.
Quá trình hình thành và Mâu Tử
III.
Nội dung tư tưởng
Chương
III. MỤC ĐÍCH CỦA AN BAN THỦ Ý
1.
Theo Khương Tăng Hội
2.
Theo Thiền Ba la mật thứ đệ pháp môn
3.
Theo Trí Khải
4.
Vấn đề hiệu bản và dịch
Chương
IV. KINH NIỆM XỨ
Kinh
Niệm Xứ
Chương
V. KINH NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM
Kinh
Nhập Tức Xuất Tức Niệm
Chương
VI. KINH THÂN HÀNH NIỆM
Kinh
Thân Hành Niệm
Phụ
lục 1: BẢNG HÁN VĂN
Phụ
lục II: BẢNG ANH VĂN
Phụ
lục III: BẢNG PALI
LỜI
GIỚI THIỆU
Kinh
AN BAN THỦ Ý là một trong những bản kinh được xuất bản
sớm nhất ở Viễn Đông và đã góp phần vào việc phổ biến
Phật giáo qua việc giảng dạy cách thức thiền tập trong
nhiều tầng lớp thành phần xã hội khác nhau. Vì thế, nó
có một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử Phật giáo
Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc. Đối với Phật giáo Việt
Nam chúng ta, bản kinh này là bản kinh được chú giải lần
đầu tiên so với lịch sử chú giải kinh điển Phật giáo
ở Viễn Đông, cụ thể là Phật giáo Việt Nam và Phật giáo
Trung Quốc. Điểm đặc biệt là bản chú giải này do một
vị tăng sĩ được Phật giáo Việt Nam nuôi dưỡng, giáo dục
và đào tạo: đó là Khương Tăng Hội (? - 280).
Do
vậy, kinh AN BAN THỦ Ý có một vai trò và ý nghĩa hết sức
quan trọng trong lịch sử Phật giáo dân tộc. Nhưng cho đến
nay chưa được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi. Kinh AN
BAN THỦ Ý chính văn cùng với lời chú giải trong truyền bản
hiện nay được ghép và in chung vào trong tập Đại Tạng Kinh
số15, trang 163. No. 602, và việc tách rời hai dạng văn này
cũng không phải dễ dàng gì. Chúng tôi mới bắt đầu cho
nghiên cứu tổng quát bản kinh này và xuất bản bản dịch
chính văn.
Nay
Thượng toạ Thích Đạt Đạo đã dành thời gian dài nghiên
cứu, sưu tầm, phát huy ý nghĩa của bản kinh nói trên và
phát nguyện in ấn bản kinh nầy gồm những nghiên cứu liên
hệ đến bản Kinh An ban thủ ý, cùng các kinh điển đề cập
đến vấn đề chủ yếu của Kinh Tứ niệm xứ, Kinh Nhập
tức xuất tức niệm, Kinh thân hành niệm do HT. Thích Minh Châu
dịch để giúp các giới phật tử và những ai quan tâm đến
Phật giáo hiểu rộng hơn về giáo lý của đức Phật và
lịch sử văn hóa Phật giáo mà tổ tiên cách đây gần 2000
năm đã tiếp nhận và truyền bá. Tôi xin tán thán công đức
và trân trọng giới thiệu đến giới Phật tử và chư độc
giả.
Quý
Đông, Vạn Hạnh ngày Phật thành đạo – PL.2547
GS.TS.LÊ
MẠNH THÁT
Phó
Viện Trưởng,
VIỆN
NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VN
LỜI
TRI ÂN
Mục
đích của Phật giáo là đưa đến một quả vị giác ngộ
tối thắng, giải thoát viên mãn. Truyền thống chứng ngộ
của ba đời chư Phật đều đề cập đến sự tu tập thiền
định và vận hành lý nhân duyên. Cần khẳng định thêm rằng
Tứ Niệm Xứ là linh hồn của Phật giáo, dù Như Lai thiền
hay Tổ Sư thiền, dù ở góc độ nào đều lấy Tứ Niệm
Xứ làm nền tản để tìm đến sự an tịnh mà làm sạch
bản tánh chơn tâm. KINH AN BAN THỦ Ý LƯỢC GIẢI ngoài việc
sưu tầm khảo cứu về giá trị lịch sử và vấn đề truyền
bản, chúng tôi còn quan tâm đến một giáo lý tuyệt vời
như vậy.
Hoàn
thành bản khảo luận này, người viết thành kính dâng lên
cố Đại lão Hòa Thượng tôn sư thượng TRÍ hạ THỦ; đức
Hòa Thượng thượng MINH hạ CHÂU và Hòa Thượng thượng ĐỨC
hạ CHƠN - Người Thầy đã dạy dỗ và đặc biệt rất quan
tâm khích lệ đến việc tu học của chúng tôi. Không những
thế, trong những tháng ngày được sống bên Người, người
viết được thấm nhuần từ lời nói, cử chỉ và cánh sống
tỏa sáng của Người hết sức khiêm cung, đã khiến người
viết tâm đắc và kính phục. Xin ghi lại lòng thành kính tri
ân vô hạn.
Kế
đến kính dâng lên những bậc Thầy tôn kính, đã giáo dưỡng
cưu mang chúng tôi trong suốt quá trình tu học từ khi còn là
một chú tiểu.
Tôi
chân thành cám ơn GS.TS. Thích Trí Siêu-Lê Mạnh Thát đã giúp
đỡ chúng tôi hoàn thành công trình khảo cứu KINH AN BAN THỦ
Ý LƯỢC GIẢI, về những ý kiến của GS đề nghị, về việc
GS chịu khó đọc lại bản thảo. Trong phần cuối của cuốn
sách, chúng tôi có trích dẫn nguyên văn bản kinh Niệm Xứ,
kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm và kinh Thân Hành Niệm trong
Trung Bộ kinh (Dìgha Nikàya tập III) đối chiếu bằng tiếng
Pàli đã được Hoà thượng Thích Minh Châu chuyển dịch sang
Việt ngữ do Nha Tu Thư Vạn Hạnh xuất bản năm 1972. Cuối
cùng, cám ơn Sư cô Thành Chánh, đệ tử Nhuận Bi và cư sĩ
Thanh Nguyên đã giúp chúng tôi sưu tầm các bản kinh đồng
thời thực hiện bản đánh máy vi tính này.
Chùa
Bát Nhã, ngày 18-01-2004.
Tỳ
kheo Thích Đạt Đạo
LỜI
TỰA CHO KINH AN BAN THỦ Ý.
An
Ban (anapanna), ấy là xe lớn của chư Phật để cứu chúng
sanh nổi trôi. Nó có sáu việc nhằm trị sáu tình. Tình, có
trong ngoài. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, tâm gọi là trong. Sắc,
tiếng, mùi, vị, trơn thô, tà niệm gọi là ngoài.
Kinh
nói: “Các biển mười hai việc”. Là nói sáu tình trong ngoài
nhận lấy hạnh tà, như biển nhận sông, kẻ đói mơ cơm,
ấy là vì không bao giờ thỏa đủ.
Tâm
vươn tràn lan, không nhỏ gì là không chen vô, lẹ làng phảng
phất ra vào không ngớt, trông không thấy hình, lắng không
nghe tiếng, đón không có trước, tìm không có sau, sân niệm
nhỏ nhặt, tóc tơ chẳng dáng. Trời thần tiên thánh không
thể hiểu rõ. Lặng nẻo ở đây, hoá mọc chỗ kia, người
phàm chẳng thấy, nên gọi là ấm. Giống như nhà nông
khù khờ gieo cải, vung tay liệng hạt, có tới vạn ức. Người
đứng bên không thấy dáng, kẻ gieo không biết số. Một hạt
mục dưới đất thì muôn cây mọc trên mặt. Trong khoảnh
khắc, tâm chín trăm sáu mươi lần chuyển, một ngày một
đêm mười ba ức ý. Ý có một thân, mà tâm không tự biết,
như kẻ gieo giống kia. Cho nên, thiền định thì cột ý vào
hơi thở, đếm một đến mười. Đếm mười không lầm thì
định ý ở đó. Tiểu định ba ngày, đại định bảy ngày,
vắng không niệm khác, yên lặng như chết. Ấy gọi nhất
thiền.
Thiền
bỏ là bỏ mười ba ức ý niệm dở, đã đạt được định
bằng đếm, chuyển niệm qua tùy, vứt bỏ tám món thì chính
có hai ý. Ý định ở tùy do việc đếm số. Bẩn dơ tiêu
hết, tâm hơi trong sạch gọi là nhị thiền.
Lại
vứt đi một ý, chú ý vào đầu mũi, thì gọi là chỉ. Hành
thiền đạt chỉ thì ba độc, bốn đường, năm ấm, sáu tối,
mọi dơ đều dẹp. Tâm sáng rõ ràng hơn chân minh nguyệt,
dâm tà dơ tâm, như gương ở bùn, cấu dơ quấy bẩn, đưa
lên chiếu trời, úp xuống thấy đất, thông suốt thấy rõ
tới muôn cõi. Tuy trời đất có lớn, thì không một cái to
lớn nào có thể thấy. Sở dĩ như vậy là do nó bị bẩn
dơ. Cái bẩn làm dơ tâm, còn hơn gương kia. Nếu có được
thầy giỏi cạo gội lau chùi đến nổi bụi mỏng hơi che
cũng sạch không còn, thì cầm lên để soi, lông tóc nét mặt
không nhỏ gì là không thấy ấy là vì bẩn hết cho nên khiến
được sáng vậy. Tình tràn thì ý lan, niệm muôn, mà
không biết một, giống như ở chợ buông lòng nghe theo rộng
thấu mọi tiếng nói, lui về ngỏ mà nhớ lại, không biết
lời nói của một người. Tâm buông ý tan thì bẩn che chỗ
thông. Nếu mình ở chỗ vắng, tâm lặng lẽ suy, chí không
ham tà, nghiêng tai lắng nghe thì muôn câu không sót, một lời
vẫn nhớ. Ấy là do tâm lắng, ý trong. Thiền định ngừng
ý treo ở đầu mũi, đó gọi là tam thiền.
Trở
lại thân, từ đầu đến chân, xét kỷ nhiều lần, đồ dơ
trong thân, lông tóc xồm xoàm, như thấy mủ chảy, theo đó
xem rõ hết trời đất người vật, thịnh cũng như suy, không
gì tồn tại mà không tiêu vong, tin Phật ba báu, mọi tối
đều sáng, ấy gọi tứ thiền.
Đưa
tâm về niệm, các ấm đều diệt, ấy gọi là hoàn. Dục
dơ vắng sạch, tâm không còn tưởng, ấy gọi là tịnh.
Người
đạt được hạnh an ban, thì tâm họ sáng, đưa mắt xem trông
thì không gì tối mà không thấy, việc xưa vô số kiếp và
sắp tới cùng người vật hiện tại đang đổi thay ở các
cõi, trong đó có đức Thế Tôn giáo hoá đệ tử đọc theo,
không xa gì là không thấy, không tiếng gì là không nghe, nhanh
nhẹn nhẹ nhàng, còn mất tự do, lớn sánh tám phương, nhỏ
gom đầu lông, ngăn trời đất, giữ mạng sống, hiếp đức
thần, phá lính trời, rung vũ trụ, dời các cõi, có tám bất
tư nghì, trời chẳng thể lường, thần đức vô hạn. Ấy
do sáu hạnh vậy.
Đức
Thế Tôn, xưa sắp giảng kinh này thì vũ trụ rung chuyển,
trời người đổi nét mặt, ba ngày “an ban”, không ai có
thể hỏi. Do đó, đức Thế Tôn hoá ra hai người, một người
hỏi, một vị tôn chủ diễn thuyết, kinh này mới ra đời.
Đại sĩ thượng nhân cử sáu chúng mười hai nhóm, không ai
là không chấp hành.
Có
Bồ tát An Thanh, tự Thế Cao, con của đích hậu vua An Tức,
nhường nước cho chú, đi khỏi lánh xứ mình, phơi phới tiến
lên, bèn tới Kinh đô. Con người này học rộng biết nhiều,
nắm hết ý thần, gôm luôn bảy chính, phong thủy cát dung,
núi đổ đất rung, các món châm cứu, xem mặt biết bệnh,
chim thú kêu hót, không tiếng gì là không hiểu, mang lòng nhân
rộng như trời đất, thương người dân đen tăm tối, nên
trước khâu lỗ tai, mở đôi mắt, muốn cho họ thấy nghe
rõ ràng, rồi từ từ mới diễn bàng sáu độ chính chân,
dịch Kinh An Ban bí áo. Người học nổi lên ùn ùn, không ai
là không bỏ nết bẩn dơ, mà đến đức trong trắng.
Tôi
sinh muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ đều mất, ba thầy
viên tịch, ngửa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai,
nghẹn lời trông quanh, lệ rơi lặng lẽ. Song phước xưa chưa
hết, nên gặp được Hàn Lâm từ Nam Dương, Bỉ Nghiệp từ
Dĩnh Xuyên và Trần Huệ từ Cối Kê. Ba vị hiền này tin đạo
dốc lòng, giữ đức ngay thẳng, canh cánh lo lắng, lòng đạo
không mỏi. Tôi đi theo xin hỏi, ý đồng lý hợp, nghĩa không
sai khác. Trần Huệ chú nghĩa. Tôi giúp châm chước[1]. Không
do thầy thì không truyền, không dám tự do. Lời nhiều thô
lỗ, không diễn hết ý Phật. Các vị minh triết hiền năng,
xin cùng đến xem. Nghĩa cũng suy suyển, thêm thánh sau định,
để cùng làm rõ sự dung hợp thánh thần.
TỰA[2]
AN BAN THỦ Ý KINH CHÚ GIẢI.
Khương
Tăng Hội
An
Ban là đại thừa của chư Phật để cứu chúng sanh trôi nổi.
Nó có sáu việc để trị sáu tình. Tình có trong ngoài. Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, tâm gọi là trong. Sắc, tiếng, hương,
vị, mịn trơn, tà niệm gọi là ngoài. Kinh nói: “Các biển
mười hai việc”. Đó là sáu tình. Trong ngoài nhận lấy hạnh
tà, như biển nhận sông, kẻ đói mơ cơm, vì không no đủ.
Tâm
no tràn trề, không nhỏ gì không thấm, nhanh chóng phảng phất,
vào ra không ngớt, trông không có hình, nghe không có tiếng,
đón không có trước, tìm không có sau, vi tế mầu sâu, hình
không tơ hào, phạm thích tiên thánh cũng không thể rọi soi,
lặng gieo ở đây, hoá sinh nơi kia, phàm chẳng thể thấy,
gọi nó là ấm. Như lúc im trời, kẻ gieo cuốc sâu, vung tay
lấp hạt, có đến vạn ức. Người bên không thấy hình chúng,
kẻ gieo không biết số chúng. Một hạt mục dưới, vạn cây
mọc lên. Trong khoảng búng tay, tâm chuyển chín trăm sáu mươi
lần, một ngày một đêm, mười ba ức ý. Ý có một thân,
tâm không tự biết, như kẻ gieo kia. Vì thế, hành tịch cột
ý bám sổ tức một cho đến mười. Mười đếm không sai,
ý định tại đó. Định nhỏ ba ngày, định lớn bảy ngày,
lặng không niệm khác, vắng yên như chết, gọi nó nhất thiền.
Thiền bỏ là bỏ mười ba ức ý niệm.
Đã
được định sổ (tức), chuyển niệm bám tùy, bỏ hết tám
ý, chỉ có hai ý. Ý định ở tuỳ, do tại sổ tức, bẩn
dơ tiêu hết, tâm hơi trong sạch, đó gọi nhị thiền.
Lại
bỏ đi một, chú ý đầu mũi, đó gọi là chỉ. Được hạnh
chỉ rồi, ba độc, bốn đường, năm ấm, sáu mờ các uế
đều diệt, tâm sáng rực rỡ hơn châu minh nguyệt. Dâm tà
dơ tâm, như gương dưới bùn, cấu bẩn bám dơ, gọi trời
trơ trơ, rọi đất che hết, thông suốt thánh đạt, muôn cõi
rọi soi, tuy có lớn như đất trời, cũng không có thể thấy
một lớn nào.
Sở
dĩ như vậy là do cấu bẩn. Các bẩn dơ tâm, quá hơn gương
kia. Nếu có thầy hay chùi mài gột rửa, bụi mỏng nhẹ che,
gột khiến không còn, đưa lên để soi, lông tóc vẻ mặt
không nhỏ gì mà không thấy. Bẩn lui, sáng hiện, khiến nó
như thế. Tình tràn, ý tán, niệm muôn không biết một, giống
như ở chợ thả tâm theo nghe, rộng thâu các tiếng, lưu nghĩ
nhớ lại không biết lời của một người. Tâm buông, ý tán,
dơ che thông hiểu. Nếu từ chỗ vắng, tâm lặng lẽ nghĩ,
chứ không muốn tà, nghiêng tai lắng nghe, muôn câu không mất,
nửa lời nhớ rõ. Đó là do tâm lặng ý trong. Hành tịch chỉ
ý treo ở đầu mũi. Đó gọi là tam thiền.
Trở
về quán thân mình từ đầu đến chân, xem kỹ tới lui chất
dơ trong người, lông lá xồm xoàm, như thấy mũi chảy. Do
thế, rõ hết trời đất người vật, thịnh cũng như suy,
không gì còn mà không mất, tin Phật ba báu, các mờ đều
rõ. Đó gọi là tứ thiền.
Nhiếp
tâm về niệm, các ấm đều diệt, đó gọi là hoàn.
Uế
dục vắng hết, tâm không có tưởng, đó gọi là tịnh.
Người
được hạnh an ban, tâm họ liền sáng, đem sáng đi xem, không
tối gì không thấy, việc vô số kiếp qua và sắp tới, người
vật đổi thay, hiện tại các cõi trong đó có đức Thế Tôn
giảng pháp, đệ tử tụng tập, không xa gì không thấy, không
tiếng gì là không nghe, nhanh chóng phảng phất, còn mất tự
do. Lớn sánh tám phương, nhỏ qua tơ hào, ngăn trời đất,
giữ mạng sống, đọ đức thần, phá lính trời, rung vũ trụ,
dời các cõi, tám bất tư nghì, trời chẳng thể lường, đức
thần vô hạn. Đó là do sáu hạnh.
Đức
Thế Tôn, xưa lúc muốn nói kinh này, vũ trụ chấn động,
trời người đổi sắc, ba ngày an ban, không ai có thể hỏi.
Do Thế, Đức Thế Tôn hoá làm hai thân, một gọi người hỏi,
một là tôn chủ, nói diễn giảng, kinh này mới ra. Đại sĩ
thượng nhân, sáu cặp mười hai nhóm, không ai là không chấp
hành.
Có
Bồ tát tên An Thanh, tự Thế Cao, con đích hậu vua An Tức,
nhường nước cho chú, đi tránh đất mình, phơi phới đến
sau, bèn ở kinh sư. Ôâng là con người học rộng biết nhiều,
nắm hết pháp thần, bảy chính bung rút, phong khí cát hung,
núi băng đất động, châm cứu các thuật, thấy sắc biết
bệnh, muông thú hót kêu, không tiếng gì là không rõ, mang
lòng nhân rộng của đất trời, thương chúng dân đang
gặp tối dữ, trước khâu tai họ, rồi mở mắt họ, muốn
họ thấy rõ nghe thông, dần dần mới giảng, bày sáu độ
chín chân, dịch An Ban bí áo. Người học nổi lên như bụi,
không ai là không bỏ nết bẩn dơ, mà đi theo đức thanh bạch.
Tôi
sinh muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy
viên tịch, ngưỡng trông mây trời, buồn không biết hỏi
ai, nghẹn lời nhìn quanh, lệ tuông lả chả. Song phước xưa
chưa hết, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bỉ Nghiệp từ Dĩnh
Xuyên, Trần Huệ từ Cối Kê. Ba vị hiền này tin đạo dốc
lòng, giữ đức rộng thẳng, khăng khăng vươn tới, chí đạo
không mỏi. Tôi theo xin hỏi, tròn giống vuông khắp, nghĩa
không sai khác.Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng
phải thầy truyền, không dám tự do. Lời nhiều vụng về,
không thấu ý Phật. Minh triết các hiền, xin cùng đến xét.
Nghĩa có thiếu sót, thêm thánh san định, cùng rõ ánh
thần. Source: Tu
Vện Quảng Đức