XX
PHẨM
PHẠM HẠNH THỨ HAI MƯƠI
(Hán
bộ trọn quyển 14, 15, 16, 17 và phần đầu quyển thứ 18)
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : Thế Tôn ! Đệ nhất nghĩa đế
cũng gọi là đạo, cũng gọi là bồ đề, cũng gọi là Niết
Bàn. Nếu có Bồ Tát nói rằng có đắc đạo, có bồ đề,
Niết Bàn thời là vô thường. Vì pháp nếu là thườntg thời
chẳng thể đặng, dường như hư không, có ai được.
Thế
Tôn ! Như vật trong thế gian trước không nay có gọi đó là
vô thường. Cũng vậy, nếu đạo là có thể được thời
gọi là vô thường. Pháp nếu là thường thời không đặng,
không sanh, dường như Phật tánh không đặng, không sanh.
Thế
Tôn ! Luận về đạo : Chẳng phải sắc, chẳng phải chẳng
sắc, chẳng dài, chẳng vắn, chẳng phải cao, chẳng phải
thấp, chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đỏ,
chẳng phải trắng, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng, chẳng
phải có, chẳng phải không, cớ sao đức Như Lai nói là có
thể được. Bồ Đề cùng Niết Bàn cũng như vậy.
Phật
nói : “ Phải lắm ! Phải lắm ! Nầy Thiện nam tử ! Đạo
có hai thứ : Một là thường, hai là vô thường. Tướng Bồ
Đề cũng có hai thứ : Một là thường, hai là vô thường.
Niết Bàn cũng vậy.
Đạo
của ngoại đạo gọi là vô thường. Đạo của nội đạo
gọi là thường, Bồ Đề của Thanh Văn Duyên Giác là vô thường.
Bồ Đề của Bồ Tát và chư Phật gọi là thường. Ngoại
giải thoát gọi là vô thường, Nội giải thoát gọi là thường.
Đạo
cùng Bồ Đề và Niết Bàn đều gọi là thường. Tất cả
chúng sanh vì bị vô lượng phiền não che đậy không huệ
nhãn nên chẳng thể thấy được. Mà các chúng sanh vì muốn
được thấy nên tu giới, định, huệ. Do tu hành nên thấy
đạo cùng Bồ Đề và Niết Bàn. Đây gọi là Bồ Tát chứng
đặng đạo cùng Bồ Đề và Niết Bàn.
Tánh
tướng của đạo thật chẳng sanh, chẳng diệt. Do nghĩa nầy
nên chẳng thể nắm lấy. Nầy Thiện nam tử ! Đạo dầu không
hình sắc thấy được, không thể cân lường biết. Nhưng
thật có công dụng. Như tâm chúng sanh dầu chẳng phải sắc,
chẳng phải dài, vắn, thô, tế, chẳng phải buộc chẳng phải
mở. Chẳng phải là pháp có thể thấy nhưng cũng là có.
Do
nghĩa nầy nên đức Phật vì ông Tu Đạt Đa nói rằng : Nầy
trưởng Giả ! Tâm là chúa trong thành. Trưởng Giả nếu chẳng
giữ gìn tâm thời chẳng giữ gìn thân miệng. Nều giữ gìn
tâm thời giữ gìn thân miệng. Bởi chẳng khéo giữ gìn thân
miệng nên làm cho chúng sanh sa đến ba ác thú. Giữ gìn thân
miệng thời làm cho chúng sanh đặng báo trời người và Niết
Bàn. Chứng đặng gọi là chơn thật, còn chẳng chứng đặng
gọi là chẳng chơn thật. Đạo cùng Bồ Đề và Niết Bàn
cũng như vậy : Cũng là có cũng là thường. Nếu như không
có làm sao có thể dứt được tất cả phiền não. Vì có
nên tất cả Bồ Tát thấy biết rõ ràng.
Nầy
Thiện nam tử ! Một là thấy tướng mạo, hai là thấy rõ
ràng. Thế nào là thấy tướng mạo ? Như thấy khói đàng
xa gọi là thấy lửa, kỳ thật chẳng thấy lửa, dầu chẳng
thấy lửa, nhưng cũng chẳng phải là hư vọng. Thấy chim hạc
bay trên không bèn nói là thấy nước. Dầu chẳng thấy nước
nhưng chẳng phải là hư vọng. Như thấy lá cây bèn nói là
thấy gốc cây, dầu chẳng phải thấy gốc cây nhưng cũng
chẳng phải là hư vọng. Như người thấy sừng trâu trong
rào đằng xa bèn nói là thấy trâu, dầu chẳng thấy trâu
nhưng cũng chẳng phải là hư vọng. Như thấy người nữ thai
nghén bèn nói là thấy dục, dầu chẳng thấy dục, nhưng cũng
chẳng phải là hư vọng. Như thấy cây mọc lá bèn nói là
thấy nước, dầu chẳng thấy nước nhưng cũng chẳng phải
là hư vọng. Như thấy mây bèn nói là thấy mưa, dầu chẳng
thấy mưa nhưng cũng chẳng phải là hư vọng. Như thấy thân
nghiệp cùng khẩu nghiệp bèn nói là thấy tâm, dầu chẳng
thấy tâm, nhưng cũng chẳng phải là hư vọng, đây gọi là
thấy tướng mạo.
Thế
nào là thấy rõ ràng ? Như mắt thấy sắc. Nầy Thiện
nam tử ! Như người có con mắt sáng tự xem trái A Ma Lặc
trong bàn tay. Đại Bồ Tát thấy đạo Bồ Đề, Bồ Đề
và Niết Bàn rõ ràng cũng như vậy, dầu thấy như vậy nhưng
vẫn không có tướng thấy.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nhân duyên nầy ngày trước ta bảo Xá Lợi
Phất : Tất cả trong đời hoặc Sa Môn, Bà La Môn, hoặc trời,
hoặc ma, hoặc Phạm Vương, hoặc người chỗ chẳng biết,
chẳng thấy, chẳng hiểu, chỉ có đức Như Lai đều biết
thấy và hiểu, chư vị Đại Bồ Tát cũng như vậy. Còn nếu
trong các thế gian chỗ biết thấy và hiểu, thời ta cùng Bồ
Tát cũng biết thấy và hiểu. Chúng sanh trong thế gian chỗ
chẳng biết, chẳng thấy, chẳng hiểu, cũng chẳng tự biết
là mình chẳng biết, chẳng thấy, chẳng hiểu. Chúng sanh trong
thế gian chỗ biết thấy và hiểu bèn tự nói rằng tôi biết
thấy và hiểu. Đức Như Lai tất cả đều biết thấy và
hiểu, cũng chẳng tự nói rằng ta biết thấy và hiểu, tất
cả Bồ Tát cũng như vậy, vì nếu giả sử đức Như Lai còn
có tướng biết thấy và hiểu, phải biết đó là chẳng Phật
Thế Tôn mà là phàm phu, Bồ Tát cũng vậy.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Như đức Thế Tôn bảo Xá Lợi
Phất : Thế gian biết ta cũng biết, thế gian chẳng biết ta
cũng biết rõ. Ý nghĩa đó thế nào ?
Nầy
Thiện nam tử ! Tất cả thế gian chẳng biết, chẳng thấy
chẳng hiểu được Phật tánh. Nếu có biết thấy và hiểu
Phật tánh thời chẳng gọi là thế gian mà là Bồ Tát. Người
thế gian cũng lại chẳng biết, chẳng thấy, chẳng hiểu,
mười hai loại kinh, mười hai nhơn duyên, bốn đảo, bốn
đế ba mươi bảy phẩm, vô thượng Bồ Đề, Đại Niết Bàn,
nếu biết, thấy và hiểu thời chẳng phải là thế gian nên
gọi là Bồ Tát.
Nầy
Thiện nam tử ! Đây gọi là thế gian chẳng biết, chẳng thấy,
chẳng hiểu.
Thế
nào là chỗ biết thấy và hiểu của thế gian ? Chính là Phạm
Thiên, Tự Tại Thiên, Bát Tý Thiên, tánh, thời, vi trần,
pháp và phi pháp là chủ tạo hoá, chung thỉ của thế giới,
hai kiến chấp đoạn thường, cho rằng sơ thiển đến trời
phi phi tưởng Là Niết Bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Đây gọi là chỗ thấy, biết và hiểu của
thế gian. Đại Bồ Tát đối với những việc như vậy cũng
biết thấy và hiểu. Bồ Tát thấy biết và hiểu như vậy
rồi, nếu nói rằng chẳng biết chẳng thấy chẳng hiểu thời
là hư vọng. Hư vọng thời là tội. Do tội nầy phải đọa
địa ngục.
Nầy
Thiện nam tử ! Hoặc nam nữ, hoặc Sa Môn hay Bà La Môn nói
rằng không có đạo Bồ Đề Niết Bàn. Phải biết bọn nầy
gọi là Nhứt Xiển Đề, là quyến thuộc của Ma, gọi là
hủy báng chánh pháp. Hủy báng chánh pháp như vậy chính là
hủy báng chư Phật. Người như vậy chẳng gọi là thế gian
cùng chẳng gọi là chẳng phải thế gian.
Lúc
bấy giờ Ca Diếp Bồ Tát liền nói kệ tán thán Phật.
Đức
đại từ thương chúng sanh, Nên nay tôi quy y Phật. Khéo nhổ
những mũi tên độc, Nên hiệu là đại Y Vương. Y sĩ trong
đời trị bịnh, Dầu lành nhưng sanh trở lại, Đức Như Lai
trị lành hẳn, Rốt ráo chẳng còn phát sanh. Thuốc cam lộ
của Thế Tôn, Đem ban cho các chúng sanh, Chúng sanh đã uống
thuốc rồi, Thời chẳng chết cũng chẳng sanh. Đức Như Lai
nay vì tôi, Diễn nói kinh Đại Niết Bàn, Chúng sanh nghe tạng
bí mật. Liền đặng chẳng sanh chẳng diệt.
Nói
kệ xong, Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Như lời
Phật nói tất cả thế gian chẳng biết, thấy , hiểu, Bồ
Tát đều có thể biết, thấy, hiểu. Giả sử Bồ Tát là
thế gian thời chẳng đặng nói rằng thế gian chẳng biết
chẳng thấy chẳng hiểu, mà Bồ Tát có thể biết thấy hiểu.
Còn nếu Bồ Tát chẳng phải thế gian thời có tướng gì
khác ?
_ Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát cũng là thế gian cũng chẳng phải
thế gian. Chẳng biết, thấy, hiểu gọi là thế gian. Biết
, thấy, hiểu chẳng gọi là thế gian. Ông hỏi có tướng
gì khác nay ta sẽ nói.
Nầy
Thiện nam tử ! Hoặc nam nữ nếu có người mới nghe kinh Đại
Niết Bàn nầy liền sanh lòng kính tin phát tâm vô thượng
Bồ Đề, đây gọi là thế gian Bồ Tát. Tất cả thế gian
chẳng biết, thấy , hiểu, Bồ Tát nầy cũng chẳng biết,
thấy, hiểu đồng như thế gian. Bồ Tát nghe kinh Đại Niết
Bàn nầy rồi biết có sự mà thế gian chẳng biết, chẳng
thấy, chẳng hiểu là chỗ biết, thấy, hiểu của Bồ Tát.
Biết như vậy rồi liền tự nghĩ rằng : Tôi phải tu tập
thế nào để được biết thấy và hiểu ? Lại tự nghĩ :
Chỉ phải thâm tâm tu trì tịnh giới.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nhơn duyên đó Bồ Tát nầy ở đời vị
lai sanh vào chốn nào giới đức vẫn thường thanh tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Do giới thanh tịnh nên Đại Bồ Tát sanh vào
chốn nào vẫn thường không kiêu mạn, tà kiến, nghi lầm.
Không bao giờ cho rằng : Đức Như Lai rốt ráo nhập Niết
Bàn. Đây gọi là Bồ Tát tu trì giới thanh tịnh.
Giới
đã thanh tịnh kế đến tu thiền định. Do tu thiền định
nên đời đời chẳng mất chánh niệm : Tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh, mười hai bộ kinh, chư Phật Thế Tôn
thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả Bồ Tát an trụ nơi kinh
Phương Đẳng Đại Niết Bàn đều thấy Phật tánh, những
việc như vậy đời đời nhớ chẳng quên. Do tu chánh định,
nên chứng đặng mười một pháp không. Đây gọi là Bồ tát
tu thanh tịnh.
Giới
định đã đủ kế tu huệ thanh tịnh. Do tu huệ nên chẳng
chấp trước trong thân có ngã, trong ngã có thân, là thân là
ngã, chẳng phải thân chẳng phải ngã. Đây gọi là Bồ Tát
tu tập huệ thanh tịnh. Do tu huệ nên giới cấm đang thọ
trì bền chắc chẳng lay động.
Như
núi Tu Di chẳng bị bốn ngọn gió làm lay động. Cũng vậy,
Đại Bồ Tát chẳng bị bốn thứ điên đảo làm lay động.
Bấy
giờ Bồ Tát tự rõ biết rằng giới cấm của mình thọ trì
không có lay động. Đây gọi là chỗ thấy biết của Bồ
Tát, chẳng phải là thế gian.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát thấy giới cấm của mình thọ trì
bền chắc chẳng lay động thời tâm không hối hận. Vì không
hối hận nên tâm vui mừng. Vì vui mừng nên tâm thỏa thích.
Vì thỏa thích nên tâm an ổn. Vì an ổn nên đặng chánh định
vô động. Vì đặng chánh định vô động nên đặng tri kiến
chơn thật. Vì đặng tri kiến chơn thật nên nhàm lìa sanh
tử. Vì nhàm lìa sanh tử bèn đặng giải thoát. Vì đặng
giải thoát nên thấy rõ Phật tánh. Đây gọi là chỗ thấy
biết của Bồ Tát, chẳng phải là thế gian.
Nầy
Thiện nam tử ! Như trên đây gọi là thế gian chẳng biết
chẳng thấy, mà là chỗ thấy chỗ biết của Bồ Tát.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế nào là Bồ Tát tu trì giới
thanh tịnh tâm không hối hận nhẫn đến thấy rõ Phật tánh
?”
_ Nầy
Thiện nam tử ! Giới cấm của thế gian chẳng gọi là thanh
tịnh. Vì giới cấm của thế gian để cầu pháp có, vì tánh
bất định, vì chẳng rốt ráo, chẳng thể khắp vì tất
cả chúng sanh. Do nghĩa nầy nên gọi là chẳng thanh tịnh.
Vì chẳng thanh tịnh nên có tâm hối hận. Vì hối hận nên
tâm không vui mừng. Vì không vui mừng thì không thỏa thích.
Vì không thỏa thích thời tâm không an ổn. Vì không an ổn
nên không có chánh định bất động. Vì không chánh định
bất động nên không có tri kiến chơn thật. Vì không tri kiến
chơn thật thì tâm không nhàm lìa. Vì không nhàm lìa thời
không được giải thoát. Vì không giải thoát nên chẳng thấy
Phật tánh. Vì không thấy Phật tánh nên trọn chẳng đặng
Đại Niết Bàn. Đây gọi là giới cấm của thế gian chẳng
thanh tịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Giới của Đại Bồ Tát thanh tịnh : Vì giới
mà chẳng phải giới, vì chẳng phải là có, vì quyết định
rốt ráo, vì lợi ích chúng sanh. Đây gọi là giới thanh tịnh
của Bồ Tát.
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát ở trong giới thanh tịnh, dầu
chẳng muốn sanh lòng không hối hận, nhưng lòng không hối
hận tự nhiên sanh. Như người cầm gương sáng chẳng trông
mong thấy mặt mình mà ảnh của mặt mình tự nhiên hiện.
Như
nhà nông đem giống gieo trong ruộng tốt, chẳng mong mõi mầm
mộng mọc lên mà mầm mộng tự mọc. Lại cũng như thắp
đèn chẳng muốn trừ tối mà tối tự mất.
Đại
Bồ Tát bèn giữ giới thanh tịnh tâm không hối hận tự nhiên
sanh cũng như vậy, do thanh tịnh nên tâm đặng vui mừng.
Như
người xinh đẹp thấy diện mạo mình lòng sanh vui mừng, người
trì tịnh giới cũng như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Người phá giới thấy giới không thanh tịnh
lòng không vui mừng, như người tàn tật xấu xa thấy diện
mạo mình lòng buồn bã.
Như
hai cô gái chăn bò : Một người cầm bình đựng chất lạc,
một người cầm bình đựng chất nước trái ép, đồng vào
thành để bán, giữa đường vấp chân té hai bình đều bể.
Một thời vui mừng, một thời rầu rĩ. Trì giới và phá giới
mừng rầu cũng như vậy. Người trì tịnh giới tâm vui
mừng. Vì vui mừng bèn suy nghĩ :
_ Chư
Phật ở trong Niết Bàn nói rằng : Người có thể trì tịnh
giới thanh tịnh sẽ đặng Niết Bàn. Nay tôi tu tập tịnh
giới như vậy cũng đáng được đó. Do cớ nầy nên tâm thỏa
thích.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : Vui mừng cùng thỏa thích có sai
khác gì ?
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát lúc chẳng làm ác gọi là vui
mừng, lúc trì tịnh giới gọi là thỏa thích. Đại Bồ Tát
lúc quán sát sanh tử gọi là vui mừng, lúc thấy Đại Niết
Bàn gọi là thỏa thích. Bậc hạ gọi là vui mừng, bậc thượng
gọi là thỏa thích. Lìa pháp thế gian gọi là vui mừng, đặng
pháp bất cộng gọi là thỏa thích. Do giới thanh tịnh nên
thân thể dịu dàng, miệng không nói lời thô ác lỗi lầm.
Lúc bấy gìơ Bồ Tát hoặc thấy hoặc nghe, hoặc ngửi, hoặc
nếm, hoặc xúc chạm, hoặc biết, đều không có các sự ác.
Vì không ác nên tâm đặng an ổn. Vì an ổn nên đặng chánh
định . Vì đặng chánh định nên thấy biết chơn thật. Vì
thấy biết chơn thật nên nhàm lìa sanh tử. Vì nhàm lìa sanh
tử nên đặng giải thoát.Vì giải thoát nên thấy Phật tánh.
Vì thấy Phật tánh nên đặng Niết Bàn. Đây gọi là Bồ
Tát trì tịnh giới, chẳng phải giới cấm thế gian. Vì Đại
Bồ Tát thọ trì tịnh giới có năm pháp tá trợ : Một là
tín, hai là tàm, ba là quí, bốn là thiện tri thức, năm là
tôn kính giới, do đã lìa ngũ cái, chỗ thấy thanh tịnh vì
đã lìa năm ác kiến. Tâm không nghi hoặc vì đã lìa năm thứ
nghi : Một là nghi Phật, hai là nghi Pháp, ba là nghi Tăng, bốn
là nghi giới, năm là nghi chẳng phóng dật. Bồ Tát bèn đặng
ngũ căn : Tín niệm, tinh tấn, định và huệ. Vì đặng ngũ
căn nên đặng năm thứ Niết Bàn : Sắc giải thoát nhẫn đến
thức giải thoát. Đây gọi Bồ Tát trì tịnh giới thanh tịnh
chẳng phải thế gian vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Đây là thế gian chẳng biết chẳng thấy mà
là chỗ thấy biết của Bồ Tát.
Nếu
hàng đệ tử của ta thọ trì đọc tụng biên chép, diễn
thuyết kinh Đại Niết Bàn mà có phá giới. Bị người quở
trách khinh tiện hủy nhục và nói rằng : “Nếu tạng bí
mật của Phật, kinh Đại Niết Bàn có oai lực, sao lại làm
cho người hủy phá giới cấm. Nếu người thọ trì kinh Niết
Bàn nầy hủy phá giới cấm, nên biết kinh nầy là không có
oai lực nếu không oai lực dầu có đọc tụng cũng không lợi
ích”. Do vì khinh hủy kinh Đại Niết Bàn nên làm cho vô lượng
chúng sanh đọa địa ngục. Người thọ trì kinh nầy mà hủy
phá giới cấm là ác tri thức của chúng sanh, là quyến thuộc
của ma chẳng phải đệ tử của ta. Người như vậy
ta cũng chẳng cho thọ trì kinh nầy. Thà khiến họ chẳng thọ
chẳng trì, chẳng tu, chớ chẳng để họ hủy phá giới cấm
mà tho ïtrì tu tập.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu đệ tử ta thọ trì đọc tụng thơ tả
diễn thuyết kinh Niết Bàn phải chánh thân tâm cẩn thận
chớ cợt đùa, cử động khinh tháo thân không cợt đùa tâm
không khinh động. Tâm cầu pháp có thời gọi là khinh động
thân tạo các nghiệp gọi là cợt đùa. Nếu đệ tử ta cầu
pháp có, tạo các nghiệp, thời không nên thọ trì kinh điển
Đại thừa Đại Niết Bàn nầy. Nếu người như vậy mà thọ
trì kinh nầy, sẽ làm cho nhiều người khinh chê mà nói rằng
: Nếu kinh Đại Niết Bàn, tạng bí mật của Phật có oai
lực, sao lại làm cho người cầu pháp có, gây tạo các nghiệp.
Nếu người trì kinh nầy cầu pháp có, gây tạo các nghiệp
do đó biết rằng kinh nầy không có oai lực không oai lực
nên thọ trì cũng không lợi ích gì.
Do
khinh hủy kinh Đại Niết Bàn lại làm cho vô lượng chúng
sanh đọa địa ngục. Người thọ trì kinh nầy nếu cầu pháp
có, gây tạo các nghiệp, họ là ác tri thức của chúng sanh,
là quyến thuộc của ma không phải đệ tử ta.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu hàng đệ tử của ta thọ trì đọc tụng
thơ tả diễn thuyết kinh Đại Niết Bàn nầy, không nên :
Thuyết pháp phi thời, thuyết pháp phi xứ, không thỉnh mà
thuyết pháp, khinh tâm mà thuyết pháp, chỗ nào cũng thuyết
pháp, tự khen mình mà thuyết pháp, khinh người khác mà thuyết
pháp, diệt Phật mà thuyết pháp, hưng thạnh pháp thế gian
mà thuyết pháp.
Nếu
đệ tử của ta thọ trì kinh nầy mà thuyết pháp phi thời
cho đến thuyết pháp để hưng thạnh pháp thế gian, mọi người
sẽ khinh chê họ. Vì khinh chê kinh Đại Niết Bàn nên làm
cho vô lượng chúng sanh đọa địa ngục. Người thọ trì
kinh nầy mà như vậy thời là ác tri thức của chúng sanh,
là quyến thuộc của ma, không phải đệ tử của ta.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu người thọ trì kinh nầy, muốn giảng
thuyết Đại Niết Bàn, muốn giảng thuyết Phật tánh,
muốn giảng thuyết tạng bí mật của Như Lai, muốn giảng
thuyết Đại Thừa, muốn giảng thuyết kinh Phương Đẳng ,
muốn giảng thuyết Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa, muốn
giảng thuyết giải thoát, thấy Phật tánh thời trước phải
thanh tịnh thân của mình. Vì thân thanh tịnh thời người
không quở trách. Vì không quở trách nên làm cho vô lượng
chúng sanh có lòng tin thanh tịnh đối với kinh Đại Niết
Bàn. Vì cóù lòng tin nên càng kính kinh nầy, nếu được nghe
một kệ, một câu, một chữ và người thuyết pháp, thời
phát đặng tâm vô thượng Bồ Đề. Nên biết người nầy
thật là thiện tri thức của chúng sanh, là đệ tử của Phật.
Đây gọi là Bồ Tát chẳng phải thế gian.
Nầy
Thiện nam tử ! Đây gọi là thế gian chẳng biết chẳng thấy
mà là chỗ thấy chỗ biết của Bồ Tát.
Nầy
Thiện nam tử ! Thế nào là tất cả thế gian chẳng thấy
chẳng biết, mà là chỗ thấy chỗ biết của Bồ Tát ? Đây
là nói sáu chánh niệm : Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
niệm giới , niệm thí, niệm thiên.
Thế
nào là niệm Phật ? Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ,Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, thường chẳng
biến đổi, đầy đủ mười trí lực, bốn môn vô sở úy,
đại Sư Tử Hống, gọi là đại Sa Môn, đại Bà La Môn, đại
tịnh, rốt ráo đến nơi bờ kia, đấng Vô Năng Thắng, đấng
Vô Kiến Đảnh, không có bố úy, chẳng kinh chẳng động,
riêng một không bạn vô sư tự ngộ, trí mau lẹ, trí lớn,
trí lanh lợi, trí sâu, trí giải thoát, trí bất cộng, trí
rộng khắp, trí rốt ráo, trí bảo thành tựu, tượng vương
trong loài người, Ngưu vương trong loài người, Long vương
trong loài người, trượng phu trong loài người, Liên Hoa trong
loài người, hoa Phân Đà Lợi, Điều Ngự Nhơn Sư, là
đại thí chủ bực thầy đại pháp, hiệu đại pháp sư, vì
biết pháp, vì biết nghĩa, vì biết thời, vì tri túc, vì tri
ngã, vì biết đại chúng, vì biết chủng tánh của chúng sanh,
vì biết căn tánh lợi độn, vì nói trung đạo, do những cớ
nầy nên hiệu là đại pháp sư.
Thế
nào gọi là Như lai ? Như chỗ thuyết pháp của chư Phật quá
khứ chẳng biến đổi. Chư Phật quá khứ vì độ chúng sanh
nên nói mười hai bộ kinh. Đức Như Lai cũng vậy nên hiệu
là Như Lai. Chư Phật Thế Tôn từ sáu môn Ba La Mật, ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, mười một pháp không mà đến Đại
Niết Bàn. Đức Như Lai cũng vậy, nên gọi Phật là Như Lai.
Chư Phật Thế Tôn vì chúng sanh nên tùy nghi phương tiện khai
thị ba thừa, thọ mạng vô lượng không thể tính đếm. Đức
Như Lai cũng vậy nên gọi Phật là Như Lai.
Thế
nào là Ứng ? Pháp thế gian đều gọi là oan gia, vì đức
Như Lai ứng phá hoại pháp ấy nên gọi là ứng. Luận về
tứ ma là oan gia của Bồ Tát, chư Phật Như Lai lúc làm Bồ
Tát, có thể dùng trí huệ phá hoại bốn thứ ma nên gọi
là Ứng. Lại Ứng gọi là viễn ly, lúc làm Bồ Tát nên phải
xa lìa vô lượng phiền não nên gọi là Ứng. Lại Ứng gọi
là lạc, chư Phật quá khứ lúc làm Bồ Tát dầu trong vô lượng
vô số kiếp vì chúng sanh mà thọ những khổ não, nhưng trọn
không khi nào là không vui, mà thường vui đó nên gọi là Ứng.
Và lại tất cả nhơn thiên nên đem các thứ hoa, hương , chuỗi
ngọc, tràng phan, kỹ nhạc để cúng dường đó nên gọi là
Ứng cúng.
Thế
nào gọi là Chánh Biến Tri ? Chánh là nói chẳng điên đảo.
Biến tri là thông đạt tất cả bốn thứ điên đảo. Lại
chánh là nói khổ hạnh. Biến tri là biết nhơn nơi khổ hạnh
quyết định có quả khổ. Lại chánh là nói trong thế gian.
Biến tri là rốt ráo quyết định biết tu tập trung đạo
thời đặng vô thượng Bồ Đề. Lại chánh nói có thể đếm,
có thể lường có thể cân. Biến tri là chẳng thể đếm,
chẳng thể lường, chẳng thể cân vì thế nên gọi Phật
là Chánh Biến Tri.
Nầy
Thiện nam tử ! Thanh Văn Duyên Giác cũng có biến tri, cũng
chẳng biến tri. Vì biến tri là nói ngũ ấm, thập nhị nhập,
thập bát giới. Thanh Văn Duyên Giác cũng đặng biến tri, đây
gọi là có biến tri. Giả sử hàng nhị thừa trong vô lượng
kiếp quán sát một sắc ấm cũng chẳng thể biết được
hết, do nghĩa nầy nên hàng Thanh Văn Duyên Giác không có biến
tri.
Thế
nào là Minh Hạnh Túc ? “Minh” là nói đặng vô lượng quả
lành. “Hạnh” là chân cẳng. Quả lành gọi là vô thượng
Bồ Đề. Chân cẳng là nói giới huệ. Nương nơi chân giới
huệ mà đặng vô thượng Bồ Đề, vì thế nên gọi là Minh
Hạnh Túc. Lại minh gọi rằng “chú”, hạnh gọi rằng “kiết”,
túc gọi rằng “quả”, đây là nghĩa thế gian. “Chú’
là nói giải thoát, “Kiết’ là vô thượng Bồ Đề, “Quả”
là nói Đại Niết Bàn, vì thế nên gọi là Minh Hạnh Túc.
Lại “minh” là quang, “hạnh” là nghiệp, “túc” là quả,
đây là nghĩa thế gian. “Quang” là nói chẳng phóng dật,
“Nghiệp” là nói sáu môn Ba La Mật, “Quả” là nói vô
thượng Bồ Đề. Và lại “Minh” là tam minh : Một là Bồ
Tát minh, hai là chư Phật minh, ba là vô minh minh. Bồ Tát minh
là Bát Nhã Ba La Mật. Chư Phật minh là Phật nhãn, vô minh
minh là rốt ráo không. “Hạnh” là trong vô lượng kiếp
vì chúng sanh nên tu tập các nghiệp lành. “Túc” là thấy
rõ Phật tánh . Do nghĩa nầy nên gọi là Minh Hạnh Túc.
Thế
nào là Thiện Thệ ? “Thiện” là cao, “Thệ’ là chẳng
cao, đây là nghĩa thế gian. “Cao” gọi là vô thượng Bồ
Đề. “Chẳng cao” chính là tâm Như Lai. Nầy Thiện nam tử
! Tâm nếu cao thời chẳng gọi là Như Lai, vì thế nên Như
Lai gọi là Thiện Thệ. Lại “Thiện” là thiện tri thức,
“Thệ:” là quả thiện tri thức, đây là nghĩa thế gian.
Thiện tri thức là sơ phát tâm, quả của thiện tri thức là
Đại Niết Bàn. Như Lai chẳng bỏ sự phát tâm tối sơ nên
đặng Đại Niết Bàn, vì thế nên Như Lai hiệu là Thiện
Thệ. Và lại “thiện” gọi là tốt, “thệ” gọi là có,
đây là nghĩa thế gian. “Tốt” là nói thấy Phật tánh,
“có” là nói Đại Niết Bàn thiệt chẳng phải có, chư
Phật vì thế gian mà nói là có. Như người đời thiệt không
có con mà nói là có con, thiệt không có đạo mà nói là có
đạo. Nhơn thuận theo thế gian mà nói là có Niết Bàn. Chư
Phật Thế Tôn thành Đại Niết Bàn nên gọi là Thiện Thệ.
Thế
nào là Thế Gian Giải ? Thế gian là nói ngũ ấm, giải là
rõ biết. Chư Phật khéo biết ngũ ấm nên hiệu là Thế Gian
Giải. Lại thế gian là nói ngũ dục, giải là chẳng tham đắm.
Chẳng tham đắm ngũ dục nên hiệu là Thế Gian Giải. Lại
thập phương vô lượng vô số thế giới tất cả hàng Thanh
Văn Duyên Giác chẳng biết chẳng thấy chẳng hiểu, chư Phật
đều biết đều thấy đều hiểu, vì thế nên Phật hiệu
là Thế Gian Giải. Lại thế gian là tất cả phàm phu, giải
là biết nhơn quả thiện ác của phàm phu, chẳng phải hàng
Thanh Văn Duyên Giác biết được, duy Phật có thể biết nên
Phật hiệu là Thế Gian Giải. Lại thế gian là Liên Hoa, giải
là nói chẳng ô nhiễm, đây là nghĩa thế gian. Liên Hoa là
nói Như Lai, đức Như Lai chẳng bị tám pháp thế gian làm
ô nhiễm, nên Phật hiệu là Thế Gian Giải. Lại chư Phật
Bồ Tát thấy rõ thế gian nên hiệu là Thế Gian Giải.
Như nhơn ăn mà đặng sống nên gọi ăn là mạng sống. Cũng
vậy, chư Phật và Bồ Tát vì thấy rõ thế gian nên hiệu
là Thế Gian Giải.
Thế
nào là Vô Thượng Sĩ ? Thượng Sĩ gọi là dứt, không chỗ
dứt gọi là Vô Thượng Sĩ. Chư Phật Thế Tôn không có phiền
não nên không chỗ dứt, vì thế Phật hiệu là Vô Thượng
Sĩ. Lại Thượng Sĩ là nói tránh tụng, Vô Thượng Sĩ là
không có tránh tụng. Như Lai không tránh tụng nên hiệu là
Vô Thượng Sĩ. Lại Thượng Sĩ là lời nói có thể phá hoại,
Vô Thượng Sĩ là lời nói chẳng thể phá hoại. Lời nói
của Như Lai không ai phá được nên hiệu là Vô Thượng Sĩ.
Lại Thượng Sĩ là nói bậc thượng tòa, Vô Thượng Sĩ là
nói bậc vô thượng tòa. Chư Phật ba đời không có ai hơn
nên hiệu là Vô Thượng Sĩ. Lại nữa “thượng” là mới,
“sĩ” la cũ. Chư Phật Thế Tôn thể chứng Đại Niết Bàn
không mới không cũ nên hiệu là Vô Thượng Sĩ.
Thế
nào là Điều Ngự Trượng Phu ? Tự mình đã là Trượng Phu,
lại điều phục trượng phu khác.
Nầy
Thiện nam tử ! Như Lai thật chẳng phải trượng phu,
cũng chẳng phải chẳng trượng phu, nhơn điều phục trượng
phu nên gọi Như Lai là trượng phu. Tất cả nam nữ nếu đủ
bốn pháp thời gọi là trượng phu : Một là gần thiện tri
thức, hai là có thể nghe pháp, ba là tư duy nghĩa, bốn là
đúng như pháp tu hành. Nếu nam nữ nào không có bốn pháp
nầy thời chẳng được gọi là trượng phu. Vì thân dầu
là trượng phu mà hành vi đồng như súc sanh. Như Lai điều
phục những nam nữ ấy nên Phật hiệu là Điều Ngự trượng
Phu. Lại như điều khiển ngựa phàm có bốn cách : Một là
chạm đến lông, hai là chạm đến da, ba là chạm đến thịt,
bốn là chạm đến xương, tùy chỗ chạm đến vừa ý người
điều khiển. Cũng vậy, Như Lai dùng bốn cách điều
phục chúng sanh : Một là vì chúng sanh mà giảng thuyết về
sanh khổ khiến lãnh thọ lời Phật, như cách chạm lông thời
ngựa tuân theo ý người điều khiển. Hai là giảng thuyết
sanh tử bèn lãnh thọ lời Phật, như chạm đến lông da thời
ngựa tuân theo ý người điều khiển. Ba là giảng nói sanh
cùng lão bịnh bèn lãnh thọ lời Phật, như chạm đến lông,
da, thịt, thời ngựa tuân theo ý người điều khiển. Bốn
là giảng nói sanh, lão, bịnh và tử bèn lãnh thọ lời Phật,
như chạm đến lông, da, thịt, xương, thời ngựa tuân theo
ý người điều khiển.
Nầy
Thiện nam tử ! Người điều khiển ngựa không có quyết
định. Như Lai điều phục chúng sanh quyết định chẳng luống
nên Phật hiệu là Điều Ngự Trượng Phu.
Thế
nào là Thiên Nhơn Sư ? Sư có hai hạng : Một là dạy điều
lành, hai là dạy điều ác. Chư Pật và Bồ Tát thường đem
pháp lành dạy bảo chúng sanh. Pháp lành là nói thân, khẩu,
ý đều lành. Chư Phật Bồ Tát dạy bảo chúng sanh :
Các người nên xa nghiệp chẳng lành nơi thân, vì nghiệp ác
nơi thân là thứ có thể xa lìa, để được giải thoát, nên
ta đem pháp nầy dạy các ngươi. Nếu nghiệp ác chẳng thể
xa lìa để được giải thoát, thời ta trọn chẳng dạy các
ngươi. Các chúng sanh nếu lìa ác nghiệp rồi thời không bị
đọa ba ác đạo. Do lìa ác nên thành Vô Thượng Bồ
Đề đặng Đại Niết Bàn. Vì thế nên chư Phật và Bồ Tát
thường đem pháp lành nầy giáo hoá chúng sanh. Khẩu và ý
cũng như vậy. Vì thế Phật là Vô Thượng Sư. Lại xưa chưa
đặng đạo nay đã đặng đạo đó, đem đạo đã đặng dạy
cho chúng sanh. Từ trước tới nay chưa tu phạm hạnh nay đã
tu xong, đem chỗ tu của mình dạy cho chúng sanh. Tự phá vô
minh, lại phá vô minh cho chúng sanh. Tự đặng tịnh nhãn lại
làm cho chúng sanh cũng đặng tịnh nhãn. Tự biết rõ hai đế
lý lại vì chúng sanh mà giảng thuyết hai đế lý. Đã tự
giải thoát lại vì chúng sanh nói pháp giải thoát. Tự qua
khỏi sông lớn sanh tử không ngằn mé lại làm cho chúng
sanh đều được qua khỏi.
Tự
được vô úy lại dạy chúng sanh làm cho không còn sợ sệt.
Tự đã được Niết Bàn lại vì chúng sanh nói Đại Niết
Bàn. Vì thế nên Phật hiệu là Vô Thượng Sư.
“
Thiên” là nói ban ngày. Trên trời ngày dài đêm ngắn nên
gọi là thiên. Lại : “thiên” là nói không sầu não thường
vui sướng nên gọi là thiên. Lại “thiên” là nói đèn sáng
có thể phá đen tối thành sáng suốt nên gọi là thiên. Cũng
bởi có thể phá nghiệp ác tối tăm đặng nghiệp lành sanh
lên trời nên gọi là “thiên”. Lại vì kiết tường
nên gọi là : “thiên”, Lại vì có ánh sáng nên gọi là
“ thiên”.
Nhơn
là nói, là có thể nhiều suy nghĩ nghĩa lý. Lại nhơn là thân
khẩu dịu dàng. Lại nhơn là nói kiêu mạn. Lại nhơn là nói
có thể phá kiêu mạn.
Nầy
Thiện nam tử ! Chư Phật dầu là đại sư vô thượng
của tất cả chúng sanh, nhưng trong kinh nói là Thiên Nhơn Sư,
vì trong các loài chúng sanh chỉ có người cùng trời có thể
phát tâm vô thượng Bồ Đề, có thể tu mười nghiệp đạo
lành, có thể đặng quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả
A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, chứng đặng vô
thượng Bồ Đề. Vì thế nên Phật hiệu là Thiên Nhơn Sư.
Thế
nào là Phật, Phật gọi là giác, đã tự giác ngộ lại có
thể giác ngộ người khác. Như có người rõ biết kẻ giặc
cướp, thời giặc cướp không hại được. Đại Bồ Tát
có thể rõ biết tất cả vô lượng phiền não. Vì rõ biết
nên các phiền não không làm não được. Do đây nên gọi là
Phật. Do vì giác ngộ nên chẳùng sanh, chẳng lão, chẳng bịnh,
chẳng tử, do đây gọi là Phật.
Phật
hiệu là Bà Dà Bà, “ Bà Dà” là phá, “ Bà’ là phiền
não. Có thể phá phiền não nên hiệu Bà Dà Bà. Lại có thể
thành tựu các pháp lành, lại có thể hiểu rõ nghĩa của
các pháp lại có công đức lớn không ai hơn, lại có tiếng
đồn khắp mười phương, lại có thể bố thí tất cả, lại
trong vô lượng a tăng kỳ kiếp lìa nữ căn.
Nầy
Thiện nam tử ! Hoặc nam hoặc nữ có thể niệm Phật như
vậy, lúc đi đứng, lúc ngồi nằm, hoặc ban ngày, hoặc ban
đêm, lúc tối, lúc sáng, thường đặng chẳng lìa thấy Phật
Thế Tôn.
Nầy
Thiện nam tử ! Cớ sao gọi rằng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến
Tri nhẫn đến Bà Dà Bà mà có vô lượng công đức cùng tiếng
tăm lớn như vậy ? Đại Bồ Tát trong vô lượng vô số kiếp
trước, cung kính cha mẹ, hòa thượng sư trưởng, thượng
tọa, trưởng lão. Trong vô lượng kiếp thường vì chúng sanh
mà thật hành hạnh Bố Thí, trì Tịnh Giới, tập Nhẫn Nhục,
siêng Tinh tấn, Thiền định, Trí Huệ, Đại Từ, Đại
Bi, Đại Hỷ, Đại Xả, vì thế nên ngày nay đặng ba mươi
hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân kim cương. Và lại
Bồ Tát trong vô lượng vô số kiếp trước tu tập ngũ căn
: Tín, niệm, Tấn, Định, Huệ, cung kính cúng dàng các
bực sư trưởng, thường vì pháp, chẳng vì ăn. Bồ Tát nếu
trì mười hai loại kinh, hoặc đọc tụng, thường muốn cho
chúng sanh đặng giải thoát an ổn vui sướng, trọn chẳng
vì mình. Tại sao vậy ? Vì Bồ tát thường tu tâm xuất thế
và tâm xuất gia, lại thường tu tâm vô vi, tâm vô tránh, tâm
vô cấu, tâm vô phược, tâm vô thủ, không tâm che đậy, không
tâm vô ký, không tâm sanh tử, không tâm nghi, không tâm tham,
không tâm sân, không tâm si, không tâm kiên mạn, không tâm
uế trược, không tâm phiền não, không tâm khổ, tu tâm
vô lượng, tâm quảng đại, tâm hư không, tâm không, không
tâm không, không tâm chẳng điều phục, không tâm chẳng hộ
trì, không tâm che giấu, không tâm thế gian, tâm thường định,
tâm thường tu, tâm thường giải thoát, tâm không báo đền,
tâm khôâng nguyện cầu, tâm nguyện lành, tâm không nói năng,
tâm nhu nhuyến, tâm chẳng trụ, tâm tự tại, tâm vô lậu,
tâm đệ nhất nghĩa, tâm bất thối, tâm vô thượng, tâm chánh
trực, tâm không dua vạy, tâm không đa thiểu, tâm không ương
ngạnh, tâm không phàm phu, không tâm Thanh Văn, không tâm Duyên
Giác, tâm biết lành, tâm biết cõi, tâm biết sanh cõi nào,
tâm biết ở cõi nào, tâm biết cõi tự tại. Vì ngày trước
tu những tâm nầy nên nay đặng mười trí lực, bốn vô sở
úy, đại từ bi, tam niệm xứ, thường, lạc, ngã, tịnh, do
đây hiệu là Như Lai nhẫn đến Bà Dà Bà. Đây gọi là Đại
Bồ Tát niệm Phật.
Thế
nào là Đại Bồ Tát niệm Pháp ? Đại Bồ Tát suy nghĩ giáo
pháp của chư Phật nói ra rất vi diệu hơn tất cả. Do pháp
nầy có thể làm cho chúng sanh đặng quả hiện tại, chỉ
có chánh pháp nầy không thuộc thời gian, pháp nhãn ngó thấy,
nhục nhãn không thấy được. Chẳng thể dùng thí dụ để
so sánh. Chánh pháp nầy chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng trụ,
chẳng diệt, không thỉ , không chung, vô vi, vô số, kẻ không
nhà thời làm nhà cho họ, kẻ không chỗ về thời làm chỗ
về, không ánh sáng thời làm ánh sáng , không đến bờ kia
thời làm cho đến bờ kia, chỗ không mùi thơm thời làm mùi
thơm vô ngại, kẻ không nhìn thấy thời làm cho nhìn thấy
rõ ràng. Chánh pháp nầy chẳng động, chẳng chuyển, chẳng
dài, chẳng ngắn, dứt hẳn sự vui mà thường an vui, rốt
ráo vi diệu, chẳng phải sắc đã dứt sắc thức mà cũng
là thức, chẳng phải nghiệp đã dứt nghiệp, chẳng phải
kiết sử, đã dứt kiết sử, chẳng phải vật đã dứt vật
mà cũng là vật, chẳng phải giới đã dứt giới mà cũng
là giới, chẳng phải hữu đã dứt hữu mà cũng là hữu,
chẳng phải nhập đã dứt nhập mà cũng là nhập, chẳng phải
nhơn đã dứt nhơn mà cũng là nhơn, chẳng phải quả đã dứt
quả mà cũng là quả, chẳng phải hư, chẳng phải thiệt dứt
tất cả thiệt mà cũng là thiệt, chẳng phải sanh chẳng phải
diệt dứt hẳn sanh diệt mà cũng là diệt, chẳng phải tướng
chẳng phải phi tướng dứt tất cả tướng mà cũng là tướng,
chẳng phải dạy dỗ, chẳng phải không dạy dỗ mà cũng là
thầy dạy, chẳng phải sợ chẳng phải an dứt tất cả sợ
mà cũng là an, chẳng phải nhẫn chẳng phải không nhẫn, dứt
hẳn sự chẳng nhẫn mà cũng là nhẫn, chẳng phải dừng ở
chẳng phải không dừng ở dứt tất cả dừng ở mà cũng
là dừng ở trên đảnh tất cả pháp. Chánh pháp nầy đều
có thể dứt hẳn tất cả phiền não, thanh tịnh vô tướng,
thoát hẳn các tướng, là chổ ở rốt ráo của vô lượng
chúng sanh. Có thể diệt tất cả ngọn lửa sanh tử,
là chỗ đi và ở của chư Phật, là thường còn chẳng biến
đổi. Đây gọi là Bồ Tát niệm Pháp.
Thế
nào là niệm Tăng ?
Chư
Phật Thánh Tăng đúng như Pháp mà trụ thọ trì chánh pháp
tùy thuận tu hành, chẳng thể nhìn thấy, chẳng thể cầm
nắm, chẳng thể phá hoại, chẳng thể nhiễu hại, chẳng
thể nghĩ bàn, là ruộng phước tốt của tất cả chúng sanh.
Dầu là ruộng phước nhưng không thọ, không lấy, thanh tịnh,
không nhơ, vô lậu, vô vi, rộng khắp vô biên, tâm điều nhu
bình đẳng không hai, không có loạn trựơc thường chẳng
biến đổi. Đây gọi là niệm Tăng.
Thế
nào là niệm giới ?
Bồ
Tát suy nghĩ có giới, chẳng phá, chẳng lậu, chẳng hoại,
chẳng tạp, dầu không hình sắc mà nên hộ trì, dầu không
xúc đối nhưng khéo tu phương tiện có thể đặng đầy đủ
không có lỗi lầm, là chỗ mà chư Phật Bồ tát ngợi
khen là nhơn của Đại Thừa Phương Đẳng Đại Niết Bàn.
Như mặt đất, ghe thuyền, chuỗi ngọc, dòng họ tôn qúy,
biển lớn, nước tro, nhà cửa, gươm đao, cầu kỳ, lương
y, thuốc hay, thuốc A Dà Đà, như ý bảo châu, chân, mắt,
cha mẹ, bóng mát, không ai trộm cướp được, không ai nhiễu
hại được, lửa không cháy được, nước không trôi được,
là thang bậc lên núi lớn, là tràng báu của chư Phật Bồ
Tát, nếu trụ nơi giới nầy thời đặng quả Tu Đà Hoàn.
Tôi cũng có phần nầy nhưng tôi chẳng cầu, vì nếu tôi đặng
quả Tu Đà Hoàn thời không thể độ khắp tất cả chúng
sanh. Nếu trụ nơi giới nầy đặng vô thượng Bồ Đề, thời
tôi cũng có phần, đây là chỗ mong muốn của tôi : Vì nếu
đặng vô thượng Bồ Đề, tôi sẽ vì chúng sanh giảng thuyết
diệu pháp để cứu độ. Đây là Đại Bồ Tát niệm giới.
Thế
nào là niệm thí ?
Đại
Bồ Tát quán sát kỹ hạnh Bố Thí là nhơn của vô thượng
Bồ Đề. Chư Phật và Bồ Tát tu tập hạnh Bố Thí như vậy,
tôi cũng tu tập như vậy. Nếu chẳng Bố Thí thời không thể
trang nghiêm bốn bộ chúng. Bố Thí dầu không thể rốt ráo
dứt kiết sử, mà có từ phá hiện tại phiền não. Do vì
Bố Thí nên thường được chúng sanh trong vô lượng thế
giới ở mười phương khen ngợi Đại Bồ Tát Bố Thí
vật thực cho chúng sanh thời là Bố Thí mạng sống cho chúng
sanh. Do quả báo bố thí nên lúc thành Phật thường chẳng
biến đổi. Do Bố Thí làm chúng sanh an vui nên lúc thành Phật
đặng an vui. Lúc Bố Thí, Bồ Tát cầu của cải đúng
pháp, chẳng lánh người kia để cho người nầy, vì thế nên
lúc thành Phật đặng thanh tịnh Niết Bàn. Lúc Bố Thí, Bồ
Tát làm cho chúng sanh chẳng cầu mà đặng, nên lúc thành Phật
đặng ngã tự tại. Vì Bố Thí làm cho người khác đặng
sức khỏe, nên lúc thành Phật chứng đặng mười trí lực.
Vì Bố Thí làm cho người đặng nói năng, nên lúc thành Phật
đặng bốn môn vô ngại. Chư Phật và Bồ Tát tu tập hạnh
Bố Thí nầy làm nhơn Niết Bàn, tôi cũng tu tập hạnh Bố
Thí như vậy để làm nhơn Niết Bàn.
Nói
rộng hạnh Bố Thí như trong kinh Tạp Hoa.
Thế
nào là niệm Thiên ?
Có
cõi trời Tứ Thiên Vương nhẫn đến cõi trời Phi Tưởng,
Phi Phi tưởng. Nếu có tín tâm đặng sanh cõi trời Tứ Thiên
Vương v.v… Tôi cũng có phần. Nếu giới, đa văn, bố thí,
trí huệ đặng sanh cõi trời Tứ Thiên Vương nhẫn đến cõi
trời phi Tưởng, Phi Phi Tưởng, tôi cũng có phần nhưng chẳng
phải chỗ mong muốn của tôi. Vì trời Tứ Thiên Vương
nhẫn đến trời Phi Phi Tưởng đều là vô thường. Vì vô
thường nên có sanh già bịnh chết, do lẽ nầy nên chẳng
phải là chỗ tôi mong muốn. Như ảo thuật biến hoá phỉnh
gạt người ngu, người trí không bị lầm. Phàm phu ngu mê
ham muốn cõi trời Tứ Thiên Vương nhẫn đến trời Phi Tưởng,
Phi Phi Tưởng. Tôi chẳng đồng với phàm phu. Tôi từng nghe
có trời đệ nhứt nghĩa, chính là chư Phật và Bồ tát thường
chẳng biến đổi. Vì thường trụ nên chẳng có sanh, lão,
bịnh, tử. Tôi vì chúng sanh mà cần cầu trời đệ nhứt
nghĩa vì trời đệ nhứt nghĩa có thể làm cho chúng sanh dứt
trừ phiền não, như cây như ý. Nếu tôi có tín, niệm, tấn,
định và huệ thời có thể đặng trời đệ nhứt nghĩa nầy.
Tôi sẽ vì chúng sanh giảng thuyết phân biệt trời đệ nhứt
nghĩa. Đây gọi là Đại Bồ Tát niệm Thiên.
Nầy
Thiện nam tử ! Đây là thế gian chẳng biết chẳng thấy,
mà là chỗ thấy biết của Bồ Tát.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu đệ tử của ta cho rằng thọ trì đọc
tụng biên chép diễn thuyết mười hai bộ kinh cùng với thọ
trì đọc tụng biên chép diễn thuyết kinh Đại Niết Bàn
đồng nhau, nói như vậy không đúng nghĩa. Vì Đại Niết Bàn
là tạng bí mật rất sâu của tất cả chư Phật Thế Tôn,
đây thời là hơn tất cả. Do nghĩa nầy nên kinh Đại Niết
Bàn rất lạ, rất đặc biệt chẳng thể nghĩ bàn.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Tôi cũng biết kinh Đại Niết
Bàn là rất lạ, rất đặc biệt chẳng thể nghĩ bàn. Phật,
Pháp, Tăng chẳng thể nghĩ bàn. Bồ Tát, Bồ Đề, Đại Bát
Niết Bàn cũng chẳng thể nghĩ bàn. Bạch Thế Tôn ! Do nghĩa
gì lại nói Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn ?
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát không ai giáo hóa mà có thể
tự phát tâm Bồ Đề, đã phát tâm rồi tinh tấn siêng tu.
Giả sử lửa lớn đốt cháy thân thể, trọn chẳng vì
cầu cứu mà bỏ tâm niệm Pháp. Vì Đại Bồ Tát thường
tự suy nghĩ: Tôi trong vô lượng vô số kiếp hoặc ở địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, trong loài người, trên trời, bị
các thứ lửa kiết sử đốt cháy, chưa từng đặng một pháp
quyết định, pháp quyết định là vô thượng Bồ Đề.
Nay tôi vì vô thượng Bồ Đề trọn chẳng tiếc thân mạng,
dầu đến phải nát thân như vi trần, tôi trọn chẳng buông
bỏ hạnh tinh tấn siêng tu. Vì tâm tinh tấn bèn là nhơn vô
thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! BồTát nầy lúc chưa thấy vô thượng Bồ
Đề đã có thể chẳng tiếc thân mạng như vậy, huống
là đã thấy. Do đây nên Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.
Lại
Đại Bồ Tát thấy sanh tử có vô lượng tội khổ, chẳng
phải hàng Thanh Văn Duyên Giác biết được. Dầu biết sanh
tử có vô lượng tội khổ, nhưng vì chúng sanh ở trong đó
chịu khổ mà chẳng sanh tâm nhàm lìa. Do đây nên gọi là
Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ Tát vì chúng sanh nên
dầu ở trong địa ngục chịu khổ nhưng vui như đệ
tam thiền. Do đây nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Ví
như nhà Trưởng Giả phát hỏa, Trưởng Giả xem thấy liền
bỏ nhà chạy ra. Các con của Trưởng Giả ở sau chưa thoát
khỏi nạn lửa. Trưởng Giả vì các con nên trở vào nhà để
cứu, chẳng đoái đến họan nạn nguy hiểm. Cũng vậy, Đại
Bồ Tát dầu biết sanh tử nhiều tội khổ, nhưng vì cứu
chúng sanh nên ở trong sanh tử mà chẳng nhàm. Do đây nên lại
gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Đề, thấy
trong sanh tử nhiều tội khổ liền thối tâm Bồ Đề, hoặc
làm Thanh Văn hoặc làm Duyên Giác. Nếu Bồ Tát được nghe
kinh Đại Niết Bàn nầy thời trọn chẳng thối thất tâm
Bồ Đề. Bồ Tát nầy dầu chưa đến bậc bất động địa,
nhưng tâm bền chắc không thối thất. Do đây nên lại gọi
là chẳng thể nghĩ bàn. Nầy Thiện nam tử ! Như có người
nói rằng tôi có thể tự lội qua khỏi biển lớn. Người
nói như vậy có thể nghĩ bàn được chăng ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Lời nói như vậy hoặc có thể nghĩ bàn, hoặc
chẳng thể nghĩ bàn. Vì nếu là người lội qua khỏi biển
lớn thời chẳng thể nghĩ bàn. Còn nếu A Tu La lội qua thời
là có thể nghĩ bàn.
_ Nầy
Thiện nam tử ! Ta chẳng nói A Tu La, chỉ nói người.
_ Bạch
Thế Tôn ! Trong loài người cũng có hai hạng : Một là Thánh
Nhơn, hai là phàm phu. Nếu phàm phu lội qua thời là chẳng
thể nghĩ bàn. Nếu Thánh nhơn thời là có thể nghĩ bàn.
_ Nầy
Thiện nam tử ! Ta nói phàm phu chẳng nói Thánh nhơn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu là phàm phu tự nói lội qua biển lớn được
thời thiệt là chẳng thể nghĩ bàn.
_ Nầy
Thiện nam tử ! Phàm phu thiệt không thể lội qua biển lớn
được. Bồ Tát đây thiệt có thể qua khỏi biển lớn sanh
tử nên gọi là chẳng thể nghĩ bàn.
_Nầy
Thiện nam tử ! Nếu có người có thể dùng chỉ cọng sen
treo núi Tu Di, thời có thể nghĩ bàn được chăng ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Không thể nghĩ bàn được.
_ Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát trong khoảng một niệm đều
có thể tính lường tất cả sanh tử, nên lại gọi chẳng
thể nghĩ bàn.
Xem
Tiếp: Trang 05
