XX
PHẨM
PHẠM HẠNH THỨ HAI MƯƠI
(Hán
bộ trọn quyển 14, 15, 16, 17 và phần đầu quyển thứ 18)
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí các thức uống, Bồ Tát ở trong
lòng từ nên nguyện rằng : Những thức uống bố thí hôm
nay ta đều cho tất cả chúng sanh chung hưởng, do nhơn duyên
nầy làm cho chúng sanh đến sông Đại Thừa uống nước bát
vị mau lên đường Vô Thượng Bồ Đề, rời khỏi sự khô
khát của Thanh Văn Duyên Giác mà khát ngưỡng cầu Phật thừa
vô thượng, dứt khát phiền não mà khát ngưỡng pháp vị.
Rời niệm ưa sanh tử mà ưa thích Đại Thừa Đại Niết Bàn
đầy đủ pháp thân đặng các tam muội vào nơi biển lớn
trí huệ rất sâu. Nguyện các chúng sanh đặng vị cam lồ
trí giác xuất thế ly dục tịch tịnh. Nguyện các chúng sanh
đầy đủ vô lượng trăm ngàn pháp vị. Đủ pháp vị rồi
đặng thấy Phật tánh. Thấy Phật tánh rồi có thể rưới
mưa pháp. Rưới mưa pháp rồi Phật tánh trùm khắp dường
như hư không. Lại làm cho vô lượng chúng sanh khác đặng
pháp vị duy nhứt tức là Đại thừa , chẳng phải vị sai
biệt Thanh Văn và Duyên Giác. Nguyện các chúng sanh chỉ cầu
pháp vị Phật tánh vô ngại, chẳng cầu những vị khác.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí các thức uống trong tâm từ Bồ
Tát phải phát những nguyện như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí xe cộ Bồ Tát ở trong tâm từ
nên nguyện rằng : Những đồ của tôi bố thí hôm nay đều
cho chúng sanh chung hưởng. Do nhơn duyên nầy khiến tất cả
chúng sanh trọn nên Đại thừa, trụ nơi Đại thừa, bất
thối Đại thừa, bất động chuyển thừa, kim cang tòa thừa.
Chẳng cầu thừa Thanh Văn Duyên Giác, chỉ hồi hướng nơi
Phật thừa vô thượng.
Bồ
Tát ở trong tâm từ lúc bố thí xe cộ nên phải phát nguyện
như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí y phục Bồ Tát ở trong tâm từ
nên nguyện rằng : Những đồ bố thí của ta hôm nay đều
cho tất cả chúng sanh chung hưởng, do nhơn duyên nầy làm cho
chúng sanh đặng y phục tàm quý. Pháp giới che thân xé rách
y phục kiến chấp. Y phục rời thân một thước sáu tấc,
đặng thân sắc vàng chạm xúc êm dịu, màu sắc nhuần láng,
da thứa mịn màng, chiếu sáng vô lượng : Không sắc, rời
nơi sắc. Nguyện các chúng sanh tất cả đều đặng thân không
sắc vượt tất cả sắc, đặng chứng nhập Đại Niết Bàn
không sắc.
Lúc
bố thí y phục Bồ Tát ở trong tâm từ nên phát nguyện như
vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí hoa hương, hương thoa, hương bột,
các hương thơm, trong tâm từ Bồ Tát nên nguyện rằng : Những
đồ bố thí của ta hôm nay đều cho tất cả chúng sanh chung
hưởng. Do nhơn duyên nầy làm cho tất cả chúng sanh đều
được bông tam muội của Phật, tràng hoa thất giác chi
tốt đẹp vấn trên đầu của chúng. Nguyện các chúng sanh
thân hình xinh đẹp như trăng tròn, các màu sắc được thấy
diệu mầu đệ nhứt. Nguyện các chúng sanh đều thành tướng
trăm phước trang nghiêm. Nguyện các chúng sanh tùy ý đặng
thấy màu sắc vừa ý. Nguyện các chúng sanh thường gặp bạn
lành đặng hương vô ngại rời những hôi nhơ. Nguyện
các chúng sanh, đầy đủ căn lành trân bảo vô thượng. Nguyện
các chúng sanh nhìn nhau hòa vui không có. lo khổ, đầy đủ
hạnh lành. Nguyện các chúng sanh trọn đủ giới hương. Nguyện
các chúng sanh trì giới vô ngại mùi thơm ngạt ngào khắp
cả mười phương. Nguyện các chúng sanh, đặng giới bền
chắc, đặng giới không nghi hối đặng giới nhứt thế trí,
rời các sự phá giới, đều đặng giới không, giới chưa
từng có, giới vô sư, giới vô tác, giới không ô nhiễm,
giới hoàn toàn, giới rốt ráo, giới bình đẳng. Lấy hương
xoa nơi thân xem đồng như chém đâm không có ưa cùng ghét.
Nguyện các chúng sanh đặng giới vô thượng, giới Đại thừa,
chẳng phải giới Tiểu thừa. Nguyện các chúng sanh đều đặng
đầy đủ Thi Ba La Mật, như chư Phật thành tựu giới độ.
Nguyện các chúng sanh đều được huân tu hạnh bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Nguyện
các chúng sanh đều đặng trọn nên hoa sen vi diệu Đại Niết
Bàn. Hoa đó mùi thơm khắp cả mười phương. Nguyện các chúng
sanh thuần ăn cơm thơm vô thượng Đại Thừa Đại Niết Bàn.
Như con ong hút hoa chỉ lấy vị mật. Nguyện các chúng sanh
đều đặng thành tựu thân vô lượng công đức.
Lúc
bố thí hoa hương Bồ Tát ở trong tâm từ nên phải phát nguyện
như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc bố thí giường chiếu, Bồ Tát ở trong
tâm từ nên phát nguyện rằng : Những giường chiếu của
tôi hôm nay cho tất cảchúng sanh chung hưởng. Do nhơn duyên
nầy làm cho chúng sanh đặng giường nằm của bực trời ở
trong các trời, đặng trí huệ lớn ngồi tứ thiền, nằm
ở nơi giườg của Bồ Tát, chẳng nằm nơi giường của Thanh
Văn, Bích Chi Phật là giường nằm thô ác. Nguyện cho chúng
sanh đặng giường an lạc, lìa giường sanh tử thành
tựu giường sư tử Đại Niết Bàn.
Nguyện
cho các chúng sanh ngồi trên giường nầy rồi, lại vì vô
lượng chúng sanh khác thị hiện thần thông sư tử du hí.
Nguyện các chúng sanh trụ trong cung điện lớn Đại thừa
nầy vì các chúng sanh khác diễn nói Phật tánh.
Nguyện
các chúng sanh ngồi trên giường vô thượng chẳng bị pháp
thế gian chi phối.
Nguyện
các chúng sanh đặng giường nhẫn nhục, rời hẳn sanh tử
đói khát lạnh lẽo.
Nguyện
các chúng sanh đặng giường vô úy lìa hẳn tất cả giặc
phiền não.
Nguyện
các chúng sanh đặng giường thanh tịnh chuyên cầu đạo vô
thượng chánh chân.
Nguyện
các chúng sanh đặng giường pháp lành thường được bạn
lành ủng hộ.
Nguyện
các chúng sanh đặng giường nằm hông bên hữu, nương nơi
pháp của chư Phật đã làm.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát lúc bố thí giường chiếu ở trong
tâm từ nên phải phát nguyện như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát lúc bố thí nhà cửa ở trong tâm từ
thường phát nguyện rằng : Nhà cửa của tôi bố thí hôm
nay đều cho tất cả chúng sanh chung hưởng. Do nhơn duyên nầy
làm cho các chúng sanh ở nhà Đại thừa, tu hành những hạnh
của thiện hữu làm, thật hành hạnh đại bi, hạnh lục độ,
hạnh đại chánh giác, đạo hạnh của tất cả Bồ Tát làm,
hạnh rộng lớn vô biên như hư không.
Nguyện
các chúng sanh đều đặng chánh niệm, xa lìa niệm ác.
Nguyện
các chúng sanh đều đặng an trụ thường, lạc, ngã, tịnh,
lìa hẳn bốn thứ điên đảo.
Nguyện
các chúng sanh thảy đều thọ trì nhà xuất thế.
Nguyện
các chúng sanh đều là căn khí vô thượng nhứt thiết trí.
Nguyện
các chúng sanh đều đặng vào nơi ngôi nhà cam lồ.
Nguyện
các chúng sanh trong tất cả tâm thường vào ngôi nhà Niết
Bàn.
Nguyện
các chúng sanh nơi đời vị lai thường ở cung điện của
Bồ Tát ở. Bồ Tát lúc bố thí nhà cửa ở trong tâm từ
thường nên phát nguyện như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát lúc bố thí đèn sáng ở trong tâm
từ thường nguyện rằng những đèn sáng của tôi bố thí
hôm nay đều cho tất cả chúng sanh chung hưởng. Do nhơn duyên
nầy làm cho các chúng sanh có vô lượng ánh sáng an trụ nơi
Phật pháp.
Nguyện
các chúng sanh thường đặng chiếu sáng.
Nguyện
các chúng sanh được sắc thân tốt đẹp nhuần sáng
đệ nhứt.
Nguyện
các chúng sanh đặng con mắt thanh tịnh không có những màn
lòa.
Nguyện
các chúng sanh đặng đuốc đại trí huệ, khéo hiểu lý vô
ngại, không tướng chúng sanh, không tướng nhân, không tướng
thọ mạng.
Nguyện
các chúng sanh đều đặng nhìn thấy Phật tánh thanh tịnh
dường như hư không.
Nguyện
các chúng sanh nhục nhãn thanh tịnh thấy suốt hằng hà sa
thế giới ở mười phương.
Nguyện
các chúng sanh đặng ánh sáng của Phật chiếu khắp mười
phương.
Nguyện
các chúng sanh đặng con mắt vô ngại đều được thấy Phật
tánh thanh tịnh.
Nguyện
các chúng sanh đặng trí huệ lớn phá tất cả tối tăm và
kẻ nhứt xiển đề.
Nguyện
các chúng sanh đặng vô lượng quang minh chiếu vô lượng thế
giới của chư Phật.
Nguyện
các chúng sanh thắp đèn đại thừa rời đèn nhị thừa.
Nguyện
các chúng sanh đặng quang minh dứt trừ tối vô minh hơn công
dụng chiếu sáng của ngàn mặt trời.
Nguyện
các chúng sanh được ánh sáng hỏa châu, diệt hết những
tối tăm của tam thiên đại thiên thế giới.
Nguyện
các chúng sanh đầy đủ ngũ nhãn, tỏ ngộ pháp tướng, thành
vô sư trí.
Nguyện
các chúng sanh không kiến không minh.
Nguyện
các chúng sanh đều đặng ánh sáng vi diệu Đại Thừa Đại
Niết Bàn, khai thị cho chúng sanh ngộ Phật tánh chơn thật.
Bồ
Tát lúc bố thí đèn sáng trong tâm từ thường nên phát nguyện
như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Tất cả Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát chư Phật
chỗ có căn lành đều do tâm từ làm căn bổn.
Nầy
Thiện nam tử ! Bồ Tát tu tập tâm từ, có thể sanh vô lượng
căn lành như những quán hạnh : Bất tịnh, sổ tức,
vô thường, tứ niệm xứ, bảy phương tiện, ba quán
xứ, mười hai nhơn duyên, vô ngã, v.v… Cùng với pháp noãn,
pháp đãnh, pháp nhẫn, pháp thế đệ nhứt, kiến đạo,
tu đạo, chánh cần, như ý, ngũ căn, ngũ lực,
thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, tứ thiền, tứ
vô lượng tâm, bát giải thoát, bát thắng xứ, mười nhứt
thiết nhập, không, vô tướng, vô nguyện, vô tránh tam muội,
tha tâm trí, các thần thông, trí biết bổn tế, trí Thanh Văn,
trí Duyên Giác, trí Bồ Tát, trí Phật.
Nầy
Thiện nam tử ! Những pháp như vậy tâm từ là căn bổn. Do
vì nghĩa đó nên từ là chơn thật chẳng phải là hư vọng.
Nếu
có người hỏi gì là căn bổn của tất cả pháp lành
? Nên đáp : Chính là tâm từ. Do vì nghĩa đó nên từ là chơn
thật, chẳng phải hư vọng.
Nầy
Thiện nam tử ! Người có thể thực hành pháp lành, gọi là
thiệt tư duy, người thiệt tư duy, bèn gọi là có tâm từ.
Tâm từ chính là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là Đại thừa, Đại
thừa tức là tâm từ, tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là đạo Bồ Đề, đạo Bồ Đề
tức là tâm từ, tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là Đại Phạm, Đại Phạm tức
là tâm từ, tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ có thể vì tất cả chúng sanh mà làm
phụ mẫu, phụ mẫu tức là tâm từ, tâm từ chính là Như
Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn
của chư Phật. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật
chính là tâm từ. Nên biết tâm từ chính là Như Lai.
NầyThiện
nam tử ! Tâm từ chính là Phật tánh của chúng sanh. Phật
tánh như vậy từ lâu bị phiền não che đậy nên làm cho chúng
sanh chẳng đặng nhìn thấy, Phật tánh tức là tâm từ, tâm
từ chính là Như Lai.
Nầy
thiện nam tử ! Tâm từ tức là Đại không, Đại không tức
là tâm từ, tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là hư không, hư không tức là
tâm từ, tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là thường, thường tức là pháp,
pháp tức là tăng. Tăng tức là từ, từ chính là Như Lai.
Và
nầy Thiện nam tử ! Tâm từ tức là lạc, lạc tức là pháp,
pháp tức là Tăng, Tăng tức là tâm từ, tâm từ tức là Như
Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là tịnh, tịnh tức là pháp,
pháp tức là Tăng, Tăng tức là tâm từ, tâm từ tức là Như
Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là ngã, ngã tức là pháp,
pháp tức là Tăng, Tăng tức là tâm từ, tâm từ chính là
Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là cam lồ, cam lồ tức là tâm
từ, tâm từ tức là Phật tánh , Phật tánh tức là pháp,
pháp tức là Tăng, Tăng tức là tâm từ, tâm từ chính là
Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là đạo vô thượng của tất
cả Bồ Tát, đạo là tâm từ, tâm từ chính là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ tức là cảnh giới vô lượng của
chư Phật, cảnh giới vô lượng tức là tâm từ, nên biết
tâm từ tức là Như Lai.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là vô thường, vô thường tức
là tâm từ, nên biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là khổ, khổ là tâm từ, nên
biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là bất tịnh, bất tịnh là tâm
từ , nên biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là vô ngã, vô ngã là tâm từ,
nên biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ nếu là vọng tưởng, vọng tưởng
là tâm từ, nên biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! nếu tâm từ chẳng gọi là Đàn Ba La Mật
nên biết tâm từ nầy là tâm từ cuả Thanh Văn..
Nhẫn
đến Bát Nhã Ba La Mật cũng lại như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ chẳng có thể lợi ích chúng
sanh, tâm từ như vậy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ nếu chẳng vào đạo nhứt tướng,
nên biết tâm từ đó là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ nếu chẳng có thể thấu rõ các pháp,
nên biết tâm từ ấy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ nếu thấy các pháp đều có tướng,
nên biết tâm từ ấy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là hữu lậu ấy là tâm từ của
Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ là hữu vi, tâm từ hữu vi nầy
là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ chẳng trụ nơi bực sơ trụ
thời chẳng phải tâm từ của sơ trụ, nên biết tức là
tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ chẳng có thể đặng mười trí
lực của Phật và bốn món vô sở úy, nên biết tâm từ nầy
là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Nếu tâm từ có thể đặng bốn quả Sa Môn,
nên biết tâm từ nầy là tâm từ của Thanh Văn.
Nầy
Thiện nam tử ! Tâm từ nếu là có, không, chẳng phải có,
chẳng phải không, tâm từ như vậy chẳng phải hàng Thanh
Văn, Bích Chi Phật nghĩ bàn được. Tâm từ nếu chẳng thể
nghĩ bàn, thời pháp chẳng thể nghĩ bàn, Phật tánh chẳng
thể nghĩ bàn, Như Lai chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Vị Đại Bồ Tát trụ nơi Đại Thừa Đại
Niết Bàn tu tâm từ như vậy, dầu lại an trụ trong thùy miên
mà chẳng thùy miên, do vì siêng năng tinh tấn. Dầu thường
thức giấc cũng không thức giấc, vì không có ngủ. Ở trong
thùy miên chư thiên dầu hộ vệ cũng không hộ vệ, vì chẳng
làm việc ác. Thùy miên chẳng ác mộng, không có việc chẳng
lành vì rời thùy miên. Sau khi mạng chung dầu sanh lên Phạm
Thiên cũng không sanh vì đặng tự tại.
Nầy
Thiện nam tử ! Luận về người tu từ có thể đặng thành
tựu vô lượng vô biên công đức như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Kinh điển Đại Niết Bàn vi diệu nầy cũng
có thể thành tựu vô lượng vô biên công đức như vậy.
Chư Phật Như Lai cũng đặng thành tựu vô lượng vô biên
công đức như vậy.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Phàm Bồ Tát tư duy
đều là chơn thật. Hàng Thanh Văn, Duyên Giác chẳng phải
là chơn thật. Tất cả chúng sanh cớ chi chẳng nhờ oai lực
của Bồ Tát đồng thọ khoái lạc. Nếu các chúng sanh thiệt
chẳng đặng khoái lạc, nên biết tâm từ của Bồ Tát tu
tập là không lợi ích.”
Phật
nói : “ Nầy Thiện nam tử ! Tâm từ của Bồ Tát chẳng phải
không lợi ích.
Có
những chúng sanh hoặc quyết định thọ khổ. Hoặc có chúng
sanh chẳng quyết định thọ khổ. Nếu có chúng sanh quyết
định thọ khổ, lòng từ của Bồ Tát là không lợi ích,
vì đó là hàng nhứt xiển đề.
Nếu
có chúng sanh chẳng quyết định thọ khổ thời lòng từ của
Bồ Tát là lợi ích, làm cho chúng sanh đó đều thọ khoái
lạc.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như có người từ xa thấy sư tử, cọp,
beo, chó sói, qủy La Sát v.v… tự nhiên sanh sợ sệt. Ban đêm
thấy gốc cây trụi cũng sanh sợ sệt.
Những
người như vậy tự nhiên sợ sệt, cũng thế, chúng sanh thấy
người tu tâm từ tự nhiên thọ khoái lạc.
Do
nghĩa đó n ên Bồ Tát tu tâm từ là tư duy chơn thật chẳng
phải không lợi ích.
Nầy
Thiện nam tử ! Ta nói tâm từ nầy có vô lượng môn, chính
là những thần thông.
Nầy
Thiện nam tử ! Như Đề Bà Đạt Đa xưa kia bảo vua A Xà Thế
làm hại đức Như Lai. Lúc đó ta cùng chúng Tăng vào thành
Vương Xá thứ đệ khất thực.
Vua
A Xà Thế liền thả voi say để hại ta cùng chư Tăng. Lúc
đó voi say đạp chết trăm ngàn chúng sanh. Voi ấy ngữi hơi
máu, nên hung tợn càng thêm hung tợn, nhắm ngay đoàn của
ta mà chạy thẳng đến. Các đệ tử chưa ly dục kinh sợ
chạy tứ tán chỉ một mình A Nan ở lại. Lúc đó nhơn dân
trong thành Vương Xá đều cả tiếng kêu khóc, hôm nay đức
Như Lai có thể bị hại, cớ sao đấng chánh giác lại vội
sẽ diệt mất. Còn Điều Đạt trong lòng hớn hở. Sa Môn
Cù Đàm bị hại chết thời là rất tốt, kế của ta rất
hay, ta sắp sẽ được toại nguyện.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó ta vì muốn hàng phục voi say liền
nhập từ tâm tam muội, sè bàn tay chỉ voi, năm đầu ngón
tay ta hiện năm sư tử. Voi say thấy sư tử, lòng nó quá sợ,
phẩn tiểu vảy ra, gieo mình mọp xuống kính lễ dưới chân
ta.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó năm đầu ngón tay của ta thiệt không
sư tử, đó là do sức thiện căn tu tâm từ làm cho voi say
được điều phục.
Thiện
nam tử ! Vừa rồi lúc ta muốn nhập Niết Bàn, mới khởi
sự đi đến thành Câu Thi Na. Giữa đường có năm
trăm lực sĩ dọn quét đường sá có một hòn đá to, bọn
họ muốn khiêng bỏ nhưng sức họ chẳng khiêng nổi. Lúc
đó ta xót thương liền khởi tâm từ. Bọn lực sĩ kia
liền thấy ta lấy ngón chân cái hất hòn đávăng lên hư không,
rồi lấy tay hứng bắt để hòn đá trên bàn tay mặt, thổi
nát ra rồi ráp liền lại làm cho bọn lực sĩ hết cao mạn.
Ta liền vì họ nói các pháp yếu làm cho họ đồng phát tâm
vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó Như Lai thiệt chẳng dùng ngón chân
hất văng hòn đá, cho đến chẳng thổi nát và ráp lại.
Nầy
Thiện nam tử ! Nên biết chính là sức thiện căn của tâm
từ làm cho bọn lực sĩ thấy như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Xứ Nam Thiên Trúc nầy có một thành lớn Thủ
Ba La. Trong thành đó có một trưởng giả tên Lưu Chí, được
đại chúng kính trọng. Ông
nầy
đã vun trồng cội lành từ vô lượng đức Phật thuở quá
khứ. Nhơn dân trong thành đó tin theo đạo tà, phụng sự phái
Ni Kiền Tử. Ta muốn độ ông Trưởng giả Lưu Chí, liền
từ Vương Xá thành đến thành Thủ Ba La. Phái Ni Kiền Tử
nghe ta sắp đến thành liền bàn với nhau : Sa Môn Cù
Đàm nếu đến thành nầy, nhơn dân chắc sẽ bỏ ta chẳng
còn cung cấp, chúng ta lấy gì sanh sống.
Bàn
xong, chúng Ni Kiền Tử chia ra loan báo với người trong thành.
Sa Môn Cù Đàm sắp đến thành nầy. Nhưng Sa Môn đó lìa bỏ
cha mẹ du phương các xứ, ông đến đâu thời làm cho xứ
đó mất mùa đói khát nhơn dân bị bịnh trời, bịnh dịch
không thể cứu chữa. Cù Đàm là hạng vô lại dắt theo
toàn những quỉ La Sát hung ác, là kẻ cô cùng không cha không
mẹ đi theo làm môn đồ. Giáo thuyết của ông toàn là hư
vọng. Ông đến nơi nào thời xứ đó không an vui.
Nhơn
dân trong thành nghe những lời đó kinh sợ quá lạy mọp dưới
chơn bọn Ni Kiền Tử thưa rằng : Đại Sư ! Nay chúng tôi
phải thiết kế gì ?
Bọn
Ni Kiền Tử đáp : Tánh của Sa Môn Cù Đàm ưa lùm rừng, suối
chảy nước trong. Các ngươi nên ra ngoài thành, chỗ nào
có rừng suối phải đốn hết cây cối đem phẩn dơ rảy
xuống giếng , ao, khe, suối. Rồi đóng chặt cửa thành võ
trang phòng vệ. Ông ấy đến thời đừng cho vào. Ông ấy
không vào thành được
thời
các người sẽ được an ổn. Chúng ta cũng sẽ dùng pháp thuật
làm cho ông Cù Đàm phải rút lui.
Nhơn
dân trong thành liền thật hành theo : Đốn hết cây cối, làm
nhơ đục hết các giòng suối, võ trang phòng vệ.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc ta đến ngoài thành kia chẳng thấy rừng
cây, chỉ thấy người trên mặt thành võ trang giữ gìn chặt
chẽ, ta liền thương xót khởi tâm từ. Những cây cối mọc
lên như cũ mà còn có phần tươi tốt hơn. Nước trong sông,
ao giếng, suối đều trở nên sạch sẽ, đầy tràn trong
như lưu ly, nhiều thứ hoa đẹp thơm mọc lan tràn mặt đất.
Vách thành biến làm lưu ly xanh. Nhơn dân trong thành đều thấy
đặng ta và đại chúng. Cửa thành tự mở toang, không ai kềm
ngăn được. Võ khí của nhơn dân biến thành cành hoa đẹp.
Lúc đó trưởng giả Lưu Chí dẫn nhơn dân hiệp đoàn
đến chỗ Phật. Ta liền vì họ nói các pháp yếu làm cho
mọi người đều phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó ta thiệt chẳng hoá những rừng cây,
cũng chẳng làm cho nước trong sạch đặng đầy tràn,
cũng chẳng biến thành đó làm lưu ly xanh để cho nhơn dân
kia thấy suốt ta và đại chúng, cũng chẳng mở cửa thành,
biến võ khí làm cành hoa. Nên biết những việc ấy đều
do sức căn lành của lòng từ làm cho nhơn dân thành Thủ Ba
La thấy việc như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Thành Xá Vệ có nàng Bà Tư Tra, giòng Bà La
Môn, chỉ sanh một trai, nên nàng yêu quí lắm. Một hôm đứa
trẻ bịnh chết, nàng quá tiếc thương, buồn rầu đến mất
trí, như điên như cuồng, xé nát quần áo, thân thể lõa lồ,
đi rong khắp thành ấp tìm con, miệng luôn kêu khóc :
Ôi ! Con ôi ! Con bỏ mẹ đi dâu ?
Nàng
Bà Tư Tra nầy đời trứoc đã từng gieo trồng căn lành ở
nơi chư Phật quá khứ.
Nầy
Thiện nam tử ! Ta nghe việc như vậy động lòng xót thương.
Bà Tư Tra liền thấy được ta, nàng ngỡ là con trai của nàng,
chạy vội đến ôm như cách yêu con, tâm trí tỉnh lại. Ta
liền bảo A Nan mang y phục đến cho nàng mặc, rồi ta vì nàng
mà giảng giải pháp yếu. Được nghe pháp, nàng Bà Tư Tra
vui mừng hớn hở phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó thiệt ra ta không phải là con của
nàng ấy, nàng ấy không phải là mẹ ta, cũng không có việc
ôm ẵm. Nên biết đều do sức căn lành của lòng từ làm
cho nàng Bà Tư Tra thấy việc như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Có cô Ưu Bà Di Ma Ha Tư Na Đạt Đa ở
tại thành Ba La Nại. Cô nầy đã từng gieo trồng căn
lành từ vô lượng đức Phật thuở quá khứ.
Một
mùa hạ kia, cô nguyện dâng thuốc men cho chư Tăng.
Trong
chư Tăng, bỗng có một Tỳ kheo mang bịnh nặng. Y sĩ điều
trị bảo phải dùng thịt tươi làm thuốc. Ngoài thịt tươi
ra không gì trị được, và sẽ nguy đến tánh mạng. Nhằm
ngày quốc pháp cấm giết thịt, nên không tìm đâu ra thịt
tươi để mua mặc dầu cô muốn đem vàng ròng trọng lượng
bằng thịt để đổi. Cô Ưu Bà Di Ma Ha Tư Na Đạt Đa bèn
tự cắt thịt bắp vế, chế nấu theo lời Y Sĩ, rồi
đem dâng cho Tỳ kheo bịnh dùng. Nhờ đó Tỳ kheo được lành
mạnh.
Vết
thương nơi bắp vế hành quá đau nhức, cô rên rỉ niệm
Phật : Nam Mô
Phật
! Nam Mô Phật !
Bấy
giờ ta đương ở tại thành Xá Vệ, nghe tiếng niệm Phật
của cô, động lòng đại từ. Liền đó, cô thấy ta đem thuốc
đến đắp lên vết thương, hết đau nhức, thịt lành như
cũ. Rồi ta vì cô mà giảng giải pháp yếu. Cô được
nghe Pháp vui mừng hớn hở phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Nầy
thiện nam tử ! Lúc đó thiệt ra ta không đem thuốc đến thành
Ba La Nại đắp cho cô Ma Ha Tư Na Đạt Đa, nên biết đó là
do sức căn lành của lòng từ khiến cô Ưu Bà Di ấy thấy
những việc như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Ông Điều Đạt tham uống quá nhiều chất
tô, nên nhức đầu đau bụng. Quá khốn khổ chịu không nổi,
ông liền niệm : Nam Mô Phật ! Nam Mô Phật !
Bấy
giờ ta đương ở tại thành Ưu Thiền Ni, nghe tiếng niệm
động lòng đại từ.
Điều
Đạt liền thấy ta đem thuốc đến cho uống, cùng dùng tay
xoa đầu xoa bụng, do đó ông được hết bịnh.
Nầy
Thiện nam tử ! Thiệt ra ta không có đến chỗ Điều Đạt
để xoa đầu xoa bụng và cho ông ấy uống thuốc. Đó là
do sức căn lành của lòng từ khiến ông Điều Đạt thấy
việc như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Nước Kiều Tát La có đảng cướp nămtrăm
người, lộng hành làm hại dân chúng. Vua Ba Tư nặc sai binh
vây đánh bắt sống được trọn đảng cướp. Vua truyền
khoét mắt cả năm trăm tên cướp, rồi thả trong rừng sâu.
Đảng
cướp nầy đã từng gieo trồng căn lành nơi chư Phật thuở
quá khứ, nên khi đau đớn khốn khổ quá bèn đồng xướng
rằng : Nam Mô Phật ! Nam Mô Phật ! Chúng con nay không người
cứu hộ. Cùng nhau khóc than thê thảm.
Bấy
giờ ta đương ở tại Kỳ Hoàn tinh xá, nghe tiếng kêu cầu,
động lòng đại từ. Lúc đó có gió mát thổi chất thuốc
từ núi hương sơn đến tụ đầy lỗ mắt của năm trăm người,
biến thành tròng mắt, bọn họ đều được thấy tỏ như
xưa. Mở mắt ra, bọn họ thấy đức Như Lai đứng trước
mặt họ giảng pháp yếu. Sau khi nghe pháp, cả bọn đều phát
tâm vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó thiệt ra ta không làm gió thổi thuốc
đến cứu mắt họ, cũng không có đến thuyết pháp cho họ.
Đó là do sức căn lành của lòng từ, khiến họ thấy những
việc như vậy.
Nầy
Thịện nam tử ! Vì ngu si, Thái Tử Lưu Ly phế Phụ Vương
lập mình làm vua, lại nhớ đến sự hiềm oán ngày trước
giết hại giòng họ Thích. Vua Lưu Ly bắt hai ngàn phụ nữ
họ Thích cắt tai thẻo mũi, chặt đứt tay chân, rồi bỏ
xuống hầm. Các phụ nữ họ Thích quá đau khổ bèn niệm
rằng : “Nam Mô Phật ! Nam Mô Phật ! Chúng tôi ngày nay không
ai cứu vớt”. Cùng nhau khóc than thê thảm.
Các
phụ nữ nầy đã từng trồng căn lành nơi chư Phật thuở
quá khứ.
Lúc
đó ta ở tại Trúc Lâm Tinh Xá nghe tiếng than của họ liền
sanh lòng từ. Các phụ nữ khốn nạn kia bèn thấy ta đến
thành Ca Tỳ La, lấy nước rửa vết thương cho họ rồi dùng
thuốc đắp lên vết thương. Họ không còn đau nhức. Lỗ
tai lỗ mũi và tay chân lành lại như cũ. Ta liền vì họ giảng
nói pháp yếu. Vừa hết đau khổ lại được nghe pháp, các
phụ nữ ấy đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Sau đó các phụ nữ ấy đến nơi Bà Đại Ái Đạo Tỳ Kheo
Ni xuất gia thọ giới cụ túc.
Nầy
Thiện nam tử ! Thật ra lúc đó đức Phật không có đến
thành Ca Tỳ La, cũng không có lấy nước rửa và đắp thuốc
nơi vết thương. Phải biết đều là do sức căn lành của
lòng từ làm cho các phu nữ kia thấy những việc như
vậy.
Như
căn lành của lòng từ, lòng bi, lòng hỷ cũng như vậy.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nghĩa nầy nên Đại Bồ tát tu tập lòng
từ là chân thật chẳng phải hư vọng.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về vô lượng là chẳng thể nghĩ bàn.
Công hạnh của Bồ Tát cũng chẳng thể nghĩ bàn, công hạnh
của Phật và kinh Đại Thừa Đại Niết Bàn cũng đều chẳng
thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện nam tử ! Đại Bồ Tát tu từ, bi, hỉ rồi đặng trụ
nơi bực rất yêu thương con một.
Nầy
Thiện nam tử ! Thế nào là bực ? Sao gọi là rất yêu thương.
Và sao gọi là con một ?
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như cha mẹ thấy con an ổn lòng rất vui
mừng. Đại Bồ Tát ở bực nầy xem các chúng sanh đồng như
con một, thấy người tu hạnh lành Bồ Tát rất vui mừng,
vì thế nên bực nầy gọi là rất yêu thương.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như cha mẹ thấy con đau ốm lòng rất
khổ não xót thương săn sóc không tạm rời. Cũng vậy,
Đại Bồ Tát ở trong bực nầy thấy các chúng sanh bị bịnh
phiền não ràng buộc bức khổ, trong lòng rầu lo thương tưởng
như con, đến nổi lỗ chơn lông nơi thân đều rỉ máu ra.
Vì thế nên gọi bực nầy là con một.
Nầy
Thiện nam tử ! Như người lúc bé thơ lượm đất cục, ngói
đá, xương khô, nhánh cây đút vào miệng. Cha mẹ xem thấy
sợ bị hại, tay tả nắm đầu con, tay hữu móc ra. Cũng vậy,
Đại Bồ Tát trụ nơi bực nầy thấy các chúng sanh pháp thân
chưa tăng trưởng , hoặc thân khẩu ý tạo nghiệp chẳng lành.
Bồ Tát bèn lấy tay trí huệ cứu vớt đó, chẳng muốn chúng
sanh lưu chuyển trong sanh tử mà phải thọ những khổ não.
Vì thế nên bực nầy lại gọi là con một.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như đứa con thân yêu chết mất, thời
cha mẹ buồn rầu muốn cùng chết theo con. Cũng vậy, Đại
Bồ Tát thấy hạng nhứt xiển đề đọa nơi địa ngục,
cũng nguyện cùng họ sanh chung trong địa ngục. Vì hạng nhứt
xiển đề nầy lúc bị khổ, hoặc sanh một niệm ăn năn chừa
cải, Bồ Tát sẽ vì họ thuyết pháp làm cho họ sanh đặng
một niệm căn lành. Vì thế nên bậc nầy gọi là con một.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như cha mẹ chỉ có một đứa con, lúc đứa
con ngủ, thức, đi, đứng, ngồi, nằm, lòng cha mẹ luôn luôn
nhớ tưởng. Nếu con có lỗi lầm cha mẹ chỉ thương xót
dạy dỗ chớ chẳng làm hại. Cũng vậy, Đại Bồ Tát thấy
các chúng sanh hoặc bị đọa địa ngục súc sanh ngạ quỉ,
hoặc sanh trong loài người, trên trời, gây tạo những nghiệp
lành nghiệp dữ, lòng Bồ Tát thường nhớ tưởng trọn
không rời bỏ chúng sanh. Nếu có chúng sanh tạo ác, Bồ Tát
trọn chẳng giận hờn, chẳng làm hại. Vì thế nên bậc nầy
gọi là con một.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng : “ Thế Tôn ! Như lời Phật
đã nói ý rất sâu kín, nay tôi trí cạn cợt làm sao hiểu
được. Nếu các vị Đại Bồ Tát trụ nơi bực con một
có thể được như thế, tại sao đức Như Lai xưa kia là vị
quốc vương thật hành đạo Bồ Tát mà lại giết hại giòng
Bà La Môn. Nếu đặng bực nầy thời lẽ ra phải xót
thương ủng hộ, còn nếu chẳng đặng bậc nầy, nhơn duyên
gì lại chẳng đọa vào địa ngục.
Nếu
bình đẳng xem tất cả chúng sanh là con như La Hầu La, cớ
sao đức Phật lại quở Đề Bà Đạt Đa : Đồ ngu si không
biết hổ thẹn ăn nước miếng nước mũi của người. Làm
cho Đề Bà Đạt Đa sanh lòng giận hờn hại thân Phật ra
máu. Đề Bà Đạt Đa tạo nghiệp ác nầy rồi, đức Như
Lai lại huyền ký cho ông ấy sẽ bị đọa địa ngục chịu
khổ một kiếp.
Thế
Tôn !Những lời như vậy làm thế nào chẳng trái nghịch với
nghĩa lý.
Thế
Tôn ! Ông Tu Bồ Đề trụ bậc giải không, lúc muốn vào thành
khất thực, trước hết ông quán sát nếu có người đối
với ông sanh tâm ganh ghét thời ông thôi chẳng đi khất thực,
dầu cho quá đói ông vẫn chẳng đi. Vì ông Tu Bồ Đề thường
nghĩ rằng : Tôi tự nhớ đời trước đối với phước
điền sanh một niệm ác, do nhơn duyên nầy tôi bị đọa địa
ngục lớn chịu nhiều thống khổ. Nay tôi thà đói trọn ngày
chẳng ăn, quyết không khiến những người kia vì ganh ghét
tôi mà phải đọa vào địa ngục chịu khổ. Ông Tu Bồ Đề
lại nghĩ rằng : Nếu có chúng sanh không bằng lòng cho tôi
đứng, tôi sẽ trọn ngày ngồi yên chẳng đứng dậy. Nếu
có chúng sanh không bằng lòng cho tôi ngồi, tôi sẽ đứng
trọn ngày chẳng dời chỗ. Đi cùng nằm nằm
Ông
Tu Bồ Đề vì hộ chúng sanh còn có tâm như vậy, hà huống
là Đại Bồ Tát. Bồ Tát nếu đặng bực con một, có duyên
cớ gì mà đức Như Lai nói ra lời thô như vậy làm cho ông
Đề Bà Đạt Đa sanh lòng giận ác ?
_ Nầy
Thiện nam tử ! Nay ông chẳng nên gạn như vậy. Chẳng nên
nói rằng đức Như Lai làm nhơn duyên phiền não cho chúng sanh.
Giả sử vòi con muỗi có thể hút hết nước đến đáy biển,
đức Như Lai trọn chẳng làm nhơn duyên phiền não cho chúng
sanh. Giả sử mặt đất đều thành không màu, nước thành
tướng khô, lửa thành lạnh, gió đứng lại, giả sử Tam
Bảo Phật tánh nhẫn đến hư không thành tướng vô thường,
đức Như Lai cũng trọn chẳng làm nhơn duyên phiền não cho
chúng sanh. Giả sử người phạm bốn tội nặng, hạng nhứt
xiển đề, hủy báng chánh pháp hiện thân đặng thành mười
trí lực, bốn vô úy, ba mươi hai tướng, tám mươi thứ tốt,
đức Như Lai trọn chẳng làm nhơn duyên phiền não cho chúng
sanh. Giả sử hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật là thường trụ
chẳng biến đổi, đức Như Lai trọn chẳng làm nhơn duyên
phiền não cho chúng sanh.
Giả
sử bực thập trụ Bồ Tát phạm bốn tội nặng, làm nhứt
xiển đề hủy báng chánh pháp, đức Như Lai trọn chẳng làm
nhơn duyên phiền não cho chúng sanh.
Giả
sử vô lượng chúng sanh dứt mất Phật tánh, chư Phật rốt
ráo nhập Niết Bàn, đức Như Lai cũng trọn chẳng làm nhơn
duyên phiền não cho chúng sanh.
Giả
sử vải chài có thể cột trói được gío, răng có thể nhai
nát sắt, móng tay cào đổ núi Tu Di, đức Như Lai trọn
chẳng làm nhơn duyên phiền não cho chúng sanh.
Thà
ở chung với rắn độc, đút hai tay vào miệng sư tử đói,
lấy than hồng dùng tắm rửa trọn chẳng nên nói rằng đức
Như Lai làm nhơn duyên phiền não cho chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Đức Như Lai thiệt có thể làm cho chúng sanh
dứt trừ phiền não, chớ trọn chẳng làm nhơn duyên sanh phiền
não.
Nầy
Thiện nam tử ! Như ông vừa nói đức Như Lai ngày xưa giết
dòng Bà La Môn. Nên biết Đại Bồ Tát, còn không cố sát
một con kiến, huống lại giết Bà La Môn. Bồ tát thường
dùng mọi cách thức ban bố vô lượng thọ mạng cho chúng
sanh. Luận về bố thí thời là bố thí mạng sống, vật thực.
Đại Bồ Tát lúc thật hành Đàn Ba La Mật, thường ban bố
vô lượng thọ mạng cho chúng sanh. Người giữ giới bất
sát thời đặng sống lâu.
Đại
Bồ Tát lúc thật hành Thi La Ba La Mật, thời là ban bố vô
lượng thọ mạng cho tất cả chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Giữ gìn miệng không lỗi thời đặng sống
lâu.
Đại
Bồ Tát lúc thật hành sằn đề Ba La Mật, thường khuyên
chúng sanh chớ ôm lòng oán thù những việc phải cho người
đem sự quấy về mình, không cãi cọ kiện cáo thời đặng
sống lâu. Vì thế nên Bồ Tát lúc thật hành sằn đề Ba
La Mật, thời đã ban bố vô lượng thọ mạng cho chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Siêng năng tu tập hạnh lành thời đặng sống
lâu. Đại Bồ Tát lúc thật hành Tỳ Lê Da Ba La Mật thường
khuyên chúng sanh siêng tu pháp lành, chúng sanh thật hành rồi
đặng sống lâu vô lượng. Vì thế nên Đại Bồ Tát lúc
thật hành Tỳ Lê Da Ba La Mật đã ban bố vô lượng thọ mạng
cho chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Người nhiếp tâm tu thiền thời đặng sống
lâu. Đại Bồ Tát lúc thật hành thiền Ba La Mật, khuyên các
chúng sanh tu tâm bình đẳng. Chúng sanh thật hành rồi thì
đặng sống lâu. Vì thế nên Bồ Tát lúc thật hành thiền
Ba La Mật đã ban bố cho chúng sanh vô lượng thọ mạng.
Nầy
Thiện nam tử ! Ở nơi những pháp lành, người không phóng
dật thời đặng sống lâu. Đại Bồ tát lúc thật hành Bát
Nhã Ba La Mật, khuyên các chúng sanh nơi những pháp lành chẳng
sanh lòng phóng dật. Chúng sanh thật hành rồi thời đặng
sống lâu. Vì thế nên lúc Bồ Tát thật hành Bát Nhã Ba La
Mật đã ban bố vô lượng thọ mạng cho chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nghĩa nầy nên Đại Bồ Tát trọn không
giết hại mạng sống của chúng sanh.
Nầy
Thiện nam tử ! Như vừa rồi ông hỏi, lúc giết hại dòng
Bà La Môn, đức Phật đã đặng được bậc con một.
Nầy
Thiện nam tử ! Lúc đó ta đã đặng bực ấy. Vì lòng thương
họ mà giết chẳng phải vì tâm ác.
Nầy
Thiện nam tử ! Ví như cha mẹ chỉ có một đứa con nên rất
cưng yêu, đứa con đó phạm hiến pháp của quan. Vì quá sợ
nên cha mẹ hoặc đuổi hoặc giết. Dầu cha mẹ đuổi hay
giết nhưng không có tâm ác.
Cũng
vậy, Đại Bồ Tát vì hộ trì chánh pháp nếu có chúng sanh
hủy báng Đại Thừa, liền lấy roi gậy để trị, hoặc giết
chết, đó là muốn chúng sanh chừa bỏ để tu pháp lành.
Bồ
Tát thường nên suy nghĩ : Dùng nhơn duyên gì làm cho chúng
sanh phát khởi lòng tin thanh tịnh, tùy phương cách nào thuận
tiện thời sẽ thật hành đó. Những người Ba øLa Môn sau
khi chết đọa A Tỳ địa ngục liền suy nghĩ ba điều : Một
là tự nghĩ rằng ta từ đâu mà sanh đến đây, liền tự
biết rằng từ trong loài người. Hai là tự nghĩ rằng : Ta
hiện sanh đây là chỗ nào, liền tự biết rằng là địa
ngục A Tỳ. Ba là tự nghĩ rằng do nghiệp duyên gì mà đọa
địa ngục, liền tự biết rằng do chẳng tin và hủy báng
kinh điển Đại Thừa, bị nhà vua giết mà sanh đến địa
ngục nầy. Họ nghĩ như vậy rồi liền sanh lòng kính tin kinh
điển Đại Thừa. Do lòng kính tin đó thân địa ngục chết
họ sanh đến thế giới của Cam Lồ Cổ Như Lai, sống lâu
đủ mười kiếp.
Nầy
Thiện nam tử ! Do nghĩa nầy thuở xưa kia ta ban cho những người
ấy mười kiếp thọ mạng, sao lại giết hại họ.
Xem
Tiếp: Trang 03
