XX
PHẨM
PHẠM HẠNH THỨ HAI MƯƠI
(Hán
bộ trọn quyển 14, 15, 16, 17 và phần đầu quyển thứ 18)
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát trong vô lượng vô số kiếp
thường quán sát sanh tử là vô thường, vô ngã, vô lạc,
vô tịnh, vì chúng sanh phân biệt diễn thuyết thường, lạc,
ngã, tịnh. Dầu diễn thuyết như vậy nhưng chẳng phải là
tà kiến. Do đây nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Như người vào nước, nước chẳng trôi được,
vào lửa, lửa chẳng cháy được. Như vậy thời chẳng thể
nghĩ bàn. Cũng vậy, Đại Bồ Tát dầu ở sanh tử, nhưng chẳng
bị sanh tử não hại. Do đây nên lại gọi là chẳng thể
nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Loài người có ba hạng : Thượng , trung và
hạ.
Hạng
người hạ lúc mới nhập thai nghĩ rằng : Nay tôi ở nhà tiêu
đầy những hôi nhơ tối tăm. Lúc mới xuất thai nghĩ rằng
nay tôi ra khỏi nhà tiêu, ra khỏi chỗ hôi nhơ tối tăm.
Hạng
người bực trung nghĩ rằng : Nay tôi vào trong rừng cây, trong
sông sạch sẽ, trong nhà cửa. Lúc xuất thai cũng vậy.
Hạng
người bực thượng nghĩ rằng : Tôi lên điện, ở trong rừng
hoa, cỡi ngựa, cỡi voi trèo lên núi cao. Lúc xuất thai cũng
vậy.
Đại
Bồ Tát lúc mới nhập thai, tự biết là nhập thai, lúc ở
trong thai biết là ở, lúc xuất thai biết là xuất, trọn chẳng
sanh tâm niệm tham sân, nhưng chưa lên bậc sơ trụ. Do đây
nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Vô thượng Bồ Đề thiệt không thể dùng
thí dụ để so sánh, nhưng đều có thể nói.
Đại
Bồ Tát không có thầy thưa hỏi học tập, mà có thể đặng
pháp vô thượng Bồ Đề. Đặng pháp nầy rồi tâm không lẫn
tiếc, thường diễn thuyết cho chúng sanh. Do đây nên lại
gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát có thân xa lìa mà chẳng phải
khẩu, có khẩu xa lìa mà chẳng phải thân, có chẳng phải
thân, chẳng phải khẩu mà cũng xa lìa. Lìa sát, đạo, dâm
gọi là thân xa lìa mà chẳng phải khẩu. Lìa vọng ngữ, lưỡng
thiệt, ác khẩu, vô nghĩa ngữ thời gọi là khẩu xa lìa mà
chẳng phải thân. Xa lìa tham lam, ganh ghét, giận hờn, tà kiến
thời gọi là ý xa lìa, mà chẳng phải thân chẳng phải khẩu.
Đại Bồ tát chẳng thấy một pháp nào là thân là nghiệp
cùng ông chủ xa lìa, nhưng cũng có xa lìa. Do đây nên lại
gọi là chẳng thể nghĩ bàn, khẩu và ý cũng như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Từ nơi thân xa lìa thân, từ nơi khẩu xa lìa
khẩu, từ trí huệ xa lìa chẳng phải thân chẳng phải khẩu.
Thật có trí huệ nầy nhưng chẳng thể khiến Bồ tát
xa lìa vì không có một pháp nào hoại được làm được.
Tánh của pháp hữu vi, lúc sanh khác , lúc diệt khác. Vì thế
nên trí huệ nầy chẳng thể xa lìa.
Nầy
Thiện nam tử ! Trí huệ chẳng thể phá, lửa chẳng thể cháy,
nước chẳng thể rã, gió chẳng thể động, đất chẳng thể
giữ, sanh chẳng thể sanh, lão chẳng thể lão, trụ chẳng
thể trụ, hoại chẳng thể hoại, tham chẳng thể tham, sân
chẳng thể sân, si chẳng thể si. Bởi tánh của pháp hữu
vi lúc sanh khác, lúc diệt khác. Đại Bồ Tát trọn chẳng
nghĩ rằng tôi dùng trí huệ nầy phá các phiền não mà tự
nói rằng tôi phá phiền não, dầu nói như vậy nhưng chẳng
phải hư vọng. Do đây nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật ! “ Thế Tôn ! Nay tôi mới biết
Đại Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn, Phật, Pháp, chúng Tăng,
kinh Đại Niết Bàn và người thọ trì Bồ Đề Niết Bàn
đều chẳng thể nghĩ bàn.
Bạch
Thế Tôn ! Phật pháp vô thượng thời gian bao lâu sẽ diệt
?
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu đệ tử ta còn có người thọ trì đọc
tụng biên chép diễn thuyết nghĩa của kinh Đại Niết Bàn,
nhẫn đến năm hạnh : Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh,
Bệnh hạnh, Anh nhi hạnh, được chúng sanh cung kính tôn trọng
tán thán cúng dàng, nên biết đó là thời kỳ Phật pháp chưa
diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu kinh Đại Niết Bàn lúc lưu hành đầy
đủ, hàng đệ tử của ta phần nhiều phạm giới cấm tạo
nghiệp ác, không kính tin kinh điển nầy, vì không tin nên
chẳng thọ trì đọc tụng biên chép, giải thuyết ý nghĩa
của kinh nầy, chẳng được mọi người cung kính cúng dường,
lúc thấy người thọ trì lại khinh chê, nên biết đó là
thời kỳ Phật pháp sắp diệt chẳng còn lâu.
Ca
Diếp Bồ Tát lại bạch Phật : “ Thế Tôn ! Chính tôi từng
nghe Phật nói rằng : Chánh pháp của Phật Ca Diếp ở đời
bảy ngày thời diệt hết.
Bạch
Thế Tôn ! Phật Ca Diếp có kinh Đại Niết Bàn nầy chăng
? Nếu như có sao lại nói là diệt ? Nếu như không có
thời sao lại nói rằng kinh Đại Niết Bàn là tạng bí mật
của chư Phật ?
_ Nầy
Thiện nam tử ! Trước kia ta nói rằng chỉ có Văn Thù Sư
Lợi mới hiểu được nghĩa nầy. Nay ta sẽ nói lại, ông
nên chí tâm lóng nghe !
Nầy
Thiên nam tử ! Chư Phật có hai loại pháp : Một là thế pháp,
hai là đệ nhất nghĩa pháp. Thế pháp thời có hoại diệt,
đệ nhất nghĩa pháp không có hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh,
những pháp nầy có hoại diệt, hai là thường, lạc, ngã,
tịnh, pháp nầy không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là pháp của nhị thừa thọ trì đây
thời có hoại diệt, hai là pháp của Bồ Tát thọ trì, đây
thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là ngoại pháp thời có hoại diệt, hai
là nội pháp thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là pháp hữu vi thời có hoại diệt, hai
là pháp vô vi thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là pháp có thể được thời có hoại diệt,
hai là pháp không thể được thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là cộng pháp thời có hoại diệt, hai là
bất cộng pháp thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là pháp trong loài người thời có hoại
diệt, hai là pháp trong loài trời thời không hoại diệt.
Lại
có hai loại : Một là mười một bộ kinh thời có hoại diệt,
hai là kinh Phương Đẳng thời không hoại diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu hàng đệ tử của ta thọ trì đọc tụng,
biên chép giải thuyết cùng cung kính cúng dàng tôn trọng tán
thán kinh Phương Đẳng Đại Thừa, nên biết đó là thời
kỳ Phật pháp chẳng diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Vừa rồi ông hỏi Phật Ca Diếp có kinh nầy
chăng ?
Nầy
Thiện nam tử ! Kinh Đại Niết Bàn là tạng bí mật của tất
cả Phật. Vì chư Phật dầu có mười một bộ kinh, nhưng
chẳng nói Phật tánh, chẳng nói thường, lạc, ngã, tịnh
của Như Lai, chẳng nói chư Phật trọn không rốt ráo nhập
Niết Bàn. Vì thế nên kinh nầy gọi là tạng bí mật của
Như Lai. Trong mười một bộ kinh chẳng nói đến nên gọi
là tạng. Như thất bảo của người chẳng đem ra ngòai để
dùng thời gọi là bảo tạng. Tài vật của người nầy chứa
cất để dùng vào việc tương lai. Nghĩa là dự phòng lúc
lúa gạo mắc, giặc đến xâm lăng, chính trị khổ khắc,
thời dùng để chuộc mạng, hoặc đường giao thông bế tắc
mới đem ra dùng. Cũng vậy, tạng bí mật của Như Lai cũng
để dự phòng đời vị lai các Tỳ Kheo ác chứa vật bất
tịnh, đối với tứ chúng nói Như Lai rốt ráo nhập Niết
Bàn, đọc tụng sách vở thế gian, chẳng kính kinh điển của
Phật. Lúc những điều ác như vậy hiện ra nơi đời, đức
Như Lai vì muốn dứt các sự ác ấy nên diễn nói kinh nầy,
khiến mọi người xa lìa những lợi dưỡng tà mạn. Lúc kinh
tạng bí mật nầy dứt diệt, nên biết đó là thời kỳ Phật
pháp diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Kinh Đại Niết Bàn thường còn chẳng biến
đổi, sao ông lại hỏi rằng lúc Phật Ca Diếp có kinh nầy
chăng ?
Nầy
Thiện nam tử ! Thời kỳ Phật Ca Diếp, chúng sanh ít tham dục,
nhiều trí huệ, hàng Đại Bồ Tát điều thuận nhu hòa dễ
giáo hóa, có đại oai đức tổng trì chẳng quên, như Đại
Tượng Vương. Cõi nước thanh tịnh. Tất cả chúng sanh đều
biết Như Lai chẳng rốt ráo nhập Niết Bàn thường trụ chẳng
biến đổi, nên dầu có kinh nầy mà chẳng cần diễn thuyết.
Chúng
sanh đời nay phiền não nhiều, ngu si ưa giận hờn không trí
huệ, lòng tin chẳng vững, nhiều nghi ngờ, cõi nước bất
tịnh, chúng sanh cho rằng Như Lai vô thường dời đổi rốt
ráo nhập Niết Bàn. Do cớ nầy nên Như Lai diễn thuyết kinh
đây.
Nầy
Thiện nam tử ! Chánh pháp của Phật Ca Diếp thật chẳng diệt
mất vì chánh pháp thường trụ chẳng biến đổi.
Nầy
Thiện nam tử ! nếu có chúng sanh đối với chơn ngã mà thấy
là vô ngã, vô ngã lại thấy là có ngã, chơn thường thấy
là vô thường, vô thường thấy là thường, chân lạc thấy
là vô lạc, vô lạc thấy lạc, chơn tịnh thấy là bất tịnh,
bất tịnh thấy là tịnh, diệt thấy là bất diệt, bất diệt
thấy là diệt, tội thấy là chẳng phải tội, phi tội thấy
là tội, tội nhẹ thấy là nặng, tội nặng thấy là nhẹ,
thừa thấy là phi thừa, phi thừa thấy là thừa, đạo thấy
là phi đạo, phi đạo thấy là đạo, thật là Bồ Đề thấy
chẳng phải Bồ Đề, thật chẳng phải là Bồ Đề thấy
lầm là Bồ Đề, khổ thấy chẳng phải khổ, tập thấy chẳng
phải tập, diệt thấy chẳng phải diệt, đạo thấy chẳng
phải đạo, thật là thế đế lại thấy là đệ nhất nghĩa
đế, còn đệ nhất nghĩa đế lại thấy là thế đế, quy
thấy là chẳng quy, chẳng phải quy thấy là quy, cho lời của
Phật nói là lời của ma, còn thiệt lời ma lại cho là lời
Phật, vào thời kỳ như trên đây chư Phật bèn nói kinh Đại
Niết bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Thà nói vòi con muỗi tột đến đáy biển
lớn, chẳng nên nói chánh pháp của Như Lai diệt. Thà nói
rằng lấy dây vấn buộc luồng gió mạnh, thà nói lấy miệng
thổi tan núi Tu Di, thà nói trong đống lửa hừng mọc bông
sen, thà nói thuốc A Dà Đà là độc dược, thà nói có thể
làm cho mặt trăng nóng mặt trời lạnh, thà nói bốn đại
chủng đều bỏ tánh chất của nó, trọn chẳng nên nói rằng
chánh pháp của Như Lai diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc Phật mới ra đời chứng đặng vô thượng
Bồ Đề rồi, hàng đệ tử chưa có người hiểu thấu Đại
Thừa rất sâu, đức Phật đó bèn nhập Niết Bàn, nên biết
chánh pháp đó chẳng ở lâu nơi đời. Nếu có hàng đệ tử
đã hiểu thấu nghĩa đại thừa rất sâu, Phật dầu nhập
Niết Bàn nhưng chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ Đề,
hàng đệ tử dầu có người hiểu nghĩa Đại Thừa rất sâu,
mà không có hàng Bạch Y Đàn Việt hết lòng kính tin tôn trọng
Phật pháp, khi Phật nhập Niết Bàn rồi, thời chánh pháp
đó chẳng ở lâu nơi đời. Nếu có hàng Bạch Y Đàn Việt
hết lòng kính tin Phật pháp. Phật dầu nhập Niết Bàn nhưng
chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ Đề,
có các đệ tử hiểu nghĩa đại thừa rất sâu, cũng có Bạch
Y Đàn Việt hết lòng kính tin tôn trọng Phật pháp, mà
các đệ tử thuyết pháp lại vì danh lợi, chẳng cầu Niết
Bàn, khi Phật diệt rồi thì chánh pháp chẳng ở lâu nơi đời.
Trái lại nếu hàng đệ tử thuyết pháp vì cầu Niết Bàn
chẳng ham danh lợi, Phật dầu nhập diệt nhưng chánh pháp
vẫn ở lâu nơi đời.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu Phật ra đời chứng đặng vô thượng
Bồ Đề, dầu có các hàng đệ tử hiểu nghĩa đại thừa
rất sâu, cũng có hàng Bạch Y Đàn Việt hết lòng kính tin
tôn trọng Phật pháp, mà các đệ tử sanh nhiều sự tranh
tụng hơn thua phải quấy lẫn nhau, Phật lại nhập Niết Bàn,
thời chánh pháp chẳng ở lâu nơi đời. Trái lại các đệ
tử thật hành pháp hòa kính, chẳng hơn thua phải trái nhau,
tôn trọng lẫn nhau, dầu Phật nhập Niết Bàn nhưng chánh
pháp vẫn ở lâu chẳng diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ
Đề, có những đệ tử hiểu nghĩa đại thừa rất sâu, cũng
có hàng Bạch Y Đàn Việt hết lòng kính tin tôn trọng Phật
pháp, các đệ tử vì cầu Đại Niết Bàn mà thuyết pháp,
cung kính lẫn nhau, nhưng cất chứa những vật bất tịnh,
lại khen rằng tôi đặng quả Tu Đà Hoàn, nhẫn đến quả
A La Hán Phật lại nhập Niết Bàn thời chánh pháp đó chẳng
ở lâu nơi đời. Trái lại hàng đệ tử chẳng cất chứa
những vật bất tịnh cũng chẳng tự nói mình đã chứng quả
Tu Đà Hoàn, nhẫn đến quả A La Hán, Phật dầu diệt độ,
nhưng chánh pháp vẫn còn không diệt.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ
Đề có các đệ tử đủ những điều kiện trên nhưng lại
chấp kiến giải của mình mà lập những dị thuyết : Nầy
Trưởng lão ! Giới của Phật chế, bốn giới trọng nhẫn
đến bảy pháp diệt tránh, vì chúng sanh nên hoặc ngăn, hoặc
mở, mười hai bộ kinh cũng như vậy. Vì Phật biết cõi nước
đều sai khác, chúng sanh căn tánh lợi độn chẳng đồng
vì thế nên Như Lai nói có khinh có trọng, hoặc ngăn hoặc
mở. Như lương y trị bịnh người bịnh nóng thời cho uống
sửa, bịnh lạnh thời ngăn không cho uống sửa. Đức Như
Lai quán sát căn bịnh phiền não của chúng sanh, nên cũng mở
cũng ngăn. Nầy Trưởng lão tôi đích thân nghe Phật nói nghĩa
ấy, chỉ tôi biết chớ ngài không biết được, chỉ tôi
hiểu luật chớ ngài không hiểu, chỉ tôi biết kinh chứ ngài
không biết được. Nên biết khi Phật diệt độ chánh pháp
đó chẳng ở lâu nơi đời. Trái lại hàng đệ tử đủ các
điều kiện trên lại không lập dị thuyết. Phật dầu diệt
độ nhưng chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc chánh pháp của ta diệt, hàng Thanh Văn
đệ tử hoặc có người nói có thần, hoặc nói không thần,
có trung ấm hoặc không trung ấm, có ba đời hoặc không ba
đời, có ba thừa hoặc không ba thừa, hoặc nói tất cả đều
có, hoặc nói tất cả đều không, hoặc nói chúng sanh có
thỉ có chung, hoặc nói chúng sanh không thỉ không chung, hoặc
nói có mười hai nhơn duyên là pháp hữu vi, hoặc nói là pháp
vô vi, hoặc nói Như Lai có bịnh khổ, hoặc nói Như Lai không
bịnh khổ, hoặc nói Như Lai không cho Tỳ kheo ăn mười thứ
thịt : Thịt người, thịt rắn , thịt voi, thịt ngựa, thịt
lừa, thịt chó, thịt sư tử, thịt heo, thịt chồn , thịt
khỉ vượn, ngoài ra đều cho, hoặc nói tất cả thứ thịt
đều không cho ăn, hoặc nói Tỳ kheo chẳng được làm năm
việc : Chẳng đặng bán những thứ : Sanh vật, dao, rượu,
thuốc nhuộm, dầu mè, ngoài ra đều cho, hoặc nói chẳng cho
vào năm thứ nhà : Nhà hàng thịt, nhà dâm nữ, nhà rượu,
cung vua, nhà Chiên-đà-la, ngoài ra đều cho, hoặc nói chẳng
cho mặc y Kiều-xa-gia, ngoài ra đều cho, hoặc nói Như Lai cho
các Tỳ Kheo lãnh thọ và chứa cất y phục đồ nằm trị
giá mười muôn lượng vàng, hoặc nói chẳng cho, hoặc nói
Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh, hoặc nói Niết Bàn
chính là kiết sử dứt hết không còn có pháp gì khác nên
gọi là Niết Bàn, như dệt chỉ gọi đó là y, y đã hư rách
thời gọi là không y, không có pháp gì khác gọi là không
y, thể của Niết Bàn cũng như vậy. Đương thời kỳ đó,
các đệ tử của ta : Chánh thuyết thời ít tà thuyết thời
nhiều, thọ chánh pháp thời ít, thọ tà pháp thời nhiều,
thọ lời Phật thời ít, thọ lời ma thời nhiều. Bây giờ
trong nước Câu Diêm Di có hai đệ tử : Một là La Hán hai
là phá giới, người phá giới có năm trăm đồ chúng, La Hán
có một trăm đồ chúng. Người phá giới nói đức Như
Lai rốt ráo nhập Niết Bàn, chính tôi nghe Phật nói nghĩa
đó, bốn giới trọng của Phật chế, nếu trì cũng được,
nếu phạm cũng không tội, nay tôi cũng đặng quả A La Hán,
bốn trí vô ngại, mà A La Hán cũng phạm tội như vậy, nếu
bốn giới trọng thật là tội, thời A La Hán lẽ ra chẳng
phạm. Lúc đức Như Lai còn ở đời bảo phải giữ gìn, đến
lúc nhập Niết Bàn thời đều phóng xả.
Lúc
đó A La Hán bảo Tỳ Kheo rằng : Nầy Trưởng lão ông chẳng
nên nói đức Như Lai rốt ráo nhập Niết Bàn. Tôi biết đức
Như Lai thường còn chẳng biến đổi. Đức Như Lai ở đời
cùng lúc đã nhập Niết Bàn, phạm bốn trọng giới, tội
không sai khác. Nếu nói A La Hán phạm trọng giới thời không
đúng nghĩa. Vì Tu Đà Hoàn còn chẳng phạm cấm giới huống
là A La Hán. Nếu Trưởng lão nói rằng tôi là A La Hán. Trưởng
lão nên biết A La Hán trọn chẳng tưởng rằng tôi đặng
A La Hán. A La Hán chỉ nói pháp lành chẳng nói pháp ác.
Lời nói của Trưởng lão thuần là phi pháp. Nếu có người
được đọc mười hai bộ kinh thời quyết định biết rằng
Trưởng lão chẳng phải A La Hán.
Lúc
đó đồ chúng của Tỳ Kheo phá giới liền giết A La Hán chết.
Ma
Vương nhơn hai chúng giận hờn nhau bèn hại cả sáu trăm Tỳ
Kheo.
Bầy
giờ phàm phu trong đời đều bảo nhau rằng : Thương thay Phật
pháp nay đã dứt. Nhưng chánh pháp của ta thật chẳng dứt
mất, vì trong nước ấy có mười hai muôn Đại Bồ Tát khéo
hộ trì pháp của ta.
Lúc
bấy giờ trong Diêm Phù Đề không có một Tỳ Kheo làm đệ
tử của ta. Ma Vương Ba Tuần dùng lửa đốt tất cả kinh
điển. Trong đó hoặc còn sót, hàng Bà La Môn bèn trộm lấy
lượm lặt để vào trong sách của họ. Do đây nên hàng Tiểu
Bồ Tát, lúc Phật chưa ra đời đem nhau tin lấy lời của
Bà La Môn. Hàng Bà La Môn dầu nói rằng tôi có trai giới,
nhưng thiệt ra các ngoại đạo đều không có. Hàng ngoại
đạo dầu nói : Có ngã, có lạc, có tịnh, nhưng thiệt ra
họ chẳng hiểu nghĩa lạc, ngã, tịnh. Chính là họ lấy một
chữ hai chữ một câu hai câu trong Phật pháp rồi nói
là trong sách vở họ có nghĩa như vậy.
Lúc
bấy giờ trong rừng Ta La Song Thọ nơi thành Câu Thi Na, vô
lượng vô biên vô số đại chúng nghe lời Phật nói như trên,
liền đồng tiếng xướng rằng : “Thế gian trống rỗng !
Thế gian trống rỗng !”
Ca
Diếp Bồ Tát bảo đại chúng : Các người chớ lo rầu khóc
lóc. Thế gian chẳng trống rỗng vì Phật pháp và Tăng là
thường trụ không biến đổi.
Đại
chúng nghe lời nầy liền thôi khóc, tất cả đều phát tâm
vô thượng Bồ Đề.
Lúc
bấy giờ thành Vương Xá, vua A Xà Thế tánh tình tệ ác, thích
chém giết, miệng đủ bốn điều ác, tham, sân, si đầy nơi
tâm, chỉ thấy hiện tại chẳng thấy vị lai, thuần dùng
người ác để làm quyến thuộc, vì tham ngũ dục hiện đời
mà giết vua cha vô tội. Hại cha xong lòng ăn năn bức rức,
khắp mình sanh ghẻ lở tanh hôi chẳng ai dám gần. Vua A Xà
Thế liền tự nghĩ rằng : Nay ta đã phải thọ lấy quả báo,
không bao lâu chắc phải bị quả báo nơi địa ngục.
Thân
mẫu của nhà vua là bà Vi Đề Hy lấy các thứ thuốc
để thoa xức, nhưng ghẻ càng lở nặng thêm.
Vua
A Xà Thế thưa với mẹ : Ghẻ lở nầy do nơi tâm mà sanh chẳng
phải do tứ đại, không thể dùng y dược trong đời mà điều
trị được.
Vua
bảo các vị đại thần : Nay thân tâm của ta đều đau khổ.
Cha ta vô tội, ta lại giết hại. Từng nghe người trí bảo
rằng người phạm tội ngũ nghịch quyết định chẳng thoát
khỏi địa ngục. Nay ta đã phạm tội nghịch thân tâm đau
khổ, không có lương y nào chữa trị được.
Đại
thần Nguyệt Xưng liền thưa với nhà vua : Như người thích
ngủ nghỉ, ngủ nghỉ càng thêm nhiều, như người mê dâm
dục, dâm dục càng thêm nhiều, như người ưa uống rượu,
càng lúc càng uống nhiều. Nếu thường sầu khổ nhiều,
thêm sầu cũng như vậy.
Như
Đại Vương vừa nói người phạm tội ngũ nghịch quyết định
chẳng thoát khỏi địa ngục. Có ai đến ngục thấy việc
ấy trở về thưa với Đại Vương chăng ? Lời nói địa ngục
chính là người trí ở thế gian nói. Nay có đại y sĩ hiệu
là Phu Lan Na đặng sức định tự tại thấy biết tất cả,
tu tập hạnh thanh tịnh thường vì mọi người mà diễn thuyết
đạo Niết Bàn vô thượng, dạy hàng đệ tử rằng không
có nghiệp ác, không có báo ác. Không có nghiệp lành không
có báo lành. Không có nghiệp lành ác, không có báo lành ác.
Không có thượng nghiệp cũng không có hạ nghiệp. Đại sư
nầy hiện nay ở trong thànhVương Xá. Xin Đại Vương giá lâm,
để nhờ đại sư ấy điều trị. Vua nói : “Nếu ông
ấy có thể diệt trừ tội lỗi của ta, thời ta sẽ quy y”.
Lại
có một vị đại thần tên Tạng Đức thưa với nhà vua, mong
Đại Vương chớ lo rầu sợ sệt. Có hai thứ pháp luật :
Một là xuất gia, hai là vương pháp. Hại cha mình để lên
ngôi trị nước, dầu là nghịch nhưng đối với vương pháp
thật không có tội. Như trùng Ca La La phải cắn lủng bụng
mẹ mới sanh được. Dầu cắn lủng bụng mẹ thật ra hàng
trùng cũng không có tội. Con la nghén chửa cũng như vậy. Phương
pháp trị nước theo phép phải như vậy, dầu giết hại cha
anh cũng không có tội. Còn pháp luật xuất gia thời nhẫn
đến giết muỗi kiến cũng đều có tội cả. Xin Đại Vương
chớ lo rầu, vì càng sầu khổ thời càng thêm sầu khổ. Như
người ưa ngủ, thích rượu, tham dâm thời sự ngủ v.v…
càng thêm.
Nay
có vị đại sư tên Mạt Già Lê Câu Xá Ly Tử thương xót
chúng sanh như con đỏ, thấy biết tất cả, đã lìa phiền
não có thể cứu vớt chúng sanh khỏi ba mũi tên độc bén
nhọn. Đại sư nầy thường dạy đệ tử rằng : Tất cả
chúng sanh thân có bảy nguyên tố : Địa, thủy, hỏa, phong,
khổ, lạc và thọ mạng. Bảy thứ ấy chẳng phải hoá, chẳng
thể làm chẳng thể hủy hại, như cỏ Y Sư Ca, an trụ chẳng
động như núi Tu Di. Chẳng bỏ chẳng làm dường như sữa,
như chất lạc. Chẳng cãi lẻ nhau : Hoặc khổ hoặc vui, là
lành hay chẳng lành. Lấy dao bén chặt không chỗ bị thương
bị hại, vì trong bảy nguyên tố ấy trống rỗng không ngăn
ngại. Mạng cũng không bị hại vì không có người hại và
người chết, không làm không thọ, không nói không nghe không
có ai nhớ cũng như không người dạy bảo. Đại sư ấy thường
thuyết pháp như vậy làm cho chúng sanh dứt trừ tất cả trọng
tội. Nay đại sư ấy hiện ở trong thành Vương Xá. Xin Đại
Vương đến đó. Nếu Đại vương gặp được Đại sư ấy
thời các tội sẽ tiêu trừ.
Vua
A Xà Thế bảo đại thần Tạng Đức : “ Nếu thật được
như vậy ta sẽ quy y”.
Lại
có một đại thần tên là Thiệt Đức tâu cùng vua rằng :
“ Xin Đại Vương chớ sầu khổ. Nếu Tiên Vương tu đạo
giải thoát, giết hại thời có tội. Nếu theo phép trị nước
thời không có tội. Tất cả chúng sanh đều có nghiệp thừa,
do nghiệp nầy nên thường bị sanh tử. Nếu như Tiên Vương
có nghiệp thừa Đại Vương giết hại thời có tội gì. Mong
Đại Vương yên lòng chớ sầu khổ vì người thường sầu
khổ thời sầu khổ càng thêm.
Hiện
nay trong thành Vương Xá có vị đại sư hiệu là San Xà Dạ
Tỳ La Chi Tử thấy biết tất cả, trí sâu rộng như biển
cả, có oai đức, có thần thông, có thể làm cho chúng sanh
lìa các lưới nghi. Ngài dạy hàng đệ tử rằng : Trong quần
chúng nếu là bậc vua chúa, thời tự tại tùy ý làm việc
lành việc ác, trọn không có tội, như lửa đốt cháy đồ
vật không luận là sạch cùng chẳng sạch. Như mặt đất
chứa chở cả sạch cùng nhơ. Như nước, sạch dơ đều rửa.
Như gió, sạch dơ đều thổi. Dầu có các việc như vậy mà
đất nước v.v… trọn không giận, không mừng, phép của
vua chúa cũng đồng như vậy. Như cây mùa thu trụi lá, mùa
xuân thời đâm chồi, dầu chặt cây trụi nhưng không có tội.
Cũng vậy chúng sanh ở chỗ nầy chết trở lại sanh chỗ nầy,
vì sanh trở lại nên không có tội. Những quả báo khổ vui
của tất cả chúng sanh đều chẳng phải do nghiệp đời hiện
tại chính là do nghiệp nhơn đời quá khứ. Hiện tại không
nghiệp nhơn thì vị lai không quả báo. Do quả hiện tại nên
chúng sanh trì giới tinh tấn tu hành để ngăn quả ác hiện
tại. Do trì giới thời đặng vô lậu, vì đặng vô lậu thời
hết nghiệp hữu lậu, vì hết nghiệp nên đặng hết khổ,
vì hết khổ nên đặng giải thoát.
Xin
Đại Vương mau đến đó. Nếu Đại Vương được thấy Đại
Sư ấy thời tất cả tội đều trừ.
Vua
đáp rằng : “ Nếu thật như vậy thời ta sẽ quy y”.
Lại
có một đại thần tên Tất Tri Nghĩa tâu cùng vua rằng : “
Xin Đại Vương thư tâm chớ sầu khổ. Ngày xưa có vua La Ma
giết cha để lên ngôi. Vua Mạc Đề, vua Tỳ Lâu Chơn, vua
Na Hầu Sa, vua Ca Đế Ca, vua Tỳ Xá Khư, vua Nguyệt Quang Minh,
vua Nhật Quang Minh, vua Ái Vương, vua Tỳ Đa Nhơn, đều giết
hại cha mình mà lên ngôi, nhưng không có một vua nào bị đọa
địa ngục. Đời nay có vua Tỳ Lưu Ly, vua Ưu Đa Dạ, vua Ác
Tánh, vua Thử Vương, vua Liên Hoa, đều giết hại cha mình,
mà không một vua nào sanh lòng sầu não. Dầu nói rằng địa
ngục, ngã quỉ, trên trời, nhưng ai thấy được đó.
Tâu
Đại vương chỉ có hai loài : Một là người hai là súc sanh.
Dầu có hai lòai nhưng chẳng phải do nhơn duyên sanh, cũng chẳng
phải do nhơn duyên chết. Đã chẳng phải do nhơn duyên thời
có gì là thiện là ác. Mong Đại Vương chớ buồn rầu sợ
sệt. Vì người thường sầu khổ thời sầu khổ càng thêm.
Nay
gần thành Vương Xá có vị Đại Sư hiệu là A Kỳ Đa Xúy
Xá Khâm Bà La thấy biết tất cả, xem vàng cùng đất đồng
nhau. Đối với người lấy dao chém vào hông bên mặt cùng
người lấy chiên đàn thoa vào hông bên trái, tâm của ngài
bình đẳng không sai khác, không oán, không thân, thật là bậc
lương y trong đời. Đại sư dạy hàng đệ tử rằng : “
Hoặc tự làm, hoặc bảo người làm, hoặc tự chém, hoặc
bảo người chém, hoặc tự đốt, hoặc bảo người đốt,
hoặc tự hại, hoặc bảo người hại, hoặc tự trộm, hoặc
bảo người trộm, hoặc tự dâm, hoặc bảo người dâm, hoặc
tự vọng ngữ, hoặc bảo người vọng ngữ, hoặc tự uống
rượu, hoặc bảo người uống rượu, hoặc giết một thôn,
một thành, một nước, hoặc dùng đao luân giết tất cả
chúng sanh, hoặc phía nam sông Hằng Bố Thí chúng sanh, phía
Bắc sông Hằng giết hại chúng sanh, tất cả đều không tội
không phước, không thí, không giới, không định. Nếu
Đại Vương gặp được Đại Sư ấy thời những tội lỗi
sẽ dứt trừ.”
Vua
bảo Đại thần Tất Tri Nghĩa : “ Nếu thật được như vậy
ta sẽ quy y.”
Lại
có Đại thần tên là Kiết Đắc tâu cùng vua rằng : “ Ai
đến phỉnh gạt Đại Vương mà nói rằng là có địa ngục
? Như đầu gai nhọn ai làm ra ? Loài chim khác màu ai làm ra?
Tánh nước nhuần ướt, tánh đá cứng rắn, tánh lửa thời
nóng, tánh gió thời động, tất cả muôn vật tự sanh tự
chết ai làm ra ? Thuyết địa ngục chính là văn tự của người
trí. Hạ thần nầy xin trình bày nghĩa địa ngục : Chữ địa
là đất, chữ ngục nghĩa là phá, phá địa ngục không có
tội báo, đây gọi là địa ngục. Lại chữ địa là người,
chữ ngục là trời, bởi hại cha mình nên đến trong người
trên trời. Do nghĩa nầy nên Bà Tẩu Tiên Nhơn nói rằng :
Giết dê đặng quả vui cõi trời cõi người, đây gọi là
địa ngục. Lại chữ địa là mạng, chữ ngục là dài, do
sát sanh nên đặng thọ mạng dài, đây gọi là địa ngục.
Tâu Đại Vương do đây nên biết thật không có địa ngục.
Như gieo bắp đặng bắp, gieo lúa đặng lúa, giết địa ngục
mắc phải địa ngục, giết hại người lẽ ra phải đặng
báo người. Đại Vương nên nghe lời hạ thần trình bày,
thật không có sự giết hại, vì nếu có ngã thời không hại,
nếu không ngãlại không chỗ hại. Vì có ngã thời thường
còn không biến đổi, vì thường còn nên chẳng thể giết
hại, chẳng phá, chẳng hoại, chẳng trói, chẳng buộc, không
giận, không mừng, dường như hư không, sao lại có tội
giết hại. Nếu không ngã thời các pháp đều vô thường,
vì vô thường nên niệm niệm hoại diệt, vì niệm niệm hoại
diệt nên người giết, người chết đều niệm niệm diệt,
nếu đã niệm niệm diệt thời ai sẽ có tội. Tâu Đại Vương
như lửa đốt cây, lửa không có tội, như búa chặt cây,
búa cũng không tội, như liềm cắt cỏ liềm thật không tội,
như dao giết người, dao chẳng phải người dao đã không tội,
sao người lại có tội ? Như thuốc độc giết người, thuốc
độc chẳng phải người, thuốc độc đã không tội, sao người
lại có tội ? Tất cả muôn vật cũng đều như vậy, thật
không giết hại, sao lại có tội. Mong Đại vương chớ nên
sầu khổ, vì thường sầu khổ thời sầu khổ càng thêm.
Nay
gần thành Vương Xá có vị Đại Sư hiệu là Ca La Cưu Đà
Ca Chiên Diên thấy biết tất cả, rõ suốt ba đời, trong khoảng
một niệm có thể thấy vô lượng vô biên thế giới, nghe
tiếng cũng vậy, Đại Sư ấy có thể làm cho chúng sanh xa
lìa tội lỗi, như sông Hằng bao nhiêu đồ nhơ uế, đều
làm cho sạch sẽ. Đại sư ấy dạy đệ tử rằng : Nếu người
giết hại tất cả chúng sanh mà lòng không ăn năn hổ thẹn
thời trọn chẳng đọa ác thú, như hư không chẳng dính bụi
dính nước, nếu lòng ăn năn hổ thẹn liền đọa địa ngục,
như nước thấm ướt đất. Tất cả chúng sanh đều do Tự
Tại Thiên tạo ra. Tự Tại Thiên mừng thời chúng sanh an vui,
Tự Tại Thiên sân thời chúng sanh khổ não. Tất cả tội
phước của chúng sanh đều do Tự Tại Thiên làm ra, sao lại
nói rằng loài người có tội có phước. Ví như thợ máy
chế ra người máy, cũng đi đứng ngồi nằm, chúng sanh cũng
như vậy. Tự Tại thiên dụ như máy, thân chúng sanh dụ như
người máy. Tạo hoá như vậy thời ai là người có tội.
Nếu
Đại vương gặp được Đại Sư ấy thời tội chướng sẽ
tiêu trừ.
Vua
bảo Đại Thần Kiết Đắc : “ Nếu thật được như vậy
thời ta sẽ quy y”.
Lại
có Đại Thần tên Vô Sơ Úy tâu cùng vua A Xà Thế rằng :
“Xin Đại Vương chớ sầu khổ. Xét về dòng Sát Đế Lợi
là dòng vua chúa, nếu vì nước, vì Sa Môn và Bà La Môn, vì
vấn đề an ổn nhân dân, dầu có giết hại nhưng không tội.
Tiên
Vương dầu cung kính Sa Môn mà chẳng phụng thờ các Bà La
Môn, tâm không bìng đẳng chẳng phải thật dòng Sát Đế
Lợi
Nay
Đại Vương muốn cúng dường các Bà La Môn mà giết hại
Tiên Vương thời có tội gì ?
Tâu
Đại vương ! Thật ra không có giết hại. Xét về sự giết
hại là giết hại mạng sống. Mạng là hơi gió, tánh hơi
gió không thể giết hại được, sao lại nói rằng hại mạng
thời sẽ có tội. Mong Đại vương chớ sầu khổ, vì thường
sầu khổ thời sầu khổ càng thêm. Nay trong thành Vương Xá
có vị Đại Sư hiệu là Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử thấy biết
tất cả, thương xót chúng sanh, rõ biết căn tánh lợi độn,
tám pháp thế gian không làm ô nhiễm được ngài, tu tập phạm
hạnh thanh tịnh, Đại Sư ấy dạy hàng đệ tử rằng : Không
Bố Thí, không nghiệp lành, không cha, không mẹ, không đời
nay, không đời sau, không A La Hán, không đạo hạnh, không
tu hành. Tất cả chúng sanh trải qua bốn muôn kiếp, tự nhiên
sẽ thoát khỏi dòng sanh tử, không luận là người có tội
hay vô tội, như bốn con sông lớn đều chảy vào biển cả,
tất cả chúng sanh lúc đặng giải thoát đều đồng nhau không
khác. Nếu Đại vương gặp được Đại sư ấy thời các
tội chướng sẽ tiêu trừ.”
Vua
bảo Đại Thần Vô Sở Úy : “ Nếu thật như vậy ta
sẽ quy y”.
Mặc
dầu các Đại thần khuyên lơn giảng dạy đủ điều như
vậy, nhưng vua A Xà Thế vẫn sầu khổ.
Lúc
đó Đại Y Sĩ Kỳ Bà tâu cùng vua rằng : “ Đại Vương
ngủ nghỉ có đặng yên
chăng
?”
Vua
A Xà Thế liền nói kệ rằng :
Nếu
có người dứt hẳn được, Tất cả những phiền não hoặc,
Chẳng tham nhiễm trong ba cõi. Mới ngủ nghỉ được an ổn.
Nếu người chứng Đại Niết Bàn, Diễn thuyết nghĩa lý rất
sâu. Gọi là thiệt Bà La Môn. Mới ngủ nghỉ được an ổn,
Thân không tạo nghiệp ác, Miệng xa lìa bốn điều lỗi, Tâm
không có những lưới nghi, Mới ngủ nghĩ đặng an ổn. Thân
tâm đều không nhiệt não, An trụ nơi chỗ tịch tịnh, Đặng
đến cảnh vui vô thượng, Mới ngủ nghỉ được an ổn. Trong
lòng không có chấp lấy, xa lìa những niệm oán thù, Thường
hòa thuận không tránh tụng, Mới ngủ nghỉ được an ổn.
Nếu chẳng tạo những nghiệp ác, Thường có tâm niệm hổ
thẹn, Tin làm ác có quả báo, Mới ngủ nghỉ được an ổn.
Cung kính phụng dưỡng cha mẹ, Chẳng giết hại một sanh mạng.
Chẳng trộm cướp tài vật người, Mới ngủ nghỉ được
an ổn. Điều phục sửa trị sáu căn.
Gần
gũi bậc thiện tri thức, Phá hoại tất cả bốn ma, Mới ngủ
nghỉ được an ổn. Chẳng thấy lành cùng chẳng lành, Với
những sự khổ sự vui, Vì cứu độ những chúng sanh, Nên
luân chuyển trong sanh tử, Nếu người có thể như vậy, Mớ
ngủ nghỉ được an ổn. Ai đặng ngủ nghỉ yên ổn ? Đáp
rằng : Chính là Chư Phật. Quán sâu nơi tam muội. Thân cùng
tâm an chẳng động. Ai ngủ nghỉ được an ổn ? Đáp rằng
: Là đấng Từ Bi. Thường siêng tu chẳng phóng dật, Xem chúng
sanh như con một. Chúng sanh bị tội vô minh, Chẳng thấy quả
khổ phiền não, Thường gây tạo những nghiệp ác, Nên ngủ
nghỉ chẳng được yên, Hoặc vì lợi chính thân mình, và
đến thân những người khác, mà gây tạo mười nghiệp ác,
Thời ngủ nghỉ chẳng được yên. Nếu nói vì lên ngôi vua,
Hại cha vẫn không tội lỗi, Thuận theo ác tri thức nầy,
Thời ngủ nghỉ chẳng được yên. Nếu ăn uống không tiết
độ, Uống chất lạnh mà quá nhiều, Do đây phải mang bịnh
khổ, Thời ngủ nghỉ chẳng được yên. Nếu đối với vua
có lỗi, Tà niệm với vợ con người, Cùng đi trên đường
xa vắng, Thời ngủ nghỉ chẳng được yên. Trì giới chưa
được quả lành. Thái tử chưa được nối ngôi, Kẻ trộm
chưa lấy được của, Thời ngủ nghỉ chẳng được yên.
Nầy
Kỳ Bà ! Nay ta mang bịng nặng nầy chính vì ta nghịch lại
vua cha. Cha ta trị nước đúng pháp thật không tội lỗi mà
ta lại giết hại. Vì thế nên tất cả lương y diệu dược
chú thuật đều không thể trị lành bịnh ta. Lòng ta khổ
sở như cá mắc cạn, như nai mắc bẩy v.v… Ta từng nghe người
trí bảo rằng người phạm tội nghịch ắt đọa địa ngục.
Ta làm sao ngủ yên ổn được. Lại không bậc vô thượng
đại y sĩ dùng pháp dược để dứt trừ bịnh khổ cho ta.
Kỳ
Bà tâu cùng vua : “ Lành thay ! Lành thay ! Vua dầu tạo tội
nhưng có lòng ăn năn hổ thẹn. Tâu Đại Vương ! Chư Phật
thường nói rằng có hai pháp lành có thể cứu chúng sanh.
Một là tàm, hai là quí. Tàm là tự chẳng phạm tội. Quí
là chẳng bảo người phạm. Tàm là trong lòng tự hổ thẹn.
Quí là đối người phát lồ. Tàm là hổ cùng người. Quí
là thẹn với trời. Kẻ không tàm, quí thời chẳng gọi là
người, nên gọi là súc sanh. Vì có tàm quí thời có thể
cung kính cha mẹ sư trưởng. Người có tàm quí thời gọi
là có cha mẹ anh em chị em.
Lành
thay ! Đại Vương có lòng tàm quí. Xin Đại Vương nghe hạ
thần trình bày.
Hạ
thần từng nghe đức Phật nói : Có hai hạng người trí :
Một là người chẳng tạo điều ác, hai là tạo điều ác
rồi biết sám hối. Cùng có hai hạng nguời ngu : Một là người
tạo tội, hai là người tạo tội rồi che giấu.
Dầu
trước tạo tội lúc sau phát lồ ăn năn hổ thẹn chẳng dám
tái phạm, như đem minh châu để trong nước đục, do thế
lực của minh châu nước liền trong. Như khói mây tan thời
mặt trăng chói sáng. Người tạo tội ác có thể sám hối
cũng như vậy.
Đại
Vương nếu sám hối có lòng tàm quí thời tội chướng sẽ
trừ diệt, trong sạch như xưa.
Tâu
Đại Vương ! Giàu có hai hạng : Một là nhiều voi ngựa, lục
súc,. Hai là nhiều vàng bạc các thứ châu báu. Voi ngựa nhiều
chẳng sánh được một hột châu. Cũng vậy, chúng sanh có
hai hạng giàu : Một là giàu điều ác, hai là giàu điều lành.
Tạo nhiều điều ác chẳng bằng một điều lành. Hạ thần
nghe Phật nói tu một tâm lành phá tâm điều ác. Như chút
kim cang có thể hoại núi Tu Di. Cũng như chút lửa có thể
đốt cháy tất cả. Như chút thuốc độc có thể hại chúng
sanh. Cũng vậy, chút ít điều lành có thể phá nghiệp ác
lớn. Dầu gọi là chút lành nhưng kỳ thật là lớn, vì phá
được nghiệp ác lớn.
Tâu
Đại vương ! Như lời Phật nói che dấu là hữu lậu, chẳng
che dấu là vô lậu. Phát lồ sám hối tội lỗi thời
là vô lậu. Nếu tạo tội mà chẳng che chẳng dấu thời tội
mỏng ít. Nếu có lòng tàm quí thời tội tiêu diệt. Giọt
nước dầu nhỏ nhưng lần đầy lu lớn. Cũng vậy, mỗi mỗi
tâm lành có thể phá điều ác lớn. Nếu người che dấu tội
lỗi thời tội lỗi thêm lớn, còn phát lồ hổ thẹn thời
tội lỗi tiêu diệt. Vì thế nên chư Phật nói người có
trí chẳng che dấu tội lỗi.
Lành
thay ! Đại Vương có thể tin nhân quả tin nghiệp báo. Xin
Đại Vương chớ ôm lòng sầu khổ sợ sệt.
Nếu
có chúng sanh tạo các tội ác rồi che dấu chẳng sám hối,
không lòng hổ thẹn, chẳng thấy nhơn quả cùng nghiệp báo,
chẳng thể học hỏi nơi người trí, chẳng gần bạn lành,
tất cả lương y không thể trị lành bịnh người nầy, như
bịnh Ca Ma La, y sĩ trong đời đều khoanh tay. Người tội nầy
gọi là nhứt xiển đề chẳng tin nhơn quả, không biết hổ
thẹn, chẳng tin nghiệp báo, chẳng thấy hiện tại cùng vị
lai, chẳng gần bạn lành, chẳng thuận theo lời dạy của
Phật, chư Phật Thế Tôn không thể chữa trị bịnh nầy.
Như
tử thi, y sĩ chẳng chữa được.
Nay
Đại vương chẳng phải hạng nhứt xiển đề, sao lại nói
rằng không thể cứu lành.
Như
lời Đại vương nói không người nào chữa trị được. Xin
Đại vương nên biết rằng : Con vua Tịnh Phan ở thành Ca Tỳ
La họ Cù Đàm tên Tất Đạt Đa, tự giác ngộ thành bậc
vô thượng chánh giác, thân trang nghiêm đủ ba mươi hai tướng
tốt, tám mươi vẻ đẹp, đầy đủ mười trí lực, bốn
vô sở úy, thấy tất cả, đại từ đại bi thương xót chúng
sanh như La Hầu La, tùy thuận chúng sanh như nghé theo trâu mẹ,
thuyết pháp đúng thời, lời Phật chơn thiệt, thanh tịnh,
vi diệu, đúng nghĩa đúng pháp, duy nhứt, có thể làm cho chúng
sanh lìa hẳn phiền não khéo biết căn tánh của chúng sanh,
tùy nghi phương tiện không gì chẳng thông đạt. Trí của
Phật cao lớn như núi Tu Di, thâm thúy rộng xa như biển cả.
Đức Phật có trí kim cang phá tất cả tội ác của chúng
sanh. Đức Phật cách đây mười hai do tuần trong rừng Ta La
Song Thọ nơi thành Câu Thi Na, đương vì vô lượng vô số
Bồ Tát đại chúng mà thuyết pháp. Nếu Đại Vương được
nghe Phật dạy về nghĩa vô tác, vô thọ thời bao nhiêu trọng
tội sẽ được tiêu trừ.
Xưa
kia Thích Đề Hòan Nhơn lúc sắp chết có năm tướng hiện
: Một là áo xiêm nhơ nhớp, hai là hoa trên đầu héo, ba là
thân thể hôi dơ, bốn là dưới nách ra mồ hôi, năm là chẳng
thích chỗ mình ở. Lúc đó Thiên Đế Thích, hoặc nơi chỗ
vắng vẻ thấy Sa Môn, hoặc thấy Bà La Môn, liền đi đến
kính ngưỡng như Phật. Các Sa Môn cùng Bà La Môn thấy Thiên
Đế Thích đến rất vui mừng nói rằng : Thưa Thiên Chúa !
Nay tôi quy y với ngài.
Thiên
Đế biết chẳng phải Phật, nghĩ rằng : Người đó nếu
không phải là Phật thời không thể chửa trị năm tướng
suy của ta.
Thiên
tử theo hầu tên Bát Giá Thi tâu cùng Thiên Đế : Vua Càn Thát
Bà tên Đôn Phù Lâu có công chúa hiệu là Tu Bạt Đà, Thiên
Vương nếu ban công chúa nầy cho hạ thần, hạ thần sẽ chỉ
người có thể trừ tướng suy cho Thiên Vương.
Thiên
Đế đáp rằng : Nầy Thiên Tử ! Nếu được như lời khanh
vừa tâu, công chúa Xá Chỉ, con gái của vua A Tu La Tỳ Ma Chất
Đa hiện ta đương kính ái, nếu khanh muốn ta cũng sẽ ban
cho, huống là công chúa Tu Bạt Đà.
_ Tâu
Thiên Vương, hiện tại có đức Phật Thế Tôn hiệu Thích
Ca Mâu Ni đương ở thành Vương Xá, Thiên Vương nếu đến
cầu pháp nơi Phật thời tướng suy chắc chắn sẽ trừ diệt.
Thiên
Đế liền khiến xa giá đến núi Kỳ Xà Quật. Thiên Đế
đầu mặt đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi qua một bên bạch
cùng Phật rằng : “ Thế Tôn ! trong hàng Thiên Nhơn những
gì là trói buộc ?”
Phật
nói : “ Nầy Kiều Thi Ca ! Chính là xan tham và tật đố.”
Bạch
Thế Tôn ! Xan tham tật đố nhơn đâu mà sanh ?
_ Do
vô minh mà sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Vô minh lại do đâu mà sanh ?
_ Do
phóng dật mà sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Phóng dật lại do đâu mà sanh ?
_ Do
điên đảo mà sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Điên đảo lại do đâu mà sanh ?
_ Do
lòng nghi mà sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đúng như lời Phật dạy, vì tâm tôi nghi nên sanh
điên đảo, đối với người chẳng phải Phật mà tưởng
là Phật. Giờ đây tôi được thấy Thế Tôn, lưới nghi của
tôi liền trừ. Vì lưới nghi trừ nên điên đảo cũng hết.
Vì điên đảo hết nên không có tâm xan tham tâm tật đố.
Phật
nói : “ Ông nói rằng không có tâm xan tham tật đố, thời
ông đã đặng quả A Na Hàm chăng ? Bậc A Na Hàm không có tâm
tham. Nếu không tâm tham sao lại vì mạng sống mà tìm đến
ta. Mà bậc A Na Hàm thật chẳng cầu sống.
_ Bạch
Thế Tôn ! Người có điên đảo thời có cầu mạng sống,
người không điên đảo thời chẳng cầu mạng sống. Nay tôi
thật chẳng cầu mạng sống, tôi chỉ cầu pháp thân cùng
trí huệ của Phật.
_ Nầy
Kiều Thi Ca ! Người cầu pháp thân cùng trí huệ của Phật,
thời tương lai quyết định sẽ được.
Nghe
lời Phật nói xong năm tướng suy của Thiên Đế liền tiêu
diệt.
Thiên
Đế đứng dậy đảnh lễ rồi đi nhiễu Phật ba vòng chắp
tay cung kính bạch Phật :
“
Thế Tôn ! Nay tôi sắp chết được sống, sắp mất mạng
được mạng, lại được Phật thọ ký sẽ thành vô thượng
chánh giác. Bạch Thế Tôn ! Tất cả nhơn thiên thế nào được
tăng ích ? Lại do nhơn duyên gì mà phải tổn giảm ?
_ Nầy
Kiều Thi Ca do đấu tránh nên nhơn duyên tổn giảm. Khéo tu
hòa kính thời đặng tăng ích.
_Bạch
Thế Tôn! Nếu do đấu tránh mà tổn giảm, từ nay trở đi
tôi chẳng cùng A Tu La đánh nhau nữa.
_ Lành
thay ! lành thay ! Nầy Kiều Thi Ca chư Phật Thế Tôn đều nói
hạnh nhẫn nhục là nhơn vô thượng Bồ Đề.
Thích
Đề Hoàn Nhơn lễ tạ Phật trở về Thiên cung.
Tâu
Đại Vương vì đức Như Lai có thể trừ những tướng ác
, nên gọi Phật là chẳng thể nghĩ bàn. Nếu Đại vương
ra mắt Phật chắc chắn sẽ trừ được trọng tội.
Ngày
trước thanh niên dòng Bà La Môn, tên là Bất Hại,
vì giết hại nhiều người nên hiệu là Ương Quật Ma La.
Thanh niên nầy lại muốn hại mẹ, lúc tâm ác nổi lên cầm
gươm tìm mẹ, vì thân tâm ác nên thành nhân tội nghịch,
tất phải đọa địa ngục. Lát sau thấy Phật thân tâm
khởi ác muốn hại Phật, đây cũng là nhân tội nghịch sẽ
đọa địa ngục. Thanh niên nầy được đức Như Lai giáo
hoá, tâm ác liền trừ, nghiệp nhân địa ngục tiêu diệt,
phát tâm vô thượng Bồ Đề. Vì thế nên đức Phật hiệu
là Y Vương vô thượng, chẳng phải như hàng lục sư ngoại
đạo kia.
Tâu
Đại Vương lại có Vương Tử Tu Tỳ La, vua cha giận
chặt cả tay chân xô xuống giếng sâu. Vương mẫu thấy xót
thương sai người đem Vương Tử đến trước Phật. Lúc Vương
Tử thấy Phật, tay chân đầy đủ lại như cũ, liền phát
tâm vô thượng Bồ Đề. Vì Vương Tử được thấy Phật
nên đặng quả báo hiện tại. Do đây nên đức Phật hiệu
là Y Vương vô thượng, chẳng phải như hàng lục sư ngoại
đạo.
Xem
Tiếp: Trang 06
