XX
PHẨM
PHẠM HẠNH THỨ HAI MƯƠI
(Hán
bộ trọn quyển 14, 15, 16, 17 và phần đầu quyển thứ 18)
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát tu phạm hạnh như thế nào
? Bồ-Tát-Ma- Ha-Tát trụ nơi Đại-thừa Đại Niết Bàn,
trụ bảy pháp lành thời phạm hạnh đầy đủ.
Bảy
pháp lành là : Một là biết pháp, hai là biết nghĩa, ba là
biết giờ, bốn
là
biết tri túc, năm là biết mình, sáu là biết chúng, bảy là
biết tôn ty.
Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát
như thế nào gọi là biết pháp. Nầy Thiện nam tử ! Bồ Tát
nầy biết mười hai bộ kinh tức là Tu Đa La, Kỳ Dạ, Thọ
Ký, Dà Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, A Ba Đà Na, Y Đế Mục Đà
Na, Xà Đà Dà, Tỳ Phật Lược, A Phù Đà Đạt Ma, Ưu
Bà Đề Xá.
Đây
là khế kinh Tu Đa La : Từ “ như thị ngã văn nhẫn đến
câu hoan hỷ phụng hành” tất cả như vậy gọi là Tu Đa
La kinh ( trường hàng). Đây là Kỳ-dạ : Phật bảo các Tỳ
kheo ngày xưa ta cùng các ông ngu si không trí huệ, chẳng thể
thấy bốn chơn đế đúng như thật, nên lưu chuyển mãi trong
biển khổ sanh tử. Bốn chơn đế là : Khổ Đế, Tập Đế,
Diệt Đế, và Đạo Đế.
Ngày
xưa đức Phật vì các Tỳ Kheo nói khế kinh xong lại có hàng
chúng sanh căn trí sáng tỏ, vì muốn nghe pháp nên đến chỗ
Phật hỏi mọi người rằng, đức Như Lai vừa rồi nói những
việc gì ? Lúc đó Phật vì hàng chúng sanh ấy đem kinh vừa
giảng nói thành kệ tụng :
Ta
xưa cùng các ông, Chẳng thấy bốn chơn đế, Nên phải lưu
chuyển mãi, Trong biển khổ sanh tử, Nếu thấy được bốn
đế, Thời dứt đặng sanh tử. Sanh tử đã hết rồi, Chẳng
còn thọ thân nữa.
Kệ
tụng trên đây gọi là Kỳ-Dạ kinh ( trùng tụng).
Những
gì gọi là thọ ký ? Như có lúc đức Như Lai nói kinh hay luật,
vì các hàng trời hay người mà thọ ký sẽ làm Phật. Như
nói : “ Đời sau có vua hiệu là Nhương Khư, ông A Dật Đa
sẽ ở cõi nầy thành bực chánh giác hiệu là Di Lặc Phật.
Đây gọi là thọ ký kinh.
Những
gì gọi là Dà Đà ? Trừ trường hàng và các giới luật,
ngòai ra những bài kệ bốn câu như :
Các
điều ác chớ làm, Phụng hành những điều lành, Lóng sạch
tâm ý mình, Là lời dạy của Phật.
Trên
đây gọi là Dà Đà kinh ( kệ cô khởi).
Những
gì gọi là Ưu Đà Na ? Như đức Phật lúc xế chiều nhập
thiền định, vì chư thiên giảng rộng các pháp yếu. Lúc
đó các Tỳ- kheo đều nghĩ rằng : Giờ đây đức Như Lai
đang làm việc gì ?
Sáng
ngày sau, đức Như Lai xuất định, không ai hỏi, dùng
tha tâm trí mà tự nói rằng : Nầy các Tỳ-kheo : Tất cả
chư thiên thọ mạng rất dài. Lành thay ! Các Tỳ- kheo biết
vì người, chẳng cầu tư lợi, biết thiểu dục, biết tri
túc, được tịch tịnh.
Những
kinh như trên đây không ai hỏi đức Phật tự giảng nói đó
gọi là Ưu Đà Na kinh (tự thuyết).
Những
gì là Ni Đà Na ? Như trong các kinh do nhơn duyên Phật vì người
khác diễn nói. Lệ như : Trong nước Xá Vệ có một chàng
trai giăng lưới bắt chim, bắt đặng chim nhốt trong lồng,
cho ăn lúa uống nước rồi lại thả đi. Đức Thế Tôn biết
nhơn duyên đó mà nói kệ rằng:
Chớ
khinh tội nhỏ, Cho là không họa, Giọt nước dầu nhỏ, Lần
đầy lu lớn.
Như
trên đây gọi là Ni Đà Na kinh ( nhơn duyên).
Những
gì là A Ba Đà Na ? Như những thí dụ trong luật nói.
Những
gì là Y Đế Mục Đa Dà ! Lệ như đức Phật nói : Nầy các
Tỳ-kheo ! Lúc ta xuất thế những điều ta dạy bảo gọi là
giới kinh. Lúc đức Câu Lưu Tôn Phật xuất thế lời Phật
dạy gọi là trống Cam-lồ . Lúc đức Phật Câu Na Hàm
Mâu Ni xuất thế lời Phật dạy gọi là Pháp cảnh.
Lúc
đức Phật Ca Diếp xuất thế lời Phật dạy gọi là Phân
biệt không.
Như
trên đây gọi là Y Đế Mục Đa Dà kinh ( bổn sự).
Những
gì là Xà Đà Dà ? Lệ như đức Phật xưa kia làm vị Bồ
Tát tu khổ hạnh. Như Phật nói : Nầy các Tỳ kheo ! Thuở
quá khứ ta từng làm nai, làm gấu, làm cheo, làm thỏ, làm
quốc vương, làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm rồng, làm kim
súy điểu v.v… Như trên đây gọi là Xa Đà Dà kinh (bổn
sanh).
Những
gì là Tỳ Phật Lược ? Tức là những kinh điển thuộc về
Đại thừa Phương đẳng nghĩa lý rộng lớn dường như hư
không (phương quảng).
Những
gì là vị tằng hữu ? Lệ như lúc đức Bồ Tát mới sanh
không ai đỡ dắt mà tự đi bảy bước, phóng quang minh lớn
ngó khắp mười phương. Lệ như con vượn tay bưng bát mật
dâng cúng đức Như Lai,. Lệ như chó cổ trắng đến bên Phật
nghe pháp. Lệ như ma vương Ba Tuần biến làm trâu xanh
đi trong bát sành, làm cho các bát sành đụng chạm lẫn nhau
mà không nứt bể. Lệ như Phật lúc mới sanh lúc vào thiên
miếulàm cho thiên tượng đứng dậy bước xuống đảnh lễ.
Những
đoạn kinh như trên đây gọi là Vị Tằng Hữu kinh.
Những
gì là Ưu Ba Đề Xá ? Lệ như đức Phật lúc nói kinh hoặc
luận nghĩa cùng phân biệt giảng rộng biện luận các
tướng mạo, đây gọi là Ưu Ba Đề Xá kinh (luận nghị).
Bồ
Tát nếu có thể rõ biết mười hai bộ kinh như vậy thời
gọi là biết pháp.
Bồ
Tát Ma Ha Tát như thế nào gọi là biết nghĩa ? Nếu Bồ Tát
ở nơi tất cả văn tự ngữ ngôn biết rộng những ý nghĩa
thời gọi là biết nghĩa.
Bố
Tát Ma Ha Tát thế nào là biết giờ ? Bồ Tát khéo biết
trong những giờ như vậy có thể tu tịch tịnh, trong những
giờ như vậy có thể tu tinh tấn, trong những giờ như vậy
có thể tu xả định, trong những giờ như vậy có thể
cúng dường Phật, trong những giờ như vậy có thể cúng dường
Sư trưởng, trong những giờ như vậy có thể tu hạnh bố
thí, trì giới nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, đầy đủ
Bát Nhã Ba La Mật. Như trên đây gọi là biết giờ.
Bồ
Tát Ma Ha Tát như thế nào gọi là tri túc ?
Bồ
Tát biết đủ đối với những việc dưới đây :Uống ăn,
y phục, thuốc men, đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói,
nín. Như trên đây gọi là tri túc.
Bồ
Tát Ma Ha Tát như thế nào gọi là biết mình ? Vị Bồ Tát
nầy tự biết rằng ta có đức tin như vậy, có giới như
vậy, có đa văn như vậy, có xả như vậy, có huệ như vậy,
có đi đến như vậy, có chánh niệm như vậy, có hạnh lành
như vậy, hỏi như vậy, đáp như vậy, như trên đây gọi
là biết mình.
Bồ
Tát Ma Ha Tát như thế nào gọi là biết người ? Bồ Tát nầy
biết những người đây là hàng Sát Đế Lợi, là hàng Bà
La Môn, là hàng Cư Sĩ, là hàng Sa Môn. Nên ở trong chúng nầy
đi đến như vậy, ngồi đứng như vậy, thuyết pháp như vậy,
hỏi đáp như vậy. Như trên đây gọi là biết người.
Bồ
Tát Ma Ha Tát thế nào gọi là biết người bực tôn bực ty
? Người có hai hạng : Một là có tín tâm, hai là chẳng có
tín tâm. Bồ Tát phải biết người có tín tâm thời là người
lành, người chẳng có tín tâm thời chẳng gọi là người
lành.
Người
có tín tâm lại có hai hạng: Một là người thường đến
chùa chiền, hai là người chẳng đến chùa, Bồ Tát phải
biết người đến chùa là lành, người chẳng đến chùa thời
chẳng gọi là lành.
Người
đến chùa lại có hai hạng : Một là lễ bái, hai là chẳng
lễ bái, Bồ Tát phải biết người lễ bái là lành, người
chẳng lễ bái thời chẳng gọi là lành.
Người
lễ bái lại có hai hạng : Một là nghe pháp, hai là chẳng
nghe pháp. Bồ Tát phải biết người nghe pháp là lành, người
chẳng nghe pháp thời chẳng gọi là lành.
Người
nghe pháp lại có hai hạng : Một là hết lòng lóng nghe, hai
là chẳng hết lòng. Bồ Tát phải biết người hết lòng nghe
thời gọi là lành, người chẳng hết lòng nghe thời chẳng
gọi là lành.
Hết
lòng nghe pháp lại có hai hạng : Một là suy gẫm ý nghĩa,
hai là chẳng suy gẫm ý nghĩa. Bồ Tát phải biết người gẫm
nghĩa là lành, người chẳng gẫm nghĩa thời chẳng gọi là
lành.
Người
gẫm nghĩa lại có hai hạng : Một là đúng như lời nói
thật hành, hai là chẳng thật hành đúng như lời nói. Người
thật hành gọi là lành, người chẳng thật hành thời chẳng
gọi là lành.
Thật
hành đúng như lời nói lại có hai hạng : Một là cầu quả
Thanh Văn chẳng có thể lợi ích an lạc tất cả chúng sanh
khổ não, hai là hồi hướng Đại thừa vô thượng, lợi ích
mọi người làm cho đặng an lạc. Bồ Tát phải biết lợi
ích mọi người làm cho đặng an lạc là điều lành vô thượng.
Nầy
Thiện nam tử ! Như trong các châu báu, như ý bảo châu tốt
đẹp hơn tất cả. Như trong các mùi vị, chất cam lồ là
hơn hết. Bồ Tát nầy ở nơi trong hàng trời người là bực
hơn tất cả không gì ví dụ được.
Như
trên đây gọi là bực Đại Bồ Tát trụ nơi kinh Đại Thừa
Đại Niết Bàn an trụ nơi bảy pháp lành. Bồ Tát trụ nơi
bảy pháp lành nầy thời đặng đầy đủ phạm hạnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Lại có phạm hạnh gọi là từ, bi, hỷ, xả.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Nếu người tu hạnh
từ có thể dứt sân khuể. Người tu lòng bi cũng dứt được
sân khuể. Sao lại nói là bốn tâm vô lượng. Xét theo nghĩa
đó thời lẽ ra chỉ có ba.
Thế
Tôn ! Lòng từ có ba duyên : Một là duyên chúng sanh, hai là
duyên nơi pháp, ba thời duyên không. Lòng bi, hỷ, xả, cũng
ba duyên như vậy, nếu theo nghĩa nầy thời lẽ ra chỉ có
ba chẳng nên có bốn .
Duyên
chúng sanh là duyên nơi thân ngũ ấm nguyện cho họ được
vui. Duyên nơi pháp là những vật chúng sanh cần dùng đem ban
cho họ. Không duyên tức là duyên nơi Như-Lai.
Lòng
từ thời phần nhiều duyên nơi chúng sanh nghèo cùng. Đức
Như Lai Đại Sư lìa hẳn sự nghèo cùng hưởng sự vui đệ
nhứt. Nếu duyên chúng sanh thời chẳng duyên nơi Phật, Pháp
cũng như vậy. Vì do nghĩa nầy nên duyên Như Lai gọi là không
duyên.
Thế
Tôn ! Lòng từ duyên tất cả chúng sanh, như duyên cha mẹ,
vợ con, thân thuộc. Do nghĩa nầy nên gọi là chúng sanh duyên.
Pháp
duyên là chẳng thấy cha mẹ, vợ con, thân thuộc. Thấy tất
cả pháp đều từ nơi duyên sanh ra. Đây gọi là pháp duyên.
Vô
duyên là chẳng trụ nơi pháp tướng và chúng sanh tướng.
Từ,
bi, hỷ, xả, đều duyên như vậy, vì thế nên lẽ ra chỉ
có ba chẳng nên có bốn.
Thế
Tôn ! Người có hai hạng : Một là kiến hành, hai là ái hành.
Người kiến hành nhiều tu từ bi, người ái hành nhiều tu
hỉ xả. Vì thế nên đáng lẽ có hai chẳng nên có bốn.
Thế
Tôn ! Luận về vô lượng gọi là vô biên. Vì chẳng thể
được biên bờ nên gọi là vô lượng. Nếu là vô lượng
thời lẽ ra nên có một chẳng nên nói là bốn.
Nếu
nói là bốn đâu đặng vô lượng. Vì thế nên là một chẳng
nên là bốn vậy”.
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát : “ Nầy Thiện nam tử ! Chư Phật Như
Lai vì mọi loài chúng sanh mà giảng nói pháp yếu. Lời của
Phật bí mật khó hiểu biết được. Hoặc vì chúng sanh nói
một nhơn duyên. Như nói những gì là một nhơn duyên tức
là tất cả pháp hữu vi.
Hoặc
nói hai thứ là nhơn cùng quả.
Hoặc
nói ba thứ là phiền não, nghiệp và khổ.
Hoặc
nói bốn thứ là vô minh, hành, sanh, và lão tử.
Hoặc
nói năm thứ là thọ, ái, thủ, hữu và vô sanh.
Hoặc
nói sáu thứ là nhơn quả ba đời.
Hoặc
nói bảy thứ là thức, danh sắc, lục nhập xúc, thọ, ái,
và thủ. Hoặc nói tám thứ là trong mười hai nhơn duyên trừ
vô minh, hành, sanh và lão tử.
Hoặc
nói chín thứ như trong Thánh kinh nói mười hai nhơn duyên trừ
vô minh, hành và thức.
Hoặc
nói mười một thứ như trong kinh Tát Giá Ni Kiền Tử nói
mười hai nhơn duyên trừ sanh.
Hoặc
có lúc nói đủ cả mười hai nhơn duyên. Như nơi thành Vương
Xá vì Ca Diếp v.v… nói vô minh nhẫn đến sanh, lão, bịnh,
tử.
Nầy
Thiện nam tử ! Như một nhơn duyên vì chúng sanh nên phân biệt
nhiều thứ, vô lượng tâm cũng như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Vì do nghĩa nầy đối với hạnh thâm mật
của Như Lai chẳng nên sanh nghi.
Đức
Như Lai có phương tiện lớn : Vô thường nói là thường,
thường nói là vô thường, nói vui là khổ, nói khổ là vui,
bất tịnh nói là tịnh, tịnh nói là bất tịnh, ngã nói là
vô ngã, vô ngã nói là ngã, nơi vô tình nói là hữu tình,
nơi hữu tình nói là vô tình, chẳng phải vật nói là vật,
vật nói là chẳng phải vật, chẳng phải thiệt nói là thiệt,
thiệt nói là chẳng phải thiệt, chẳng phải cảnh nói là
cảnh, cảnh nói là chẳng phải cảnh, chẳng phải sanh nói
là sanh, sanh nói là chẳng phải sanh, nhẫn đến vô minh nói
là minh, minh nói là vô minh, sắc nói là chẳng phải sắc,
chẳng phải sắc nói là sắc, chẳng phải đạo nói là đạo,
đạo nói là chẳng phải đạo. Nầy thiện nam tử ! Đức
Như Lai vì điều phục chúng sanh dùng vô lượng phương tiện
như vậy há lại là hư vọng ư !
Hoặc
co ùchúnh sanh tham của cải, đối với người đó ta tự hóa
thân mình làm vua Chuyển Luân, theo chỗ cần dùng của người
đó cung cấp các thứ vật dụng trong nhiều năm, rồi sau giáo
hoá nó, cho nó được trụ nơi vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Nếu
có chúng sanh tham đắm ngũ dục, trong nhiều năm ta đem ngũ
dục cung cấp nó, rồi sau khuyến hoá, cho nó trụ nơi vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Nếu
có chúng sanh sang giàu, thời ta trong nhiều năm vì người đó
mà làm tôi tớ hầu hạ cho người đó vừa lòng, rồi sau
khuyến hoá người đó trụ nơi vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Nếu
có chúng sanh cứng cỏi tự thị cần có người can gián, thời
ta trong nhiều năm can ngăn khuyên dạy, làm cho tâm người
đó điều thuận rồi sau khuyến hoá người đó trụ nơi vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy
Thiện nam tử ! Đức Như Lai trong vô lượng năm dùng mọi
thứ phương tiện làm cho chúng sanh được trụ nơi vô thượng
chánh đẳng chánh giác như vậy há lại hư vọng ư !
Chư
Phật Như Lai dầu ở trong chỗ ác nhưng như hoa sen không bị
nhiễm ô.
Nầy
Thiện nam tử ! Nên biết nghĩa của bốn tâm vô lượng cũng
như vậy, tâm vô lượng nầy thể tánh có bốn. Nếu có người
tu hành thời sanh lên cõi trời Đại Phạm.
Tâm
vô lượng nầy có bốn loại, nên nói là bốn.
Luận
về người tu lòng từ có thể dứt tham dục. Người tu lòng
bi có thể dứt sân khuể. Người tu lòng hỷ có thể dứt
sự chẳng vui. Người tu lòng xả có thể dứt tham dục và
sân khuể.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nghĩa nầy nên được gọi là bốn, chẳng
phải một, hai cũng chẳng phải ba.
Nầy
Thiện nam tử ! Như lời ông nói lòng từ có thể dứt được
sân, lòng bi cũng như vậy nên nói là ba đó, ông chẳng nên
nạn như vậy. Sân khuể có hai thứ : Một là giết chết,
hai là đánh đập. Tu lòng từ thời dứt được sự giận
giết chết. Tu lòng bi thời dứt được sự giận đánh đập.
Do nghĩa đó há lại chẳng phải là bốn ư !
Sân
lại có hai thứ : Một là sân với chúng sanh, hai là sân với
chẳng phải chúng sanh. Người tu lòng từ dứt được sự
sân với chúng sanh. Người tu lòng bi dứt được sự sân với
chẳng phải chúng sanh.
Sân
lại có hai thứ : Một là có nhơn duyên, hai là không nhơn
duyên.
Tu
lòng từ dứt được sự sân có nhơn duyên. Tu lòng bi dứt
được sự sân không nhơn duyên.
Sân
lại có hai thứ : Một là tập quán quá khứ, hai là tập
quán hiện tại, tu lòng từ dứt được sân quá khứ. Tu lòng
bi dứt được sân hiện tại.
Sân
lại có hai thứ : Một là sân thánh nhơn hai là sân phàm phu.
Tu lòng từ dứt được sân thánh nhơn. Tu lòng bi dứt được
sân phàm phu.
Sân
lại có hai thứ : Một là thượng hai là trung. Tu lòng từ
dứt được sân hạng thượng. Tu lòng bi dứt được sân hạng
trung.
Nầy
Thện nam tử !Do nghĩa nầy nên gọi là bốn, đâu đặng nạn
rằng : Nên ba chẳng nên bốn. Thế nên tâm vô lượng nầy
loại của nó đối nhau phân biệt làm bốn.
Lại
do vì căn khí nên thành bốn : Căn khí nếu có tâm từ thời
chẳng đặng có tâm bi, hỷ, xả. Vì do nghĩa nầy nên phải
là bốn không bớt được.
Nầy
Thiện nam tử ! Do thật hành sai khác nên phải có bốn. Nếu
lúc thật hành hạnh từ không có hạnh bi, hỷ, xả, vì thế
nên cóø bốn.
Nầy
Thiện nam tử ! Do vì vô lượng cũng đặng gọi là bốn. Luận
về vô lượng thì có bốn thứ : Có tâm vô lượng, có duyên
chẳng tự tại, có tâm vô lượng tự tại, chẳng phải duyên,
có tâm vô lượng cũng duyên cũng tự tại, có tâm vô lượng
chẳng phải duyên chẳng phải tự tại.
Thế
nào là tâm vô lượng có duyên chẳng tự tại ? Duyên nơi
vô lượng vô biên chúng sanh mà chẳng đặng chánh định tự
tại, dầu đặng chánh định nhưng hoặc đặng hoặc mất.
Thế
nào là tâm vô lượng tự tại chẳng phải duyên ? Như duyên
cha mẹ, anh em, chị em, muốn làm cho được an vui, chẳng phải
là duyên vô lượng.
Thế
nào là tâm vô lượng cũng duyên cũng tự tại ? Tức là nói
chư Phật Bồ Tát.
Thế
nào tâm vô lượng chẳng phải duyên chẳng tự tại ? Hàng
Thanh Văn Duyên Giác chẳng có thể duyên rộng vô lượng chúng
sanh cũng chẳng phải tự tại.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nghĩa đây nên gọi là bốn thứ vô lượng,
chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác biết được, đây là
cảnh giới của chư Phật.
Bốn
thứ vô lượng như vậy, hàng Thanh Văn Duyên Giác dầu gọi
là vô lượng, nhưng chỉ chút ít không đáng kể. Chư Phật
và Bồ Tát thời đặng gọi là vô lượng vô biên.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Phải lắm !
Phải lắm ! Thiệt đúng như lời dạy của Phật. Bao nhiêu
cảnh giới của Như Lai, chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác
biết đến được. Thế Tôn ! Có Bồ Tát nào trụ nơi Đại
thừa Đại Niết Bàn đặng tâm từ bi mà chẳng phải là tâm
đại từ đại bi chăng ?”
Phật
nói : “ Có. Nầy Thiện nam tử ! Bồ Tát nếu đối trong hàng
chúng sanh phân biệt ba hạng : Một là người thân yêu, hai
là kẻ oán ghét, ba là người không thương không ghét. Đối
trong những người thương yêu lại chia ba hạng : Thượng,
trung, hạ. Đối với kẻ oán ghét cũng vậy. Vị Bồ Tát nầy
ở trong hạng thương yêu bực thượng ban cho sự vui tăng thượng.
Nơi trong hạng thân yêu bực trung, bực hạ cũng bình đẳng
ban cho sự vui tăng thượng,. Ở nơi trong hạng oán ghét bực
thượng cho ít phần vui. Nơi trong kẻ oán ghét bực trung
cho sự vui vừa vừa. Nơi trong hạng oán ghét bực hạ cho sự
vui tăng thượng. Bồ Tát lần lượt tu tập thêm lên như vậy,
ở trong hạng oán ghét bực thượng ban cho sự vui vừa vừa,
trong hạng oán ghét bực trung, bực hạ bình đẳng cho sự
vui tăng thượng. Lại tu tập thêm nơi những kẻ oán ghét
thượng, trung, hạ bình đẳng ban cho sự vui tăng thượng.
Nếu
trong hạng oán ghét bực thượng ban cho sự vui tăng thượng,
bấy giờ đặng gọi là thành tựu tâm từ.
Lúc
bấy giờ Bồ Tát đối với cha mẹ là kẻ oán ghét bực thượng
tâm được bình đẳng không sai khác.
Nầy
Thiện nam tử ! Như trên đây gọi là đặng tâm từ chẳng
phải tâm đại từ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Do duyên gì Bồ Tát đặng tâm từ như vậy mà vẫn
chẳng đặng gọi là đại từ ?
_ Nầy
Thiện nam tử ! Bởi vì khó thành nên chẳng gọi đại từ.
Do trong vô lượng kiếp thuở quá khứ chứa nhiều phiền não
chưa tu pháp lành, thế nên chẳng có thể ở nơi trong một
ngày điều phục được tâm mình.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như hột đậu đá lúc đã khô lấy dùi
ghim trọn không dính được. Phiền não cứng rắn cũng như
vậy. Dầu một ngày đêm nhiếp tâm chẳng tán, nhưng khó điều
phục được.
Lại
như chó nhà chẳng sợ người, còn con nai rừng thấy người
sợ chạy. Sân khuể khó trừ như giữ chó nhà, lòng từ dễ
mất như nai rừng kia. Thế nên tâm nầy khó điều phục được.
Do nghĩa nầy nên chẳng gọi là đại từ.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví nhu khắc trên đá lằn chữ còn mãi. Vẽ
trên nước thời chóng mất. Sân như khắc trên đá. Các căn
lành như vẽ trên nước. Vi thế nên tâm nầy khó điều phục
được.
Như
đống lửa lớn chói sáng được lâu. Ánh sáng của điện
chớp thoạt có, liền mất. Sân như đống lửa. Lòng từ như
ánh sáng chớp. Vì thế nên tâm nầy khó điều phục được.
Do vì nghĩa nầy nên chẳng gọi là đại từ.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát trụ bực sơ địa gọi là đại từ.
Tại sao vậy ? Vì người tột hung ác gọi là nhứt xiển đề.
Bực
Sơ địa Bồ Tát lúc tu Đại thừa nơi hạng nhứt xiển đề
tâm không phân biệt chẳng thấy lỗi của họ nên chẳng sanh
lòng sân. Do nghĩa nầy mà đặng gọi là đại từ.
Nầy
Thiện nam tử ! Vì trừ những sự không lợi ích cho các chúng
sanh, đây gọi là đại từ.
Muốn
cho chúng sanh được vô lượng lợi ích an vui, đây gọi là
đại bi.
Đối
với các chúng sanh sanh lòng vui mừng đây gọi là đại hỷ.
Không thấy có chúng sanh được ủng hộ, đây gọi là
đại xả.
Nếu
chẳng thấy có ngã, pháp tướng, thân mình, thấy tất cả
pháp đều bình đẳng không sai khác, đây gọi là đại xả.
Tự rời bỏ sự vui của mình mà đem ban cho người khác, đây
gọi là đại xả,
Nầy
Thiện nam tử ! Chỉ có bốn tâm vô lượng có thể làm cho
Bồ Tát được đầy đủ sáu pháp Ba La Mật, những công hạnh
khác chẳng quyết định được như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát trước đặng bốn tâm vô lượng thế
gian, vậy sau mới phát tâm vô thượng Bồ Đề, kế đó mới
đặng tâm vô lượng xuất thế. Nhơn tâm vô lượng thế gian
mà được tâm vô lượng xuất thế do vì nghĩa nầy nên gọi
là đại vô lượng”.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Trừ sự không lợi
ích cùng sự lợi ích an vui thiệt không còn có việc gì để
làm. Suy nghĩ như vậy thời là hư vọng quán sát không có
lợi ích thiết thiệt.
Thế
Tôn ! Ví như Tỳ kheo lúc quán bất tịnh thấy y của mình
đắp đều trở thành tướng da mà thiệt chẳng phải là da.
Những thức uống ăn đều thấy thành tướng dòi trùng mà
thiệt chẳng phải dòi trùng. Quán bát canh đậu thành tướng
phân dãi mà thiệt chẳng phải phân.
Quán
dầu bơ đương ăn thấy như tủy óc mà thiệt chẳng phải
óc.
Quán
xương nát bể dường như bột bún, mà thiệt chẳng phải
bột.
Cũng
vậy, bốn tâm vô lượng chẳng có thể thiết thực đem sự
lợi ích an vui cho chúng sanh. Dầu miệng nói rằng ban vui cho
chúng sanh mà thiệt chúng sanh chẳng được vui. Tu quán như
vậy chẳng phải là hư vọng ư !
Thế
Tôn ! Nếu chẳng phải hư vọng mà thiệt ban cho sự vui, cớ
sao chúng sanh chẳng nhờ oai lực của chư Phật Bồ Tát
đặng hoàn toàn an vui tất cả.
Còn
nếu quả là thiệt chẳng được an vui đó, như lời Phật
nói : Ta nhớ thuở trước riêng tu tâm từ, trãi qua bảy phen
thành hoại của cõi nầy chẳng đến sanh trong nhơn gian, lúc
thế giới thành sanh lên trời Phạm Thiên. Lúc thế giới hoại
sanh lên trời Quang Aâm. Khi sanh lên trời Phạm Thiên ta có
oai thế tự tại tôn quí hơn hết trong ngàn cõi Phạm Thiên
gọi là Đại Phạm Vương. Nếu các chúng sanh đối với ta
đều tưởng là bực tôn thượng thời được làm vua cõi
trời Đao Lợi ba mươi sáu lần. Làm vua Chuyển Luân vô lượng
trăm ngàn lần.
Riêng
tu lòng từ bèn đặng phước báu cõi trời cõi người như
vậy. Nếu chẳng thiệt được lợi ích làm sao hiệp với
nghĩa nầy ?”
Phật
nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện nam tử ! Ông thiệt
là dũng mãnh không e sợ.
Phật
liền vì Ca Diếp Bồ Tát mà nói kệ rằng :
Đối
với một chúng sanh, Chẳng sanh lòng giận hờn, Mà muốn ban
cho vui, Đây gọi là từ thiện. Trong tất cả chúng sanh, Nếu
sanh được lòng bi, Gọi là thành chủng tánh, Đặng phước
báo vô lượng. Giả sử Tiên Ngũ thông, Đông khắp mặt đất
nầy, Có vua chúa tự tại, Dâng cấp đủ đồ dùng : Voi, ngựa,
các vật dụng, Thí cho Tiên được phước, Chẳng bằng tu
lòng từ, Trong một phần mười sáu.
Nầy
Thiện nam tử ! Luận về người tu lòng từ thiệt chẳng phải
vọng tưởng, mà chắc chắn là chơn thật. Nếu là lòng từ
của Thanh Văn Duyên Giác thời gọi là hư vọng. Chư Phật
Bồ Tát lòng từ chơn thật chẳng hư vọng. Do đâu mà biết
như vậy ? Nầy Thiện nam tử ! Bồ Tát tu hành Đại Niết
Bàn. Quán đất làm vàng, quán vàng làm đất, quán mặt đất
thành tướng nước, quán mặt nước thành tướng đất, nước
quán thành lửa, lửa quán thành nước, đất quán thành gió,
gió quán thành đất, tùy ý thành tựu không có hư vọng. Quán
chúng sanh thiệt thành chẳng phải chúng sanh, quán chẳng phải
chúng sanh thành chúng sanh thiệt, đều tùy ý mà thành không
có hư vọng.
Nầy
Thiện nam tử ! Nên biết bốn tâm vô lượng của Bồ Tát
là sự tư duy chân thật chẳng phải không chân thật.
Nầy
Thiện nam tử ! Thế nào gọi là tư duy chơn thật ? Do vì có
thể dứt trừ các phiền não vậy. Luận về tu lòng từ có
thể dứt được tham dục, tu lòng bi có thể dứt được sân
khuể. Tu lòng hỷ có thể dứt được sự chẳng vui vẻ. Tu
lòng xả có thể dứt được tham dục, sân khuể và tướng
chúng sanh.
Vì
thế nên gọi là tư duy chơn thật.
Nầy
Thiện nam tử ! Bốn tâm vô lượng của Bồ Tát có thể làm
cội gốc cho tất cả hạnh lành.
Bồ
Tát nếu chẳng thấy được chúng sanh nghèo cùng thời không
duyên để sanh lòng từ. Nếu lòng từ chẳng sanh thời không
thể khởi tâm huệ thí. Do nhơn duyên huệ thí làm cho chúng
sanh đặng an vui. Ban cho những đồ uống ăn , xe cộ, y phục,
hoa hương, giường ghế, nhà cửa, đèn đuốc. Lúc ban cho như
vậy, lòng cởi mở chẳng sanh niệm tham đắm, quyết
định hồi hướng vô thượng chánh đẳng, chánh giác. Lúc
đó tâm của Bồ Tát không dừng ở chỗ nào, dứt hẳn vọng
tưởng, chẳng kẹt nơi sợ sệt, danh dự, tài lợi, chẳng
cầu quả báo vui sướng cõi trời cõi người, chẳng kiêu
mạn, chẳng trông người trả ơn, chẳng vì phỉnh người
mà làm việc bố thí, chẳng cầu giàu sang.
Phàm
lúc làm việc bố thí, chẳng thấy người thọ là trì giới
hay phá giới, là phước điền hay chẳng phải phước điền,
là hàng tri thức hay chẳng phải tri thức, lúc bố thí cũng
chẳng thấy là căn khí hay chẳng phải căn khí, chẳng
lựa ngày giờ, chẳng chọn chỗ nơi, cũng chẳng tính là lúc
được mùa hay đói kém, chẳng thấy nhơn quả chẳng phân
biệt là chúng sanh hay chẳng phải chúng sanh, là phước hay
chẳng phải phước.
Dầu
lại chẳng thấy người thí kẻ thọ cùng của cải nhẫn
đến chẳng thấy nhân tu cùng quả báo, mà luôn luôn làm việc
bố thí không ngừng.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát nếu thấy người lãnh thọ là trì
giới hay phá giới v.v… nhẫn đến thấy có quả báo thời
chẳng thể bố thí trọn vẹn. Nếu chẳng bố thí trọn vẹn
thời không thể đầy đủ đàn ba la mật. Nếu chẳng đầy
đủ đàn ba la mật thời không thể thành vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như có người thân bị trúng tên độc.
Quyến thuộc của người đó vì muốn cho người đó được
an ổn liền mời lương y đến để nhổ tên độc.
Người
đó nói đừng động đến chờ tôi quan sát coi mũi tên độc
nầy từ phương nào bay đến, của ai bắn, người bắn là
dòng nào : Là Sát Đế Lợi hay Bà La Môn, là Tỳ Xá hay Thủ
Đà. Nghiệm coi mũi tên làm bằng cây, bằng tre hay bằng gỗ
liễu. Mũi sắt từ lò nào rèn, cứng hay mềm, đuôi lông và
lông cánh chim gì, chim quạ hay kên kên. Chất độc tẩm
trong mũi tên tự nhiên mà có hay chế ra, là độc của loài
người hay độc của loài rắn.
Người
ngu si đó chưa biết được mà đã chết.
Nầy
Thiện nam tử ! Cũng vậy, Bồ Tát nếu lúc làm việc bố thí
phân biệt người thọ là trì giới hay phá giới, nhẫn đến
phân biệt quả báo, thời chẳng bố thí trọn vẹn
Nếu
chẳng bố thí trọn vẹn thời chẳng đầy đủ đàn ba la
mật. Nếu chẳng đầy đủ đàn ba la mật thời chẳng đặng
thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc làm việc bố thí Bồ Tát đối với chúng
sanh lòngtừ bình đẳng tưởng như con mình. Lại lúc làm việc
bố thí, đối với các chúng sanh Bồ Tát sanh lòng thương
xót như cha mẹ săn sóc đứa con đang đau ốm. Lúc làm việc
bố thí, lòng Bồ Tát vui mừng như cha mẹ thấy con lành mạnh.
Sau
khi đã bố thí lòng Bồ Tát buông bỏ như cha mẹ thấy con
khôn lớn đã có thể tự sanh sống.
Vị
Bồ Tát nầy ở trong tâm từ, lúc bố thí thức ăn thường
nguyện như vầy : Nay những đồ ăn của ta bố thí đều cho
chung tất cả chúng sanh, do nhơn duyên nầy làm cho chúng sanh
đặng có trí huệ lớn, siêng tu hồi hướng đại thừa vô
thượng. Nguyện các chúng sanh đặng có trí lành chẳng cầu
báo Thanh Văn và Duyên Giác. Nguyện các chúng sanh đặng món
ăn pháp hỷ chẳng cầu món ăn ái nhiễm. Nguyện các chúng
sanh đều đặng món ăn Bát Nhã Ba La Mật, đều được đầy
đủ phương tiện vô ngại, thêm lớn căn lành. Nguyện các
chúng sanh hiểu thấu tướng vô đắc, thân vô ngại dường
như hư không. Nguyện các chúng sanh thường làm người lãnh
thọ, thương xót tất cả mọi loài mà làm phước điền cho
chúng.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc tu lòng từ khi đem thức ăn bố thí nên
phải phát những điều nguyện như trên.
Xem
Tiếp: Trang 02
