XXIII
PHẨM
SƯ TỬ HỐNG BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BA
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta nhớ thuở xưa cùng Đề Bà Đạt Đa đồng
làm chủ đoàn con buôn, mỗi người đều có năm trăm khách
buôn, đem nhau đến trong biển lớn để tìm lấy châu báu.
Vì nghiệp duyên ác nên dọc đường gặp gió to ghe thuyền
hư bể, khách buôn đều chết cả. Lúc đó ta cùng Đề Bà
Đạt Đa nhờ nghiệp duyên bất sát được quả báo trường
thọ, nên gió thổi tắp vào đất liền. Đề Bà Đạt Đa
vì tham tiếc của cải châu báu, nên quá sầu khổ mà khóc
lóc. Ta bảo Đề Bà Đạt Đa chẳng nên kêu khóc. Đề Bà
Đạt Đa liền nói với ta rằng : Như có người nghèo cùng
khốn khổ, đến trong gò mã tay nắm tử thi mà nói rằng trông
mong người bố thí sự chết vui cho ta, ta sẽ bố thí đời
sống nghèo cùng nầy cho người. Lúc đó tử thi liền ngồi
dậy bảo người nghèo cùng rằng : Đời sống nghèo cùng người
tự thọ lấy, nay ta rất thích sự chết vui nầy thiệt chẳng
ham đời sống nghèo cùng của người.
Đề
Bà Đạt Đa nói tiếp: Nhưng ngày nay tôi đã không được
chết vui mà lại gồm cả sự nghèo cùng, bảo tôi chẳng khóc
sao được.
Lúc
đó ta lại an ủi rằng : Ông chớ sầu khổ, hiện nay tôi
còn được hai viên bảo châu giá trị vô lượng, tôi sẽ
chia cho ông. Ta liền chia một viên bảo châu cho Đề Bà Đạt
Đa, rồi đến nằm ngũ dưới một cội cây.
Vì
quá tham lam nên Đề Bà Đạt Đa sanh ác tâm đâm đui hai mắt
của ta để cướp lấy viên bảo châu còn lại rồi bỏ đi.
Lúc
đó vì quá đau đớn nên ta rên rỉ. Có một cô gái nghe
tiếng rên đến gạn hỏi ta. Ta liền đem tất cả việc trước
thuật lại. Cô gái nghe rồi lại hỏi ta : “ Ông danh hiệu
là gì ? ta đáp rằng : Tôi tên là Thật Ngữ. Cô gái nói :
Làm thế nào biết được ông là Thật Ngữ. Ta liền phát
thệ rằng : Nếu hiện nay tôi có lòng quấy nói vu cho Đề
Bà Đạt Đà, thời cặp mắt tôi phải mù lòa vĩnh viễn,
nếu tôi không hư dối thời xin đôi mắt sáng lại như cũ.
Ta phát thệ vừa xong thời đôi mắt ta bình phục như cũ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đây gọi là Đại Bồ Tát nói về quả báo
đời hiện tại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta nhớ thuở xưa ta sanh trong nhà Bà La Môn
nơi thành Phú Đơn Na ở Nam Thiên Trúc. Thuở đó có Quốc
Vương tên Ca La Phú tánh tình hung dữ tự cao tự mạn, tuổi
trẻ say đắm sắc đẹp ngũ dục.
Vì
muốn độ chúng sanh, nên ta ở ngoài thành ngồi yên lặng
tham thiền. Lúc đó Quốc Vương cùng với cung nhơn thể nữ
ra ngoài thành dạo chơi, dừng ở dưới rừng nầy. Các
thể nữ nhơn đi chơi giỡn bỏ Quốc Vương mà đến chỗ
ta ngồi thiền. Ta liền vì các thể nữ thuyết pháp cho họ
bỏ lòng tham dục.
Quốc
Vương đi tìm các thể nữ, thấy họ đang ngồi quì xung quanh
ta. Quốc Vương giận dữ hỏi ta rằng : Nay nhà ngươi đã
chứng quả A La Hán chưa ? Ta nói chưa chứng. Quốc Vương lại
hỏi nhà ngươi đã được qủa A Na Hàm chưa ? Ta đáp chưa
được. Quốc Vương lại nói : “ Nay nhà ngươi chưa được
hai quả ấy thời là người còn đầy đủ tham dục, tại
sao nhà ngươi dám buông lung nhìn ngó các thể nữ của ta ?”
Ta
liền thưa rằng : “ Đại Vương nên biết cho, nay tôi dầu
chưa dứt phiền não tham dục, nhưng trong tâm tôi thiệt không
có niệm tham đắm.”
Quốc
Vương nói : “ Ngưới ngu si ! Trong đời có các tiên
nhơn khổ hạnh thấy sắc đẹp còn tham, huống là nhà ngươi
tuổi còn trai trẻ, chưa dứt tham dục, làm sao thấy sắc đẹp
mà chẳng tham đắm ?”
_ Tâu
Đại Vương ! Người thấy sắc đẹp chẳng tham đắm, thiệt
chẳng phải do khổ
hạnh
, mà do nhiếp tâm quán vô thường bất tịnh.
Quốc
Vương nói : “ Nếu khinh khi người khác mà phỉ báng, thời
thế nào đặng gọi là tu trì tịnh giới ?
_ Tâu
Đại Vương ! Nếu có tâm đố kỵ thời có phỉ báng, tôi
không tâm đố kỵ thời đâu có phỉ báng.
Quốc
Vương nói : “Nầy Đại Đức ! Thế nào gọi là giới ?”
_ Tâu
Đại Vương ! Nhẫn nhục gọi là giới.
Quốc
Vương nói nếu nhẫn nhục là giới, ta sẽ cắt lỗ tai của
nhà ngươi ; nếu nhà ngươi nhẫn chịu được thời biết
là nhà ngươi trì giới.
Quốc
Vương liền cắt hai tai. Ta dầu bị cắt tai, nhưng nhan sắc
chẳng biến đổi. Các quan theo vua thấy việc như vậy liền
can gián rằng : Bực đại sĩ như vậy, Đại Vương chẳng
nên làm hại.
Quốc
Vương càng thêm giận bảo các quan : Tại sao các khanh biết
là bực đại sĩ ?
_ Tâu
Đại Vương ! Vì lúc bị cắt hai tai, chúng tôi thấy dung sắc
chẳng biến đổi.
Quốc
Vương nói : Ta sẽ thí nghiệm coi dung sắc biến đổi
hay chẳng biến đổi. Nói xong , Quốc Vương liền thẻo mũi
chặt tay, chặt chưn của ta.
Vì
Bồ Tát đã trải qua vô lượng vô biên đời tu tập từ bi
thương xót chúng sanh, nên không khổ cũng không giận.
Lúc
đó Tứ Thiên Vương bất bình liền làm mưa cát mưa đá. Quốc
Vương sợ hãi quì trước ta mà thưa rằng : Ngưỡng mong xót
thương cho tôi sám hối.
Ta
nói : ‘ Đại Vương ! Trong lòng của rôi không sân hận cũng
như không tham đắm.”
Quốc
Vương nói : Nầy Đại Đức ! Làm thế nào biết được rằng
tâm Đại Đức không sân hận ?
Ta
liền phát thệ : “ Nếu tôi thiệt không sân hận nguyện
cho thân của tôi bình phục như cũ. Phát nguyện vừa
xong thân thể của ta liền bình phục.
Đây
gọi là Đại Bồ Tát nói quả báo đời hiện tại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nghiệp lành có quả báo đời kế, quả báo
đời sau, nghiệp chẳng lành cũng như vậy.
Đại
Bồ Tát lúc được vô thượng Bồ Đề, tất cả các nghiệp
đều được quả báo hiện tại.
Nghiệp
ác chẳng lành mắc lấy quả báo hiện tại như Quốc Vương
làm ác bị trời mưa cát mưa đá. Cũng như có người chỉ
chỗ ở của gấu và nai bảo sắc, tay người chỉ liền rụng
rớt. Đây gọi là nghiệp ác thọ lấy quả báo trong hiện
tại.
Đời
kế thọ quả báo, như Nhứt Xiển Đề phạm bốn tội trọng
và tội ngũ ngghịch.
Quả
báo đời sau, như người trì giới phát nguyện lớn : Nguyện
đời vị lai thường được giới thân thanh tịnh như vậy.
Như có chúng sanh lúc tuổi thọ trăm năm, tám chục năm, trong
thời kỳ sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương giáo hóa chúng sanh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu là nghiệp quyết định được quả báo
trong hiện đời, thời không thể được quả báo đời kế
cùng đời sau.
Đại
Bồ Tát tu nghiệp nhơn ba mươi hai tướng tốt, thời không
thể được quả báo trong đời hiện tại. Nếu là nghiệp
chẳng thọ lấy ba thứ quả báo như vậy thời gọi là nghiệp
bất định.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu cho rằng những nghiệp nhơn quyết định
có quả báo, thời chẳng được có sự tu tập phạm hạnh,
giải thoát Niết Bàn. Nên biết rằng người nói lời nầy
chẳng phải là đệ tử của Phật mà chính là quyến thuộc
của ma.
Nếu
nói rằng các nghiệp có định nghiệp và bất định nghiệp.
Định nghiệp thời có quả báo hiện tại, quả báo đời
kế, quả báo đời sau. Bất định nghiệp thời lúc nhơn duyên
hội hiệp bèn thọ báo, chẳng hội hiệp thời chẳng thọ
báo. Do đây nên có tu phạm hạnh, giải thoát Niết Bàn. Nên
biết rằng người nói lời nầy thiệt là đệ tử Phật.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả chúng sanh gây tạo nghiệp bất định
thời nhiều, tạo định nghiệp thời ít. Vì thế nên có tu
tập đạo hạnh. Do tu tập đạo hạnh nên định nghiệp trọng
có thể làm cho thọ báo nhẹ, những nghiệp bất định chẳng
thọ quả báo đời kế.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có hai hạng người : Một là hạng người
với nghiệp bất định làm thành quả báo quyết định, quả
báo hiện đời làm thành quả báo đời kế, quả báo nhẹ
làm thành quả báo nặng, đáng lẽ thọ báo trong loài người
mà lại thọ báo ở địa ngục. Hai là hạng người với định
nghiệp làm thành bất định nghiệp, đáng lẽ thọ báo đời
kế làm cho thọ báo đời hiện tại, báo nặng làm thành
báo nhẹ, đáng thọ báo địa ngục làm cho thọ báo nhẹ trong
loài người. Hai hạng nầy : Một là kẻ ngu, một là người
trí. Người trí làm thành nhẹ. Người ngu khiến cho nặng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người mắc tội với nhà vua, người
có quyến thuộc đông đảo thời tội tất sẽ nhẹ, người
quyến thuộc ít tội nhẹ trở thành nặng. Người trí kẻ
ngu si cũng như vậy : Người trí nhờ nghiệp lành nhiều nên
tội trọng mà thọ quả báo nhẹ. Người ngu vì nghiệp lành
ít nên tội nhẹ mà thọ quả báo nặng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người một thời mập mạnh, một
thời gầy yếu. Hai người nầy đều té xuống bùn sâu. Người
mập mạnh lên được, người gầy yếu thời lún mất.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người đồng uống thuốc độc.
Một người có thần chú và thuốc a dà đa. Một người không
có. Người có thần chú và thuốc thời độc chẳng làm hại
được. Người không có bị chất độc hại chết.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người đồng uống nước trái cây
ép : Một người nhiệt lực thạnh, một người suy yếu. Người
nhiệt lực nhiều thời tiêu hóa được. Người suy yếu thời
bị nước ấy làm thành bịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người bị nhà vua bắt trói : Một
người có trí huệ, một người thời ngu si. Người có trí
thời có thể được thoát khỏi. Người ngu si thời không
có thời kỳ thoát khỏi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người đồng đi trên đường hiểm
trở. Một thời mắt sáng. Một thời mù lòa. Người mắt
sáng đi thẳng qua không hại gì. Người mù bị sụp té xuống
hố sâu.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người đồng uống rượu. Một
thời ăn nhiều. Một thời ăn ít. Người ăn nhiều uống rượu
không bị hại. Người ăn ít uống rượu thời thành bịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người đều đối địch với giặc
thù. Một người thời võ trang đầy đủ, một người thời
tay không. Người có võ trang ắt phá được kẻ thù. Người
tay không tất chẳng khỏi bị hại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như hai người bị phẩn nhơ vấy vào y
phục. Một người vừa biết liền giặt y phục. Một
người biết mà chẳng chịu giặt. Người giặt liền đó
thời y phục sạch sẽ. Người chẳng chịu giặt thời nhơ
uế càng tăng thêm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại có hai người đều ngồi xe. Một xe có
trục có căm, một xe thời không trục không căm. Người ngồi
xe có trục có căm thời tùy ý mà đi. Người ngồi xe không
trục không căm thời không đi đâu được.
Lại
có hai người đều đi trên đường hoang vắng. Một người
có mang lương thực, một người thời đi không. Người có
mang lương thời qua khỏi được con đường hiểm. Người
đi không ắt chẳng qua được.
Lại
có hai người bị kẻ cướp giựt. Một người có kho
báu kín, một người thời không. Người có kho báu kín thời
không lo rầu. Người không có kho báu thời sầu khổ.
Kẻ
ngu người trí cũng như vậy : Người trí có kho báu lành nên
nghiệp nặng mà thọ báo nhẹ. Người không có báu lành thời
nghiệp nhẹ phải thọ báo nặng.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Như lời Phật
nói chẳng phải là tất cả nghiệp đều thành quả nhứt
định cũng chẳng phải tất cả chúng sanh quyết định
thọ báo. Bạch Thế Tôn ! Chúng sanh làm thế bào khiến quả
báo nhẹ hiện tại phải thọ báo nặng ở địa ngục ? Làm
thế nào khiến quả báo nặng địa ngục trở thành báo nhẹ
trong đời hiện tại ?”
Phật
nói : “ Có hai hạng chúng sanh : Một là trí hai là ngu. Nếu
có thể tu tập thân, giới, tâm, huệ, nơi tâm thời gọi là
người trí. Nếu chẳng thể tu tập thời gọi là kẻ ngu.
Nếu
chẳng thể điều nhiếp năm căn thời gọi là chẳng tu thân.
Nếu chẳng thể thọ trì bảy thứ tịnh giới thời gọi là
chẳng tu giới. Vì chẳng điều tâm nên gọi là chẳng tu tâm.
Chẳng tu tập thánh hạnh thời gọi là chẳng tu huệ.
Lại
người chẳng tu thân thời không thể đầy đủ giới thể
thanh tịnh. Người chẳng tu giới thời nhận chứa tám thứ
vật bất tịnh. Người chẳng tu tâm thời chẳng thể tu tập
ba thứ tướng. Người chẳng tu huệ thời chẳng tu tập phạm
hạnh.
Lại
người chẳng tu thân thời chẳng thể quán thân, quán sắc,
và quán sắc tướng, chẳng quán thân tướng, chẳng biết
thân số, chẳng biết thân nầy từ đây đến kia, ở trong
chẳng phải thân mà tưởng là thân, ở trong chẳng phải sắc
mà tưởng là sắc, do đây nên tham đắm thân và thân số,
đây gọi là chẳng tu thân.
Người
chẳng tu giới nếu thọ hạ giới thời chẳng gọi
là tu giới, thọ trì biên giới, giới gì tự lợi, giới gì
tự điều phục, chẳng thể làm cho khắp chúng sanh được
an vui, chẳng phải vì hộ trì chánh pháp vô thượng, vì sanh
lên cõi trời hưởng thọ ngũ dục, đây chẳng gọi là tu
giới.
Người
chẳng tu tâm thời tâm tán loạn không thể chuyên nhứt duyên
nơi tự cảnh. Tự cảnh chính là tứ niệm xứ. Cảnh khác
là nói ngũ dục. Nếu không thể tu tập tứ niệm xứ thời
gọi là chẳng tu tâm.
Ở
trong nghiệp ác nếu chẳng khéo giữ gìn tâm niệm thời gọi
là chẳng tu huệ.
Lại
người chẳng tu thân thời không thể quan sát thấu đáo thân
nầy là vô thường, là vô trụ, là mỏng manh, là niệm niệm
diệt hoại, là cảnh giới của ma.
Người
chẳng thể tu giới thời không thể đầy đủ Thi La Ba La Mật.
Người chẳng tu tâm thời không thể đầy đủ Thiền Na Ba
La Mật. Người chẳng tu huệ thời không thể đầy đủ Bát
Nhã Ba La Mật.
Lại
người chẳng tu thân thời tham đắm thân ta và thân sở hữu
của ta, cho rằng thân ta thường hằng không có biến đổi.
Người chẳng tu giới thời vì tự thân mà tạo mười nghiệp
ác. Người chẳng tu tâm thời ở trong nghiệpo ác không thể
nhiếp tâm. Người chẳng tu huệ do vì không nhiếp tâm nên
không phân biệt được những pháp thiện ác.
Lại
người chẳng tu thân thời chẳng dứt ngã kiến. Người chẳng
tu giới thời không dứt được giới thủ. Người chẳng
tu tâm thời tạo nghiệp tham sân mà phải đọa địa ngục.
Người chẳng tu huệ thời không dứt được tâm si.
Lại
người chẳng tu thân thời không thể quán thân, dầu thân
không lỗi lầm nhưng nó luôn là kẻ oán thù. Ví như có người
bị kẻ thù theo dỏi, nếu người nầy có trí thời cẩn thận
giữ gìn, nếu không thận trọng ắt bị kẻ thù làm hại,
thân của tất cả chúng sanh cũng như vậy, thường phải dùng
đồ uống món ăn, đồ lạnh đồ ấm để nuôi dưỡng, nếu
chẳng khéo giữ gìn nuôi dưỡng thời nó sẽ tan rả.
Như
Bà La Môn kính thờ Lửa, họ thường dưng hương hoa tán thán
lễ bái, hạn kỳ phải đủ trăm năm, nếu lúc chạm đến
liền đốt cháy tay người. Dầu lửa nầy được cung kính
cúng dường như vậy, nhưng trọn không một niệm báo ân cho
người phụng sự. Thân của tất cả chúng sanh cũng như vậy,
dầu trong nhiều năm dùng hương hoa châu ngọc y phục đồ
uống ăn đồ nằm, thuốc men tẩm bổ mà cung cấp đó, nếu
gặp những duyên xấu hoặc trong hoặc ngoài thời liền hoại
diệt, nó trọn chẳng nhớ tưởng đến ơn cung cấp ngày trước.
Ví
như có Quốc Vương nuôi bốn con rắn độc trong một cái rương,
giao phó cho một người bảo phải nuôi nấng săn sóc. Trong
bốn con rắn nầy, nếu một con nổi giận thời có thể giết
hại chết người. Người có phận sự săn sóc rắn luôn luôn
lo sợ thường tìm món ăn thức uống giữ gìn nuôi nấng.
Thân tứ đại của tất cả chúng sanh cũng như vậy, nếu
một đại nổi giận thời có thể làm cho thân phải hư hoại.
Như
người mang bịnh lâu phải nên hết lòng tìm y sĩ chữa trị,
nếu chẳng siêng lo điều trị ắt phải chết. Thân của tất
cả chúng sanh cũng như vậy, thường phải nhứt tâm chẳng
nên buông lung, nếu buông lung thời hoại diệt.
Ví
như bình đất chưa hầm thời không chịu được gió mưa đập
ném dằn đè. Thân của tất cả chúng sanh cũng như vậy, chẳng
chịu được đói khát lạnh cóng, gió mưa đánh đập mắng
nhiếc.
Như
mụn nhọt chưa muồi phải thường giữ gìn chớ cho người
chạm đến, nếu để đụng chạm thời đau đớn lắm. Thân
của tất cả chúng sanh cũng như vậy.
Ví
như con la mang thai nghén thời tự hại lấy thân nó. Thân của
tất cả chúng sanh cũng như vậy, nếu trong thân có phong lãnh
thời thân phải bị hại.
Ví
như cây chuối trổ buồng thời phải khô chết. Thân của
tất cả chúng sanh cũng như vậy.
Như
cây chuối không có lõi cứng. Thân của tất cả chúng sanh
cũng như vậy.
Như
rắn, chuột, chó sói, mỗi con thường sanh lòng oán hại lẫn
nhau. Tứ đại của chúng sanh cũng như vậy.
Ví
như con ngỗng chúa chẳng thích gò mả. Bồ Tát cũng như vậy,
đối với thân thể cũng chẳng ưa thích.
Như
giòng Chiên Đà La bảy đời nối nhau chẳng bỏ nghiệp hèn,
đo đây nên bị người khinh tiện. Chủng tử của thân nầy
cũng như vậy, tinh huyết hôi tanh hoàn toàn bất tịnh. Vì
bất tịnh nên chư Phật và Bồ Tát quở khinh. Thân nầy chẳng
phải như núi Ma La Da mọc cây Chiên đàn, cũng chẳng thể
sanh hoa Ưu Bát La, hoa Phân Đà Lợi, hoa Chiêm Bà, hoa Ma Lợi
Ca, hoa Bà Sư Ca. Chín lỗ của nó thường chảy ra máu mủ
bất tịnh, chỗ nó sanh hôi dơ xấu xa đáng gớm, nó thường
cùng các loài trùng đồng ở một chỗ.
Ví
như trong đời dầu có vườn rừng thanh tịnh xinh đẹp, nhưng
trong nhà chứa tử thi thời là bất tịnh, mọi người đều
lìa bỏ chẳng ưa thích. Cõi sắc cũng như vậy, dầu là thanh
tịnh tốt đẹp, nhưng vì có thân nên bị chư Phật cùng Bồ
Tát lìa bỏ đó.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người chẳng thể quan sát như vậy thời
chẳng thể gọi là tu thân.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chẳng thể quan sát giới luật là thần
thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của tất cả
pháp lành, như mặt đất là chỗ dựa nương của tất cả
cây cối, là đạo thủ của các thiện căn, như thương chủ
dẫn dắt đoàn người buôn. Giới là thắng tràng của tất
cả pháp lành như thắng tràng của Thiên Đế Thích dựng.
Giới có thể dứt hẳn tất cả nghiệp ác và ba ác đạo,
có thể trị lành những bịnh dữ như dược thọ. Giới là
tư lương trên con đường hiểm sanh tử. Giới là giáp trượng
đánh dẹp những giặc phiền não hung ác. Giới là thần chú
hay diệt rắn độc kiết sử. Giới là cây cầu đi qua khỏi
nghiệp ác. Nếu chẳng thể quan sát như vậy thời gọi là
chẳng tu giới.
Nếu
không thể quan sát tâm niệm động chuyển lăng xăng, khó nắm
lấy khó điều phục, lung chạy như voi dữ, nệm niệm mau
chóng như chớp nháng, nhảy nhót chẳng dừng như khỉ vượn,
như huyễn, như dương diệm, tâm niệm nầy là cội gốc của
tất cả điều ác, ngũ dục khó vừa lòng như lửa thêm củi,
như biển cả nuốt hết các giòng sông, như núi Mạn Đà cỏ
cây quá nhiều, chẳng thể thấy biết sanh tử hư vọng,
mê lầm say đắm đến nỗi thành bịnh, như cá nuốt lưỡi
câu. Thường đi trước dẫn theo những tội nghiệp như con
bối mẫu dắt đàn con. Tham đắm ngũ dục chẳng thích Niết
Bàn, như lạc đà ăn mật nhẫn đến chết chẳng đoái cỏ
non. Quá tham đắm sự vui hiện tại chẳng nhìn đến lỗi
lầm ngày sau, như bò tham ăn lúa mạ chẳng sợ roi gậy. Chạy
khắp hai mươi lăm cõi, như giùo mạnh thổi bông nâu la. Chỗ
chẳng đáng tìm cầu mà cầu đó không nhàm đủ như người
vô trí cầu lửa không nóng. Thường thích sanh tử chẳng ưa
giải thoát, như trùng nhiệm bà thích cây nhiệm bà. Mê lầm
tham đắm sanh tử hôi nhơ, như kẻ ngục tù thích gái ngục
tốt, cũng như heo trong chuồng ưa chỗ bất tịnh. Nếu có
người không thể quan sát như vậy thời gọi là chẳng tu
tâm.
Người
chẳng tu huệ, chẳng quan sát trí huệ có thế lực lớn, như
kim sí điểu có thể hoại nghiệp ác, như ánh sáng mặt trời
phá tan tối tăm, trí huệ có thể nhổ cây ngũ ấm như nước
đẩy trôi đồ vật, đốt cháy tà kiến như lửa hừng trí
huệ là cội gốc của tất cả pháp lành, là chủng tử của
Phật và Bồ Tát. Nếu không thể quan sát như vậy thời gọi
là chẳng tu trí huệ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong đệ nhứt nghĩa, nếu thấy thân, thân
tướng, thân nhơn, thân quả, nhiều thân, thân một, thân hai,
thân đây, thân kia, thân diệt, thân bình đẳng, thân tu, người
tu, nếu có thấy như vậy thời gọi là chẳng tu thân.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu thấy giới, giới tướng, giới nhơn,
giới quả, giới thượng, giới hạ, giới tụ, giới một,
giới hai, giới đây, giới kia, giới diệt, giới bình đẳng,
giới tu, người tu, giới Ba La Mật, nếu có thấy như vậy
thời gọi là chẳng tu giới.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu thấy tâm, tâm tướng, tâm nhơn, tâm quả,
tâm tu, tâm vương, tâm sở, tâm một, tâm hai, tâm đây, tâm
kia, tâm diệt, tâm bình đẳng, tâm tu, người tu, tâm
thượng trung hạ, tâm thiện, tâm ác, nếu có thấy như vậy
thời gọi là chẳng tu tâm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu thấy huệ, huệ tướng, huệ nhơn, huệ
quả, huệ tu, huệ một, huệ hai, huệ đây, huệ kia, huệ
diệt, huệ bình đẳng, huệ thượng trung hạ, huệ lợi, huệ
độn, huệ tu, người tu, nếu có thấy như vậy thời gọi
là chẳng tu huệ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chẳng tu thân giới tâm huệ, những người
như vậy ở nơi nghiệp ác nhỏ mà mắc phải quả báo lớn.
Do vì khủng bố nên thường nghĩ rằng : Tôi thuộc người
địa ngục làm hạnh địa ngục. Dầu nghe người trí nói
khổ, địa ngục, thường nghĩ rằng như sắt đập sắt, như
đá trở lại đập đá, như gỗ tự đập gỗ, như vi trùng
lửa thích lửa, thân địa ngục trở lại giống địa ngục,
nếu giống địa ngục thời có gì là khổ.
Ví
như con lằn xanh bị dính nơi nước miếng chẳng thể bay được,
người nầy cũng vậy ở trong tội nhỏ không thể thoát khỏi,
trọn không lòng ăn năn, chẳng thể tu pháp lành, che giấu
tội lỗi, dầu có tất cả nghiệp lành thuở quá khứ, nhưng
đều bị tội nầy làm cấu nhơ, người nầy có báo nhẹ
đáng lẽ hiện đời thọ lấy mà trở lại thành quả báo
rất nặng nơi địa ngục.
Như
trong chậu nước nhỏ để vào một thăng muối, nước đó
mặn, chát khó uống được, tội nghiệp của người nầy
cũng như vậy.
Ví
như có người mắc nợ một tiền chẳng trả được nên thân
bị trói buộc chịu nhiều sự khổ, tội nghiệp của người
nầy cũng như vậy.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Cớ gì người
nầy làm cho quả báo nhẹ hiện đời trở thành quả địa
ngục ?
Phật
nói : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Tất cả chúng sanh nếu đủ
năm việc thời làm cho quả báo nhẹ hiện đời trở thành
quả địa ngục : Một là vì ngu si, hai là vì căn lành kém
ít, ba là vì ác nghiệp sâu nặng, bốn là vì chẳng sám hối,
năm là vì chẳng tu nghiệp lành hiện đang tu tập.
Lại
có năm việc : Một là vì tu tập nghiệp ác, hai là vì không
giới đức, ba là vì xa lìa căn lành, bốn là vì chẳng tu
thân giới tâm huệ, năm là vì gần gũi bạn ác.
Nầy
Thiện nam Tử ! Do vì đủ những việc trên đây, nên
chúng sanh làm cho quả báo nhẹ hiện đời thành quả báo địa
ngục.
_ Bạch
Thế Tôn ! Những người nào có thể chuyển báo địa ngục
thành quả báo nhẹ hiện đời ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có người tu tập thân giới tâm huệ
như đã nói ở trên, có thể thấy các pháp đồng với hư
không, chẳng thấy trí huệ cũng như chẳng thấy người trí,
chẳng thấy ngu si cũng như chẳng thấy kẻ ngu, chẳng thấy
tu tập và người tu tập, đây gọi là người trí. Người
nầy có thể tu tập thân giới tâm huệ. Người nầy có thể
làm cho báo địa ngục trở thành quả nhẹ hiện đời
: Giả sử người nầy gây tạo ác nghiệp rất nặng, nhờ
tư duy quan sát có thể làm cho nghiệp nặng thành nhẹ. Người
nầy nghĩ rằng : Nghiệp của ta dầu nặng nhưng chẳng bằng
nghiệp lành. Như bông vải dầu nhiều nặng cả trăm cân,
nhưng chẳng thể sánh bằng một lượng vàng ròng. Như đem
một thăng muối ném vào trong sông hằng, nước sông không
vị mặn người uống chẳng biết. Như người giàu to dầu
thiếu người ngàn muôn vật báu cũng không ai bắt bớ làm
khổ được. Như đại hương tượng có thể bức dây xích
sắt mà đi tự tại. Người trí huệ cũng như vậy, thường
suy nghĩ rằng công đức lành của tôi nhiều, nghiệp ác yếu
kém, tôi có thể phát lồ sám hối trừ hết tội ác, tôi
có thể tu tập trí huệ làm cho sức trí huệ nhiều, sức
vô minh ít.
Nghĩ
như vậy rồi, gần gũi bạn lành tu tập chánh kiến, thọ
trì đọc tụng biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh. Sanh
lòng cung kính đối với những người trì tụng biên chép
giải thuyết mười hai bộ kinh, và đem những y phục, đồ
uống ăn, phòng nhà , giường nệm, thuốc men, hoa hương mà
cúng dường, thường tôn trọng tán thán, đi đến đâu cũng
đều khen ngợi hạnh lành của người đó, chẳng nói đến
việc kém dở của người đó. Thường cúng dường Tam bảo
kính tin pháp Đại Thừa kinh Đại Niết Bàn. Tin đức Như
Lai thường hằng không có biến đổi. Tin tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh. Người nầy có thể làm cho báo nặng
địa ngục trở thành quả nhẹ hiện đời.ï
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do những nghĩa trên đây nên chẳng phải tất
cả nghiệp đều quyết định có quả, cũng chẳng phải tất
cả chúng sanh đều quyết định thọ báo.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu tất cả nghiệp chẳng quyết định có quả,
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, lẽ ra phải tu tập
tám thánh đạo, cớ gì tất cả chúng sanh đều chẳng được
Đại Niết Bàn nầy ?
Bạch
Thế Tôn ! Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thời
sẽ quyết định được vô thượng Bồ Đề, cần gì phải
tu tập tám thánh đạo?
Bạch
Thế Tôn ! Như trong kinh nầy nói người có bịnh nếu gặp
đặng thuốc hay và người khám bịnh tùy theo bịnh mà cho
ăn uống, hoặc chẳng được như vậy tất cả cũng đều
được lành mạnh. Tất cả chúng sanh cũng như vậy, nếu gặp
Thanh Văn, Bích Chi Phật, Chư Phật , Bồ Tát những bực thiện
tri thức, nghe chánh pháp, tu tập thánh đạo hoặc chẳng được
gặp được nghe, được tu tập, cũng đều sẽ được
thành vô thượng Bồ Đề. Tại sao vậy ? Vì do Phật tánh
vậy .
Bạch
Thế Tôn ! Ví như không ai có thể ngăn mặt trời, mặt trăng
đi vòng khắp bốn châu thiên hạ, tất cả chúng sanh cũng
như vậy, không ai có thể ngăn trở làm cho có thể được
đến vô thượng Bồ Đề. Tại sao vậy ? Vì do Phật tánh
vậy.
Bạch
Thế Tôn ! Cứ theo nghĩa nầy thời tất cả chúng sanh
chẳng cần tu hành, do năng lực của Phật tánh đều đáng
được vô thượng Bồ Đề.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu Nhứt Xiển Đề phạm bốn tội trọng năm
tội nghịch chẳng được vô thượng Bồ Đề lẽ ra cần
phải tu tập, vì do Phật tánh quyết định sẽ được, chẳng
phải do tu tập rồi sau mới được.
Bạch
Thế Tôn ! Ví như đá nam châm dầu cách xa sắt, nhưng do sức
của nó mà sắt bị hút dính. Phật tánh của chúng sanh cũng
như vậy, nên chẳng cần siêng năng tu tập thánh đạo.
Phật
nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Như bên
sông Hằng có bảy hạng người hoặc vì tắm rửa, hoặc
vì sợ giặc cướp, hoặc vì hái hoa mà vào trong sông :
Người
thứ nhứt vào nước thời chìm, vì yếu đuối lại chẳng
biết lội.
Người
thứ hai dầu bị chìm lại nổi lên nổi rồi lại chìm, vì
người nầy có sức mạnh nên có thể nổi lên, vì chẳng
biết lội nên lại chìm.
Người
thứ ba chìm rồi liền nổi lên, nổi lên chẳng chìm nữa,
vì người nầy thân nặng nên chìm, do sức mạnh nên nổi
lên, vì biết lội nên không bị chìm nữa.
Người
thứ tư vào nước bèn chìm, chìm rồi lại nổi lên, nổi
lên rồi bèn chẳng chìm nữa mà ngó khắp bốn phương, vì
người nầy thân nặng nên chìm, sức mạnh lại nổi lên,
biết lội nên không chìm nữa, chẳng biết lên phía nào nên
ngó khắp bốn phương.
Người
thứ năm vào nước liền chìm, lại nổi lên rồi không chìm
nữa, nhìn ngó phương hướng mà lội đi, vì có lòng sợ sệt.
Người
thứ sáu vào nước liền lội đi, đến chỗ cạn thời đứng
lại, vì để xem giặc cướp gần hay xa.
Người
thứ bảy đã qua đến bờ kia leo lên núi lớn không còn sợ
sệt, thoát khỏi giặc cướp lòng rất vui sướng .”
Nầy
Thiện Nam Tử ! Sông lớn sanh tử cũng như vậy, có bảy hạng
người vì sợ giặc phiền não mà muốn lội qua sông sanh tử,
nên xuất gia cạo tóc thân mặc pháp phục. Đã xuất gia rồi
gần gũi bạn ác nghe theo lời của họ mà lãnh thọ tà pháp.
Họ bảo rằng thân chúng sanh tức là năm ấm, năm ấm gọi
là năm đại, chúng sanh nếu chết thời năm đại dứt hẳn,
đã dứt hẳn cần gì tu tập những hạnh nghiệp lành dữ,
do đây nên biết rằng không có lành dữ cũng như không có
quả báo lành dữ. Hạng ngừoi nầy gọi là Nhứt Xiển Đề,
gọi là dứt căn lành, vì căn lành đã dứt nên chìm trong
sông sanh tử không thể ra được, vì nghiệp ác của họ quá
nặng, vì họ không có đức tin, như người thứ nhứt bên
bờ sông Hằng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nhứt Xiển Đề có sáu nhơn duyên phải chìm
trong ba đường ác không thể thoát được : Một là vì tâm
ác quá thạnh, hai là vì chẳng thấy đời sau, ba là vì ưa
huân tập phiền não, bốn là vì xa lìa căn lành, năm là vì
nghiệp ác ngăn cách, sáu là vì gần gũi bạn ác. Lại có
năm điều khiến họ chìm trong ba đường ác : Một là làm
việc phi pháp đối với các Tỳ Kheo, hai là làm việc phi pháp
đối với các Tỳ Kheo Ni, ba là tự do dùng của vật của
chúng Tăng, bốn là làm việc phi pháp với mẹ, năm là sanh
sự thị phi đối với năm bộ tăng. Lại có năm điều làm
cho họ chìm trong ba đường ác : Một là nói không quả báo
thiện ác, hai là giết chúng sanh phá Bồ Đề tâm, ba là ưa
nói lỗi lầm của pháp sư, bốn là chánh pháp nói là phi pháp,
còn phi pháp nói là chánh pháp, năm là vì tìm lỗi của chánh
pháp mà đến nghe học. Lại có ba điều làm cho họ chìm trong
ba đường ác : Một là nói Đức Như Lai vô thường nhập
diệt vĩnh viễn, hai là nói chánh pháp vô thường dời đổi,
ba là nói chúng tăng thiệt có thể hoại diệt.
Người
thứ hai muốn qua khỏi sông lớn sanh tử, vì dứt mất căn
lành nên chìm không thoát được. Nói rằng thoát khỏi tức
là gần gũi bạn lành thời được tín tâm, chính lá tin bố
thí và quả bố thí, tin nghiệp lành và quả lành, tin nghiệp
ác và quả ác, tin sanh tử là khổ, là vô thường hư hoại.
Do được tín tâm nên tu tập tịnh giới, trì tụng, biên chép
giải thuyết mười hai bộ kinh, thường thích bố thí, khéo
tu trí huệ. Vì độn căn nên lại gặp bạn ác, do đây
nên không thể tu tập thân giới tâm huệ, trở lại thọ lấy
tà pháp, hoặc gặp thời kỳ ác ở nơi cõi nước ác, nên
dứt mất những căn lành mà phải chìm luôn trong sanh tử,
như người thứ hai bên sông Hằng.
Người
thứ ba muốn qua khỏi sông sanh tử, vì dứt mất căn lành
nên chìm đắm ở trong sông. Người nầy gần gũi bạn lành
nên được nổi lâu, tin Đức Như lai là bực nhứt thiết
trí thường hằng không biến đổi, vì chúng sanh mà nói đạo
vô thượng, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Như lai
chẳng phải diệt độ, Pháp và Tăng cũng không hoại diệt.
Nhứt Xiển Đề nếu chẳng dứt ác pháp của họ thời trọn
không thể được vô thượng Bồ Đề. Phải biết rằng cần
phải xa lìa rồi sau mới đặng. Do tín tâm nên tu tịnh giới,
tu tịnh giới rồi thọ trì đọc tụng biên chép giải thuyết
mười hai bộ kinh, vì chúng sanh mà rộng tuyên dương lưu bố,
ưa bố thí, tu tập trí huệ, do căn trí lanh lợi nên trụ
vững nơi tín huệ không thối chuyển, như người thứ ba bên
sông Hằng.
Người
thứ tư muốn qua khỏi sông sanh tử, vì dứt căn ành nên chìm
trong sông, vì gần gũi bạn lành nên được tín tâm đây gọi
là nổi lên. Vì được tín tâm nên được thọ trì đọc
tụng biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh, rồi vì chúng
sanh mà rộng tuyên dương lưu bố, ưa bố thí, tu tập trí
huệ, do lợi căn nên đứng vững nơi tín huệ tâm không thối
chuyển, quán sát khắp bốn phương, quán sát bốn phương đây
là nói bốn quả Sa Môn, như người thứ tư bên sông Hằng.
Người
thứ năm muốn lội qua sông sanh tử, vì dứt mất căn lành
nên phải chìm trong sông, nhờ gần gũi bạn lành nên được
tín tâm đây gọi là nổi lên, do tín tâm nên thọ trì đọc
tụng biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh, rồi vì chúng
sanh mà rộng tuyên dương lưu bố, ưa bố thí, tu tập trí
huệ vì lợi căn nên đứng vững nơi tín huệ không thối
chuyển, không thối chuyển rồi bèn thẳng đến trước, thẳng
đến trước, đây là nói quả Bích Chi Phật, dầu có thể
tự độ nhưng chẳng độ đến chúng sanh, đây gọi là đi,
như người thứ năm bên sông Hằng.
Người
thứ sáu muốn qua khỏi sông sanh tử, vì mất thiện căn nên
chìm trong sông, nhờ gần gũi bạn lành mà được tín tâm,
đây gọi là nổi lên, do tín tâm nên thọ trì đọc tụng
biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh, rồi vì chúng sanh
mà rộng tuyên dương lưu bố, ưa bố thí, tu tập trí huệ
cho lợi căn nên đứng vững nơi tín huệ không thối chuyển,
rồi bèn thẳng đến trước gặp chỗ cạn đứng lại chẳng
đi nữa. Đứng lại chẳng đi là nói Bồ Tát vì muốn độ
chúng sanh nên trụ lại quán sát phiền não, như người thứ
sáu bên sông Hằng.
Người
thứ bảy muốn thoát khỏi sông sanh tử vì mất căn lành nên
chìm trong sông, nhờ gần gũi bạn lành mà được tín tâm
đây gọi là nổi lên, do tín tâm nên thọ trì đọc tụng
biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh, rồi vì chúng
sanh mà rộng tuyên dương lưu bố, ưa bố thí , tu tập trí
huệ, do lợi căn nên đứng vững nơi tín huệ không thối
chuyển, liền thẳng đến bờ kia, leo lên núi cao, lìa khỏi
những sự khủng bố, hưởng nhiều sự an vui.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Núi cao bên bờ kia dụ cho đức Như Lai, hưởng
sự an vui dụ cho Phật thường trụ, núi cao lớn dụ cho Đại
Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Những người ở bên bờ sông Hằng kia đều
có đủ tay chân mà không thể qua được. Tất cả chúng sanh
cũng như vậy, thiệt có Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, đức Như
Lai thường nói pháp yếu, có tám thánh đạo, có Đại Niết
Bàn, mà chúng sanh đều chẳng thể được, đây chẳng phải
lỗi của Như Lai cũng chẳng phải lỗi của thánh đạo và
chúng sanh, nên biết rằng đều là lỗi ác của phiền não,
do đây nên tất cả chúng sanh chẳng được Đại Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lương y biết rõ bịnh nói phương thuốc,
người bịnh chẳng chịu uống, đây chẳng phải là lỗi của
Lương Y.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có thí chủ đem tiền của bố thí cho
mọi người, có người chẳng chịu nhận lấy, đây chẳng
phải là lỗi của thí chủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như mặt trời mọc lên những chỗ tối
tăm đều tỏ sáng, mà người mù lòa kia chẳng thấy đường
sá, đây chẳng phải là lỗi của mặt trời.
Nầy
ThiệnNam Tử ! Như nước sông Hằng có thể giải trừ sự
khát nước, có kẻ khát nước chẳng chịu uống, đây chẳng
phải là lỗi của nước.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như mặt đất bình đẳng nuôi sống tất cả
cây cỏ, có nông phu kia chẳng chịu gieo trồng, đây chẳng
phải là lỗi của mặt đất.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai khắp vì tất cả chúng sanh mà
rộng mở bày phân biệt mười hai bộ kinh, chúng sanh chẳng
chịu tin thọ, đây chẳng phải là lỗi của Như Lai.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người tu tập thánh đạo thời được
vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam Tử ! Vừa rồi ông nói tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh đáng được vô thượng Bồ Đề , như đá nam
châm hút sắt.
Lành
thay ! Lành thay ! Do có năng lực nhơn duyên của Phật tánh
nên chúng sanh được vô thượng Bồ Đề.
Nhưng
nếu nói rằng chẳng cần tu tập thánh đạo thời không đúng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có người đi trong đồng hoang vắng khát
nước gặp giếng, giếng nầy sâu thẳm tối đen, người nầy
dầu chẳng thấy nước nhưng biết rằng chắc có nước, người
nầy tìm dây gầu múc lên thời thấy nước. Phật tánh cũng
vậy, tất cả chúng sanh mặc dầu đều có, nhưng cần phải
tu tập vô lậu thánh đạo rồi sau mới đặng thấy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như người có hột mè thời tất được thấy
dầu, nhưng rời bỏ phương tiện thời chẳng thấy được.
Nơi mía thấy đường cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như cung trời Đao Lợi và Bắc Cu Lô Châu dầu
là có, nhưng nếu không nghiệp lành, hoặc thần thông, hoặc
đạo lực, thời chẳng thấy được.
Như
rễ cỏ trong đất, như mạch nước dưới đất, vì đất
che nên chúng sanh chẳng thấy. Phật tánh cũng vậy, vì chẳng
tu tập thánh đạo nên chẳng thấy được.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như vừa rồi ông nói trong đời có người
bịnh nếu gặp được lương y, thuốc hay, người khám bịnh
giỏi, ăn uống phải cách, hoặc chẳng gặp, đều được
lành mạnh.
Nầy
Thiện Nam Tử 1 Đó là ta vì bực lục trụ Bồ Tát mà nói
nghĩa ấy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như hư không đối với chúng sanh, nó chẳng
phải trong, chẳng phải ngoài, vì không phải trong ngoài nên
cũng không trở ngại. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có người để tài sản ở xứ khác, dầu
của cải không hiện có, nhưng người nầy vẫn được tùy
ý thọ dụng. Có người hỏi đến tiền của, người nầy
đáp rằng tôi hứa cho. Tại sao vậy ? Vì người nầy quyết
định có của. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, chẳng
phải đây chẳng phải kia, vì quyết định được nên ta nói
tất cả chúng sanh đều có.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như chúng sanh gây tạo các nghiệp, hoặc nghiệp
lành, hoặc nghiệp ác, chẳng phải trong chẳng phải ngoài,
nghiệp tánh nầy chẳng phải có chẳng phải không, lại cũng
chẳng phải là trước không mà nay có, cũng chẳng phải không
nhơn mà có ra, chẳng phải đây làm rồi đây thọ, chẳng
phải đây làm mà kia thọ, chẳng phải kia làm mà kia thọ,
nghiệp tánh nầy không tác giả không thọ giả, lúc thời
tiết hòa hiệp thời có quả báo. Phật tánh của chúng sanh
cũng như vậy, chẳng phải là trước không mà nay có, chẳng
phải trong chẳng phải ngoài, chẳng phải có chẳng phải không,
chẳng phải đây chẳng phải kia, chẳng phải chỗ khác đến,
chẳng phải không nhơn duyên, cũng chẳng phải là tất cả
chúng sanh chẳng thấy, có những Bồ Tát lúc thời tiết nhơn
duyên hòa hiệp mà được thấy. Thời tiết đây là nói bực
Thập Trụ Bồ Tát tu tám thánh đạo được tâm bình đẳng
đối với chúng sanh, lúc bấy giờ được thấy Phật
tánh, chẳng gọi là tạo tác.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói rằng như đá nam châm hút sắt, cứ
nơi nghĩa thời chẳng đúng. Tại sao vậy ? Vì đá ấy chẳng
hút sắt, bởi đá ấy không tâm nghiệp. Nầy Thiện Nam Tử
! Do pháp kia có nên pháp nầy sanh ra, do pháp kia không nên pháp
nầy diệt hoại không có tác giả cũng không có hoại giả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ngọn lửa mạnh chẳng thể đốt cháy
củi, lửa ra củi hư gọi đó là cháy củi.
Như
bông quì xoay theo mặt trời, dầu vậy nhưng bông quì nầy
không có tâm cung kính, không thức cũng không nghiệp, vì tánh
chất riêng của nó mà tự xoay chuyển.
Như
cây chuối nhơn tiếng sấm mà được tăng trưởng, cây nầy
không lỗ tai, không có tâm ý thức, do vì có pháp kia nên pháp
nầy tăng trưởng, vì không pháp kia nên pháp nầy hư hoại.
Như
cây a thúc ca, người nữ rờ đụng đến thời cây nầy trổ
bông, cây nầy không tâm ý, cũng không giác xúc, do vì có pháp
kia nên pháp nầy sanh ra, vì không pháp kia nên pháp nầy hư
hoại.
Như
cây quít được tử thi thời trái thêm nhiều, cây quít nầy
không tâm ý cũng không giác xúc, vì có pháp kia nên pháp nầy
thêm nhiều, vì không pháp kia nên pháp nầy hư hoại.
Như
cây an thạch lựu do phân gạch xương thời trái thêm nhiều,
cây an thạch lựu nầy cũng không tâm ý không giác xúc, vì
có pháp khác nên pháp nầy thêm nhiều, vì pháp khác không
nên pháp nầy hư hoại.
Như
đá nam châm hút sắt cũng như vậy, do pháp nầy có nên pháp
kia sanh, vì pháp nầy không nên pháp kia hư hoại.
Phật
tánh của chúng sanh cũng như vậy, chẳng thể đến được
vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vô minh chẳng thể hút lấy hành nghiệp, hành
cũng chẳng thể hút lấy thức, dầu vậy nhưng cũng gọi là
vô minh duyên hành, hành duyên thức.
Hoặc
có Phật hay không Phật, pháp giới vẫn thường trụ. Nếu
nói rằng Phật tánh ở trong chúng sanh, nên biết rằng pháp
thường hằng thời vô trụ, nếu có chỗ ở thời là vô thường.
Như mười hai nhơn duyên không chỗ ở nhứt định, nếu có
chỗ ở thời mười hai nhơn duyên chẳng được gọi là thường.
Pháp thân của Như lai cũng không chỗ ở. Pháp giới, pháp
nhập, pháp ấm, hư không đều không chỗ ở. Phật tánh cũng
không chỗ ở như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như tứ đại dầu thế lực đồng nhau, nhưng
có cứng, có nóng, có ướt, có động, có nặng, có nhẹ,
có đỏ, có trắng, có vàng, có đen, mà tứ đại nầy cũng
không có nghiệp, vì pháp giới khác nên đều chẳng giống
nhau. Phật tánh cũng như vậy vì pháp giới khác đến thời
kỳ thời hiện.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì tất cả chúng sanh chẳng thối mất Phật
tánh nên gọi là có, vì bất thối chuyển, vì sẽ có, vì
quyết định được, vì quyết địnhh sẽ thấy, nên gọi
là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Ví
như có Quốc Vương bảo một đại thần dắt một con
voi đem chỉ cho người mù. Đại thần được lịnh Quốc Vương
liền họp bọn người mù đến bên con voi. Lúc đó bọn người
mù đều lấy tay rờ voi. Đại thần trở về tâu với Quốc
Vương đã đem voi chỉ cho bọn người mù rồi. Quốc Vương
liền kêu bọn người mù đến hỏi riêng từng người. Con
voi hình dạng như thế nào ? Trong bọn người mù kia, kẻ rờ
ngà bèn nói voi hình như củ cải ; kẻ rờ tai nói rằng voi
giống như cái ki ; kẻ rờ đầu nói rằng voi giống như khối
đá, kẻ rờ vòi nói rằng voi giống như cái chày ; kẻ rờ
chân nói rằng voi giống như cái cối gỗ ; kẻ rờ lưng nói
rằng voi như cái giường ; kẻ rờ bụng nói rằng voi như
cái lu ; kẻ rờ đuôi nói voi như sợi dây.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bọn người mù kia chẳng nói trúng thân hình
của voi, nhưng cũng chẳng phải là chẳng nói, các hình tướng
đó đều chẳng phải hình voi, nhưng rời ngoài những
hình nầy lại không có voi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Quốc Vương là dụ cho Như Lai đấng chánh
biến tri vậy. Đại thần dụ cho kinh Đại Thừa Đại Niết
bàn. Voi dụ cho Phật tánh. Bọn mù dụ cho tất cả chúng sanh
vô minh.
Những
chúng sanh nầy cho rằng Phật đã nói xong, hoặc có kẻ nói
sắc là Phật tánh, vì sắc nầy dầu diệt, nhưng tuần tự
nối luôn do đây được ba mươi hai tướng tốt vô thượng
của Như Lai, sắc tướng Như Lai là thường, vì sắc
tướng Như Lai thường hằng chẳng dứt, do đây nên nói sắc
là Phật tánh, như vàng thật, chất vàng dầu thay đổi nhưng
màu sắc vẫn thường chẳng đổi khác, hoặc làm vòng, làm
roi, làm mâm, màu vàng vẫn không đổi khác. Phật tánh của
chúng sanh cũng như vậy, tánh chất dầu vô thường mà sắc
là thường, do đây nên nói sắc là Phật tánh.
Hoặc
có kẻ nói thọ là Phật tánh, vì do thọ mà được chơn lạc
của Như Lai, thọ của Như Lai là thọ rốt ráo, là thọ đệ
nhứt nghĩa. Tánh thọ của chúng sanh dầu là vô thường nhưng
nó tuần tự nối nhau chẳng dứt, nên được lạc thọ chơn
thường của Như Lai. Như người họ Kiều Thi Ca thân người
dầu vô thường mà họ vẫn thường, trãi qua ngàn muôn
đời không đổi khác. Phật tánh chúng sanh cũng như vậy.
Do đây nên nói thọ ấm là Phật tánh.
Lại
có kẻ nói tưởng ấm là Phật tánh, vì do tưởng mà được
chơn thật tưởng của Như Lai. Tưởng của Như Lai gọi là
tưởng mà không tưởng chẳng phải tưởng của chúng sanh,
chẳng phải tưởng của nam của nữ, chẳng phải tưởng trong
sắc thọ tưởng hành thức, chẳng phải tâm tưởng dứt tưởng
như tưởng của chúng sanh. Dầu tưởng nầy vô thường nhưng
do tuần tự nối nhau chẳng dứt, nên được tưởng thường
hằng của Như Lai. Như mười hai nhơn duyên của chúng sanh,
dầu chúng sanh diệt mất mà nhơn duyên vẫn rthường. Phật
tánh của chúng sanh cũng như vậy, do đây nên nói tưởng là
Phật tánh.
Lại
có kẻ nói hành ấm là Phật tánh, vì hành gọi là thọ mạng.
Thọ mạng làm nhơn duyên nên được thọ mạng thường trụ
của Như Lai. Thọ mạng của chúng sanh dầu là vô thường,
nhưng vì tuần tự nối nhau chẳng dứt, nên được thọ mạng
chơn thường của Như Lai. Như mười bộ kinh, người nói người
nghe dầu là vô thường, nhưng kinh điển nầy thường còn
chẳng biến đổi. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy.
Do đây nên nói hành là Phật tánh.
Lại
có kẻ nói thức ấm là Phật tánh. Do thức làm nhơn duyên
mà được tâm bình đẳng của Như Lai. Ý thức của chúng
sanh dầu là vô thường, nhưng thức tuần tự nối nhau chẳng
dứt, nên được tâm chơn thường của Như Lai. Như lửa tánh
nóng dầu ngọn lửa vô thường, nhưng tánh nóng chẳng phải
vô thường. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy. Do đây
nên nói thức là Phật tánh.
Lại
có kẻ nói rời năm ấm có ngã, ngã nầy là Phật tánh, vì
ngã làm nhơn duyên mà được ngã tự tại của Như Lai.
Có các nhà ngoại đạo nói rằng : Đứng đi thấy nghe buồn
vui nói năng chính đó là ngã, ngã tướng ấy dầu vô thường
nhưng ngã của Như Lai chơn thiệt thường trụ. Như ấm nhập
giới dầu là vô thường nhưng vẫn gọi là thường. Phật
tánh của chúng sanh cũng vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử !Như bọn mù kia mỗi người tự nói hình tướng
của voi, dầu chẳng được đúng, nhưng chẳng phải là chẳng
nói tướng của voi.
Những
người nói Phật tánh cũng như vậy, Phật tánh chẳng phải
tức sáu pháp, nhưng cũng chẳng ly sáu pháp. Vì thế nên ta
nói Phật tánh của chúng sanh chẳng phải sắc chẳng phải
ly sắc, nhẫn đến chẳng phải ngã, chẳng phải ly ngã.
Có
các nhà ngoại đạo dầu nói có ngã, nhưng thiệt ra không
có ngã. Ngã của chúng sanh chính là ngũ ấm, rời ngoài ngũ
ấm không có ngã riêng biệt.
Ví
như cọng, cánh, tua, gương hiệp lại làm hoa sen, lìa ngoài
những thứ nầy thời không có hoa sen riêng biệt. Ngã của
chúng sanh cũng như vậy.
Như
tường, vách, gỗ, tranh hoà hiệp gọi đó là nhà, lìa ngoài
những thứ nầy thời không có nhà riêng biệt.
Như
cây Khư đà la, cây Ba la xa, cây Ni câu đà, cây Uất đàm bát
hiệp lại thành rừng, rời ngoài những thứ nầy thời không
có rừng riêng biệt.
Như
chiến xa, voi, ngựa, bộ binh hiệp lại thành quân đội, rời
ngoài những thứ nầy thời không có quân đội riêng biệt.
Như
những chỉ năm màu hiệp lại dệt thành vải ngũ sắc, rời
ngoài những chỉ nầy thời không có vải ngũ sắc riêng biệt.
Như
bốn họ hiệp lại gọi là đại chúng, rời ngoài những người
nầy thời không có đại chúng riêng biệt.
Ngã
của chúng sanh cũng như vậy, rời ngoài năm ấm thời không
có ngã riêng biệt.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như Lai thường trụ thời gọi là ngã. Pháp
thân của Như Lai là vô biên vô ngại, là chẳng sanh chẳng
diệt, được đủ tám tự tại nên gọi là ngã.
Thiệt
ra chúng sanh không có ngã như vậy, chỉ vì quyết định sẽ
được rốt ráo đệ nhứt nghĩa không, nên gọi là Phật tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại từ đại bi gọi là Phật tánh,
vì đại từ đại bi thường theo dõi Bồ Tát như bóng theo
hình.Tất cả chúng sanh quyết định sẽ được đại từ
đại bi, do đây nên nói rằng tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh. Đại từ đại bi gọi là Phật tánh, Phật
tánh gọi là Như Lai.
Đại
hỷ đại xả gọi là Phật tánh, vì Đại Bồ Tát nếu chẳng
xả được hai mươi lăm cõi, thời không thể được vô thượng
Bồ Đề. Bởi chúng sanh quyết định sẽ được, do đây nên
nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đại hỷ đại
xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai.
Phật
tánh gọi là đại tín tâm. Vì do tín tâm mà đại Bồ Tát
được đầy đủ Đàn Ba La Mật nhẫn đến Bát Nhã Ba La Mật.
Tất cả chúng sanh quyết định sẽ được đại tín tâm,
do đây nên nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đại
tín tâm chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai.
Phật
tánh gọi là nhứt tử địa. Vì do nhứt tử địa nên Bồ
Tát được tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Tất
cả chúng sanh quyết định sẽ được nhứt tử địa, do đây
nên nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nhứt tử địa
chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai.
Phật
tánh gọi là trí lực thứ tư. Vì do trí lực thứ tư, nên
Bồ Tát có thể giáo hóa chúng sanh. Tất cả chúng sanh quyết
định sẽ được trí lực thứ tư, do đây nên nói tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh. Trí lực thứ tư chính là Phật
tánh, Phật tánh chính là như Lai.
Phật
tánh gọi là mười hai nhơn duyên. Vì do nhơn duyên nên đức
Như Lai được thường trụ. Tất cả chúng sanh quyết định
có mười hai nhơn duyên như vậy, do đây nên nói rằng tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh. Mười hai nhơn duyên chính
là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai.
Phật
tánh gọi là bốn trí vô ngại. Do bốn trí vô ngại nên giảng
thuyết chữ nghĩa vô ngại. Do chữ nghĩa vô ngại nên có thể
giáo hóa chúng sanh. Bốn trí vô ngại chính là Phật tánh,
Phật tánh chính là Như Lai.
Phật
tánh gọi là đảnh tam muội.Vì do tu đảnh tam muội nầy nên
có thể tổng nhiếp tất cả Phật pháp, do đây nên nói đảnh
tam muội gọi là Phật tánh. Thập Trụ Bồ Tát tu tam muội
nầy chưa được đầy đủ, nên dầu thấy Phật tánh mà chẳng
rõ ràng. Vì tất cả chúng sanh quyết định được, nên nói
rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như các thứ pháp đã nói ở trên, vì tất
cả chúng sanh quyết định sẽ được, nên nói rằng tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ta nói sắc là Phật tánh, chúng sanh nghe
lời nầy tất sanh tà kiến điên đảo, do tà kiến điên đảo
tất sẽ phải đọa A Tỳ địa ngục. Đức Như Lai thuyết
pháp để dứt địa ngục nên chẳng nói sắc là Phật tángh,
nhẫn đến chẳng nói thức là Phật tánh cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chúng sanh thấy rõ Phật tánh thời chẳng
cần tu tập thánh đạo. Thập Trụ Bồ Tát tu tám thánh đạo
còn thấy Phật tánh một phần ít, huống là người chẳng
tu mà được thấy ư !
Nầy
Thiện Nam Tử ! Các vị Đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi
tu tập thánh đạo đã trải qua vô lượng đời nên thấy
rõ Phật tánh. Hàng Thanh Văn Duyên Giác làm thế nào biết
Phật tánh được !
Nếu
chúng sanh muốn biết rõ Phật tánh, thời phải nhứt tâm thọ
trì đọc tụng biên chép giải thuyết cúng dường cung kính
tôn trọng tán thán kinh Đại Niết Bàn nầy. Thấy người
nào trì tụng nhẫn đến tán thán kinh Đại Niết Bàn nầy
thời phải đem bốn thứ cúng dường thật tốt mà cung cấp
cho người ấy, cùng tán thán lễ bái hỏi thăm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có người nào đã trải qua vô lượng
vô biên đời gần gũi cúng dường vô lượng chư Phật trồng
sâu các căn lành, rồi sau mới đặng nghe tên của kinh nầy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Phật tánh chẳng thể nghĩ bàn. Phật, Pháp,
Tăng, Tam Bảo cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng chẳng biết được
dầu vậy mà cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Như
Lai thường lạc ngã tịnh cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Tất
cả chúng sanh nếu ai tin được kinh Đại Niết bàn nầy, kẻ
ấy chẳng thể nghĩ bàn.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Bạch Thế Tôn ! Như lời
đức Phật nói tất cả chúng sanh có thể tin kinh Đại Niết
Bàn chẳng thể nghĩ bàn như đây. Bạch Thế Tôn ! Trong đại
chúng nầy có tám muôn năm ngàn ức người không có lòng tin
đối với kinh nầy, do đây nên người nào tin kinh nầy thời
gọi người đó chẳng thể nghĩ bàn.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Số người trên đây đến đời vị lai cũng
sẽ quyết định tin được kinh điển nầy, được thấy Phật
tánh và được vô thượng Bồ Đề.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào Bất Thối Bồ Tát tự biết quyết định
có tâm bất thối.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát sẽ dùng khổ hạnh để thí
nghiệm lấy tâm của mình : Mỗi ngày ăn một hột mè trọn
bảy ngày ; gạo trằng, đậu xanh đậu trắng v.v… mỗi thứ
bảy ngày, mỗi ngày một hột cũng như vậy.
Lúc
ăn một hột mè, Bồ Tát nghĩ rằng : Khổ hạnh như vậy đều
không lợi ích, việc không lợi ích còn làm được huống
việc lợi ích mà lại không làm.
Đối
với việc không lợi ích, trong lòng có thể nhẫn được sự
khổ chẳng thối chẳng chuyển, do đây nên quyết đặng vô
thượng Bồ Đề.
Trong
những ngày tu khổ hạnh như vậy, da thịt ốm khô lần lần,
như cắt trái bầu tươi phơi trong nắng. Mắt của Bồ Tát
thụt sâu vào như đáy giếng. Hết thịt lòi gân như nhà tranh
hư mục, xương sống lộ lên như dây thừng, chỗ Bồ Tát
ngồi như dấu chân ngựa. Muốn ngồi thời mọp xuống, muốn
đứng thời ngã nghiêng. Dầu chịu lấy sự khổ, không
lợi ích như vậy, nhưng chẳng thối chuyển tâm Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát vì phá các sự khổ, ban sự
an vui cho chúng sanh, nên có thể xả thí của, vật, ngoài thân
trong thân đến thân mạng của mình như bỏ cỏ khô.
Nếu
có thể chẳng tiếc thân mạng như vậy, Bồ Tát nầy tự
biết quyết định có tâm bất thối, tự biết tôi quyết
định sẽ được vô thượng Bồ Đề.
Đại
Bồ Tát vì pháp mà khoét thân làm đèn lấy tô vu đổ vào
đặt tim để đốt.
Lúc
Bồ Tát thọ sự khổ lớn như vậy tự trách tâm mình rằng
: Sự khổ nầy đối với sự khổ ở địa ngục trăm ngàn
muôn phần chưa bằng một phần. Ở trong vô lượng trăm ngàn
kiếp, ta chịu nhiều sự khổ não đều không đem lại mảy
may lợi ích, nếu ta không chịu được sự khổ nhẹ nầy,
thời làm sao có thể ở nơi trong địa ngục để có thể
cứu khổ chúng sanh.
Lúc
Bồ Tát suy nghĩ như vậy thời thân chẳng biết khổ, tâm
chẳng thối chuyển, do đây Bồ Tát tự biết chắc rằng tôi
quyết định sẽ được vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lúc đó Bồ Tát còn đầy đủ phiền não,
vì chánh pháp mà có thể đem đầu mắt óc tủy tay chưn máu
thịt bố thí cho người, lấy đinh đóng trên thân, nhảy từ
gộp đá cao xuống, nhảy vào lửa. Dầu chịu lấy vô lượng
sự khổ như vậy, nhưng nếu trong lòng chẳng có niệm thối
chuyển, Bồ Tát nầy nên biết rằng nay tôi quyết định có
tâm bất thối, sẽ được vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát vì phá trừ khổ não cho tất
cả chúng sanh, nên nguyện làm thân súc sanh to lớn, đem máu
thịt bố thí cho chúng sanh.
Lúc
chúng sanh đến lấy máu ăn, Bồ Tát lại sanh lòng thương
xót, lúc đó Bồ Tát nín hơi chẳng thở làm như chết, để
cho những kẻ đến lấy thịt chẳng có quan niệm giết hại.
Dầu
BồTát thọ thân súc sanh nhưng trọn chẳng tạo nghiệp súc
sanh. Vì Bồ Tát đã được tâm bất thối chuyển, thời trọn
chẳng gây tạo ác nghiệp. Nếu đời vị lai Bồ Tát có nghiệp
quả ác nhỏ nhặt bất định, do sức nguyện lớn vì độ
chúng sanh nên đều thọ lấy đó. Như người bịnh bị
quỉ dựa ở ẩn trong thân, do oai lực của chú thuật, nên
liền hiện tướng quỉ : Hoặc nói hoặc cười, hoặc mừng
hoặc giận, hoặc mắng hoặc khóc. Đại Bồ Tát thọ lấy
nghiệp quả đời vị lai cũng như vậy.
Lúc
Bồ Tát thọ lấy thân gấu, thường vì chúng sanh mà diễn
nói chánh pháp. Hoặc lúc thọ thân chim Ca Tân Xà La, lúc thọ
thân Cù Đà thân nai, thân thỏ, thân voi, thân dê núi, thân
khỉ vượn, thân bồ câu trắng, thân kim súy điểu, thân rồng,
thân rắn, lúc thọ những thân súc sanh như vậy, nhưng trọn
chẳng gây tạo nghiệp ác súc sanh, mà thường vì những súc
sanh khác diễn thuyết chánh pháp, làm cho những súc sanh kia
nhờ nghe pháp mà được mau khỏi thân súc sanh.
Lúc
Bồ Tát thọ thân súc sanh mà chẳng gây tạo nghiệp ác nên
biết rằng quyết định có tâm bất thối.
Đại
Bồ Tát ở đời đói khát, thấy chúng sanh đói khát, nên
nguyện làm thân cá lớn dài nhiều do diên, lại nguyện những
chúng sanh nào lấy thịt của tôi, lấy rồi liền sanh trở
lại, ai ăn thịt của tôi thời được khỏi đói khỏi khát,
tất cả đều phát tâm vô thượng Bồ Đề, do nơi tôi mà
kẻ nào được khỏi đói khát, thời đời vị lai họ sẽ
mau được xa lìa khổ hoạn đói khát trong hai mươi lăm cõi.
Lúc
Đại Bồ Tát chịu sự khổ như vậy mà tâm chẳng thối chuyển,
thời nên biết quyết định sẽ được vô thượng Bồ
Đề.
Nhằm
đời tật dịch, Bồ Tát thấy nhiều người phải bịnh khổ,
bèn suy nghĩ rằng như cây
Dược
thọ, nếu người bịnh lấy rễ lấy cây, lấy nhánh, lấy
lá, lấy bông, lấy trái, lấy vỏ đều trị được lành bịnh.
Nguyện thân của tôi đây cũng như vậy, nếu người bịnh
nghe tiếng chạm đến thân ăn thịt uống máu, nhẫn đến
xương tủy đều trị lành bịnh. Nguyện chúng sanh lúc ăn
thịt tôi chẳng sanh lòng ác, đều có quan niệm như ăn thịt
con. Tôi trị cho họ được lành bịnh rồi sẽ thường vì
họ mà thuyết pháp. Nguyện họ nghe pháp kính tin lãnh thọ
suy gẫm rồi đem dạy lại người khác.
Bồ
Tát đầy đủ phiền não lúc chịu sự khổ nơi thân như vậy
vẫn chẳng thối cghuyển tâm Bồ Đề, nên biết quyết định
được tâm bất thối, sẽ thành vô thượng Bồ Đề
Nếu
có chúng sanh bị quỉ làm bịnh, Bồ Tát thấy việc nầy liền
phát nguyện làm thân quỉ to lớn mạnh mẽ, quyến thuộc đông,
khiến người bịnh kia nghe thấy liền hết bịnh quỉ.
Đại
Bồ Tát vì độ chúng sanh nên siêng tu khổ hạnh, dầu có
phiền não nhưng tâm chẳng nhiễm ô.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát dầu tu hành Lục Ba La
Mật, cũng chẳng cầu quả Lục Ba La Mật.
Lúc
tu hành Lục Ba La Mật vô thượng, Bồ Tát nguyện rằng : Nay
tôi đem Lục Ba La Mật nầy bố thí cho tất cả chúng sanh,
mỗi chúng sanh nhận lấy sự bố thí của tôi rồi thời đều
sẽ được thành vô thượng Bồ Đề. Tôi cũng tự vì Lục
Ba La Mật mà siêng tu khổ hạnh chịu những sự khổ não.
Lúc đương chịu khổ nguyện tôi chẳng thối tâm Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát lúc suy gẫm phát nguyện như
vậy thời gọi là tướng chẳng thối chuyển tâm Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn, vì biết
rõ sanh tử, có nhiều tội lỗi, quan sát Đại Niết Bàn có
công đức lớn, vì chúng sanh mà ở nơi sanh tử chịu những
sự khổ tâm chẳng thối chuyển, do đây nên gọi là Bồ Tát
chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát không có nhơn duyên mà vẫn sanh
lòng thương xót tất cả chúng sanh, thiệt chẳng thọ ơn mà
còn ghi ơn. Dầu thi ơn mà chẳng cần đền trả, do đây nên
lại gọi Đại Bồ Tát là chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Hoặc có chúng sanh vì lợi ích cho mình mà
tu các khổ hạnh. Đại Bồ Tát vì lợi ích cho người cho
chúng sanh mà tu khổ hạnh, dầu vậy nhưng vẫn gọi là lợi
ích cho mình, do đây nên Đại Bồ Tát lại gọi là chẳng
thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát đầy đủ phiền não, vì phá hoại quan niệm kẻ oán người
thân nên thọ những sự khổ để tu tâm bình đẳng, do đây
nên Bồ Tát lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát nếu thấy những chúng sanh hung ác thời hoặc quở trách,
hoặc nói dịu ngọt, hoặc đuổi, hoặc bỏ.
Với
những kẻ tánh ác, Bồ Tát thị hiện nói lời dịu dàng.
Với
kẻ kiêu mạn, Bồ Tát thị hiện làm ngã mạn lớn, nhưng
trong tâm của Bồ Tát thiệt không kiêu mạn. Đây gọi là
phương tiện của Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát đầy đủ phiền não, lúc của cải ít mà người cầu
xin nhiều, lòng Bồ Tát trọn chẳng hẹp nhỏ. Đây gọi là
Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.
Lúc
Đức Phật ra đời, Bồ Tát biết công đức của Phật, nhưng
vì chúng sanh mà thọ thân biên địa nơi chỗ không Phật,
như đui, như điếc, như què, như thọt. Đây gọi là Bồ Tát
chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát biết rõ chúng sanh có những tội lỗi, vì muốn độ họ
nên Bồ Tát thường cùng đi chung với họ, dầu làm theo ý
của họ nhưng vẫn không nhiễm lấy tội lỗi. Do đây nên
lại gọi Bồ Tát là chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát thấy biết rõ ràng không tướng chúng sanh, không phiền
não nhiễm ô, không người tu tập thánh đạo xa lìa phiền
não. Dầu vì Bồ Đề nhưng không hạnh Bồ Đề, cũng không
có người thành tựu hạnh Bồ Đề, không người thọ khổ
và người phá khổ mà cũng có thể vì chúng sanh phá hoại
sự khổ thật hành hạnh Bồ Đề. Do đây nên gọi Bồ Tát
là chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ
Tát thọ thân rốt sau ở cung trời Đâu Suất, đây cũng gọi
là chẳng thể nghĩ bàn. Vì trời Đâu Suất là hơn tất cả
trong cõi dục, cõi trời dưới thời tâm phóng dật, cõi trời
trên thời căn tánh ám độn, do đây nên trời Đâu Suất gọi
là hơn. Tu thí, tu giới thời được thân trời cõi trên và
cõi dưới. Tu thí, tu giới và tu định thời được thân trời
Đâu Suất.
Tất
cả Bồ Tát đã tự phá hoại tất cả cõi, trọn chẳng tạo
nghiệp trời Đâu Suất để thọ thân nơi cõi trời đó. Vì
Bồ Tát nếu ở nơi các cõi khác, cũng đều có thể giáo
hóa thành tựu chúng sanh, thiệt không có dục tâm mà lại
sanh vào cõi dục, do đây nên lại gọi là chẳng thể nghĩ
bàn.
Đại
Bồ Tát sanh ở trời Đâu Suất có ba việc thù thắng :
Một là mạng, hai là sắc, ba là danh.
Đại
Bồ Tát thiệt chẳng cầu mạng, sắc và danh, dầu không có
tâm mong cầu mà chỗ được lại thù thắng. Đại Bồ Tát
rất ưa thích Niết Bàn, nhưng có nhơn duyên nên mạng, sắc
và danh cũng thù thắng. Do đây nên lại gọi chẳng thể nghĩ
bàn.
Đại
Bồ Tát mạng, sắc, và danh dầu hơn Chư Thiên, nhưng Chư Thiên
đối với Bồ Tát chẳng có lòng giận, lòng ganh ghét, lòng
kiêu mạn, thường có lòng hoan hỷ. Bồ Tát đối với Chư
Thiên cũng chẳng kiêu mạn, nên lại gọi là chẳng thể nghĩ
bàn.
Đại
Bồ Tát chẳng tạo nghiệp nhơn thọ mạng, mà ở nơi trời
Đâu Suất kia, Bồ Tát được thọ mạng rốt ráo, đây gọi
là mạng thù thắng.