XXII
PHẨM
QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ
ĐỨC
VƯƠNG BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI HAI
Nầy
Thiện nam tử ! Do nhơn duyên gì mà ngày trước ở bên sông
Ni Liên, ta bảo ma Ba Tuần vì chưa có hàng đệ tử đa văn
trí huệ nên Phật chẳng nhập Niết Bàn ?
Lúc
đó ta muốn chuyển pháp luân độ các ông Kiều Trần Như
v.v…, cũng muốn độ các ông Da Xá, muốn độ bọn ông
Úc Dà trưởng giả, muốn độ vua Tần Bà Ta La nước Ma Dà
Đà cùng vô lượng nhơn thiên, muốn độ thầy trò Ưu Lâu
Tần Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Dà Da Ca Diếp, cũng muốn
độ các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v… Vì thế nên
ta bảo ma Ba Tuần : Như Lai chẳng nhập Niết Bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Có Niết Bàn chẳng phải là Đại Niết Bàn.
Chẳng thấy Phật tánh mà dứt phiền não thời gọi là Niết
Bàn chẳng phải Đại Niết Bàn. Bởi chẳng thấy Phật tánh
nên không có thường, ngã, chỉ có lạc và tịnh, do đây nên
dầu dứt phiền não mà chẳng được gọi là Đại Niết Bàn.
Nếu thấy Phật tánh dứt phiền não thời gọi là Đại Niết
Bàn, vì thấy Phật tánh nên được gọi là thường, lạc,
ngã, tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! “ Niết” nghĩa là chẳng, “ Bàn” nghĩa
là dệt, nghĩa chẳng dệt gọi là Niết Bàn. “Bàn” lại
có nghĩa là che, chẳng bị che bèn gọi là Niết Bàn. Bàn lại
có nghĩa là đi đến, chẳng đi chẳng đến gọi là Niết
Bàn. “ Bàn” lại có nghĩa là bất định, không bất định
gọi là Niết Bàn. “Bàn” lại có nghĩa là mới cũ, không
mới cũ gọi là Niết Bàn. “Bàn” lại có nghĩa là chướng
ngại, không chướng ngại gọi là Niêt Bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Có hàng đệ tử của phái Ưu Lâu Khư, phái
Ca Tỳ La nói “Bàn:” là danh tướng, không danh tướng gọi
là Niết Bàn. “Bàn” lại có nghĩa là có; không có
thời gọi là Niết Bàn. “Bàn” lại có nghĩa là hòa hiệp;
không hòa hiệp gọi là Niết Bàn. “Bàn” lại có nghĩa là
khổ ; không khổ gọi là Niết Bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Người dứt phiền não chẳng gọi là tu Niết
Bàn, chẳng sanh phiền não thời gọi là Niết Bàn. Chư Phật
Như Lai vĩnh viễn chẳng khởi phiền não nên gọi là Niết
Bàn. Có trí huệ ở nơi tất cả pháp không có chướng ngại
thời gọi là Như Lai. Như Lai chẳng phải phàm phu, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát. Đây gọi là Phật tánh.
Thân
tâm trí huệ của Như Lai khắp đầy vô lượng vô biên, vô
số cõi, không bị chướng ngại, đây gọi là hư không.
Như
Lai thường trụ không có biến đổi, đây gọi là thật tướng.
Do
nghĩa nầy nên Như Lai thiệt chẳng rốt ráo nhập Niết Bàn.
Đây
gọi là Bồ Tát tu hành kinh Đại Niết Bàn thành tựu đầy
đủ phần công đức thứ bảy.
Thế
nào là Đại Bồ Tát tu hành kinh Đại Niết Bàn thành tựu
đầy đủ phần công đức thứ tám ?
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát tu hành kinh Đại Niết Bàn :
Trừ dứt năm việc, xa lìa năm việc, thành tựu sáu việc,
tu tập năm việc, giữ gìn một việc, gần gũi bốn việc,
tin thuận nhứt thật, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải
thoát.
Trừ
dứt năm việc, chính là trừ năm ấm : Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức : Năm thứ nầy hay làm chúng sanh sống chết nối
mãi, chẳng rời gánh nặng chia lìa tụ họp, buộc ràng trong
ba đời, không thể cầu tìm cho ra nghĩa lý ; do những lẽ
nầy nên gọi là “ẤM”.
Đại
Bồ Tát dầu thấy sắc ấm, nhưng chẳng thấy tướng của
nó, vì trong mười món sắc suy tìm tánh của nó trọn không
thể được, vì thuận theo thế tục mà gọi là “ẤM”.
Có
một trăm lẻ tám thứ thọ, Bồ Tát dầu thấy thọ ấm, nhưng
vẫn không thấy tướng của thọ. Vì thọ dầu có một trăm
lẻ tám, nhưng tất cả không có nghĩa lý quyết định thật.
Như
sắc và thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Vì
thấy rõ năm ấm là cội gốc sanh ra phiền não, nên Đại
Bồ Tát dùng phương tiện làm cho dứt.
Đại
Bồ Tát xa lìa năm việc, chính là xa lìa năm kiến chấp :
Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới thủ. Do
năm kiến chấp nầy sanh ra sáu mươi hai thứ kiến chấp. Vì
những thứ kiến chấp nầy mà sanh tử nối mãi chẳng dứt,
nên Bồ Tát ngăn ngừa không gần gũi.
Đại
Bồ Tát thành tựu sáu việc, chính là thành tựu sáu chánh
niệm : Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niện Thiên, niệm
Thí, niệm Giới.
Đại
Bồ Tát tu tập năm việc, chính là tu tập năm định : Tri
định, tịch định, thân tâm thọ khóai lạc định, vô
lạc định, Thủ Lăng Nghiêm định. Tu tập năm thứ định
tâm nầy thời gần với Đại Niết Bàn, vì thế nên Đại
Bồ Tát chuyên cần tu tập.
Bồ
Tát giữ gìn một việc, chính là giữ gìn tâm Bồ Đề. Đại
Bồ Tát luôn siêng năng gìn giữ tâm Bồ Đề, như người
đời săn sóc đứa con một, như người chột mắt giữ gìn
một mắt còn lại, như đi giữa rừng hoang vắng giữ gìn
người dẫn đường. Do gìn giữ tâm Bồ Đề mà được vô
thượng Bổ Đề, do được vô thượng Bồ Đề nên có đủ
thường, lạc, ngã và tịnh, chính là Đại Niết Bàn do đây
nên Bồ Tát gìn giữ một tâm Bồ Đề nầy.
Bồ
Tát gần gũi bốn việc, chính là gần bốn tâm vô lượng
: Đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả : Do bốn tâm nầy
có thể làm cho vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Đề, nên
Bồ Tát luôn gần gũi.
Bồ
Tát tin thuận nhứt thật, chính là rõ biết tất cả chúng
sanh đều về nơi đạo duy nhứt, đạo duy nhứt nầy là Đại
Thừa : Nơi Đại Thừa nầy, chư Phật và Bồ Tát chia ra làm
ba thừa để dụ dẫn chúng sanh.
Bồ
Tát tâm thiện giải thoát chính là đã dứt hẳn tham, sân,
si.
Bồ
Tát huệ thiện giải thoát, chính là Đại Bồ Tát rõ biết
tất cả pháp không chướng ngại. Do huệ giải thoát nên những
pháp từ xưa chưa nghe mà nay được nghe, từ xưa chưa thấy
mà nay được thấy, từ xưa chưa đến mà nay được đến.
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Như lời
Phật nói : “ Tâm giải thoát”, xét ra không đúng nghĩa.
Vì tâm vốn không hệ phược. Bổn tánh của tâm không bị
tham, sân, si, hệ phược. Đã là vốn không hệ phược,
sao lại nói là giải thoát ?
Thế
Tôn ! Nếu bổn tánh của tâm chẳng bị tham kiết hệ phược,
do nhơn duyên gì mà có thể hệ phược được tâm ? Ví như
vắt sừng, vì vốn không sữa nên dầu tốn nhiều công lực
vẫn không do đâu có sữa chảy ra. Nếu vắt vú bò, tốn công
ít mà được nhiều sữa. Cũng vậy, tâm vốn không tham, sao
nay lại có. Nếu trước vốn không mà sau mới có, thời chư
Phật và Bồ Tát vốn không tham, nay đáng lẽ đều có.
Thế
Tôn ! Như thạch nữ vốn không con, dầu tốn nhiều công lực,
nhiều nhơn duyên vẫn không thể có con. Cũng vậy, tâm vốn
không tham, dầu gây tạo nhiều duyên, cũng không do đâu sanh
được tham.
Thế
Tôn ! Như dùi cây ướt không thể được lửa. Cũng vậy,
dầu dùi tìm nơi tâm vẫn không thể có tham. Tại sao tham kiết
hệ phược được tâm .
Thế
Tôn ! Ví như ép cát không thể có dầu. Cũng vậy, dầu
ép nơi tâm vẫn không có tham. Phải biết rằng tham cùng tâm,
lý nghĩa của hai thứ riêng khác nhau. Thiết sử có tham, đâu
nhiễm ô được tâm.
Thế
Tôn ! Ví như đem nọc cắm giữa hư không trọn không thể
đứng cứng được. Cũng vậy, đem tham cắm vào tâm, trọn
không thể hệ phược được tâm, dầu dùng nhiều nhơn duyên.
Thế
Tôn ! Nếu tâm vốn không tham mà lại gọi là giải thoát,
thời chư Phật và Bồ Tát sao chẳng nhổ gai trong hư không
?
Thế
Tôn ! Tâm quá khứ không gọi là giải thoát. Tâm vị lai cũng
không giải thoát ; tâm hiện tại chẳng cùng chung với đạo
; thế thời tâm nào gọi là được giải thoát ?
Thế
Tôn ! Như ngọn đèn quá khứ không thể diệt tối ; ngọn
đèn vị lai cũng không thể diệt tối ; ngọn đèn hiện tại
lại không thể diệt tối ; vì sáng cùng tối, hai thứ ấy
không đồng thời có. Tâm cũng như vậy, sao lại nói rằng
tâm được giải thoát ?
Thế
Tôn ! Tham cũng là có. Nếu tham là không, thời lúc thấy người
nữ lẽ ra chẳng sanh tham. Nếu do người nữ mà sanh tham, thời
tham là có thật. Vì có tham nên đọa ba đường ác.
Thế
Tôn ! Như có kẻ thấy tượng vẽ người nữ cũng sanh tham,
vì sanh tham nên thành có nhiều tội lỗi. Nếu vốn không tham,
tại sao thấy tướng vẽ lại sanh tham ? Nếu tâm không tham,
tại sao Như Lai nói Bồ Tát tâm được giải thoát ? Nếu tâm
có tham, sao lại phải chờ thấy người nữ rồi sau mới sanh.
Người không thấy thời không sanh ? Hiện tại tôi thấy có
quả báo ác do tham gây ra, nên biết tham là có sân và si cũng
như vậy.
Thế
Tôn ! Như chúng sanh có thân không ngã, mà phàm phu chấp có
ngã ; dầu chấp có ngã nhưng không vì thế mà đọa ba ác
đạo. Tại sao người tham đối với không tướng nữ sanh
tưởng là nữ mà phải đọa ba ác đạo ?
Thế
Tôn ! Ví như dùi cây sanh lửa, nhưng tánh lửa nầy trong các
duyên đều không có, cớ gì mà được sanh ra lửa ?
Thế
Tôn ! Cũng vậy , trong sắc không có tham, trong thinh, hương,
vị, xúc, pháp cũng đều không có tham, tại sao nơi sắc v.v…
lại sanh ra tham ? Nếu trong các duyên đều không có tham, tại
sao riêng chúng sanh có tham, mà chư Phật và Bồ Tát không sanh
tham ?
Thế
Tôn ! Tâm cũng là bất định. Nếu tâm là nhứt định thời
không có tham sân si. Nếu tâm đã là bất định, sao lại nói
rằng tâm được giải thoát ? Tham cũng là bất định, nếu
đã là bất định, tại sao lại nhơn nơi tham mà sanh ra ba
ác đạo ? Kẻ tham cùng cảnh giới, cả hai đều bất định.
Vì đồng chung duyên một cảnh sắc, hoặc sanh tham, hoặc sanh
sân, hoặc sanh si. Nếu cả hai đều bất định, tại sao đức
Như Lai nói rằng Bồ Tát tu Đại Niết Bàn thời tâm được
giải thoát ?
Phật
bảo Cao Quý Đức Vương Bồ Tát : Lành thay ! Lành thay ! Nầy
Thiện nam tử ! Tâm cũng chẳng bị tham kiết hệ phược, cũng
chẳng phải chẳng bị hệ phược ; chẳng phải giải thoát,
cũng chẳng phải giải thoát ; chẳng phải có ; chẳng phải
không ; chẳng phải hiện tại, chẳng phải quá khứ chẳng
phải vị lai.
Vì
tất cả pháp đều không tự tánh.
Nầy
Thiện nam tử ! Có các nhà ngoại đạo cho rằng : Nhơn duyên
hòa hiệp thời có quả sanh ra.
Nếu
trong các duyên vốn không tánh sanh mà có thể sanh ra, thời
hư không vốn chẳng sanh lẽ ra cũng sanh được quả. Nhưng
hư không vẫn chẳng sanh vì chẳng phải là nhơn.
Do
vì trong các duyên vốn cá tánh của quả, nên hòa hiệp thời
sanh được quả.
Như
người đời khi muốn xây vách thời dùng bùn đất khô dùng
cọ màu, lúc muốn vẽ vời thời dùng cọ màu mà chẳng dùng
cỏ cây, may áo thời dùng kim chỉ mà chẳng dùng cây bùn,
cất nhà thời dùng bùn cây mà chẳng dùng kim chỉ. Người
dùng đến vật đó là vì nó có thể sanh ra quả, vì sanh được
quả nên biết trong các nhơn tất đã có tánh. Nếu là không
tánh, thời trong một vật lẽ ra phải xuất sanh tất cả vật.
Nếu
là đáng lấy, đáng làm, đáng đem ra, nên biết rằng trong
đó tất cả trước có tánh của quả. Nếu là không có tánh
của quả thời người chẳng lấy, chẳng làm, chẳng đem ra.
Chỉ có hư không là chẳng lấy, chẳng làm nên có thể xuất
sanh tất cả muôn vật, do vì có nhơn.
Như
hột ni câu đà mọc lên cây ni câu đà ; trong sửa có tánh
chất đề hồ ; trong sợi chỉ có tánh của vải ; trong đất
sét có tánh của cái bình.
Nầy
Thiện nam tử ! Tất cả phàm phu bị vô minh làm mù lòa nên
bày ra định thuyết : Sắc có nghĩa tham luyến, tâm có tánh
tham. Họ lại cho rằng : Tâm phàm phu có tánh tham, cũng có
tánh giải thoát gặp duyên tham thời tâm sanh tham, nếu gặp
được duyên giải thoát thời tâm giải thoát.
Những
thuyết nầy đều không đúng nghĩa.
Có
hạng phàm phu lại cho rằng : Trong tất cả nhơn đều không
có quả; nhơn có hai thứ : Vi tế và thô đại ; tế thời
là thường, thô thời vô thường. Từ nhơn vi tế chuyển thành
nhơn thô, từ nhơn thô nầy lại chuyển thành quả. Vì nhơn
thô vô thường nên quả cũng vô thường.
Có
hạng phàm phu lại cho rằng : Tâm không có nhơn, tham cũngkhông
có nhơn, do thời tiết thời sanh tâm tham.
Vì
không biết được tâm nhơn duyên, nên những hạng nầy luân
hồi trong sáu đường, chịu đủ mọi sự sanh tử.
Ví
như con chó bị xiềng, trọn ngày đi quanh cột không thể thoát
lìa. Cũng vậy, tất cả phàm phu bị xiềng vô minh cột vào
cột sanh tử, cứ vòng quanh mãi ở hai mươi lăm cõi không
thoát ly được.
Ví
như có kẻ sa vào hầm xí, đã được ra khỏi rồi lại
té vào hầm. Như người bịnh được lành trở lại làm nhơn
cho bịnh. Như người đi đường xa gặp chỗ hoang vắng, đã
đi qua được rồi trở lại nữa. Như đã tắm rửa sạch
sẽ trở lại lấy bùn đất trét vào. Cũng vậy, tất cả
phàm phu đã được thoát khỏi cõi Vô Sở Hữu, chỉ chưa
thoát khỏi cõi Phi Phi Tưởng, trở lại sa vào đến ba ác
đạo. Vì tất cả phàm phu chỉ biết quán sát nơi quả, mà
chẳng suy gẫm nhơn duyên.
Như
con chó đuổi theo cục đất chẳng chạy theo người. Cũng
vậy, hạng phàm phu chỉ nhìn nơi quả mà chẳng nhìn nơi nhơn
duyên. Do chẳng thấy biết nhơn duyên nên từ cõi Phi Phi Tưởng
sa đến ba ác đạo.
Nầy
Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ Tát trọn không bảo nhứt
định rằng : Trong nhơn có quả, trong nhơn không quả, trong
nhơn cũng có cũng không quả, trong nhơn chẳng phải có chẳng
phải không quả.
Nếu
kẻ nào cho rằng trong nhơn quyết định có quả, không
quả, cũng có cũng không quả, chẳng phải có chỗ phải không
quả, nên biết rằng đây là bè lũ của ma, là thuộc về
loài ma là người tham ái, chẳng thể dứt hẳn sự hệ phược
của sanh tử, người nầy chẳng rõ biết tâm tướng và tham
tướng.
Nầy
Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ Tát hiển bày lý trung đạo
: Dầu nói các pháp là chẳng phải có, chẳng phải không,
nhưng chẳng quyết định. Vì nhơn nơi nhãn, sắc, minh,
tâm và niệm mà có thức sanh ra. Thức nầy quyết định chẳng
ở trong nhãn, chẳng ở trong sắc, chẳng ở trong minh, chẳng
ở trong tâm, chẳng ở trong niệm, cũng chẳng ở chặn giữa,
chẳng phải có chẳng phải không.
Vì
từ các duyên sanh ra nên gọi là có. Vì không tự tánh nên
gọi là không. Do đây nên Như Lai nói các pháp là chẳng phải
có chẳng phải không.
Nầy
Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ Tát trọn không quyết định
nói tâm có tánh thanh tịnh và tánh chẳng thanh tịnh, tánh
tịnh cùng bất tịnh, vì tâm vốn vô trụ.
Do
từ nơi duyên sanh ra nên nói là chẳng phải không, lại vì
vốn không có tánh tham nên nói là chẳng phải có.
Nầy
Thiện nam tử ! Do từ nơi nhơn duyên mà tâm sanh ra tham, do
từ nơi nhơn duyên mà tâm được giải thoát. Nhơn duyên có
hai thứ : Một là theo sanh tử, hai là theo Đại Niết Bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Vì có nhơn duyên mà tâm cùng với tham sanh
ra, chung với tham cùng diệt, có nhơn duyên tâm cùng với tham
sanh mà chẳng chung với tham cùng diệt. Có nhơn duyên tâm chẳng
cùng với tham sanh mà chung với tham cùng diệt. Có nhơn duyên
tâm chẳng cùng với tham sanh cũng chẳng cùng với tham diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Có hạng phàm phu chưa dứt tâm tham, huân tập
tâm tham, những kẻ nầy, tâm của họ chung với tham cùng sanh
cùng diệt.
Như
chúng sanh cõi dục, tất cả đều có khí vị sơ thiền, hoặc
tu hay chẳng tu, gặp nhơn duyên thời bèn được ; nơi đây
nói nhơn duyên chính là cho hỏa tai. Cũng vậy, tất cả phàm
phu hoặc huân tập hay không huân tập, tâm của họ chung với
tham cùng sanh, chung với tham cùng diệt, vì họ chẳng dứt
tham vậy.
Hàng
Thanh Văn vì có nhơn duyên nên sanh tâm tham, vì sợ tâm
tham nên tu tập quán bạch cốt, đây gọi là tâm cùng tham
sanh mà chẳng cùng tham diệt. Lại hàng Thanh Văn chưa chứng
quả A La Hán vì có nhơn duyên nên sanh tâm tham, lúc đã chứng
A La Hán thời tham liền diệt, đây cũng gọi là tâm cùng tham
sanh mà chẳng chung với tham cùng diệt. Đại Bồ Tát lúc chứng
bực Bất Động cũng như vậy.
Thế
nào là tâm chẳng cùng tham sanh mà chung với tham cùng diệt
?
Đại
Bồ Tát đã dứt tâm tham, vì độ chúng sanh mà thị hiện
có tham, vì thị hiện nên có thể làm cho vô lượng chúng
sanh học tập thành tựu pháp lành. Đây gọi là tâm chẳng
cùng tham sanh mà với tham cùng diệt.
A LA
Hán, Duyên Giác, Chư Phật, Chư Bồ Tát trừ Bất Động Địa,
gọi là tâm chẳng chung với tham cùng sanh cùng diệt.
Do
những nghĩa trên đây, nên chư Phật và Bồ Tát chẳng quyết
định nói tâm tánh vốn thanh tịnh, tâm tánh vốn không thanh
tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm nầy chẳng cùng với tham hòa hiệp, cũng
chẳng cùng với sân, si hòa hiệp.
Như
mặt trời, mặt trăng, dầu bị khói bụi mây mù và La Hầu
A Tu La che chướng, làm cho chúng sanh không thấy, nhưng
tánh mặt trời mặt trăng trọn chẳng cùng hòa hiệp với
năm thứ ấy.
Cũng
vậy, dầu do nhơn duyên mà tâm sanh tham, nhưng thật ra
tâm tánh chẳng cùng tham hòa hiệp.
Nếu
là tâm tham thời chính là tánh tham. Nếu là tâm chẳng tham
thời chính là tánh chẳng tham. Tâm chẳng tham không thể làm
tham. Tâm tham không thể chẳng tham.
Do
nghĩa trên đây nên kiết sử tham dục không thể làm nhiễm
ô được tâm.
Chư
Phật và Bồ Tát đã phá hẳn tham kiết, nên gọi là tâm được
giải thoát.
Tất
cả chúng sanh vì do nhơn duyên mà sanh tham kiết, vì do nhơn
duyên mà được giải thoát.
Nầy
Thiện nam tử ! Như núi Tuyết, chỗ cao vót. Người cùng khỉ
vượn đều không đi được, hoặc có chỗ vượn đi được
mà người không đi được, hoặc có chỗ vượn
cùng người đều đi được.
Chỗ
mà người cùng vượn đều đi được đó, như thợ săn dùng
keo nhựa bày trên bàn để bắt vượn. Vì ngu si, vượn đến
lấy bàn tay rờ bóc, tay dính vào nhựa. Muốn gỡ tay, vượn
dùng chơn đạp, lại dính luôn chơn. Muốn gỡ chơn, vượn
dùng miệng cạp, lại dính cả miệng. Hai tay, hai chưn cùng
miệng của vượn đều dính khắn vào nhựa không thể thoát
được. Bấy giờ thợ lấy gậy xỏ vượn mang về nhà.
Chỗ
cao vót của núi Tuyết dùng dụ cho chánh đạo của Phật và
Bồ Tát chứng. Khỉ vượn dụ cho phàm phu. Thợ săn dụ cho
ma Ba Tuần. Keo nhựa dụ cho tham dục.
Người
cùng khỉ vượn đều không thể đi là dụ cho phàm phu và
Ma Vương Ba Tuần đều không thể đi đến.
Khỉ
vượn đi được mà người thời không, dụ hàng ngoại đạo,
có trí huệ, các ác ma dù có dùng ngũ dục cũng không hệ
phược được họ.
Người
cùng khỉ vượn đều đi được là dụ cho tất cả phàm phu
cùng ma Ba Tuần luôn ở trong sanh tử không thể tu hành. Hàng
phàm phu bị ngũ dục hệ phược nên ma Ba Tuần tha hồ mang
đi. Như thợ săn kia bắt khỉ vượn mang về nhà.
Nầy
Thiện nam tử ! Như Quốc Vương ở trong nước mình thời thân
tâm an lạc, nếu qua đến nươc khác thời tất phải gặp
nhiều sự khổ não. Cũng vậy, tất cả chúng sanh nếu có
thể tự trụ nơi cảnh giới của mình thời được an lạc,
nếu đến cảnh giới khác tất gặp ác ma bị những khổ
não.
Tự
cảnh giới là chỉ tứ niệm xứ. Cảnh giới khác là nói
ngũ dục.
Thế
nào gọi là hệ thuộc nơi ma ? Có những chúng sanh nơi vô
thường thấy là thường, nơi thường lại thấy là vô thường
; nơi khổ thấy là lạc, nơi lạc lại thấy là khổ ; nơi
bất tịnh thấy là tịnh , nơi tịnh lại thấy là bất tịnh
; nơi vô ngã thấy là ngã, nơi ngã lại thấy là vô ngã .
Nơi chẳng phải giải thoát thấy là giải thoát nơi thiệt
giải thoát lại thấy là chẳng giải thoát. Nơi chẳng phải
thừa thấy là thừa, nơi thừa lại thấy là chẳng phải thừa.
Những hạng nầy gọi là kẻ hệ thuộc nơi ma. Phàm kẻ hệ
thuộc nơi ma thời tâm họ không thanh tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu thấy các pháp thiệt có tướng nhứt
định là tổng là biệt, nên biết rằng người nầy lúc thấy
sắc liền chấp tướng sắc, nhẫn đến lúc thấy thức cũng
chấp tướng thức. Lúc thấy nam nữ, nhựt , nguyệt, ấm,
nhập, giới v.v…liền chấp tướng nam, tướng nữ nhẫn đến
tướng nhập, tướng giới. Kẻ có kiến chấp nầy gọi là
hệ thuộc nơi ma. Kẻ hệ thuộc nơi ma thời tâm họ không
thanh tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu thấy ngã là sắc, trong sắc có ngã, trong
ngã có sắc, sắc thuộc nơi ngã ; nhẫn đến thấy ngã là
thức, trong thức có ngã, trong ngã có thức, thức thuộc nơi
ngã. Kiến chấp nầy hệ thuộc nơi ma, người nầy không phải
đệ tử Phật.
Nầy
Thiện nam tử ! Hàng Thanh Văn đệ tử của ta xa lìa mười
hai bộ kinh của Như Lai, mà tu tập theo sách vở của những
ngoại đạo, chẳng tu công hạnh tịch diệt xuất gia, thuần
kinh doanh sự vụ tại gia thế tục. Những gì là sự vụ tại
gia thế tục ? Nhận chứa tất cả vật bất tịnh, tôi tớ,
ruộng, nhà, voi, ngựa, xe cộ, đà, lừa, gà, chó, khỉ, vượn
, heo, dê, các thứ lúa bắp ; xa lìa sư trưởng, chúng Tăng,
gần gũi cư sĩ bạch y, trái phản Thánh giáo. Bảo hàng bạch
y rằng : Đức Phật cho phép Tỳ Kheo nhận chứa những vật
bất tịnh. Đây gọi là sự vụ tại gia.
Có
các đệ tử chẳng vì Niết Bàn, chỉ vì lợi dưỡng mà nghe
thọ mười hai bộ kinh, ăn dùng của thường trụ như của
riêng mình, tham tiếc nhà người cùng danh tiếng, gần
gũi Quốc Vương và các Vương Tử, bói xủ lành dữ, suy tính
đầy vơi, bài bạc, thân thiện Tỳ Kheo Ni cùng các xử nữ,
chứa hai hạng sa di, thường đến nhà hàng thịt, thợ săn,
quán rượu, và chổ ở của Chiên Đà La, buôn bán các loại,
tự tay làm đồ ăn, nhận đi xứ lân quốc, lãnh lịnh đi
thơ. Nên biết rằng người như trên đây là quyến thuộc
của ma, không phải đệ tử Pohật. Do nhơn duyên nầy mà tâm
cùng tham chung sanh, chung diệt. Sân và si cũng như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Do đây nên tâm tánh chẳng phải tịnh, cũng
chẳng phải bất tịnh. Vì thế nên ta nói rằng tâm được
giải thoát.
Nếu
có người không nhận, không chứa tất cả vật bất tịnh,
vì Đại Niết Bàn mà thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh,
biên chép giải thuyết. Nên biết rằng người nầy thật là
đệ tử Phật. Người nầy không đi nơi cảnh giới của ác
ma Ba Tuần. Người nầy chính là tu tập ba mươi bảy phẩm
trợ đạo. Vì tu tập nên chẳng cùng tham mà sanh, cũng chẳng
cùng với tham mà diệt.
Đây
gọi là Đại Bồ Tát tu hành kinh Đại Niết Bàn thành tựu
đầy đủ phần công đức thứ tám.
Thế
nào là thành tựu đầy đủ phần công đức thứ chín ?
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát tu tập kinh Đại Niết Bàn, đầu
tiên phát năm điều thời được thành tựu phần công đức
nầy : Một là tín tâm ; hai là trực tâm ; ba là giới ; bốn
là gần gũi bạn lành, năm là học rộng nghe nhiều.
Thế
nào là tín tâm ?
Bồ
tát tin nơi TAM BẢO, bố thí cúng dường thời có quả báo.
Tin nơi hai đế lý, đạo nhứt thừa không có nẻo nào khác,
vì muốn chúng sanh mau được giải thoát mà chư Phật
và Bồ tát phân biệt làm ba thừa. Tin đế lý đệ nhứt nghĩa.
Tin thiện phương tiện : Đây gọi là tin.
Người
có lòng tin như trên đây, không ai phá hoại được. Do đức
tin nầy mà được tánh thánh nhơn. Người nầy tu hành bố
thí không luận ít nhiều đều được gần nơi Đại Niết
Bàn, chẳng đọa nơi sanh tử. Như bố thí, trì giới , đa
văn và trí huệ cũng vậy. Dầu có tín tâm nầy nhưng cũng
chẳng chấp. Đây là Bồ Tát tu Đại Niết Bàn thành tựu
điều ban đầu.
Thế
nào là trực tâm ?
Đại
Bồ Tát đối với chúng sanh, có lòng chất trực.
Tất
cả chúng sanh , nếu gặp nhơn duyên thời móng lòng dua vạy.
Bồ Tát thời không như vậy, vì hiểu rõ các pháp đều là
nhơn duyên. Bồ Tát dầu thấy chúng sanh có những lỗi lầm,
mà trọn không nói đến, vì sợ sanh phiền não, nếu sanh phiền
não thời phải đọa ác thú.
Bồ
Tát nầy nếu thấy chúng sanh có chút ít điều lành liền
tán thán đó. Gì là lành ? Chính là Phật tánh. Do Bồ Tát
tán thán Phật tánh nên chúng sanh phát tâm Bồ Đề.
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Như đức
Phật vừa nói : Bồ Tát tán thán Phật tánh làm cho chúng sanh
phát tâm Bồ Đề. Lời đây không đúng nghĩa. Vì đức Như
Lai lúc mới khai kinh Niết Bàn nói có ba hạng : Một là
nếu có người bịnh gặp được thầy giỏi thuốc hay, người
khán bịnh khéo thời được lành mạnh, nếu không đuợc như
trên thời bịnh không lành ; hai là được gặp hay không được
gặp đều không được lành ; ba là được gặp hay không được
gặp bịnh đều lành.
Tất
cả chúng sanh cũng có ba hạng như vậy : Một là hạng gặp
bạn lành, gặp Phật, Bồ Tát, nghe nói diệu pháp thời được
phát tâm Bồ Đề, nếu không gặp thời không phát, đây là
chỉ cho các bực Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na hàm, A La Hán
và Bích Chi Phật.
Hai
là hạng dầu được gặp bạn lành, gặp Phật, Bồ Tát, được
nghe diệu pháp cũng chẳng phát tâm Bồ Đề, đây là nói hạng
Nhứt Xiển Đề.
Ba
là hạng hoặc gặp hay chẳng gặp, tất cả đều có thể
phát tâm Bồ Đề, đây là nói Bồ Tát.
Nếu
đã nói rằng gặp cùng chẳng gặp tất cả đều phát tâm
vô thượng Bồ Đề, giờ đây tại sao đức Như Lai lại nói
: Do tán thán Phật tánh làm cho chúng sanh phát tâm vô thượng
Bồ Đề ?
Thế
Tôn ! Nếu nói rằng gặp cùng chẳng gặp đều không thể
phát tâm Bồ Đề cả, lời nầy cũng không đúng nghĩa, vì
hạng nầy sẽ được vô thượng Bồ Đề. Hạng Nhứt Xiển
Đề do vì có Phật tánh, nên hoặc được gặp hay không được
gặp, cũng đều sẽ được vô thượng Bổ Đề.
Thế
Tôn ! Như đức Phật định nghĩa Nhứt Xiển Đề là dứt
thiện căn, cũng không đúng. Vì hạng nầy không dứt Phật
tánh. Cứ lý thời Phật tánh không thể dứt, sao đức Phật
nói là dứt thiện căn ?
Như
trong mười hai bộ kinh của Phật nói ngày trước, có hai thứ
thiện căn : Thường và vô thường. Thiện căn thường thời
không dứt, còn vô thường thời dứt.
Thiện
căn vô thường có thể dứt nên đọa địa ngục. Còn thường
chẳng thể dứt, cớ sao đức Phật chẳng có lời ngăn ?
Chẳng
dứt Phật tánh chẳng phải nhứt xiển đề, cớ sao đức
Phật lại nói là nhứt xiển đề ?
Thế
Tôn ! Nếu nhơn Phật tánh mà phát tâm vô thượng Bồ Đề,
cớ sao Như Lai lại vì chúng sanh nói rộng mười hai bộ kinh
?
Thế
Tôn ! Như bốn con sông lớn từ ao A Na Bà Đạp Đa chảy ra,
nếu có trời, người, cùng chư Phật cũng không thể bảo
rằng nước sông lớn nầy không chảy vào biển cả sẽ trở
lại nguồn.
Cũng
vậy, người có Phật tánh, không luận nghe pháp hay không nghe,
có giới hay không giới, có bố thí hay không bố thí, có tu
hay không tu, có trí hay không trí, tất cả lẽ ra đều được
vô thượng Bồ Đề.
Thế
Tôn ! Như từ núi A Đà Diên, mặt trời mọc lên đến hướng
chánh nam, không bao giờ mặt trời có thể nghĩ rằng ta không
đến hướng Tây, ta trở lại phương Đông. Cũng vậy, đã
có Phật tánh không có lẽ chẳng được vô thượng Bồ Đề
mặc dầu không nghe pháp, không trì giới, không bố thí, không
tu, không trí huệ.
Thế
Tôn ! Như Lai nói tánh nhơn quả là chẳng phải có chẳng phải
không. Nghĩa nầy cũng chẳng đúng.
Vì
như trong sữa không có tánh của chất lạc, thời tất không
có lạc. Như hột ni câu đà không có tánh cây năm trượng
cao, thời tất không mọc lên cây cao năm trượng. Nếu trong
Phật tánh không có cội vô thượng Bồ Đế, sao lại có thể
sanh cội Bồ Đề vô thượng. Cứ như nghĩa nầy, thời làm
sao hiệp với nghĩa nhơn quả chẳng phải có chẳng phải không
của Phật đã nói ?
Đức
Thế Tôn tán thán rằng : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện
nam tử ! Trong đời có hai hạng người rất là hi hữu như
hoa Ưu Đàm : Một là người không phạm tội ác ; hai là người
có tội biết hối cải.
Lại
có hai hạng người rất hi hữu : Một là làm ơn ; hai là nhớ
ơn.
Lại
có hai hạng người rất hi hữu : Một là học hỏi điều
mới ; hai là ôn nhuần điều học cũ không quên.
Lại
có hai hạng người rất hi hữu : Một là tạo ra mới, hai
là tu sửa chỗ cũ.
Lại
có hai hạng người rất hi hữu : Một là thích nghe pháp ;
hai là thích thuyết pháp.
Lại
có hai hạng người rất hi hữu : Một là khéo gạn hỏi ;
hai là khéo giải đáp.
Người
khéo gạn hỏi chính là ông vậy. Người khéo giải đáp chính
là Như Lai vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nơi khéo gạn hỏi bèn chuyển được pháp
luân vô thượng, có thể làm khô cây do mười hai nhơn duyên,
có thể qua khỏi sông lớn sanh tử vô biên, có thể chiến
đấu với ma vương Ba Tuần, có thể xô ngã thắng tràng của
Ba Tuần dựng.
Nầy
Thiện nam tử ! Như trước kia Phật nói ba hạng bịnh nhơn,
hạng gặp thầy giỏi, thuốc hay, khán bịnh khéo, cùng không
gặp đều được lành mạnh, đó là vì thọ mạng quyết định,
do vì người nầy trong vô lượng đời đã tu ba thứ thiện
căn : Thượng, Trung và Hạ, nên được thọ mạng quyết định.
Như người Uất Đơn Việt tuổi thọ ngàn năm, nếu mắc phải
bịnh , dầu gặp thầy gặp thuốc được săn sóc kỹ, cùng
không gặp đều sẽ được lành mạnh cả, vì họ đã được
tuổi thọ quyết định.
Hạng
bịnh nhơn nếu gặp thầy giỏi thuốc hay, khán bịnh khéo
thời được lành, bằng không gặp thời chẳng lành, đây
là những người thọ mạng không quyết định. Hạng người
nầy dầu thọ mạng chưa hết, song có chín nhơn duyên có thể
làm họ chết yểu : Một là biết ăn sẽ không an mà cứ ăn,
hai là ăn quá nhiều ;l ba là ăn chưa tiêu mà lại ăn nữa
; bốn là đại tiều không điều hòa ; năm là lúc bịnh không
nghe theo lời chỉ dẫn của y sĩ ; sáu là chẳng nghe lời dặn
bảo của người khán bịnh ; bảy là cố nín nhẫn không chịu
ói ; tám là đi đêm, vì đi đêm sẽ bị ác quỷ, ác trùng
làm hại ; chín là phòng thất quá độ. Do đây nên Phật nói
hạng bịnh nhơn nầy gặp thầy gặp thuốc thời lành, nếu
không gặp thời không lành.
Hạng
bịnh nhơn gặp thầy gặp thuốc hay không gặp đều không
được lành mạnh, đây là những người tuổi thọ đã hết.
Chúng
sanh cũng như vậy. Người phát tâm Bồ Đề, nếu gặp bạn
lành, chư Phật, Bồ Tát, được học hỏi pháp cao sâu, hoặc
không được gặp được học, tất cả đều sẽ được thành,
vì người nầy đã có thể phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Như người Uất Đơn Việt có thọ mạng quyết định.
Hàng
nhị thừa từ Tu Đà Hoàn đến Bích Chi Phật, nếu được
nghe thiện hữu, Chư Phật, Bồ Tát giảng nói pháp Đại Thừa
thời có thể phát tâm Bồ Đề, nếu không gặp không nghe
thời không thể phát tâm Bồ Đề vô thượng. Như người
thọ mạng không quyết định, do chín duyên làm cho họ phải
yểu thọ, nếu gặp Thầy gặp thuốc thời lành, không gặp
thời bịnh không lành.
Hạng
nhứt xiển đề, dầu có gặp thiện hữu, chư Phật,
Bồ Tát, có nghe pháp cao sâu, hay không nghe không gặp, đều
không thể lìa tâm nhứt xiển đề, vì họ đã dứt thiện
căn. Hạng nhứt xiển đề cũng được thành vô thượng Bồ
Đề, vì nếu có thể phát tâm Bồ Đề vô thượng thời chẳng
còn gọi là nhứt xiển đề.
Nầy
Thiện nam tử ! tại sao nói hạng nhứt xiển đề được vô
thượng Bồ Đềà ?
Hạng
nhứt xiển đề, thật ra không thể được vô thượng Bồ
Đề, như người tuổi thọ đã hết, dầu gặp thầy gặp
thuốc, cũng không lành bịnh được.
Nầy
Thiện nam tử ! “ Nhứt Xiển” gọi “Tín”, “Đề” là
bất cụ, bất cụ tín gọi là nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là tín ; chúng sanh chẳng phải là cụ ; bởi
bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
Xiển” gọi là thiện phương tiện ; “Đề” là bất
cụ, vì tu thiện phương tiện chẳng đầy đủ nên gọi là
nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là tu thiện phương tiện ; chúng sanh
chẳng phải là cụ ;l bởi bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
xiển” gọi là tiến : “Đề” là bất cụ ; vì tinh
tiến chẳng đầy đủ nên gọi là nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là tiến ; chúng sanh chẳng phải là cụ ;
vì bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
Xiển”gọi là niệm ; :”Đề” là bất cụ ; vì niệm chẳng
đầy đủ nên gọi là nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là niệm, chúng sanh chẳng phải là cụ ;
vì bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
Xiển” gọi là định, “Đề” là bất cụ ; vì định
chẳng đầy đủ nên gọi là nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là định ; chúng sanh chẳng phải là cụ
; vì bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
Xiển” gọi là huệ ; “Đề” là bất cụ ; vì huệ chẳng
đầy đủ nên gọi là nhứt xiển đề.
Phật
tánh chẳng phải là huệ ; chúng sanh chẳng phải là cụ ;
vì bất cụ nên thế nào dứt được.
“Nhứt
Xiển” gọi là vô thường thiện ; “‘Đề” là bất cụ
; vì vô thường thiện chẳng đủ nên gọi là nhứt xiển
đề.
Phật
tánh là thường, chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện.
Vì thiện pháp là từ phương tiện mà được, mà Phật tánh
chẳng phải từ phương tiện được, nên gọi là chẳng
phải thiện.
Do
Phật tánh có thể được thiện quả vô thượng Bồ Đề,
nên nói là chẳng phải bất thiện.
Lại
vì thiện pháp sanh rồi mà được, còn Phật tánh không phải
sanh rồi mà được nên nói là chẳng phải thiện.
Bởi
dứt cả thiện pháp sanh và được, nên gọi là nhứt xiển
đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Như ông gạn hỏi nếu nhứt xiển đề có
Phật tánh, tại sao không ngăn tội địa ngục ?
Nầy
Thiện nam tử ! Trong nhứt xiển đề không có Phật tánh.
Ví
như nhà vua nghe tiến đờn véo von thánh thót, quá thích thú
say sưa, bèn bảo đại thần : Tiếng quá hay như thế từ đâu
mà có ?
Đại
thần tâu là từ cây đờn phát ra tiếng ấy.
Nhà
vua truyền đem đờn đến trước mặt, rồi bảo cây đờn
kêu đi ! Kêu đi ! Cây đờn vẫn không kêu. Nhà vua bèn bứt
dây, rọc da, chẻ cây, tìm mãi vẫn không có tiếng. Nhà vua
nổi giận trách đại thần là tâu dối.
Đại
thần phân trần : Nếu muốn cho đờn kêu ra tiếng thời phải
khéo khảy đánh, chớ không phải làm cách như vậy.
Phật
tánh của chúng sanh cũng như vậy, vốn không chỗ trụ. Dùng
phương tiện khéo thời thấy được. Vì được thấy nên
được vô thượng Bồ Đề.
Hạng
nhứt xiển đề không thấy Phật tánh, làm thế nào ngăn được
tội ba
ác
đạo !
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu nhứt xiển đề tin có Phật tánh, nên
biết rằng người nầy không bị sa vào ba ác đạo, cũng chẳng
còn gọi là nhứt xiển đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Như lời ông gạn, nếu trong sữa không có
tánh của chất lạc thời lẽ ra chẳng có lạc ; nếu trong
hột Ni Câu Đà không có tánh cao năm trượng thời lẽ ra không
mọc lên cây cao năm trượng ?
Kẻ
ngu si mới nói như thế, người trí không bao giờ nói như
thế, vì là không có tánh vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu trong sữa có tánh của chất lạc lẽ
ra chẳng cần nhờ công lực các duyên. Như nước và sữa
trộn lộn, rồi nằm chờ đến mãn tháng trọn không thành
lạc. Nếu dùng một giọt sữa rồi tìm nước cây nhễu vào
bèn thành lạc. Nếu vốn đã có lạc sao lại phải nhờ duyên.
Phật
tánh của chúng sanh cũng như vậy, nhờ các duyên thời được
thấy, nhờ các nhơn duyên thành vô thượng Bồ Đề. Nếu
phải chờ các nhơn duyên rồi sau mới thành thời chính là
vô tánh vậy. Do vô tánh nên có thể thành vô thượng Bồ
Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Do cớ trên đây nên Đại Bồ Tát thường
tán thán điều lành của người, chẳng rao nói lỗi xấu của
kẻ khác, đây gọi là chất trực tâm.
Lại
thế nào là Bồ Tát có tâm chất trực ? Bồ Tát thường không
phạm lỗi ác. Thiết sử có lầm lỗi thời liền sám hối
với thầy, với bạn đồng học, trọn chẳng che giấu. Tự
hổ thẹn, tự trách, chẳng dám tái phạm. Nơi tội khinh xem
dường rất nặng. Nếu người gạn hỏi liền đáp rằng thiệt
có phạm, là chẳng tốt, là chẳng lành, tội nầy là quả
ác, là chính tôi gây tạo đây là do phiền não cấu tập.
Do trực tâm nên tin có Phật tánh, vì tin Phật tánh nên không
gọi là nhứt xiển đề. Do trực tâm nên gọi là đệ tử
Phật. Nếu lãnh thọ đồ cúng dường của người, dầu
mỗi thứ cả ngàn muôn cũng chẳng đủ làm nhiều.
Đây
gọi là Bồ Tát tâm chất trực.
Thế
nào là Bồ Tát tu trì giới luật ?
Bồ
Tát tu trì cấm giới, chẳng cầu sanh thiên, chẳng vì khủng
bố, nhẫn đến chẳng thọ cẩu giới, kê giới, ngưu giới,
trĩ giới. Chẳng thật hành phá giới, giới khuyết điểm,
giới tỳ vết, giới tạp, giới Thanh Văn, mà thọ trì giới
Đại Bồ Tát, thọ trì giới Thi La Ba La Mật được giới
đầy đủ chẳng sanh kiêu mạn.
Đây
gọi là Bồ Tát tu Đại Niết Bàn trọn nên công hạnh thứ
ba là giới.
Thế
nào là Bồ Tát gần gũi thiện hữu ?
Đại
Bồ Tát thường vì chúng sanh nói thiện đạo chẳng nói ác
đạo. Nói ác đạo chẳng phải quả báo lành tốt.
Nầy
Thiện nam tử ! Thân của Phật đây là chơn thiện tri thức
của tất cả chúng sanh, vì thế nên có thể dứt tà kiến
của Bà La Môn Phú Dà La. Nếu có chúng sanh nào gần gũi Phật,
dầu có tội địa ngục cũng liền được sanh thiên, như gã
Tu Na Sát Đa La v.v… đáng lẽ đọa địa ngục, do gặp được
Phật tội liền tiêu trù mà sanh lên trời cõi sắc.
Dầu
có các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v…, nhưng chẳng
gọi là chơn thiện tri thức của chúng sanh, vì các ông ấy
là nhơn duyên sanh tâm nhứt xiển đề vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Ngày trước lúc Phật ở nước Ba La Nại,
ông Xá Lợi Phát có dạy hai đệ tử : Một người tu
bạch cốt quán, một người tu sổ tức quán. Trải qua nhiều
năm tu tập, cả hai người đều không được chánh định
bèn sanh tà kiến cho rằng không Niết Bàn vô lậu, giả sử
có thời chúng tôi đã được, vì chúng tôi khéo trì giới,
tinh tấn tu.
Phật
rõ việc nầy bèn gọi Xá Lợi Phất mà quở rằng : Ông không
khéo dạy dổ. Sao ông thuyết pháp điên đảo cho hai đệ tử
như vậy. Hai đệ tử của ông đó, căn tánh đều khác nhau
: Một người vốn là thợ giặt, một người vốn là thợ
kim hoàn. Thợ kim hoàn nên truyền pháp sổ tức quán, người
thợ giặt phải dạy bạch cốt quán. Vì ông dạy lầm nên
làm cho cả hai sanh tà kiến.
Quở
xong, Phật chỉ dạy cho hai người đệ tử tu quán như đã
bảo với ông Xá Lợi Phất. Sau đó hai người đều chứng
quả A La Hán. Vì thế nên Phật là chơn thiện tri thức của
tất cả chúng sanh.
Giả
sử có chúng sanh nào kiết sử cực trọng mà được gặp
Phật, Phật liền dùng phương tiện dứt trừ được cả.
Như
em Phật, ông Nan Đà, có dục vọng rất nặng, Phật dùng phương
tiện khéo làm cho Nan Đà hết dục vọng.
Như
gã Ươn Quật Ma La có lòng sân rất nặng, do gặp Phật mà
hết sân.
Vua
A Xà Thế có ngu si dày, đến ra mắt Phật liền hết ngu si.
Như
trưởng giả Bà Hi Dà từ vô lượng kiếp quen tập phiền
não rất nặng, quy y với Phật liền sạch phiền não.
Giả
sử có kẻ tệ ác hèn hạ, được gần gũi Phật làm đệ
tử, thời tất cả trời người đều cung kính mến tưởng.
Ông
Thi Hội Cúc Đa tà kiến rất nặng, nhơn gặp Phật mà hết
tà kiến.
Do
gặp Phật nên tiêu tội địa ngục thành duyên sanh thiện,
như gã chiên đà la Khí Hứ.
Do
gặp Phật, nên lúc sắp chết trở lại được sống lâu,
như Thiên Đế Kiều Thi Ca.
Do
gặp Phật, nên hết điên cuồng, như Sấu Cù Đàm Di.
Do
gặp Phật, nên bỏ nghề giết thịt, như Tỳ Kheo Xiển Đề.
Do
gặp Phật, nên thà chết chớ không phạm cấm giới, như các
Tỳ Kheo bị trói bằng dây cỏ tươi.
Do
nghĩa trên đây, nên A Nan nói nửa phần phạm hạnh là
thiện tri thức, Phật bảo là không phải. Đầy đủ phạm
hạnh mới gọi là thiện tri thức.
Đây
là Bồ Tát tu Đại Niết Bàn trọn nên điều thứ tư là gần
gũi thiện tri thức.
Thế
nào là Bồ Tát đầy đủ đa văn ?
Đại
Bồ Tát vì Đại Niết Bàn, mười hai bộ kinh mà biên chép,
đọc tụng, giải thuyết, thời gọi là Bồ Tát đầy đủ
đa văn.
Trừ
mười một bộ kinh, chỉ thọ trì , đọc tụng, biên chép,
giải thuyết bộ Tỳ Phật Lược, cũng gọi là Bồ Tát đầy
đủ đa văn.
Trừ
cả mười hai bộ kinh, nếu có thể thọ trì, đọc tụng,
biên chép, giải thuyết kinh điển vi diệu Đại Niết Bàn
nầy thời gọi là Bồ Tát đầy đủ đa văn.
Không
đợi thọ trì toàn bộ kinh nầy, chỉ thọ trì một bài kệ
bốn câu, hoặc chỉ có thể thọ trì câu Như Lai thường trụ
tánh không biến đổi ; đây gọi là Bồ Tát đầy đủ đa
văn.
Không
đợi như trên, hoặc chỉ biết rằng Như Lai thường không
thuyết pháp, cũng gọi là Bồ Tát đầy đủ đa văn, vì pháp
vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường
không chỗ n ói.
Đây
gọi là Bồ Tát tu tập Đại Niết Bàn trọn nên điều thứ
năm là đầy đủ đa văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu có nam tử cùng nữ nhơn nào vì Đại
Niết Bàn mà trọn nên năm điều như trên thời làm được
việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, thí được việc
khó thí.
Thế
nào Bồ Tát làm được việc khó làm ?
Nếu
nghe có người mỗi ngày ăn một hột mè mà được thành vô
thượng Bồ Đề, vì tin theo đây, Bồ Tát có thể trong vô
lượng vô số kiếp, mỗi ngày thường ăn một hột nè.
Nếu
nghe rằng vào lửa mà được thành vô thượng Bồ Đề, Bồ
Tát có thể trong vô lượng kiếp vào trong lửa dữ ở ngục
A Tỳ.
Thế
nào là Bồ Tát nhẫn được việc khó nhẫn ?
Nếu
nghe rằng chịu những đau khổ : Tay đánh gậy đập, đá ném,
dao chém mà được Đại Niết Bàn, Bồ Tát có thể chịu đủ
tất cả sự khổ ấy trong vô lượng kiếp mà không thấy
là đau khổ.
Thế
nào là Bồ Tát thí được việc khó thí ?
Nếu
nghe rằng đem vợ con, nhà nước, đầu mắt tủy não bố thí
cho người thời được thành vô thượng Bồ Đề, Bồ Tát
liền ở trong vô lượng vô số kiếp đem những thứ ấy bố
thí cho người, không một niệm hối tiếc.
Bồ
Tát dầu làm, dầu nhẫn, dầu bố thí như vậy, song trọn
không có quan niệm rằng tôi làm, tôi nhẫn, tôi bố thí.
Ví
như cha mẹ chỉ có một con trai, rất mến yêu con, cho con ăn
ngon mặc đẹp. Nếu bị con khinh khi mắng hỗn, cha mẹ cũng
không hờn giận, cũng chẳng nghĩ công nuôi dưỡng.
Cũng
vậy, Bồ Tát xem chúng sanh như con một.
Nếu
con phải bịnh, thời cha mẹ cũng bịnh, lo tìm thầy chạy
thuốc ; khi con đã được lành mạnh, cha mẹ cũng chẳng nghĩ
rằng ta lo chạy chữa cho con.
Cũng
vậy, Bồ Tát thấy chúng sanh bị mắc bịnh phiền não, thương
xót đem chánh pháp dạy cho. Nhờ nghe chánh pháp mà chúng sanh
dứt được phiền não. Bồ Tát trọn không nghĩ rằng ta làm
cho chúng sanh hết phiền não. Nếu có quan niệm chúng sanh được
độ thời không thể thành vô thượng Bồ Đề. Chỉ có quan
niệm rằng không có một chúng sanh nào được nghe ta thuyết
pháp mà dứt phiền não.
Bồ
Tát đối với chúng sanh không có lòng sân hận, không có lòng
hỷ lạc, vì Bồ Tát khéo tu tập không tam muội. Nếu là tu
tập không tam muội, thời Bồ Tát còn sanh sân, sanh hỷ đối
với ai ?
Ví
như cụm rừng kia bị người chặt đốn, bị lửa cháy, bị
nước ngập, cụm rừng sẽ sanh sân hỷ với ai ? Cũng vậy,
đối với chúng sanh Bồ tát không có lòng sân hỷ , vì đã
khéo tu tập không tam muội vậy .
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát bạch Phật : “Thế Tôn ! tất cả
các pháp là tánh nó tự không, hay là vì không, không nên không
?
Nếu
tánh nó tự không thời chẳng nên tu không rồi sau mới thấy
được không. Tại sao đức Như Lai nói do tu không mà được
thấy không ?
Nếu
tánh nó tự chẳng không , thời dầu có tu không, cũng chẳng
thể làm cho nó thành không ?
Phật
bảo : “ Nầy Thiện nam tử ! Tất cả các pháp tánh của
nó tự không, vì tánh của tất cả pháp vốn là bất khả
đắc vậy .
Như
sắc tánh bất khả đắc. Thế nào là sắc tánh ? Xét nơi
sắc, chẳng phải là địa, thủy , hỏa , phong, cũng chẳng
rời ngoài địa, thủy, hỏa, phong ; chẳng phải xanh, vàng,
đỏ, trắng, cũng chẳng rời ngoài xanh, vàng, đỏ, trắng
; chẳng phải có, chẳng phải không, đâu có thể nói là sắc
có tự tánh. Vì tánh bất khả đắc nên gọi là không.
Tất
cả pháp khác cũng như vậy.
Bởi
tương tợ tương tục nên phàm phu theo kiến thức của mình
mà cho là các pháp tánh chẳng không tịch. Còn Đại Bồ Tát
nhờ đầy đủ năm công hạnh nên thấy tất cả pháp, tánh
vốn không tịch.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu có Sa Môn hay Bà La Môn nào thấy tất
cả pháp, tánh chẳng không, phải biết rằng người đó không
phải là Sa Môn, Bà La Môn, người đó không tu tập Bát Nhã
Ba La Mật, chẳng được vào Đại Niết Bàn, chẳng được
hiện tiền thấy Phật, Bồ Tát ; người đó là quyến thuộc
của ma.
Nầy
Thiện nam tử ! tất cả các pháp tánh nó vốn tự không, cũng
do Bồ Tát tu tập không mà thấy các pháp là không.
Nầy
Thiện nam tử ! Như tất cả pháp vì tánh nó vô thường nên
diệt có thể diệt được. Nếu chẳng phải là vô thường
thời diệt chẳng thể diệt được.
Pháp
hữu vi, vì có sanh tướng nên sanh có thể sanh nó, vì có diệt
tướng nên diệt có thể diệt nó. Các pháp vì có tướng
khổ nên khổ có thể làm cho khổ ?
Như
tánh muối là mặn nên có thể ướp mặn vật khác. Vì tánh
mật là ngọt nên có thể ướp ngọt vật khác. Vì tánh giấm
là chua nên có thể ướp chua vật khác. Vì tánh gừng là cay
nên có thể ướp cay vật khác. Vì A Lê Lặc đắng nên có
thể ướp đắng vật khác. Vì trái Am La lạt nên có thể
ướp lạt vật khác. Tánh chất độc có thể làm hại, nên
ướp vật khác thành độc có thể làm hại. Tánh cam lộ làm
cho người không chết, nếu đem hiệp với vật khác cũng có
thể thành vị bất tử ?
Bồ
Tát tu không cũng như vậy. Vì tu không nên thấy tất cả pháp,
tánh của nó đều không tịch.
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát lại bạch : “ Thế Tôn ! Nếu
như muối có thể làm cho vật không phải mặn thành ra mặn.
Tu không tam muội cũng như vậy, thời chánh định nầy không
lành, không diệu, tánh cách điên đảo. Nếu không tam muội
chỉ thấy không, không là không có pháp thời là thấy những
gì ?”
Phật
bảo : “ Nầy Thiện nam tử ! Không tam muội nầy thấy nơi
pháp chẳng phải không, mà có thể làm thành không tịch, nhưng
vẫn chẳng phải là điên đảo. Như muối làm vật không mặn
thành mặn. Cũng vậy, không tam muội làm pháp chẳng không
thành không.
Nầy
Thiện nam tử ! Tham là tánh có chẳng phải tánh không. Nếu
tham là tánh không thời lẽ ra chúng sanh chẳng vì tham mà phải
đọa địa ngục. Nếu bị đọa địa ngục, thời tham tánh
đâu phải là không !
Nầy
Thiện nam tử ! Sắc tánh là có. Gì là sắc tánh ? Chính là
điên đảo. Do điên đảo nên chúng sanh tham đắm. Nếu sắc
tánh chẳng phải điên đảo thời đâu có thể làm cho chúng
sanh tham đắm ! Vì sanh tham nên biết rằng sắc tánh chẳng
phải là không có. Do cớ trên đây nên tu không tam muội chẳng
phải là điên đảo vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Tất cả phàm phu nếu thấy người nữ liền
sanh tướng nữ.
Bồ
Tát thời không như vậy, dầu thấy người nữ nhưng không
sanh tướng nữ, vì không sanh tướng nữ nên không sanh tham
; tham không sanh chẳng phải là điên đảo vậy.
Vì
người đời thấy có người nữ, nên Bồ Tát tùy thuận nói
có người nữ. Nếu lúc thấy người nam mà nói là nữ, thời
là điên đảo.
Do
đây nên Phật bảo Xa Đề rằng : Nầy Bà La Môn ! Nếu cho
ngày là đêm, thời là điên đảo. Cho đêm là ngày cũng là
điên đảo.
Nầy
Thiện nam tử ! Tất cả Bồ Tát trụ bực cửu địa thấy
pháp có tánh, do đây nên không thấy Phật tánh, nếu đã thấy
Phật tánh thời chẳng còn thấy tánh tất cả pháp. Do tu tập
không tam muội nên chẳng thấy pháp tánh. Vì không thấy
Pháp
tánh nên thấy Phật tánh.
Chư
Phật và Bồ Tát có hai thuyết : Một là có tánh, hai là không
tánh.
Vì
chúng sanh nên nói có Pháp tánh, vì các bực hiền thánh nên
nói không Pháp tánh.
Vì
muốn người không thấy được pháp không, nên tu không tam
muội khiến thấy được không. Người không thấy pháp tánh
cũng do tu không nên không. Do nghĩa nầy nên tu không thời thấy
được không.
Nầy
Thiện nam tử ! Ông gạn rằng : Người thấy không đó, không
là không có pháp thời thấy những gì ?
Nầy
Thiện nam tử ! Đúng như vậy, Đại Bồ Tát thiệt không chỗ
thấy, không chỗ thấy chính là không chỗ có, không chỗ có
chính là tất cả pháp. Đại Bồ tát tu Đại Niết Bàn nơi
tất cả pháp đều không chỗ thấy. Nếu có chỗ thấy thời
không thấy Phật tánh, không thể tu tập Bát Nhã Ba La Mật.
Chẳng được vào nơi Đại Niết Bàn. Vì thế nên Bồ Tát
thấy tất cả pháp, tánh vô sở đắc.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát chẳng những nhơn tu tam muội mà thấy
không, Bát Nhã Ba La Mật cũng không, thiền Ba La Mật cũng không,
Tỳ Lê Gia Ba La Mật cũng không, Sằn Đề Ba La Mật cũng không,
Thi La Ba La Mật cũng không, Đàn Ba La Mật cũng không, sắc
cũng không, nhãn cũng không, thức cũng không, Như Lai cũng không,
Đại Niết Bàn cũng không. Vì thế nên Bồ Tát thấy tất
cả pháp đều là không.
Do
đây nên lúc ở thành Ca Tỳ La, Phật bảo A Nan : Ông chớ
sầu não khóc
lóc
! _ A Nan bạch : Thế Tôn ! Nay quyến thuộc của tôi đều bị
giết chết cả, làm sao tôi không sầu não khóc lóc được
! Như Lai cùng tôi đồng sanh trưởng tại thành nầy, đồng
là thân thích của dòng Thích Ca, tại sao chỉ riêng có Như
Lai là không sầu não, dung nhan lại tươi sáng như vậy ?
_ Nầy
A Nan ! Ông thấy thành Ca Tỳ La là có thật, còn Phật thời
thấy là không tịch trọn không chỗ có. Ông thấy dòng Thích
Ca là thân thích, còn Phật vì tu không nên đều không chỗ
thấy. Vì thế nên ông sanh lòng sầu khổ, còn dung nhan của
Phật càng thêm tươi sáng.
Nầy
Thiện nam tử ! Vì chư Phật và Bồ Tát tu tập không tam muội
như vậy nên chẳng sanh sầu não.
Đây
gọi là Bồ Tát tu tập kinh Đại Niết Bàn, thành tựu đầy
đủ phần công đức thứ chín.
Nầy
Thiện nam tử ! Thế nào là Bồ Tát tu tập kinh Đại Niết
Bàn, thành tựu đầy đủ phần công đức thứ mười rốt
sau cả ?
Bồ
Tát tu tập ba mươi bảy phần trợ đạo vào Đại Niết Bàn
thường, lạc, ngã, tịnh. Vì các chúng sanh phân biệt gỉai
thuyết kinh Đại Niết Bàn hiển thị Phật tánh.
Nếu
Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ
Tát tin lời trên đây thời được vào Đại Niết Bàn. Nếu
người không tin thời luân hồi sanh tử .
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Những
chúng sanh nào ở trong kinh nầy chẳng sanh lòng cung kính ?
Phật
bảo : “ Nầy Thiện nam tử ! Sau khi ta nhập Niết Bàn có
hàng Thanh Văn đệ tử ngu si phá giới ưa sanh sự đấu tranh,
bỏ mười hai bộ kinh, mà đi đọc tụng văn kệ sách vở
của ngoại đạo, nhận chứa tất cả vật bất tịnh, nói
rằng Phật cho phép. Những người ngu si nầy đem chiên đàn
tốt đổi lấy gỗ tạp, đem vàng đổi lấy thau, đem bạc
đổi lấy nhôm, hàng lụa đổi lấy bố gai, đem vị cam lộ
đổi lấy chất độc.
Thế
nào là chiên đàn đổi lấy gỗ tạp ?
Như
các đệ tử vì cúng dường mà thuyết kinh pháp cho hàng bạch
y. Hàng bạch y phóng dật không thích nghe pháp. Bạch y ngồi
cao, Tỳ Kheo ngồi thấp. Nhẫn đến đem những đồ ăn uống
ngon để cung cấp mà họ vẫn chẳng bằng lòng nghe. Đây gọi
là đem chiên đàn đổi lấy gỗ tạp.
Thế
nào là đem vàng đổi lấy thau ?
Thau
là dụ cho sắc thinh, hương, vị, xúc năm dục trần, vàng
là dụ cho giới. Đệ tử của ta vì sắc mà phá giới đã
thọ. Đây là đem vàng đổi lấy thau.
Thế
nào là đem bạc đổi lấy nhôm ?
Bạc
dụ cho thập thiện, nhôm dụ cho thập ác. Đệ tử của ta
vất bỏ mười hạnh lành mà làm mười điều ác. Đây gọi
là đem bạc đổi lấy nhôm vậy ?
Thế
nào là đem lụa đổi gai bố ?
Gai
bố dụ cho vô tàm vô quý. Lụa dụ cho tàm quý. Đệ tử của
ta bỏ tàm quý quen tập vô tàm vô quý. Đây là đem lụa đổi
gai vậy ?
Thế
nào là vị cam lồ đổi chất độc ?
Chất
độc dụ cho các thứ lợi dưỡng. Cam lồ dụ cho pháp vô
lậu. Đệ tử của ta vì lợi dưỡng mà tự khen tự khoe với
hàng bạch y rằng mình được vô lậu. Đây là cam lồ đổi
chất độc.
Sau
nầy kinh Đại Niết Bàn lưu hành ở Diêm Phù Đề, có các
đệ tử Phật thọ trì, đọc tụng, biên chép, diễn thuyết
sẽ bị các ác Tỳ Kheo đây giết hại.
Lúc
đó các ác Tỳ Kheo nhóm họp nhau lập chế ước nghiệm rằng
: Vị nào đọc tụng thọ trì biên chép diễn thuyết kinh Đại
Niết Bàn, đều chẳng được cùng ở, cùng ngồi, cùng đàm
luận chuyện trò. Vì kinh Đại Niết Bàn chẳng phải của
Phật nói, do người tà kiến tạo ra. Người tà kiến là lục
sư, kinh điển của lục sư chẳng phải kinh điển của Phật.
Vì tất cả chư Phật đều nói các pháp là vô thường, vô
lạc, vô ngã, vô tịnh. Nếu nói các pháp là thường, lạc,
ngã, tịnh thời đâu phải là kinh do Phật nói.
Chư
Phật cho các đệ tử chứa các thứ vật, còn lục sư chẳng
cho các đệ tử cất chứa tất cả vật. Nếu cấm chứa thời
thế nào lại là lời của Phật ?
Chư
Phật chẳng cấm đệ tử dứt hẳn năm vị sữa bò và ăn
thịt. Còn lục sư chẳng cho ăn năm thứ muối, năm thứ vị
sữa bò và huyết mỡ. Nếu cấm những thứ nầy thời đâu
phải là kinh điển chánh của Phật !
Chư
Phật nói ba thừa, mà kinh nầy thuần nói nhứt thừa và Đại
Niết Bàn, thời đâu gọi là kinh điển chánh của Phật được
!
Chư
Phật rốt ráo nhập Niết Bàn, còn kinh nầy nói Phật là
thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng nhập Niết Bàn.
Kinh
nầy không ở trong số mười hai bộ, chính là ma thuyết, chẳng
phải Phật thuyết.
Nầy
Thiện nam tử ! Người như trên đây dầu là đệ tử Phật
mà chẳng thể tin thuận kinh Đại Niết Bàn nầy.
Nầy
Thiện nam tử ! Trong thời kỳ như vậy, nếu có chúng sanh
tin kinh điển nầy nhẫn đến nửa câu, phải biết rằng người
nầy thiệt là đệ tử của Phật, do sự tin nầy mà thấy
Phật tánh nhập Đại Niết Bàn.
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Ngày
nay đức Như Lai khéo khai thị kinh Đại Niết Bàn.
Thế
Tôn ! Tôi nhơn việc nầy bèn được giải ngộ kinh Đại Niết
Bàn một câu nửa câu. Do hiểu một câu đến nửa câu nên
thấy chút phần Phật tánh. Cứ như lời Phật nói, tôi cũng
sẽ được vào Đại Niêt Nàn.
Đây
gọi là Bồ Tát tu tập kinh Đại Niết Bàn thành tựu đầy
đủ phần công đức thứ mười.
