XXIII
PHẨM
SƯ TỬ HỐNG BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BA
Vua
Ba Tư Nặc liền xa giá đến lễ Phật và bạch rằng : “
Thế Tôn ! Vừa rồi sáu nhà ngoại đạo yêu cầu tôi cho phép
so đạo lực với đức Như Lai, tôi mạn phép đã hứa với
họ.”
Phật
nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Đại Vương ! Chỉ có điều
là nên ở trong nước nầy tạo lập thêm Tinh Xá. Vì nếu
ta cùng họ so sánh đạo lực thần thông , thời trong chúng
của họ tất sẽ có nhiều người qui phục theo ta, Tinh Xá
Kỳ Hoàn nầy không đủ chỗ để dung nạp.
Lúc
đó, đức Phật vì muốn điều phục sáu phái ngoại đạo,
nên trong mười lăm ngày hiện đại thần thông. Vô lượng
chúng sanh do đây mà phát tâm vô thượng Bồ Đề, vô lượng
chúng sanh qui tín ngôi Tam Bảo. Đồ chúng của sáu nhà ngoại
đạo, vô lượng người bỏ tâm tà kiến, xuất gia theo chánh
pháp. Vô lượng chúng sanh được bất thối đạo vô thượng
Bồ Đề. Vô lượng chúng sanh được Đà La Ni cùng chánh định.
Vô lượng chúng sanh chứng quả Tu Đà Hoàn đến quả A La
Hán.
Lúc
đó sáu nhà ngoại đạo hổ thẹn dắt nhau qua thành Bà Chỉ
Đa để truyền giáo.
Lúc
đó, đức Phật lên cung trời Đao Lợi an cư nơi cây Ba Lợi
Chất Đa, để vì mẹ và chư thiên mà thuyết pháp.
Sáu
nhà ngoại đạo hay tin mừng lắm, chia nhau đi truyền rao rằng
: Nay thật là hân hạnh, nhà ảo thuật Cù Đàm đã diệt mất.
Họ khuyến dụ vô số người tin theo tà kiến.
Vua
Tần Bà Ta La, vua Ba Tư Nặc và bốn bộ chúng thưa ngài Đại
Mục Kiền Liên rằng : Bạch Đại Đức ! Nay cõi Diêm Phù
Đề nầy tà kiến thạnh hành, chúng sanh đi vào chỗ tối
tăm, thật đáng thương xót. Ngưỡng mong Đại Đức lên cung
trời đảnh lễ Thế Tôn , thay lời chúng tôi bạch cùng
đức Phật : Như con nghé mới sanh, nếu không nhờ sữa trâu
mẹ chắc sẽ phải chết, chúng tôi và mọi người cũng như
vậy. Ngưỡng mong đức Như Lai thương xót chúng sanh mà trở
về.
Đại
Mục Kiền Liên yên lặng hứa khả, như trong khoảng co duỗi
cánh tay của đại lực sĩ, ngài đã lên đến cung trời Đao
Lợi bạch Phật rằng : “ Thế Tôn ! Tứ chúng trong cõi Diêm
Phù Đề khao khát được thấy Phật và được nghe pháp của
đức Như Lai. Vua Tần Bà Ta La, vua Ba Tư Nặc và đại
chúng đồng đảnh lễ đức Như Lai. Hiện nay chúng sanh trong
cõi Diêm Phù Đề mê theo tà kiến, đi trong bóng tối tăm thật
đáng thương xót, như con nghé mới sanh, nếu rời sữa mẹ
chắc sẽ phải chết, chúng tôi cũng như vậy. Ngưỡng mong
đức Như Lai vì thương xót chúng sanh mà trở lại Diêm Phù
Đề.
Phật
bảo : “ Ông mau trở về bảo các Quốc Vương và bốn bộ
chúng rằng : Sau bảy ngày đức Phật sẽ trở xuống. Vì sáu
nhà ngoại đạo, đức Phật sẽ đến nơi thành Bà Chỉ Đa.
Qua
bảy ngày, đức Phật cùng Đế Thích, Phạm Vương, với vô
lượng chư thiên rời cung trời xuống đến thành Bà Chỉ
Đa. Đức Phật tuyên rằng : Chỉ trong Phật pháp mới thiệt
có Sa Môn và Bà La Môn. Tất cả các pháp là vô thường, vô
ngã, Niết Bàn tịch tịnh rời những lỗi ác, nếu nói giáo
pháp khác cũng có Sa Môn và Bà La Môn, có thường, có ngã
có Niết Bàn đó thời không bao giờ đúng.
Khi
Phật tuyên những lời như trên, vô lượng vô biên chúng sanh
phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Sáu
nhà ngoại đạo bảo nhau rằng : “ Nếu trong giáo pháp của
chúng ta thiệt không có Sa Môn và Bà La Môn, tại sao lại
được người đời cúng dường. Bấy giờ sáu nhà ngoại
đạo lại tựu hội đồ chúng đi đến thành Tỳ Xá Ly.
Một
thời gian sau, đức Phật đến thành Tỳ Xá Ly ở trong rừng
cây Am La.
Hay
tin đức Phật ở trong rừng nầy, nàng Am La muốn đến ra
mắt đức Phật.
Lúc
đó đức Phật bảo các Tỳ Kheo : “ Các ông phải quán Tứ
Niệm Xứ, khéo tu trí huệ, phải tinh tấn , chớ phóng dật.
Thế
nào gọi rằng quán Tứ niệm xứ ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo quan
sát trong thân mình chẳng thấy ngã, chẳng thấy ngã sở, quan
sát ngoài thân và quan sát cả trong thân ngoài thân, đều chẳng
thấy có ngã và ngã sở. Quan sát thọ, tâm và pháp cũng như
vậy. Đây gọi là quan sát niệm xứ.
Thế
nào gọi là tu tập trí huệ ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo chơn thật
thấy tứ đế lý : Khổ tập diệt đạo, đây gọi là Thầy
Tỳ Kheo tu tập trí huệ.
Thế
nào gọi là tâm chẳng phóng dật ? Nếu có Thầy Tỳ Kheo niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm
Thiên. Đây gọi là Thầy Tỳ Kheo tâm chẳng phóng dật.
Bấy
giờ nàng Am La đến đảnh lễ và đi nhiễu Phật ba vòng,
rồi ngồi qua một bên.
Đức
Phật vì nàng Am La mà giảng nói chánh pháp. Nàng Am La sau khi
nghe pháp liền phát tâm vô thượng Bồ Đề. Lúc đó trong
thành Tỳ Xá Ly, có năm trăm Lê Xa Tử, đồng đến chỗ Phật
đảnh lễ đi nhiễu, rồi ngồi qua một bên.
Đức
Phật vì hàng Lê Xa Tử mà thuyết pháp rằng : Nầy các Thiện
Nam Tử ! Luận về người phóng dật có năm kết quả không
tốt ; Một là chẳng được của cải tự tại, hai là tiếng
xấu truyền xa, ba là chẳng thích bố thí cho người nghèo
thiếu, bốn là chẳng thích thấy bốn bộ chúng, năm là chẳng
đặng thân chư Thiên. Nầy các Thiện Nam Tử ! Do nơi chẳng
phóng dật có thể sanh ra pháp lành thế gian và xuất thế
gian. Nếu có người muốn được vô thượng Bồ Đề nên
phải siêng năng tu hạnh chẳng phóng dật.
Luận
về người phóng dật lại còn có mười ba quả báo : Một
là thích vì đời mà làm lụng, hai là thích nói những lời
vô ích, ba là thường thích nằm lâu ngủ nhiều, bốn là thích
nói việc đời, năm là thích gần gũi bạn ác, sáu là thích
biếng lười, bảy là thường bị người khác khinh dể, tám
là dầu có học hỏi liền quên mất, chín là thích ở nơi
biên địa, mười là chẳng thể điều phục các căn, mười
một là ăn chẳng biết đủ, mười hai là chẳng thích vắng
vẻ, mười ba là chỗ thấy biết chẳng chơn chánh.
Nầy
các Thiện Nam Tử ! Luận về người phóng dật dầu được
gần Phật và Thánh chúng, nhưng vẫn là cách xa.
Các
Lê Xa Tử bạch rằng : “ Chúng tôi tự biết mình là người
phóng dật. Vì nếu chúng tôi chẳng phóng dật, đấng Như
Lai Pháp Vương sẽ ra đời trong cõi nước của chúng tôi.
Lúc
đó trong đại hội có nhà Bà La Môn tên là Vô Thắng nói
với các Lê Xa Tử rằng : “ Phải lắm ! Đúng như lời các
ông nói . Vua Tần Bà Ta La được lợi ích lớn, vì đức Như
Lai Thế Tôn xuất hiện trong cõi nước đó. Như trong ao lớn
mọc lên hoa sen đẹp, hoa sen dầu mọc trong nước, nhưng nước
chẳng vấy lắm được.
Đức
Phật cũng như vậy, dầu xuất hiện trong nước kia mà chẳng
bị pháp thế gian làm trở ngại.
Chư
Phật không có xuất hiện, nhưng vì chúng sanh mà xuất hiện
ra đời, chẳng bị pháp thế gian làm trệ ngại.
Các
ông tự mê tham đắm nơi ngũ dục, chẳng biết gần gũi đức
Như Lai để nghe pháp, do đó nên gọi là hạng người phóng
dật. Chẳng phải đức Phật xuất hiện nơi nước Ma Già
Đà mà gọi các ông là người phóng dật. Vì đức Như Lai
như mặt trời, mặt trăng kia, chẳng phải vì một người
hai người mà xuất hiện ra đời.
Năm
trăm Lê Xa Tử nghe ông Đức Vô Thắng Bà La Môn nói những
lời như trên, liền phát tâm vô thượng Bồ Đề. Đồng tiếng
tán thán rằng : Lành thay ! Lành thay ! Vô Thằng đồng tử
nói những lời rất lành, rất hay như vậy. Các Lê Xa
Tử mỗi người cổi y đang đắp trên thân đem cúng thí
cho Vô Thắng.
Vô
Thắng nhận lấy đem dâng lên Phật, bạch rằng : “ Thế
Tôn ! Những y nầy tôi nhận lấy của hàng Lê Xa Tử, xin dâng
lên đức Thế Tôn. Ngưỡng mong đức Thế Tôn vì thương xót
chúng sanh mà nạp thọ.
Đức
Phật mở lòng từ bi liền lãnh lấy những y ấy.
Các
Lê Xa Tử đồng chắp tay bạch rằng ngưỡng mong đức
Như Lai an cư nơi nước nầy một mùa, và nhận sự cúng dường
của chúng tôi. Đức Phật yên lặng nhận lời thỉnh cầu
của Lê Xa Tử.
Lúc
đó, sáu nhà ngoại đạo nghe được việc nầy, thầy trò
kéo nhau đi qua thành Ba La Nại.
Đức
Phật lại đi qua thành Ba La Nại ở bên bờ sông Ba La.
Nơi
thành Ba La Nại có vị Trưởng giả tên là Bửu Xưng, ông
nầy say mê ngũ dục chẳng biết lý vô thường. Do Phật đến
ở,Trưởng giả Bửu Xưng tự nhiên chứng được bạch cốt
quán : Tự thấy nhà cửa, điện đường, vợ con, quyến thuộc,
tôi tớ, đều toàn là
những
bộ xương trắng. Lòng ông kinh sợ như sợ dao, rắn độc,
giặc cướp, lửa. Ông liền ra khỏi nhà, thẳng đến chỗ
Phật. Dọc đường, luôn miệng kêu rằng : Sa Môn Cù Đàm
! Nay tôi như là bị giặc rượt đuổi, lòng tôi quá kinh sợ,
xin mau cứu tôi !
Phật
bảo Trưởng giả : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Phật pháp và chúng
Tăng vẫn an onå, không sự lo sợ “.
Trưởng
giả bạch rằng : “ Nếu trong Tam Bảo không sự kinh sợ,
nay tôi cũng sẽ được không kinh sợ.”
Đức
Phật liền cho Trưởng giả xuất gia tu hành.
Trưởng
giả nầy lại có năm mươi người bạn thân, nghe tin Trưởng
giả Bửu Xưng nhàm chán dục lạc trong đời mà xuất gia,
liền cùng nhau đồng xuất gia.
Sáu
nhà ngoại đạo nghe việc nầy, liền dắt đồ chúng đi qua
thành Chiêm Bà.
Lúc
đó tất cả nhân dân trong nước Chiêm Bà đều cùng nhau phụng
sự sáu nhà ngoại đạo, họ chưa từng nghe danh hiệu của
Phật, Pháp, Tăng, phần đông gây tạo những nghiệp rất ác.
Đức
Phật vì chúng sanh nên lại đi qua thành Chiêm Bà.
Trong
thành nầy có vị đại Trưởng gỉa không con nối giòng, bèn
phụng thờ sáu nhà ngoại đạo để cầu con. Thời gian sau
vợ trưởng giả có thai. Trưởng giả vui mừng đến thưa
với sáu nhà ngoại đạo : Vợ tôi có thai là nam hay nữ ?
Sáu
nhà ngoại đạo đáp rằng : “ Chắc chắn sẽ sanh con gái”.
Trưởng
giả nghe lời nầy sanh lòng sầu não. Thân hữu hỏi Trưởng
giả : “ Cớ sao ông quá sầu não như vậy ?”
Trưởng
giả đáp vợ tôi có thai chưa biết là nam hay nữ nên tôi
đến hỏi lục sư, các ngài bảo chắc chắn là con gái. Tôi
tự nghĩ tuổi đã già, sự nghiệp to lớn, tài sản vô lượng.
Nếu không phải con trai thời không người giao phó. Do đây
nên tôi sầu não.
Thân
hữu nói rằng : “ Ông không có trí huệ, ngày trước ông
cũng đã nghe rằng ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là đệ
tử của ai ? Đệ tử của Phật hay đệ tử của lục sư
? Nếu lục sư là bực nhứt thiết trí, sao ba anh em Ca Diếp
bỏ họ mà làm đệ tử của Phật ? Lại Xá Lợi Phất, Đại
Mục Kiền Liên, các vị Quốc Vương như Tần Bà Ta La, các
vị phu nhơn như Bà Mạt Lợi, các vị đại Trưởng giả như
ông Tu Đạt Đa, những người ấy chẳng phải là đệ tử
của Phật ư ?
Khoáng
Dã quỉ thần, vua A Xà Thế, Voi say, Ươn Quật Ma La ác tâm
muốn hại mẹ, những người nầy há chẳng phải nhờ đức
Phật điều phục ư ?
Đức
Như Lai Thế Tôn biết rõ tất cả Pháp không bị chướng ngại
nên hiệu là Phật. Lời nói ra duy nhứt, không dời đổi,
nên hiệu là Như Lai. Dứt hết phiền não nên gọi là A La
Hán. Đức Thế Tôn phàm có nói ra trọn không sai. Lục sư
chẳng phải như vậy, đâu đáng tin được.
Nay
đức Như Lai đang ở nước nầy gần nơi đây, nếu ông muốn
biết sự thiệt thời nên đến Phật.
Lúc
đó Trưởng giả cùng thân hữu đến chỗ Phật đảnh lễ
đi nhiễu ba vòng, rồi quì chấp tay bạch rằng : “ Đức
Thế Tôn đối với chúng sanh bình đẳng không oán không thân.
Tôi còn bị tham ái ràng buộc, nay muốn hỏi đức Thế Tôn
một việc, nhưng tự mình hổ thẹn chưa dám nói ra.
Bạch
Thế Tôn ! Vợ tôi có thai, lục sư bảo rằng chắc chắn là
con gái. Xin đức Phật phán việc ấy thế nào ?”
Phật
nói : “ Nầy Trưởng giả, vợ ông có thai quyết định
là trai, đứa trẻ nầy sau khi sanh ra thời phước đức không
ai bằng.”
Trưởng
giả nghe lời Phật dạy vui mừng làm lễ tạ đức Phật mà
trở về nhà.
Sáu
nhà ngoại đạo nghe Phật huyền ký vợ Trưởng giả quyết
định sẽ sanh con trai có phước đức lớn, lòng họ ganh ghét,
họ liền lấy trái Am La tẩm thuốc độc, rồi mang đến nhà
biếu Trưởng giả mà nói rằng : Tốt thay ! Ông Cù Đàm bàn
điều ấy rất hay. Gần ngày sanh vợ ông nên uống thuốc
nầy sẽ bảo đảm cho mẹ cùng con lúc sanh sản không bịnh
hoạn.
Trưởng
giả mừng lắm nhận lấy thuốc của lục sư cho vợ uống.
Uống xong vợ Trưởng giả trúng độc mà chết.
Lục
sư vui mừng chia nhau đi khắp trong thành truyền rao rằng :
Sa Môn Cù Đàm tự khoe là nhứt thiết trí, nói vợ Trưởng
giả sẽ sanh con trai phước đức không ai sánh bằng, nay con
chưa sanh mà mẹ đã chết.
Trưởng
giả lại đối với Phật mất cả lòng tin. Ông liền theo
nghi lễ thế gian tẩn liệm thây vợ, rồi đưa ra ngoài thành
chất củi để thiêu.
Do
đạo nhãn thấy rõ việc nầy, đức Phật bảo A Nan đem y
đến cho Phật đắp và bảo rằng : Ta muốn đến chỗ hỏa
táng để trừ dứt tà kiến cho chúng sanh.
Lúc
đó Tỳ Sa Môn Thiên Vương bảo Thiên tướng là Na Ni Bạt
Đà rằng : Nay đức Như Lai muốn đến khu gò mã, khanh
phải mau đến đó sửa sang quét tước trải tòa sư tử, rải
những hoa đẹp hương thơm, trần thiết trang nghiêm chỗ ấy.
Lục
sư thấy Phật đàng xa đi đến họ bảo nhau rằng : Sa Môn
Cù Đàm đến trong gò mã nầy hoặc giả muốn ăn thịt ư
!
Lúc
bấy gìơ nơi ấy có nhóm Ưu Bà Tắc chưa chứng được
pháp nhãn, nghe lời nói của lục sư thời đều hổ thẹn
cùng nhau đón Phật bạch rằng : Vợ của Trưởng giả đã
chết, xin Thế Tôn chớ đến đó.
A Nan
liền nói với các vị Ưu Bà Tắc : “ Các ông chờ giây lát,
đức Như Lai sẽ hiển bày cảnh giới của chư Phật.
Phật
đến gò mả lên ngồi tòa Sư Tử.
Trưởng
giả đến trước Phật trách rằng : “ Bực nhứt thiết trí
lời nói ra đúng sự thật không sai mới đáng gọi là Thế
Tôn. Nay mẹ thời đã chết mất làm sao sanh được con trai
phước đức ?”
Phật
bảo Trưởng giả : “Hôm trước ông chẳng hỏi tôi về sự
chết sống của bà mẹ. Chỉ hỏi có thai là trai hay gái.
Chư
Phật Như Lai phàm lời nói ra đúng thật không sai, do đây
nên phải biết rằng ông quyết định sẽ được con trai phước
đức.
Lúc
đó lửa thiêu tử thi bụng nứt ra, có đứa trẻ trai từ
trong bụng lọt ra ngồi ngay thẳng trong lửa như chim Oan Ương
đậu trên gương sen.
Lục
sư ngó thấy lại to tiếng la lên rằng : “ Sa Môn Cù Đàm
là yêu quái khéo làm aỏ thuật.”
Trưởng
giả vui mừng quở trách lục sư : Nếu cho là ảo thuật tại
sao các ông chẳng làm. Phật liền bảo Kỳ Bà : “Ông vào
trong lửa bồng đứa bé lại đây.”
Kỳ
Bà đi đến gần đống lửa, lục sư lật đật đi đến kéo
lại nói rằng : “ Sa Môn Cù Đàm làm ảo thuật chưa ắt
là luôn được hoàn toàn, nếu ông vào trong lửa e không khỏi
bị hại. Sao ông lại quá tin lời của Cù Đàm.
Kỳ
Bà đáp rằng : “ Giả sử đức Như Lai ra vào địa ngục
A Tỳ, lửa dữ trong địa ngục còn không đốt cháy được
huống là lửa trong thế gian.
Lúc
đó Kỳ Bà đi thẳng vào trong đống lửa như vào trong nước
mát mẻ, bồng đứa trẻ trở ra đến chỗ Phật, hai tay trao
đứa trẻ cho Phật.
Đức
Phật tiếp lấy đứa trẻ mà bảo Trưởng giả rằng : “
Tất cả chúng sanh thọ mạng chẳng quyết địng như bóng
nước nổi trên mặt nước. Nếu chúng sanh không có nghiệp
quả sâu nặng thời lửa chẳng cháy được, độc chẳng hại
được. Phước đức của trẻ nầy chẳng phải là ta làm
ra.
Trưởng
giả bạch rằng : “ Lành thay ! Bạch Thế Tôn ! Ngưỡng mong
đức Như Lai đặt tên cho nó”. Đức Phật nói : Nầy Trưởng
giả ! Trẻ nầy sanh ở trong đống lửa lớn, lửa gọi là
thọ đề, nên đặt tên cho nó là Thọ Đề.”
Lúc
đó quần chúng hiện diện nghe và thấy việc nầy vô lượng
người phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Sau
đó sáu nhà ngoại đạo kéo nhau đi khắp cả sáu nước lớn
không chỗ nào ở yên được, họ lại đến nơi thành Câu
Thi Na, họ chia nhau đi truyền rao rằng : Mọi người nên biết
rằng Sa Môn Cù Đàm là nhà đại ảo thuật, phỉnh gạt trong
thiên hạ khắp hết sáu nước lớn. Như nhà ảo thuật hoá
làm bốn đạo binh chiến xa, chiến mã, voi trận, bộ binh.
Lại biến hoá làm các thứ châu báu, cung điện, thành trì,
sông ngòi , cây cối. Sa Môn Cù Đàm cũng như vậy, huyễn hóa
làm ra thân vua để thuyết pháp, hoặc biến làm Sa Môn, Bà
La Môn, biến làm thân nam, người nữ, thân nhỏ, thân lớn,
hoặc biến làm thân súc sanh quỉ thần, hoặc nói vô thường,
hoặc nói thường trụ, có lúc nói là khổ, có lúc nói là
vui, hoặc nói có ngã, hoặc nói không ngã, có tịnh, không
tịnh, lúc thời nói có lúc lại nói không, đó là những
lời hư vọng nên gọi là ảo thuật.
Như
nhơn hột giống mà có trái, Sa Môn Cù Đàm cũng như vậy,
do bà Ma Da sanh ra, mẹ đã là huyễn ảo thời con không thể
chẳng phải là huyễn ảo. Sa Môn Cù Đàm không có tri kiến
chơn thật. Các vị Bà La Môn trải qua nhiều năm tu tập khổ
hạnh giữ gìn cấm giới còn tự nói rằng chưa có tri kiến
chơn thật. Huống là Cù Đàm tuổi còn trẻ, học lực cạn
cợt, chẳng tu khổ hạnh, làm sao có được tri kiến chơn
thật, nếu có thể khổ hạnh đủ bảy năm còn chẳng phải
là nhiều, huống là Cù Đàm tu tập khổ hạnh chẳng đầy
sáu năm. Có người ngu vô trí mới tin học theo giáo pháp của
Cù Đàm. Như nhà huyễn thuật phỉnh gạt người ngu, Sa Môn
Cù Đàm cũng như vậy. Sáu nhà ngoại đạo ở trong thành Câu
Thi Na nầy làm cho chúng sanh thêm nhiều tà kiến.
Phật
bảo Sư Tử Hống Bồ Tát : “ Ta thấy việc như vậy sanh
lòng xót thương, nên dùng thần lực triệu thỉnh các vị
Bồ Tát ở mười phương vân tập trong rừng nầy chật cả
bốn mươi do diên. Nay ở nơi đây ta hiện đại Sư Tử
Hống.
Ở
nơi chổ trống trải vắng vẻ dầu có thuyết pháp nhiều
cũng chẳng được gọi là Sư Tử Hống. Ở trong đại chúng
toàn bực trí huệ như đây mà thuyết pháp mới được gọi
là chơn thật đại Sư Tử Hống.
Sư
Tử Hống là thuyết minh tất cả pháp đều vô thường, khổ,
vô ngã, bất tịnh. Chỉ nói Như Lai là thường, lạc, ngã,
tịnh.
Lục
sư lại nói rằng : Nếu Cù Đàm có ngã ta cũng có ngã.
Chỗ nói là ngã đó : Cái thấy gọi là ngã.
Nầy
Cù Đàm ! Ví như có người hướng trong đây thấy đồ vật,
ngã cũng như vậy. Hướng là dụ cho con mắt, người thấy
dụ cho ngã.
Phật
bảo lục sư : “ Nếu nói cái thấy gọi là ngã, thời không
đúng nghĩa. Vì điều dụ của các ông vừa dẫn ra nhơn hướng
mà thấy, người ở một hướng, sáu căn đều có tác dụng.
Nếu quyết địng có ngã nhơn nơi con mắt mà thấy, sao lại
chẳng như trong một nhãn căn kia đều nhận biết các trần
cảnh ? Nếu trong một căn chẳng thể đồng thời nghe cả
sáu trần, phải biết rằng đó là không có ngã. Điều dụ
hướng thấy vật, dầu trãi qua trăm năm, người thấy nhơn
nơi đó chỗ thấy vẫn không khác. Nhãn căn nếu như vậy,
đến lúc tuổi già mắt kém lẽ ra không khác. Người cùng
hướng khác nhau, thấy trong thấy ngoài, nhãn căn nếu như
vậy lẽ ra cũng trong ngoài đồng một thời đều thấy. Nếu
là chẳng thấy, sao lại có ngã.
Lục
sư lại nói rằng : “ Nầy Cù Đàm ! Nếu không có ngã, thời
ai có thể thấy ? Phật nói có sắc, có ánh sáng, có tâm,
có nhãn căn, bốn duyên nầy hòa hiệp nên gọi là có thấy.
Trong đây thiệt không có người thấy người thọ. Vì điên
đảo nên chúng sanh cho là có người thấy có kẻ thọ. Do
nghĩa nầy nên tất cả chúng sanh chỗ thấy biết đều điên
đảo, chỗ thấy biết của chư Phật và Bồ Tát là chơn thật.
_ Nầy
Lục sư ! Nếu nói rằng sắc là ngã thời cũng chẳng phải.
Vì sắc thiệt cũng chẳng phải là ngã. Sắc nếu là ngã lẽ
ra chẳng nên có hình dạng xấu xa. Cớ sao lại có bốn tánh
sai khác, chẳng đồng một dòng Bà La Môn ư ? Sao lại có kẻ
nô lệ chẳng tự do ? Có người tàn tật, lúc sanh ra căn thân
chẳng đầy đủ ? Cớ sao chẳng làm thân chư thiên, mà lại
thọ thân địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ ? Nếu chẳng có thể
tùy ý để làm ra thân, nếu biết rằng quyết định là không
có ngã. Do vì không ngã nên gọi là vô thường,. Vì vô thường
nên phải khổ. Vì khổ nên là rỗng không. Vì rỗng không
nên điên đảo. Vì điên đảo nên tất cả chúng sanh lưu
chuyển trong vòng sanh tử.
Như
sắc, thọ tưởng hành và thức cũng vậy.
Nầy
Lục sư, Đức Như Lai Thế Tôn dứt hẳn sự ràng buộc
của sắc cũng như dứt hẳn sự ràng buộc của thức v.v…,
vì thế nên Như Lai gọi là thường, lạc, ngã, tịnh.
Lại
sắc chính là nhơn duyên. Nếu đã là nhơn duyên thời
gọi là vô ngã. Nếu là vô ngã thời gọi là khổ không.
Thân
của Như Lai chẳng phải nhơn duyên. Vì chẳng phải nhơn duyên
nên gọi là có ngã. Nếu có ngã thời chính là thường, lạc,
ngã, tịnh.
Lục
sư lại nói : “ Nầy Cù Đàm ! Sắc chẳng phải ngã nhẫn
đến thức cũng chẳng phải ngã, thế thì ngã khắp tất cả
chỗ như hư không.
Phật
nói : “ Nếâu khắp mọi chỗ đều có ngã, thời lẽ ra chẳng
nên nói rằng : Trước kia tôi chẳng thấy. Nếu trước kia
chẳng thấy, thời biết rằng sự thấy nầy trước không
nay có, nên gọi là vô thường. Nếu gọi là vô thường sao
lại nói là khắp được.
Nếu
ngã là khắp tất cả chỗ đều có, lẽ ra phải có đủ tất
cả thân trong năm loài. Nếu có đủ thân, thời lẽ ra đều
thọ báo. Nếu đã đều thọ báo, sao lại nói rằng trở lại
thọ thân người thân trời …?
Các
ông nói ngã là khắp đó, thời ngã là một hay là nhiều ?
Ngã
nếu là một thời lẽ ra không có cha con, kẻ thù người thân.
Ngã nếu là nhiều, căn thân của tất cả chúng sanh lẽ ra
đều đồng như nhau, bao nhiêu những việc làm và trí huệ
lẽ ra cũng đồng như vậy, nếu đồng như nhau, sao lại nói
rằng có người thân căn đầy đủ, có người thiếu kém
tàn tật, nghiệp lành nghiệp ác, kẻ ngu người trí khác
nhau
?”
_ Nầy
Cù Đàm ! Ngã của chúng sanh không có ngằn mé, pháp cùng phi
pháp thời có chừng ngằn. Chúng sanh thật hành đúng pháp
thời được thân tốt đẹp. Nếu chúng sanh thật hành phi
pháp thời mang thân xấu xa. Do nghĩa nầy nên nghiệp quả của
chúng sanh chẳng được không sai khác.
_ Nầy
Lục sư !Nếu pháp cùng phi pháp là như vậy thời ngã chẳng
cùng khắp. Nếu ngã là cùng khắp thời lẽ ra đều đến
tất cả. Nếu ngã đều đến tất cả thời người thật
hành pháp lành lẽ ra cũng có ác, người thật hành điều
ác lẽ ra cũng có lành. Nếu không như vậy sao lại nói rằng
ngã là cùng khắp.
_ Nầy
Cù Đàm ! Như trong một nhà thắp trămngàn ngọn đèn, mỗi
ngọn đèn tự chiếu sáng chẳng trở ngại nhau. Ngã của chúng
sanh cũng như vậy, thật hành điều lành điều ác chẳng xen
lộn nhau.
_ Nầy
Lục sư ! Nếu các ông nói rằng ngã như ngọn đèn thời không
đúng nghĩa. Vì ánh sáng ngọn đèn kia theo duyên mà có, ngọn
đèn thêm lớn thời ánh sáng cũng thêm nhiều. Ngã của chúng
sanh chẳng phải như vậy. Ánh sáng từ ngọn đèn chiếu ra,
chỗ của ánh sáng khác chỗ với ngọn đèn. Ngã của chúng
sanh chẳng được từ nơi thân mà ra ở nơi chỗ khác. Áng
sáng của ngọn đèn kia ở chung chỗ với bóng tối, vì như
trong căn nhà tối, lúc thắp một ngọn đèn chiếu chẳng sáng
tỏ, thắp nhiều ngọn đèn thời được tỏ sáng. Nếu ngọn
đèn ban đầu phá hết bóng tối thời lẽ ra chẳng cần đến
ngọn đèn sau. Nếu cần phải nhờ ngọn đèn sau mới hết
bóng tối, thời nên biết rằng áng sáng của ngọn đèn ban
đầu cùng ở chung chỗ với bóng tối.
_ Nầy
Cù Đàm ! Nếu là không có ngã thời ai làm lành làm ác ?
_ Nếu
là ngã tạo tác thời sao lại gọi là thường ? Nếu ngã là
thường, tại sao có lúc làm lành, có lúc lại làm ác ? Nếu
cho rằng có lúc làm lành, có lúc làm ác, tại sao lại nói
rằng ngã không ngằn mé. Nếu là ngã tạo tác, cớ chi lại
tập làm điều ác. Nếu như ngã là tác giả, là tri giả,
cớ chi lại sanh nghi rằng chúng sanh không có ngã.
Do
nghĩa trên đây nên biết rằng trong pháp của ngoại đạo
quyết định không có ngã. Nếu nói là ngã, thời nên biết
rằng chính là đức Như Lai, vì thân Như Lai không ngằn mé,
không ngờ vực, chẳng làm chẳng thọ, nên gọi là thường
trụ. Như Lai bất sanh bất diệt nên gọi là lạc, vì Như
Lai không có phiền não nên gọi là tịnh, không có mười tướng
nên gọi là không. Do đây nên Như Lai là thường, lạc, ngã,
tịnh, rỗng rang không có các tướng.
Các
nhà ngoại đạo nói rằng : “ Nếu nói Như Lai là thường,
lạc, ngã, tịnh vì không có tướng nên là không, phải biết
rằng giáo pháp của Cù Đàm nói ra thời chẳng phải là không
vậy. Vì thế nên nay chúng ta phải cung kính thọ trì
Lúc
đó trong hàng ngoại đạo có vô lượng người sanh lòng kính
tin xuất gia theo Phật pháp.
Phật
bảo Sư Tử Hống Bồ Tát : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Do nhơn
duyên nên ta ở nơi rừng Ta La Song Thọ nầy hiển bày
Đại Sư Tử Hống. Sư Tử Hống gọi là Đại Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Cặp cây bên hướng Đông tiêu biểu rằng
phá vô thường mà được thường trụ. Cặp cây bên hướng
Nam tiêu biểu rằng phá khổ mà được lạc. Cặp cây bên
hướng Tây tiêu biểu rằng phá vô ngã mà được chơn ngã.
Cặp cây bên hướng Bắc tiêu biểu rằng phá bất tịnh mà
được chơn tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh trong đây vì bốn cặp cây Song Thọ
nên bảo hộ rừng Ta La, chẳng cho người ngoài đến bẻ nhánh
hái lá đốt chặt phá hoại. Ta cũng như vậy, vì bốn pháp
thường, lạc, ngã, tịnh, nên khiến hàng đệ tử hộ trì
Phật pháp.
Bốn
cặp Song Thọ nầy bốn Đại Vương quản trị săn sóc. Ta
vì bốn Đại Vương hộ trì chánh pháp của ta, nên ta ở trong
đây mà nhập Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử !Bốn cặp cây Ta La nầy bông trái thường sum
sê, thường có thể lợi ích cho vô lượng chúng sanh. Ta cũng
như vậy, thường có thể lợi ích cho vô lượng Thanh Văn
Duyên Giác. Bông dụ cho ngã, trái dụ cho lạc. Do nghĩa nầy
nên ta ở trong rừng cây Ta La Song Thọ nhập đại tịch diệt.
Đại tịch diệt đây gọi là Đại Niết Bàn.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Cớ gì Đức
Như Lai nhập Niết Bàn trong tháng hai ?”
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tháng hai gọi là mùa xuân, tháng mùa xuân muôn
vật đều sanh trưởng, gieo trồng cây cối, bông trái tươi
tắn xinh đẹp, sông rạch đầy nước, trăm thú sanh sản,
do đây nên chúng sanh phần nhiều có quan niệm là thường
là vui.
Vì
phá quan niệm cho là thường như vậy, nên ta nói tất cả
pháp đều là vô thường, chỉ nói đức Như Lai là thường
trụ chẳng biến đổi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ở trong ba mùa sáu tiết, mạnh đông cây cối
khô héo, mọi người chẳng ưa thích. Mạnh xuân hòa ấm mọi
người tham ưa. Vì phá sự tham ưa thế gian của chúng sanh
nên ta diễn nói thường, lạc, ngã, tịnh. Đức Như Lai vì
phá thế ngã, thế tịnh, nên nói Như Lai là chơn thiệt ngã
tịnh.
Nói
tháng hai là dụ cho hai thứ pháp thân của Như Lai.
Mùa
đông chẳng ưa thích, là người trí chẳng thích Như Lai vô
thường nhập Niết Bàn. Tháng hai mùa xuân vui thích, là dụ
cho người trí ưa thích Như Lai : Thường, lạc, ngã, tịnh.
Gieo trồng dụ cho chúng sanh nghe pháp vui mừng phát tâm
vô thượng Bồ Đề, vun trồng các căn lành. Sông rạch là
dụ cho các Đại Bồ Tát ở mười phương đến chỗ ta nghe
học kinh Đại Niết Bàn.
Trăm
thú sanh sản là dụ cho hàng đệ tử của ta sanh các căn lành.
Bông
là dụ cho bảy giác chi. Trái là dụ cho bốn đạo quả.
Do
những nghĩa nầy, nên ta nhập Niết Bàn trong tháng hai.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Đức Như Lai
lúc sơ sanh, xuất gia, thành đạo chuyển pháp luân đều ở
vào ngày mùng tám, cớ cho riêng nhập Niết Bàn ở đêm rằm
?
Phật
bảo : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Như mặt
trăng rằm tròn đầy không khuyết, chư Phật Như Lai cũng như
vậy, nhập Đại Niết Bàn không có kém khuyết. Vì thế nên
Như Lai nhập Niết Bàn vào đêm rằm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như đêm rằm, lúc mặt trăng tròn có mười
một điều : Một là phá tối tăm ; hai là khiến chúng sanh
thấy rõ đường sá, ba là khiến chúng sanh thấy đường ngay
đường cong ; bốn là trừ nóng nực được mát mẻ ; năm
là phá lòng cao ngạo của lửa đom đóm ; sáu là dứt tất
cả tưởng niệm trộm cướp ; bảy là trừ lòng sợ ác thú
của chúng sanh ; tám là có thể làm cho hoa sen xanh nở ; chín
là làm cho hoa sen búp lại ; mười là dẫn phát lòng tiến
lên của kẻ đi đường ; mười một là làm cho chúng sanh
thích ngũ dục được nhiều khoái lạc.
Như
Lai cũng như vậy : Một là phá hoại vô minh ; hai là diễn
thuyết chánh pháp, tà pháp ; ba là chỉ bày sanh tử là tà
hiểm, Niết bàn là bằng thẳng ; bốn là làm cho người xa
lìa phiền não tham, sân si ; năm là phá hoại ánh sáng của
ngoại đạo ; sáu là phá hoại giặc kiết sử ; bảy là trừ
tâm lo sợ ngũ cái ; tám là làm nẩy nở lòng vun trồng căn
lành của chúng sanh ; chín là che trùm tâm ngũ dục của chúng
sanh ; mười là phát khởi hạnh tiến tu công hạnh Đại Niết
Bàn cho chúng sanh ; mười một là làm cho chúng sanh thích tu
hạnh giải thoát.
Do
đây nên ta nhập Đại Niết Bàn vào ngày rằm. Dầu vậy,
nhưng thật ra ta chẳng có nhập Đại Niết Bàn. Trong hàng
đệ tử của ta, những kẻ ngu si, kẻ ác cho rằng Như Lai
quyết định nhập Niết Bàn.
Như
bà mẹ kia có đông con. Một hôm bà mẹ bỏ đi đến nước
khác, trong thời gian chưa trở về, các con đều nói rằng
mẹ đã chết mất, nhưng thật ra bà mẹ nầy không chết.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Hạng Tỳ Kheo
nào có thể trang nghiêm rừng Ta La Song Thọ nầy ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo nào thọ trì đọc tụng mười
hai bộ kinh, văn nghĩa đúng, thông đạt thâm nghĩa, giải thuyết
cho mọi người, chỗ thuyết pháp trước sau giữa đều lành
hay, vì muốn lợi ích cho vô lượng chúng sanh mà diễn thuyết
phạm hạnh. Tỳ Kheo nầy có thể trang nghiêm rừng Ta La Song
Thọ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như chỗ tôi hiểu nghĩa của Đức Phật vừa dạy,
thời Tỳ Kheo A Nan chính là người trang nghiêm vậy. Vì A Nan
thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, vì đại chúng mà khai
thị diễn thuyết, lời cùng nghĩa đều chơn chánh.
Như
đem nước rót vào bình, A Nan cũng như vậy, đúng như chỗ
đã nghe nơi đức Phật đem diễn thuyết lại cho mọi người.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo đặng thiên nhãn thanh tịnh,
thấy đại thiên thế giới ở mười phương như thấy trái
am ma lặc trong bàn tay, Tỳ Kheo nầy cũng có thể trang nghiêm
rừng Ta La Song Thọ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu như vậy thời Tỳ Kheo A Nâu Lâu Đà chính
là người trang nghiêm, vì A Nâu Lâu Đà có thiên nhãn thấy
rõ đại thiên thế giới, tất cả những loài những vật
cho đến thân trung ấm đều thấy rõ ràng không chướng ngại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo thiểu dục tri túc, tâm thích
tịch tịnh, siêng tu tinh tấn chánh niệm, chánh định, chánh
huệ, giải thoát, Tỳ Kheo nầy có thể trang nghiêm rừng Ta
La Song Thọ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu như vậy thời Tỳ Kheo Đại Ca Diếp chính
là người trang nghiêm, vì Đại Ca Diếp khéo tu những công
hạnh thiểu dục tri túc v.v…
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu Tỳ Kheo vì lợi ích chúng sanh chẳng vì
lợi dưỡng mà tu tập thông đạt vô tránh tam muội, thánh
hạnh, không hạnh, Tỳ Kheo nầy thời có thể trang nghiêm rừng
Ta La Song Thọ.
_ Bạch
Thế Tôn ! nếu như vậy thời Tỳ Kheo Tu Bồ Đề chính là
người trang nghiêm. Vì Tu Bồ Đề khéo tu tập hạnh vô tránh,
thánh hạnh, không hạnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo khéo tu tập thần thông, trong
khoảng một niệm có thể hiện các thứ thần thông biến
hoá, một tâm một định có thể hiện làm hai thứ là nước
với lửa, Tỳ Kheo nầy thời có thể trang nghiêm rừng Ta La
Song Thọ.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu như vậy thời Tỳ Kheo Đại Mục Kiền Liên
chính là người trang nghiêm. Vì Đại Mục Kiền Liên khéo
tu thần thông biến hoá vô lượng.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo tu tập đại trí, lợi trí,
tập trí, giải thoát trí, thậm thâm trí, quảng trí, vô biên
trí, vô thắng trí, thật trí, thành tựu đầy đủ trí huệ
như vậy, tâm bình đẳng đối với người thân kẻ thù nghe
đức Như Lai nhập Niết Bàn chẳng lo buồn, nếu nghe Như Lai
thường trụ chẳng nhập Niết Bàn cũng chẳng mừng rỡ, Tỳ
Kheo nầy thời có thể trang nghiêm rừng Ta La Song Thọ.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu như vậy thời Tỳ Kheo Xá Lợi Phất chính
là người trang nghiêm. Vì Xá Lợi Phất khéo thành tựu đầy
đủ đại trí huệ như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo có thể nói chúng sanh đều
có Phật tánh, được thân Kim Cang không có ngằn mé, thường,
lạc, ngã, tịnh, thân tâm vô ngại được tám môn tự tại.
Tỳ Kheo nầy thời có thể trang nghiêm rừng Ta La Song Thọ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu như vậy thời chỉ có đức Như Lai mới là
người trang nghiêm. Vì thân Như Lai là thân Kim Cang không ngằn
mé, là thường, lạc, ngã, tịnh, thân tâm vô ngại đủ tám
môn tự tại.
Bạch
Thế Tôn ! Chỉ có đức Như Lai mới có thể trang nghiêm rừng
Ta La Song Tho, nếu không đức Như Lai thời chẳng trang nghiêm.
Ngưỡng mong đấng Đại Từ Bi vì trang nghiêm mà thường
ở trong rừng Ta La nầy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả các pháp tánh vốn trụ nơi vô trụ,
sao ông lại cầu mong đức Như Lai trụ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Phàm nói rằng trụ đó thời gọi là sắc
pháp từ nơi nhơn duyên mà sanh, nên gọi là trụ. Nhơn duyên
không nơi chỗ nên gọi là vô trụ.
Đức
Như Lai đã dứt tất cả sự ràng buộc của sắc, sao lại
nói rằng Như Lai trụ ? Như sắc pháp, thọ tưởng hành thức
cũng vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trụ gọi là kiêu mạn, vì kiêu mạn nên
chẳng được giải thoát, vì chẳng được giải thoát nên
gọi là trụ. Ai có kiêu mạn ? Từ chỗ nào mà đến ? Do đây
nên được gọi là trụ nơi vô trụ.
Đức
Như Lai đã dứt tất cả kiêu mạn, sao lại nói rằng ngưỡng
mong đức Như Lai trụ ?
Trụ
đó gọi là pháp hữu vi, đức Như lai đã dứt pháp hữu vi,
nên là chẳng trụ.
Trụ
đó gọi là pháp không, Đức Như Lai đã dứt pháp không như
vậy nên được thường, lạc, ngã, tịnh. Tại sao nói rằng
ngưỡng mong đức Như Lai trụ ?
Trụ
đó gọi là hai mươi lăm cõi. Đức Như lai đã dứt hai mươi
lăm cõi. Sao lại nói rằng ngưỡng mong đức Như Lai trụ ?
Trụ
đó chính là tất cả phàm phu. Các bực thánh nhơn thời không
khứ, không lai, không trụ. Đức Như Lai đã dứt những tướng
khứ, lai, trụ. Sao lại nói rằng ngưỡng mong đức Như Lai
trụ ?
Luận
về vô trụ gọi là vô biên thân. Vì thân vô biên nên chớ
nói rằng ngưỡng mong đức Như Lai trụ nơi rừng Ta La. Nếu
trụ nơi rừng nầy thời là hữu biên. Nếu là thân hữu biên
thời là vô thường. Đức Như Lai là thường, sao lại nói
rằng trụ ?
_ Luận
về vô trụ gọi là hư không, tánh của Như Lai đồng với
hư không, sao lại nói rằng trụ ?
Lại
vô trụ gọi là Kim Cang Tam Muội. Kim Cang Tam Muội phá hoại
tất cả trụ. Kim Cang Tam Muội chính là Như Lai, sao lại nói
rằng trụ ?
Lại
vô trụ gọi là huyễn, Như Lai đồng huyễn, sao lại
nói rằng trụ ?
Lại
vô trụ gọi là vô chung vô thỉ, tánh Như Lai không có thỉ
chung, sao lại gọi rằng trụ.
Lại
vô trụ là pháp giới vô biên, pháp giới vô biên chính là
Như Lai, sao lại nói rằng trụ ?
Lại
vô trụ gọi là Thủ Lăng Nghiêm tam muội. Tam muội nầy biết
tất cả pháp mà không chấp trước, vì không chấp trước
nên gọi là Thủ Lăng Nghiêm. Đức Như Lai đầy đủ chánh
định Thủ Lăng Nghiêm, sao lại gọi rằng trụ ?
Lại
vô trụ gọi xứ phi xứ trí lực. Đức Như Lai thành tựu
trí lực nầy, sao lại gọi rằng
trụ
?
Lại
vô trụ gọi là Đàn Ba La Mật. Nếu Đàn Ba La Mật mà có
trụ thời chẳng đến được Thi La Ba La Mật, nhẫn đến
Bát Nhã Ba La Mật, do nghĩa nầy nên Đàn Ba La Mật gọi là
vô trụ. Đức Như Lai chẳng trụ Đàn Ba La Mật nhẫn đến
chẳng trụ Bát Nhã Ba La Mật, sao lại nguyện rằng đức Như
Lai thường trụ nơi rừng Ta La.
Lại
vô trụ gọi là tu pháp Tứ Niệm Xứ. Nếu đức Như Lai trụ
nơi pháp Tứ Niệm Xứ, thời không thể được Vô Thựơng
Bồ Đề, đây gọi là trụ nơi chẳng trụ.
Lại
vô trụ gọi là chúng sanh giới vô biên. Đức Như Lai đã
đến tột ngằn mé vô biên của tất cả chúng sanh giới
mà không chỗ trụ.
Lại
vô trụ gọi là không nhà cửa, không nhà cửa gọi là không
chỗ có, không chỗ có gọi là vô sanh, vô sanh gọi là vô
diệt, vô diệt gọi là vô tướng, vô tướng gọi là không
hệ phước, không hệ phược gọi là không chấp trước, không
chấp trước gọi là vô lậu, vô lậu chính là thiện, thiện
chính là vô vi, vô vi chính là Đại Niết Bàn, Đại Niết
Bàn chính là thường, thường chính là ngã, ngã chính là tịnh,
tịnh chính là lạc. Thường, lạc, ngã, tịnh chính là Như
Lai.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như hư không chẳng trụ mười phương, đức
Như Lai cũng như vậy chẳng trụ mười phương.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có ai nói rằng thân, khẩu, ý ác mà được
quả lành thời là không đúng. Thân, khẩu, ý lành mà được
quả ác cũng là không đúng.
Nếu
nói phàm phu đặng thấy Phật tánh còn Thập Trụ Bồ Tát
chẳng được thấy, lời nói nầy không đúng.
Nếu
nói hạng Nhứt Xiển Đề phạm tội ngũ nghịch, hủy báng
kinh Đại Thừa phá bốn giới trọng mà được Vô Thượng
Bồ Đề, lời nói nầy cũng không đúng.
Nếu
nói lục trụ Bồ Tát do phiền não mà đọa ba ác đạo, lời
nòi nầy cũng không đúng.
Nếu
nói Đại Bồ Tát dùng thân người nữ thật mà được Vô
Thượng Bồ Đề, lời nói nầy cũng không đúng.
Nếu
nói Nhứt Xiển Đề là thường còn, Tam Bảo là vô thường,
lời nói nầy cũng không đúng.
Nếu
nói đức Như Lai trụ nơi thành Câu Thi Na, là vô thường ,
lời nói nầy cũng không đúng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nay đức Như Lai ở nơi thành Câu thi Na nầy
nhập Đại Tam Muội, vào trong hang thiền định thậm thâm.
Vì chúng sanh chẳng thấy Như Lai nên gọi là Đại Niết Bàn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đức Như lai cớ chi vào nơi hang thiền định ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì muốn độ thoát chúng sanh : Người chưa
gieo trồng căn lành làm cho được gieo trồng. Người đã gieo
trồng căn lành nay được tăng trưởng. Người quả lành chưa
thành thục làm cho được thành thục. Đức Như Lai vì người
căn lành đã thành thục mà nói thu hướng Vô Thượng Bồ
Đề. Làm cho người khinh tiện pháp lành sanh lòng tôn trọng.
Làm cho những kẻ phóng dật rời bỏ sự phóng dật. Vì cùng
Văn Thù Sư Lợi các vị Đại Bồ Tát luận bàn diệu nghĩa.
Vì muốn giáo hoá người thích đọc tụng làm cho ưa thích
thiền định. Vì đem thánh hạnh, phạm hạnh, thiên hạnh giáo
hóa chúng sanh. Vì quan sát pháp tạng bất cộng thậm thâm.
Vì muốn quở trách hàng đệ tử phóng dật. Đức Như Lai
thường tịch tịnh mà còn ưa chuộng thiền định, huống
là các ông chưa dứt hết phiền não mà sanh lòng phóng dật.
Vì muốn quở trách các Tỳ Kheo ác nhận tám thứ vật bất
tịnh, mà chẳng biết thiểu dục, chẳng biết tri túc. Vì
khiến chúng sanh tôn trọng pháp thiền định đã nghe. Do những
nhơn duyên trên đây nên đức Như Lai vào hang thiền định.
Bạch
Thế Tôn ! Chánh định vô tướng gọi là Đại Niết Bàn,
nên Đại Niết bàn gọi là vô tướng. Do nhơn duyên gì gọi
là vô tướng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì không có mười tướng : Sắc, thinh, hương,
vị, xúc, sanh, trụ, hoại, nam, nữ, đây gọi là mười tướng.
Vì không mười tướng như vậy nên gọi là vô tướng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về người chấp tướng thời hay sanh
ra si, vì si mà sanh ái, vì ái nên ràng buộc, vì ràng buộc
nên thọ sanh, vì sanh nên có tử, vì tử nên là vô thường.
Người chẳng chấp tướng thời chẳng sanh si, vì không si
nên không ái, vì không ái nên không ràng buộc, vì không ràng
buộc nên chẳng thọ sanh, vì chẳng thọ sanh nên không có
tử, vì không có tử nên gọi là thường. Do nghĩa nầy nên
Niết Bàn gọi là thường.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tỳ Kheo nào có thể dứt được mười tướng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo luôn luôn tu tập ba tướng
nầy thời dứt được mười tướng : Luôn luôn tu tập tướng
tam muội chánh định, luôn luôn tu tập tướng trí huệ, luôn
luôn tu tập tướng xả.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là tướng chánh định, tướng trí
huệ và tướng xả ?
Chánh
định là tam muội, tất cả chúng sanh đều có tam muội, tại
sao nay mới nói rằng tu tập tam muội ?
Nếu
tâm duyên ở một cảnh thời gọi là tam muội, nếu lại duyên
cảnh khác thời chẳng gọi là tam muội. Nếu như chẳng định
thời chẳng phải là nhứt thiết trí, chẳng phải là nhứt
thiết trí sao lại gọi là định ? Nếu do một hạnh mà được
tam muội, những hạnh khác thời chẳng phải là tam muội,
nếu chẳng phải là tam muội, thời chẳng phải là nhứt thiết
trí, nếu chẳng phải nhứt thiết trí sao lại gọi rằng tam
muội ? Tướng trí huệ và tướng xả cũng như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lời ông nói duyên nơi một cảnh được
gọi là tam muội, nếu duyên các cảnh khác chẳng gọi
là tam muội, lời nói nầy không đúng nghĩa. Vì duyên những
cảnh khác như vậy cũng vẫn là một cảnh. Do một hạnh cùng
những hạnh khác cũng như vậy.
Ông
lại nói chúng sanh trước đã có tam muội chẳng cần tu tập,
lời nầy cũng chẳng phải. Vì nói tam muội đây, là nói thiện
tam muội, thật ra tất cả chúng sanh chưa có sao lại nói rằng
chẳng cần tu tập ? Do trụ trong thiện tam muội như vậy mà
quan sát tất cả pháp thời gọi là tướng thiện trí huệ.
Chẳng thấy tướng tam muội cùng tướng trí huệ sai khác
nhau thời gọi là tướng xả.
Lại
nầy Thiện Nam Tử ! Nếu chấp tướng sắc, không thể quan
sát tướng thường tướng vô thường của sắc thời gọi
là tam muội. Nếu có thể quan sát tướng thường và tướng
vô thường của sắc thời gọi là tướng trí huệ. Tam muội
cùng trí huệ đồng quan sát tất cả pháp thời gọi là tướng
xả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như người đánh xe bốn ngựa giỏi, điều
khiển chậm mau phải lúc. Bồ Tát cũng như vậy, nếu tam muội
nhiều thời tu tập trí huệ, nếu trí huệ nhiều thời tu
tập tam muội. Tam muội cùng trí huệ đồng nhau thời gọi
là xả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thanh Văn và Duyên Giác sức tam muội nhiều
sức trí huệ ít, do đây nên chẳng thấy Phật tánh. Thập
trụ Bồ Tát sức trí huệ nhiều sức tam muội ít, nên
thấy Phật tánh chẳng rõ ràng. Chư Phật Thế Tôn vì tam muội
cùng trí huệ đồng, nên thấy Phật tánh rõ ràng không chướng
ngại như xem trái am ma lặc trong bàn tay. Thấy Phật tánh gọi
đó là tướng xả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Xa ma tha gọi là hay dứt trừ, vì hay dứt trừ
tất cả phiền não. Lại xa ma tha gọi là hay điều phục,
vì hay điều phục những căn ác chẳng lành. Lại xa ma tha
gọi là tịch tịnh, vì có thể làm cho thân, khẩu, ý đều
tịch tịnh. Lại xa ma tha gọi là viễn ly, vì có thể làm
cho chúng sanh xa lìa ngũ dục. Lại xa ma tha gọi là hay lóng
trong, vì hay lóng trong ba pháp nhơ đục tham dục, sân khuể,
ngu si. Do những nghĩa nầy nên gọi là tướng chánh định.
Tỳ
Bà Xá Na gọi là chánh kiến, cũng gọi là liễu kiến, năng
kiến, biến kiến, thứ đệ kiến, biệt tướng kiến, đây
gọi là trí huệ.
Ưu
Tất Xoa gọi là bình đẳng, cũng gọi là vô tránh, vô quán
, vô hành, đây gọi là xả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có hai thứ Xa Ma Tha : Thế gian và xuất thế
gian.
Lại
có hai thứ : Chẳng thành tựu và thành tựu. Chẳng thành tựu
là nói Thanh Văn cùng Bích Chi Phật. Thành tựu là nói chư
Phật và Bồ Tát.
Lại
có ba thứ : Hạ, trung, và thượng. Hạ là nói hàng phàm phu.
Trung là nói Thanh Văn và Duyên Giác. Thượng là nói chư Phật
và Bồ Tát.
Lại
có bốn thứ : Một là thối, hai là trụ, ba là tấn, bốn
là có thể lợi ích lớn.
Lại
có năm thứ chính là năm trí tam muội : Một là vô thực
tam muội, hai là vô quá tam muội, ba là thân ý thanh tịnh nhứt
tâm tam muội, bốn là nhơn quả câu lạc tam muội, năm là
thường niệm tam muội.
Lại
có sáu thứ : Một là quán cốt tam muội, hai là từ tam muội,
ba là quán thập nhị nhơn duyên tam muội, bốn là xuất tức
nhập tức tam muội, năm là chánh niệm giác quán tam muội,
sáu là quán sanh trụ dị diệt tam muội.
Lại
có bảy thứ chính là bảy giác chi : Một là niệm xứ giác
chi, hai là trạch pháp giác chi, ba là tinh tấn giác chi, bốn
là hỉ giác chi, năm là trừ giác chi, sáu là định giác chi,
bảy là xả giác chi.
Lại
có bảy thứ : Một là Tu Đà Hoàn tam muội, hai là Tư Đà
Hàm tam muội, ba là A Na Hàm tam muội, bốn là A La Hán tam muội,
năm là Bích Chi Phật tam muội, sáu là Bồ Tát tam muội, bảy
là Như Lai giác tri tam muội.
Lại
có tám thứ : Chính là tám môn giải thoát tam muội : Một
là trong có sắc tướng, ngoài quán sắc giải thoát tam muội,
hai là trong không sắc tướng, ngoài quán sắc giải thoát tam
muội, ba là tịnh giải thoát thân chứng tam muội, bốn là
không xứ giải thoát tam muội, năm là thức xứ giải thoát
tam muội, sáu là vô sở hữu xứ giải thoát tam muội, bảy
là phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ giải thoát tam muội,
tám là diệt tận định xứ giải thoát tam muội.
Lại
có chín thứ chính là cửu thứ đệ định : Tứ thiền, tứ
không và diệt tận định tam muội.
Lại
có mười thứ chính là mười nhứt thiết xứ tam muội
: Một là địa nhứt thiết xứ tam muội, hai là thủy nhứt
thiết xứ tam muội, ba là phong nhứt thiết xứ tam muội, bốn
là thanh nhứt thiết xứ tam muội, năm là huỳnh nhứt thiết
xứ tam muội, sáu là xích nhứt thiết xứ tam muội, bảy là
bạch nhứt thiết xứ tam muội, tám là không nhứt thiết xứ
tam muội, chín là thức nhứt thiết xứ tam muội, mười là
vô sở hữu nhứt thiết xứ tam muội. Lại có vô số thứ
chính là chư Phật và Bồ Tát. Đây gọi là tướng tam muội.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Huệ có hai thứ : Thế gian và xuất thế gian.
Lại có ba thứ : Bát Nhã, Tỳ Bà Xá Na và Xà Na. Bát Nhã gọi
là tất cả chúng sanh. Tỳ Bà Xá Na là tất cả thánh nhơn.
Xà Na là chư Phật và Bồ Tát. Lại Bát Nhã gọi là biệt
tướng, Tỳ Bà Xá Na gọi là tổng tướng, Xà Na gọi là phá
tướng.
Lại
có bốn thứ huệ, chính là quán tứ chơn đế.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì ba việc mà tu Xa Ma Tha : Một là vì chẳng
phóng dật, hai là vì trang nghiêm đại trí, ba là vì được
tự tại.
Lại
vì ba việc mà tu Tỳ Bà Xá Na : Một là vì quán quả báo ác
của sanh tử, hai là vì muốn tăng trưởng các căn lành, ba
là vì phá tất cả phiền não.
Sư
Tử Hống Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Như trong kinh
nói nếu Tỳ Bà Xá Na có thể phá phiền não cớ gì lại tu
tập Xa Ma Tha ?
Phật
nói : Nầy Thiện Nam Tử ! Ông nói Tỳ Bà Xá Na phá phiền
não, lời nầy không đúng. Vì lúc có trí huệ thời không
phiền não, lúc có phiền não thời không trí huệ. Sao lại
nói rằng Tỳ Bà Xá Na có thể phá phiền não ?
Ví
như lúc sáng thời không tối, lúc tối thời không sáng. Nếu
nói rằng sáng có thể phá tối, thời không đúng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ai có trí huệ ? Ai có phiền não ? Sao lại
nói rằng trí huệ có thể phá phiền não. Nếu phiền não
là không thời không chỗ phá.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói trí huệ có thể phá phiền não, là
đến mà phá, hay chẳng đến mà phá ? Nếu chẳng đến mà
phá thời lẽ ra phàm phu cũng phá được. Nếu đến mà phá
thời niệm ban đầu lẽ ra đã phá. Nếu niệm ban đầu chẳng
phá thời niệm sau cũng chẳng phá. Nếu niệm ban đầu đến
bèn đã phá đây thời là chẳng đến. Sao lại nói rằng trí
huệ hay phá phiền não ? Nếu nói rằng đến cùng chẳng đến
mà có thể phá đó thời không đúng nghĩa.
Lại
Tỳ Bà Xá Na phá phiền não đó, là đơn độc có thể phá
hay là có bạn mới phá ? Nếu đơn độc có thể phá cớ gì
Bồ Tát tu bát chánh đạo ? Nếu có bạn mới phá thời nên
biết rằng đơn độc chẳng phá được. Nếu đơn độc chẳng
phá được thời bạn cũng chẳng phá được. Như một người
mù chẳng thấy được màu sắc, dầu dắt cả lũ bạn mù
cũng chẳng thấy được. TỳBà Xá Na cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như địa đại thời tánh chất là cứng, hỏa
đại tánh chất là nóng, thủy đại tánh chất là ướt, phong
đại tánh chất là động. Tánh chất cứng của địa đại
nhẫn đến tánh chất động của phong đại, chẳng phải nhơn
duyên làm ra, tánh của nó tự như v ậy. Như tánh chất
của tứ đại, phiền não cũng vậy, tánh của nó là tự phải
dứt mất. Nếu là tự dứt mất sao lại nói rằng trí huệ
hay dứt. Do nghĩa nầy nên biết rằng Tỳ Bà Xá Na quyết định
chẳng thể phá các phiền não.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như chất muối là mặn làm cho vật khác mặn.
Chất mật là ngọt làm cho vật khác ngọt, chất nước là
ướt làm cho vật khác ướt. Tánh của trí huệ là diệt làm
cho các pháp diệt, nghĩa nầy chẳng đúng. Vì nếu pháp không
diệt thời trí huệ làm thế nào diệt được. Nếu nói muối
mặn làm cho vật khác mặn, tánh trí huệ là diệt cũng làm
cho pháp khác diệt, lời nầy cũng chẳng đúng. Vì tánh của
trí huệ niệm niệm diệt. Nếu niệm niệm diệt thời đâu
có thể diệt pháp khác. Do nghĩa nầy nên biết rằng tánh
trí huệ chẳng phá phiền não.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả các pháp có hai thứ diệt : Một
là tánh diệt, hai là rốt ráo diệt. Nếu là tánh diệt sao
lại nói rằng trí huệ có thể diệt.
Nếu
nói trí huệ có thể diệt phiền não như lửa đốt cháy đồ
vật, nghĩa nầy chẳng đúng. Vì như lửa đốt cháy đồ vật
thời có tro tàn, trí huệ nếu như vậy thời lẽ ra cũng còn
có tàn dư. Như búa chặt cây, chỗ bị chặt có thể thấy
được, trí huệ nếu như vậy thời có gì là có thể thấy
được ?
Trí
huệ nếu có thể làm cho phiền não rời lìa đó, thời phiền
não kia lẽ ra hiện ra chỗ khác. Như các ngoại đạo rời
sáu thành lớn mà hiện đến ở nơi thành Câu Thi Na. Nếu
phiền não nầy chẳng hiện ra nơi khác, thời biết rằng trí
huệ chẳng có thể làm cho phiền não rời lìa.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả các pháp nếu tánh nó tự không,
thời ai có thể làm cho nó sanh ? Ai có thể làm cho nó diệt
? Sanh khác diệt khác, không ai tạo tác. Nếu người tu tập
chánh định thời được biết được thấy chơn chánh như
vậy. Do nghĩa nầy nên trong kinh ta nói : Nếu có Tỳ Kheo tu
tập chánh định, thời có thể thấy tướng sanh diệt
của ngũ ấm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chẳng tu tập chánh định, thời việc
thế gian còn không thể rõ biết huống là ở nơi đạo xuất
thế. Nếu người không có chánh định, thời té ngã nơi đất
bằng, tâm duyên pháp khác, miệng nói lời khác, tai nghe tiếng
khác, ý hiểu nghĩa khác, muốn đọc chữ khác, tay biên văn
khác, muốn đi đường khác thân bước nẻo khác. Nếu người
có tu tập tam muội chánh định thời được lợi ích lớn
nhẫn đến được vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát đầy đủ hai pháp thời có lợi
ích lớn : Một là định, hai là trí.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như cắt cỏ ống nếu kéo mạnh quá thời
đứt. Đại Bồ Tát tu tập hai pháp nầy cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như nhổ cây cứng, trước dùng tay lay động,
lúc sau nhổ lên dễ. Bồ Tát cũng như vậy, trước dùng định
để động, rồi sau dùng trí để nhổ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như giặt y dơ, trước dùng nước tro, sau dùng
nước trong, thời y được sạch sẽ. Định huệ của Bồ
Tát cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trước đọc tụng rồi sau hiểu nghĩa.
Định huệ của Bồ Tát cũng như vậy.
Như
người dũng kiện trước dùng khôi giáp đao trượng để tự
võ trang, rồi sau ra trận có thể phá tan quân địch. Định
huệ của Đại Bồ Tát cũng như vậy.
Như
người thợ dùng kềm cùng khuôn để gắp và đựng vàng tự
tại theo ý muốn : Khuấy trộn đốt cháy. Định huệ của
Bồ Tát cũng như vậy.
Ví
như gương sáng chói rõ mặt mắt. Định huệ của Bồ Tát
cũng như vậy.
Như
trước dọn đất rồi sau mới gieo giống, trước theo thầy
học rồi sau mới suy nghĩ nghĩa lý. Định huệ của Bồ Tát
cũng như vậy.
Do
những nghĩa trên đây, nên Đại Bồ Tát tu tập hai pháp nầy
thời được lợi ích rất lớn.
Đại
Bồ Tát tu tập hai pháp định huệ nầy, điều nhiếp năm
căn, kham nhẫn các sự khổ : Đói, khát, lạnh, nóng, đánh
đập, mắng nhục, thú dữ cắn, muỗi mòng chích, thường
nhiếp tâm mình chẳng cho phóng dật, chẳng vì lợi dưỡng
mà làm việc phi pháp, khách trần phiền não chẳng nhiễm ô
được, chẳng bị những thuyết tà ngoại làm mê lầm, thường
có thể xa lìa những ác giác quán, chẳng bao lâu sẽ thành
tựu vô thượng Bồ Đề, vì muốn thành tựu lợi ích tất
cả chúng sanh.
Đại
Bồ Tát tu hai pháp định huệ nầy thời bốn luồng gió dữ
tứ đảo chẳng thể thổi động, như núi Tu Di. Các tà ma
dị thuật chẳng thể phỉnh lầm. Thường hưởng thọ sự
vui vi diệu thứ nhứt. Có thể hiểu nghĩa bí mật rất sâu
của Như Lai. Được vui chẳng mừng gặp khổ chẳng buồn.
Chư thiên và người đời cung kính tán thán. Thấy rõ sanh
tử và chẳng sanh tử. Có thể rõ biết pháp giới pháp tánh
pháp thân thường, lạc, ngã, tịnh, đây thời gọi là
Đại Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Định tướng gọi là không tam muội. Huệ
tướng gọi là vô nguyện tam muội. Xả tướng gọi là vô
tướng tam muội.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Đại Bồ Tát biết rành thời gian
định, thời gian huệ, thời gian xả, và biết phi thời, đây
gọi là Đại Bồ Tát thật hành đạo Bồ Đề.
Bạch
Thế Tôn ! Thế nào là Bồ Tát biết thời cùng phi thời ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát vì hưởng thọ sự vui mà
sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì thuyết pháp mà sanh lòng
kiêu mạn, hoặc vì tinh tấn mà sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì
hiểu nghĩa vấn đáp giỏi mà sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì
gần bạn ác mà sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì bố thí nhiều
mà sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì có công đức lành thế gian
mà sanh lòng kiêu mạn, hoặc vì được người giàu sang cung
kính mà sanh lòng kiêu mạn, nên biết những lúc như vậy chẳng
nên tu tập trí huệ, mà phải tu tập chánh định, đây gọi
là Bồ Tát biết thời cùng phi thời.
Nếu
có Bồ Tát tinh tấn tu hành chưa được quả Niết Bàn an lạc,
vì chẳng được mà sanh lòng hối hận, vì độn căn nên chẳng
điều phục được ngũ căn, vì thế lực phiền não thạnh,
vì tự nghi giới luật có kém tổn, nên biết rằng lúc như
vậy chẳng nên tu chánh định, mà phải tu tập trí huệ, đây
gọi là Bồ Tát biết thời và phi thời.
Nếu
có Bồ Tát hai pháp định huệ chẳng bình đẳng, nên biết
lúc như vậy chẳng nên tu hạnh xả, lúc định huệ bình đẳng
thời nên tu hạnh xả, đây gọi là Bồ Tát biết thời và
phi thời.
Nếu
có Bồ Tát lúc tu tập định huệ nếu có phiền não khởi
lên, nên biết lúc như vậy chẳng nên tu hạnh xả, mà phải
đọc tụng biên chép giải thuyết mười hai bộ kinh, niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm Thiên, niệm
thí xả, đây gọi là tu xả.
Nếu
có Bồ Tát tu tập ba pháp tướng như vậy, do nhơn duyên nầy
đặng vô tướng Niết Bàn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Vì không mười tướng gọi là Đại Niết Bàn là
vô tướng. Lại do nhơn duyên gì gọi là vô sanh, vô xuất,
vô tác, là nhà cửa, cồn bãi, chỗ về, là an ổn, diệt độ
Niết Bàn, tịch tịnh không các bịnh khổ, là không chỗ có
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì không nhơn duyên nên gọi là vô sanh, vì
vô sanh nên gọi là vô xuất. Vì không tạo nghiệp nên gọi
là vô tác. Vì chẳng vào năm thứ tà kiến nên gọi là nhà
cửa. Vì rời lìa bốn dòng nước mạnh nên gọi là cồn bãi.
Vì điều phục chúng sanh nên gọi là quy y. Vì phá hoại giặc
phiền não nên gọi là an ổn. Vì lửa kiết sử tắt nên gọi
là diệt độ. Vì lìa giác quán nên gọi là Niết Bàn. Vì
xa ồn náo nên gọi là tịch tịnh. Vì dứt hẳn sanh tử nên
gọi là không bịnh tử. Vì tất cả không có nên gọi là
không chỗ có. Nếu Đại Bồ Tát quan sát như vậy thời đặng
thấy rõ Phật tánh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đại Bồ Tát thành tựu bao nhiêu pháp thấy được
vô tướng Niết Bàn như vậy nhẫn đến không chỗ có.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đại Bồ Tát thành tựu mười pháp thời thấy
rõ Niết Bàn vô tướng, nhẫn đến không chỗ có : Một là
tín tâm đầy đủ, nghĩa là thâm tín Phật, Pháp, và Tăng
là thường trụ, thập phương chư Phật phương tiện thị
hiện. Tất cả chúng sanh và Nhứt Xiển Đề đều có Phật
tánh. Chẳng tin đức Như Lai là sanh lão bịnh tử và tu khổ
hạnh. Chẳng tin Đề Bà Đạt Đa là thật phá Tăng làm thân
Phật ra máu. Chẳng tin đức Như Lai rốt ráo nhập Niết Bàn,
chánh định diệt hết. Đây gọi là Bồ Tát đầy đủ tín
tâm.
Hai
là đầy đủ tịnh giới : Nếu có Bồ Tát tự nói rằng giới
thanh tịnh, dầu chẳng cùng với người nữ kia hòa hiệp,
lúc thấy người nữ hoặc cùng nhau nói chuyện cợt đùa cười
giỡn Bồ Tát như vậy thành dục pháp hủy phá tịnh giới
ô nhục phạm hạnh khiến giới tạp uế chẳng được gọi
là đầy đủ tịnh giới. Lại có Bồ Tát tự nói giới thanh
tịnh, dầu chẳng cùng người nữ hòa hiệp cợt đùa giỡn
cười nhưng cách vách nghe những tiếng vòng vàng chuỗi ngọc
của người nữ khua động, trong lòng sanh niệm ái trước,
Bồ Tát như vậy, làm thành dục pháp hủy phá giới thanh tịnh,
ô nhục phạm hạnh, làm cho giới tạp uế chẳng được gọi
là đầy đủ tịnh giới. Lại có Bồ Tát tự nói giới thanh
tịnh, dầu chẳng cùng người nữ hòa hiệp cợt đùa giỡn
cười nghe tiếng khua động, nhưng lúc thấy người nam đi
theo người nữ, hoặc lúc thấy người nữ đi theo người
nam, bèn sanh niệm tham đắm. Bồ Tát như vậy làm nên pháp
dục, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến giới
tạp uế, chẳng được gọi là đầy đủ tịnh giới. Lại
có Bồ Tát tự nói giới thanh tịnh, dầu chẳng cùng người
nữ hòa hiệp cợt đùa nghe tiếng khua thấy nam nữ theo nhau,
nhưng lại muốn sanh cõi trời thọ vui ngũ dục. Bồ Tát như
vậy làm nên pháp dục, hủy phá tịnh giới ô nhục phạm
hạnh khiến giới tạp uế, chẳng được gọi là đầy đủ
tịnh giới.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Bồ Tát trì giới thanh tịnh mà chẳng
vì giới, chẳng vì Thi La Ba La Mật, chẳng vì chúng sanh, chẳng
vì lợi dưỡng, chẳng vì Niết Bàn, chẳng vì Bồ Đề, chẳng
vì Thanh Văn và Bích Chi Phật, chỉ vì đệ nhứt nghĩa tối
thượng mà hộ trì cấm giới, đây gọi là Bồ Tát đầy
đủ tịnh giới.
Ba
là gần gũi thiện tri thức : Nếu có người có thể nói tín,
giới, đa văn, bố thí, trí huệ, làm cho mọi người thọ
trì thật hành, đây gọi là Bồ Tát thiện tri thức vậy.
Bốn
là ưa thích nơi tịch tịnh, nghĩa là thân tâm tịch tịnh
quan sát pháp tánh thậm thâm của các pháp.
Năm
là tinh tấn : Nghĩa là nhiếp tâm quán bốn chơn đế, giả
sử lửa cháy trên đầu cũng chẳng buông bỏ.
Sáu
là đầy đủ chánh niệm : Nghĩa là niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, niệm giới, niệm Thiên, niệm thí xả.
Bảy
là nhuyến ngữ : Nghĩa là lời nói chơn thật, lời nói hòa
dịu, hỏi thăm trước, nói phải thời, nói chơn chánh.
Tám
là hộ pháp : Nghĩa là mến thích chánh pháp, thường ưa diễn
thuyết, đọc tụng, biên chép, tư duy ý nghĩa, tuyên dương
sâu rộng làm cho chánh pháp được lưu bố, nếu thấy người
khác biên chép giải thuyết đọc tụng, tán thán tư duy ý
nghĩa, vì sanh sống mà cúng dường y phục, ẩm thục, đồ
nằm thuốc men, vì hộ pháp nên chẳng tiếc thân mạng.
Chín
là Đại Bồ Tát thấy có bạn đồng học đồng giới thiếu
thốn đồ cần dùng, như y phục, thuốc men, đồ uống ăn,
phòng nhà v.v…, thời đi khất xin người khác để cung cấp
các vị ấy.
Mười
là đầy đủ trí huệ : Nghĩa là quan sát nơi đức Như Lai
thường, lạc, ngã, tịnh, tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh, quan sát hai tướng không và bất không của các pháp,
thường cùng vô thường, lạc cùng vô lạc, ngã cùng vô ngã,
tịnh cùng bất tịnh, pháp khác có thể dứt, pháp khác chẳng
thể dứt, pháp khác từ duyên sanh, pháp khác từ du