XIX
PHẨM
THÁNH HẠNH THỨ MƯỜI CHÍN
(Hán
bộ trọn quyển 11, 12 và 13)
Bạch
Thế-Tôn ! Các phái ngoại đạo nhiều cách nói có thường,
lạc, ngã, tịnh, nên biết quyết định có thường, lạc,
ngã, tịnh. Do nghĩa đó nên các phái ngoại đạo cũng nói
được rằng : Ta có chơn-đế.”
Phật
bảo Văn-Thù Sư-Lợi : “ Nếu có Sa-Môn hay Bà-La-Môn mà có
thường, có lạc, có ngã, có tịnh, thời người đó chẳng
phải là Sa-Môn chẳng phải là Bà-La- Môn. Vì họ mê nơi sanh
tử xa lìa bực đại-đạo-sư nhứt thế-trí. Hàng Sa-Môn và
Bà-La-Môn như vậy thiếu kém pháp lành tham đắm các dục
nhiễm. Hàng ngoại đạo nầy ràng buộc trong ngục tham dục,
sân khuể, ngu si mà kham nhẫn thọlạc. Các ngoại đạo nầy
dầu biết nghiệp quả mình làm mình chịu, nhưng còn chẳng
thể xa lìa pháp ác. Hàng ngoại đạo nầy chẳng phải là
chánh pháp, chánh mạng, để tự sống, vì họ không có lửa
trí huệ nên chẳng thể tiêu được vậy.
Các
phái ngoại đạo dầu tham đắm ngũ dục thượng diệu, tham
nơi pháp lành nhưng chẳng siêng tu. Ngoại đạo nầy dầu muốn
đến chánh giải thoát, nhưng trì cấm giới chẳng thành tựu.
Các ngoại đạo nầy dầu muốn cầu vui nhưng chẳng có thể
cầu nhơn duyên của vui. Các ngoại đạo nầy dầu bị bốn
rắn độc lớn đeo vấn nhưng vẫn phóng dật chẳng cẩn thận.
Các ngoại đạo nầy bị vô minh che đậy, xa lìa phương pháp
lành, thích ở trong tam giới, lửa vô thường đốt cháy mà
chẳng thể ra được. Các ngoại đạo nầy gặp những bệnh
phiền não khó lành mà họ chẳng cầu bực lương y đại trí.
Các ngoại đạo nầy thuở vị lai sẽ đi trên đường xa hiểm
vô biên, mà chẳng biết tu tập tư-lương pháp lành để tự
trang nghiêm. Các ngoại đạo nầy thường bị tay độc dâm
dục làm hại mà trở lại ôm ấp rương độc ngũ dục. Các
ngoại đạo nầy giận hờn hung dữ mà trở lại gần gũi
bạn ác. Các ngoại đạo nầy thường bị vô minh che đậy
mà trở lại tìm cầu pháp tà ác. Các ngoại đạo nầy thường
bị tà kiến mê lầm mà trở lại thân thiện với tà kiến.
Các ngoại đạo nầy trông mong ăn trái ngọt mà lại gieo giống
đắng. Các ngoại đạo nầy đã ở trong nhà tối phiền não
mà trở lại xa lìa đuốc sáng đại trí. Các ngoại đạo
nầy mang bịnh khát phiền não mà trở lại uống nước mặn
dục nhiễm. Các ngoại đạo nầy mê lầm điên đảo nói các
hạnh là thường. Cho các hạnh là thường thời không đúng.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Đức Phật quán sát các hạnh thảy đều
vô thường. Tại sao biết như vậy ? Vì các hạnh đều do
nhơn duyên. Phàm những pháp do nhơn duyên, mà sanh thời biết
là vô thường. Các ngoại đạo nầy không có một pháp gì
chẳng từ nhơn duyên sanh.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Phật tánh không sanh không diệt, không đi không
đến, chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng
phải do nhơn làm ra cũng chẳng phải không nhơn, chẳng phải
tu tác chẳng phải tác giả chẳng phải tướng chẳng phải
không tướng, chẳng phải có danh chẳng phải không danh, chẳng
phải danh sắc, chẳng phải dài ngắn, chẳng phải nhiếp trì
trong ấm, giới, nhập. Vì thế nên Phật tánh gọi là thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Phật tánh là Như-Lai, Như-Lai là pháp,
pháp là thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Thường là Như-Lai, Như-Lai là Tăng, Tăng là
thường.
Do
nghĩa nầy nên những pháp từ nhơn duyên mà sanh chẳng gọi
là thường. Các ngoại đạo nầy không có một pháp gì chẳng
từ nhơn duyên mà sanh. Các ngoại đạo nầy chẳng thấy Phật
tánh Như-Lai là pháp. Vì thế nên lời nói của ngoại đạo
đều là vọng ngữ, không có chơn đế.
Người
phàm phu lúc trước thấy bình, y, xe cộ, nhà cửa, thành quách,
nước sông, rừng núi, nam nữ, voi ngựa, trâu dê, lúc sau thấy
tương tợ bèn nói là thường, phải biết những vật ấy
thiệt chẳng phải là thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Tất cả pháp hữu vi đều là vô thường.
Pháp vô vi là thường. Hư không và Phật tánh là vô vi nên
là thường. Hư không tức là Phật tánh, Phật tánh là Như-Lai,
Như-Lai là vô vi, vô-vi là thường. Thường là pháp, pháp là
Tăng, Tăng là vô-vi, vô-vi là thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Có hai thứ pháp hữu vi : Một là sắc pháp,
hai là phi sắc pháp. Phi sắc pháp là tâm và tâm sở. Sắc
pháp là địa thủy hỏa phong.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Tâm gọi là vô thường vì tánh nó phan-duyên
phân biệt. Tánh của nhãn thức khác, nhẫn đến tánh của
ý thức khác, nên là vô thường. Cảnh giới sắc khác, nhẫn
đến cảnh giới pháp khác, nên là vô thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu tâm là thường thời nhãn thức lẽ ra
một mình duyên tất cả pháp. Nếu nhãn thức khác, nhẫn đến
ý thức khác, thời biết là vô thường. Bởi các pháp tương
tợ niệm niệm sanh diệt, người phàm phu thấy đó chấp cho
là thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Vì các tướng nhơn duyên có thể phá hoại,
nên cũng gọi là vô thường. Như nhơn nhãn căn, nhơn sắc,
nhơn ánh sáng, nhơn tư duy mà sanh nhãn thức. Lúc nhĩ thức
sanh ra nhơn duyên đều khác chẳng phải là nhơn duyên của
nhãn thức, nhẫn đến nhơn duyên của ý thức cũng khác như
vậy.
Nầy
Thiệân-nam-tử ! Nhơn duyên phá hoại các hạnh sai khác, nên
tâm gọi là vô thường. Như tâm tu vô thường khác, tâm tu
khổ, không, vô ngã khác. Nếu tâm là thường lẽ ra thường
tu vô thường. Còn chẳng đặng quán khổ, không, vô ngã huống
lại quán thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa nầy nên trong
giáo pháp của ngoại đạo chẳng có thể nhiếp lấy thường,
lạc, ngã, tịnh, phải biết tâm pháp quyết định là vô thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Vì tâm tánh sai khác nên gọi là vô thường.
Như tâm tánh Thanh-Văn khác, tâm tánh Duyên-Giác khác, tâm tánh
chư Phật khác.
Tất
cả ngoại đạo có ba thứ tâm : Một là tâm xuất gia, hai
là tâm tại gia, ba là tâm xa lìa tại gia. Tâm tương-ưng với
lạc khác, tâm tương ưng với khổ khác, tâm tương-ưng với
bất khổ bất lạc khác, tâm tương-ưng với tham dục khác,
tâm tương-ưng với sân-khuể khác, tâm tương ưng với ngu
si khác. Tâm tướng của tất cả ngoại đạo cũng khác : Các
tâm tương-ưng với ngu si, nghi hoặc cùng tà kiến đều khác,
lúc đi đứng nằm ngồi tâm đó cũng khác. Nếu tâm là thường
thời lẽ ra chẳng phân biệt được các sắc như xanh, vàng,
đỏ, trắng, tía. Nếu tâm là thường lẽ ra chẳng quên những
việc đã từng ghi nhớ. Nếu tâm là thường thời sự đọc
tụng lẽ ra chẳng tăng trưởng. Nếu tâm là thường lẽ ra
chẳng nên nói rằng : Đã làm, đương làm, sẽ làm. Nếu có
đã làm, đương làm, sẽ làm thời biết rằng tâm này quyết
định là vô thường. Nếu tâm là thường thời không có oán
thù thân ái cũng chẳng oán chẳng thân. Nếu tâm là thường
thời chẳng nên nói rằng vật của tôi, vật của người
hoặc sống hoặc chết. Nếu tâm là thường thời dầu có
tạo tác lẽ ra chẳng tăng trưởng. Do những nghĩa đó, nên
biết tâm tánh mỗi mỗi đều sai khác. Vì sai khác nên biết
là vô thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nay đức Phật ở trong tâm pháp nầy diễn
nói nghĩa vô thường, đã rõ, vì ông mà nói sắc là vô thường.
Sắc nầy vô thường vốn không có sanh, vì sanh đã diệt.
Lúc thân ở thai bào vốn không có sanh, vì sanh đã biến đổi.
Các mầm cây vốn không có sanh, vì sanh đã biến đổi. Do
đó biết rằng, tất cả sắc pháp thảy đều vô thường.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Sắc thân tùy theo thời gian mà biến đổi
: Lúc tượng thai nhẫn đến lúc mới sanh đều đổi khác.
Lúc thơ bé, lớn khôn nhẫn đến tuổi già luôn luôn đổi
khác. Lúc nẩy mầm, lên cây, mọc nhánh sanh lá, trổ bông,
kết trái đều đổi khác.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Chất vị ở trong cũng đổi khác, lúc tượng
thai nhẫn đến lúc già luôn luôn biến đổi. Mầm cây, nhánh,
lá, hoa, trái, chất vị cũng đều đổi khác. Sức lực lúc
tượng thai nhẫn đến sức lực lúc tuổi già đều đổi
khác. Trạng mạo lúc tượng thai nhẫn đến trạng mạo lúc
tuổi già đều đổi khác. Quả báo lúc tượng thai nhẫn đến
quả báo lúc tuổi già cũng khác. Danh tự lúc tượng thai nhẫn
đến danh tự lúc tuổi già cũng sai khác . Sắc thân có hoại
có hiệp nên biết là vô thường. Cây cối cũng có hoại có
hiệp nên biết là vô thường. Thứ đệ sanh lần lần, như
lúc tượng thai sanh lần lần đến tuổi già. Lúc nầy mầm
sanh lần lần đến khi kết trái. Vì thế nên biết là vô
thường vì những sắc pháp có thể hoại diệt, như lúc tượng
thai họai diệt nhẫn đến lúc tuổi già hoại diệt đều
sai khác, lúc nẩy mầm hoại diệt nhẫn đến lúc kết trái
đều hoại diệt nên biết là vô thường. Người phàm phu
không hiểu biết thấy tương tợ sanh ra chấp cho là thường.
Do những nghĩa nầy nên gọi là vô thường. Đã là vô thường
thời chính là khổ, đã là khổ thời chính là bất tịnh.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Các hạnh đều không có ngã. Tổng tất cả
pháp không ngoài hai thứ : Sắc và tâm. Sắc không phải ngã,
vì sắc có thể phá có thể hoại, có thể vỡ có thể đập,
có thể tăng trưởng. Ngã thời chẳng thể phá hoại vỡ đập
sanh trưởng. Do nghĩa nầy nên biết sắc chẳng phải là ngã.
Tâm
cũng chẳng phải ngã vì do nhơn duyên mà sanh khởi. Các ngoại
đạo do chuyên niệm mà biết là có ngã. Tánh chuyên niệm
thiệt ra chẳng phải ngã. Nếu cho chuyên niệm là ngã, những
việc quá khứ có lúc quên mất, vì có quên mất nên quyết
định biết là không ngã. Nếu các ngoại đạo do ức tưởng
mà biết là có ngã, vì có lúc không ức tưởng nên quyết
định biết là không ngã. Như nói : Thấy người bàn tay có
sáu ngón, bèn hỏi rằng chúng ta ngày trước gặp nhau ở chỗ
nào. Nếu là có ngã thời chẳng nên lại hỏi. Vì hỏi nhau
nên quyết định biết là không ngã.
Nếu
các ngoại đạo cho rằng vì có ngăn ngại mà biết là có
ngã. Xét ra vì có ngăn ngại nên quyết định biết là vô
ngã, như nói Điều-Đạt thời trọn chẳng nói rằng không
phải Điều-Đạt. Cũng vậy, nếu ngã quyết định là ngã
thời trọn chẳng ngăn ngại ngã. Nhưng vì cũng ngăn ngại
ngã nên quyết định biết là vô ngã. Nếu vì ngăn ngại mà
biết là có ngã, nay ông chẳng ngăn ngại đáng lẽ là không
ngã !
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu các ngoại đạo cho rằng vì bạn cùng
chẳng phải bạn mà biết rằng có ngã. Cứ nơi thuyết nầy
mà suy, vì không bạn lẽ ra không có ngã. Có những pháp không
bạn : Như-Lai, Hư-Không, Phật tánh, Ngã cũng như vậy thiệt
không có bạn. Do vì nghĩa nầy nên quyết định biết là không
ngã.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu có ngoại đạo cho rằng vì có danh tự
mà biết là có ngã. Trong pháp không ngã cũng có danh tự ngã
: Như người nghèo hèn mà tên là phú quí. Như nói ta chết,
nếu ta chết thời là ta giết ta, nhưng ngã thiệt chẳng có
thể giết, giả danh là giết ngã. Cũng như người lùn mà
tên là Trưởng-giả. Do nghĩa nầy nên quyết định biết không
ngã.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu các ngoại đạo cho rằng vì người mới
sanh đã biết đòi bú nên biết là có ngã. Nếu có ngã thời
tất cả trẻ thơ chẳng nên bốc phẩn, đất, lửa, rắn,
thuốc độc. Do nghĩa nầy nên quyết địng biết không ngã.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Tất cả chúng sanh đối với ba pháp : Dâm
dục, uống ăn, kinh sợ đều có sự hiểu biết đồng nhau,
vì thế nên không có ngã.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu các ngoại đạo cho rằng vì có tướng
mạo mà biết là có ngã. Vì có tướng thời không có ngã,
không có tướng cũng là không ngã. Như lúc ngủ, người không
thể đi đứng ngước cúi nhìn ngó, chẳng biết khổ biết
vui, như thế thời đáng lẽ không có ngã. Nếu cho rằng vì
có đi đứng cúi ngước mà biết là có ngã, thời người
máy lẽ ra cũng có ngã.
Như-Lai
chẳng đi, chẳng đứng, chẳng cúi, chẳng ngước, chẳng nhìn,
chẳng ngó, chẳng khổ, chẳng vui, chẳng tham sân si. Như-Lai
như vậy mà có ngã chơn thật.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu các ngoại đạo vì thấy người khác
ăn trái cây, trong miệng mình sanh nước miếng, nên biết là
có ngã. Do vì nhớ tưởng thấy thời sanh nước miếng, nước
miếng chẳng phải ngã, ngã cũng chẳng phải là nước miếng,
chẳng phải vui buồn, chẳng phải ngáp, chẳng phải cười,
chẳng phải nằm, chẳng phải đứng, chẳng phải đói, chẳng
phải no. Do nghĩa nầy nên quyết định biết là không ngã.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Các ngoại đạo ấy ngu si như trẻ nít không
có trí huệ phương tiện chẳng hiểu thấu được thường
cùng vô thường, khổ, vui, tịnh, bất tịnh, ngã, vô ngã,
thọ mạng, phi thọ mạng, chúng sanh, phi chúng sanh, thật, phi
thật, hữu, phi hữu. Ở trong Phật pháp họ lấy chút ít phần
rồi vọng chấp là có thường, lạc, ngã, tịnh, như người
sanh manh chẳng biết màu sữa, bèn hỏi người khác rằng màu
sữa giống như thứ gì ? Người khác đáp : Màu sữa trắng
như vỏ ốc.
Người
sanh manh lại hỏi : “ Thế thì màu sữa như tiếng thổi ốc
ư ?
Đáp
: Không phải.
Người
sanh manh lại hỏi màu ốc giống thứ gì ?
_ Màu
ốc trắng như bột gạo.
Người
sanh manh nghe nói cho rằng màu sữa mịn nhuyễn như bột gạo.
Khi biết không phải lại hỏi.
Người
khác đáp : Màu sữa trắng như tuyết.
Người
sanh manh lại cho rằng màu sữa lạnh lẽo như tuyết.
Người
khác lại bảo màu sữa trắng như lông chim bạch hạc.
Người
sanh manh ấy dầu nghe cả bốn thứ thí dụ tỉ lệ, nhưng
trọn chẳng biết được màu sắc thiệt của sữa.
Cũng
vậy, các ngoại đạo nầy trọn không thể biết được thường,
lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa nầy trong Phật pháp của ta có chơn-thật-đế,
không phải hàng ngoại đạo có được.
Văn-Thù
Sư-Lợi Bồ-Tát bạch Phật : “ Hi hữu thay : Hôm nay đức
Như-Lai sắp nhập Niết-Bàn phương tiện chuyển pháp luân
vô thượng, bèn phân biệt chơn- thật-đế như vậy.”
Phật
bảo Văn-Thù Sư-Lợi : : Nay ông cớ sao ở nơi đức Như-Lai
mà sanh quan niệm nhập Niết-Bàn. Nầy Thiện-nam-tử ! Như-Lai
thiệt là thường trụ chẳng biến đổi chẳng nhập Niết-Bàn.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Đức Như-Lai trọn chẳng có quan niệm ta là
Phật, ta thành vô thượng chánh giác, ta chính là pháp, pháp
là cái có của ta, ta là đạo, đạo là của ta có, ta là Thế-Tôn,
Thế-Tôn là của ta, ta là Thanh-Văn, Thanh-Văn là của ta, ta
có thể thuyết pháp làm cho người khác nghe và thọ trì, ta
chuyển pháp luân, người khác không chuyển được. Đức Như-Lai
trọn không có quan niệm như vậy nên đức Như-Lai chẳng chuyển
pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như-Lai không có những quan niệm ta thấy biết,
sự thấy biết là của ta, tai nghe, mũi ngửi v.v… cũng như
vậy, ta là sắc, sắc là của ta, thinh, hương, nhẫn đến
pháp cũng như vậy, ta là địa đại, địa đại là của ta,
thủy hỏa phong đại cũng như vậy. Như-Lai cũng không có những
quan niệm ngã là tín là đa-văn, tín và đa-văn là của ta,
ta là đàn-ba-la-mật, là thi-ba-la-mật, nhẫn đến là bát-nhã-ba-la-mật,
đàn-ba-la-mật nhẫn đến là bát-nhã-ba-la-mật, đàn-ba-la-
mật nhẫn đến bát-nhã-ba-la-mật là của ta, ta là tứ niệm
xứ là tứ chánh cần, nhẫn đến là bát-thánh-đạo, tứ-niệm-xứ
nhẫn đến bát-thánh-đạo là của ta. Như- Lai trọn chẳng
có những quan niệm như vậy, nên Như-Lai chẳng chuyển pháp
luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu nói thường trụ không biến đổi, sao
lại nói rằng Phật chuyển pháp luân ! Vì thế nên ông chẳng
nên nói rằng đức Như-Lai phương tiện chuyển pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như nhơn nhãn căn, sắc trần, ánh sáng và
tư duy hoà hiệp sanh ra nhãn thức. Nhãn căn chẳng nghĩ rằng
ta sanh ra thức, sắc, ánh sáng và tư duy cũng chẳng nghĩ rằng
ta sanh nhãn thức, nhãn thức cũng chẳng nghĩ rằng ta có thể
tự sanh. Những pháp như vậy nhơn duyên hòa hợp đặng gọi
là thấy. Cũng vậy, đức Như-Lai nhơn sáu ba-la-mật cùng ba
mươi bảy pháp trợ đạo mà giác ngộ rõ thấu các pháp.
Lại nhơn yết hầu, lưỡi răng, môi miệng có ra lời ra tiếng,
vì các ông Kiều-Trần-Như v.v… mà thuyết pháp lần đầu
tiên, gọi đó là chuyển pháp luân. Do nghĩa nầy nên đức
Như-Lai chẳng gọi là chuyển pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu chẳng chuyển thời gọi là pháp, pháp
là Như-Lai. Như do bùi nhùi, do cọ xát, do tay, do phân bò khô
mà có lửa sanh ra. Bùi nhùi v.v… đều chẳng nghĩ rằng ta
sanh ra lửa. Lửa chũng chẳng nói rằng ta có thể tự sanh.
Cũng vậy, đức Như-lai nhơn sáu ba-la-mật v.v… Vì các ông
Kiều-Trần-Như thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân, đức
Như-Lai trọn chẳng nghĩ rằng ta chuyển pháp luân. Nếu chẳng
nghĩ tưởng như vậy thời gọi đó là chuyển chánh pháp luân.
Chuyển pháp luân như vậy bèn gọi là Như-Lai.
Như
do nơi chất lạc, nước khuấy, bình, giây, tay người mà có
chất tô sanh ra. Lạc v.v… chẳng nghĩ rằng ta sanh ra tô. Tô
cũng chẳng nói rằng ta có thể tự sanh ra. Do các duyên hòa
hiệp nên sanh ra chất tô. Cũng vậy, đức Như-Lai trọn chẳng
nghĩ rằng ta chuyển pháp luân. Nếu chẳng nghĩ như vậy, thời
gọi đó là chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân như vậy
thời là Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như do hột giống, đất, nước, phân, hơi
nóng, gió, thời gian, công tác của người mà có mầm mọc
lên . Hột giống v.v… chẳng nghĩ rằng ta sanh ra mầm. Mầm
cũng chẳng nói rằng ta có thể tự sanh. Cũng vậy, đức Như-
Lai trọn chẳng nghĩ rằng ta chuyển pháp luân. Nếu chẳng
nghĩ như vậy thời gọi đó là chuyển chánh pháp luân. Chuyển
pháp luân như vậy thời là Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như do trống, khoảng không, do, dùi, người
hòa hiệp nhau mà sanh ra tiếng trống v.v… chẳng nghĩ rằng
ta sanh ra tiếng. Tiếng cũng chẳng nói rằng ta có thể
tự sanh.
Cũng
vậy, đức Như-Lai trọn chẳng nghĩ rằng ta chuyển pháp luân.
Chẳng nghĩ như vậy thời gọi đó là chuyển chánh pháp luân.
Chuyển pháp luân như vậy thời là Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Chuyển pháp luân là cảnh giới của chư Phật
Thế-Tôn chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên-Giác biết được.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Hư không chẳng phải sanh, chẳng phải xuất,
chẳng phải tạo tác chẳng phải pháp hữu vi. Cũng vậy, Như-Lai
chẳng phải sanh, xuất, tạo tác chẳng phải pháp hữu vi.
Phật tánh cũng như vậy.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Chư Phật Thế-Tôn lời thuyết giáo có hai
thứ : Một là thế ngữ hai là xuất thế ngữ. Đức
Như-Lai vì hàng Thinh-Văn Duyên-Giác dùng thế ngữ để thuyết
giáo. Vì các vị Bồ-Tát nói xuất thế ngữ.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Hàng đại chúng nghe pháp cũng có hai hạng
: Một là hạng cầu tiểu thừa, hai là hạng cầu đại thừa.
Ngày trứoc ở thành Ba-La-Nại ta chuyển pháp luân cho hàng
Thinh-Văn. Nay ở thành Câu-Thi-Na nầy mới vì các vị Bồ-
Tát chuyển đại pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Lại có hai hạng người trung căn và thượng
căn. Vì hạng trung căn ở thành Ba-La-Nại ta chuyển pháp luân.
Vì hạng thượng văn như Ca- Diếp Bồ-Tát v.v… ở nơi thành
Câu-Thi-Na nầy ta chuyển đại pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Hạng tột hạ-căn đức Như-Lai trọn chẳng
chuyển pháp luân cho họ. Hạng tột hạ-căn tức là nhứt-xiển-đề.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Người cầu Phật đạo có hai hạng : Một
là hạng trung tinh tấn, hai là hạng thượng tinh tấn. Như-Lai
ở thành Ba-La-Nại vì hạng trung tinh tấn mà chuyển pháp luân.
Nay ở thành Câu-Thi-Na nầy chuyển đại pháp luân cho hạng
thượng tinh tấn.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ngày trước Như-Lai ở thành Ba-La-Nại, chuyển
pháp- luân lần đầu tiên, có tám muôn thiên nhơn chứng đặng
quả Tu-Đà hoàn. Nay trong hội thuyết pháp tại thành Câu-Thi-Na
nầy, có tám mươi muôn ức người chứng bực bất thối
chuyển vô thượng Bồ-Đề.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ngày trước ở thành Ba-La-Nại, Đại-Phạm
thiên-Vương đảnh lễ thỉnh Phật chuyển pháp luân.
Nay tại thành Câu-Thi-Na nầy, Ca- Diếp Bồ- Tát đảnh lễ
thỉnh Phật chuyển đại pháp luân.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ngày trước ở thành Ba-La-Nại lúc chuyển
pháp luân Phật giảng thuyết về vô thường, khổ, không và
vô ngã. Nay tại thành Câu-Thi- Na nầy Như-Lai giảng thuyết
về thường, lạc, ngã và tịnh.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ngày trước ở thành Ba-La-nại, lúc thuyết
pháp tiếng nói của Phật nghe xa đến trời Phạm-Thiên. Nay
tại thành Câu-Thi-Na nầy, lúc chuyển pháp luân tiếng của
Phật khắp đến hai mươi hằng hà sa thế giới ở mười
phương.
Nầy
thiện-nam-tử ! Chư Phật Thế-Tôn phàm có lời nói ra đều
gọi là chuyển pháp luân.
Ví
như Chuyển-Luân-Thánh-Vương có Luân-bảo, kẻ chưa hàng
phục có thể làm cho hàng phục, người đã hàng phục có
thể làm cho an ổn. Chư Phật Thế-Tôn phàm có thuyết pháp
cũng như vậy. Vô lượng phiền não người chưa điều phục
có thể làm cho điều phục, người đã điều phục làm cho
sanh căn lành.
Ví
như Chuyển-Luân-Thánh-Vương co ùLuân-bảo có thể phá tan
tất cả oán tặc. Cũng vậy, đức Như-Lai thuyết pháp có
thể làm cho tất cả giặc phiền não thảy đều tịch tịnh.
Ví
như Chuyển-Luân-Thánh-Vương có Luân-bảo trên dưới xoay chuyển.
Cũng vậy, Như-Lai thuyết pháp có thể làm cho các chúng sanh
ở ác thú sanh lên cõi trời cõi người nhẫn đến thành Phật
đạo.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Vì thế nên nay ông chẳng nên khen rằng đức
Như-Lai ở nơi đây lại chuyển pháp luân.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật rằng : “ Thế-Tôn ! Đối với nghĩa nầy
chẳng phải là tôi không biết. Hỏi Phật là vì muốn lợi
ích cho những chúng sanh. Từ lâu tôi đã biết chuyển pháp
luân thiệt là cảnh giới của chư Phật Như-Lai, chẳng phải
hàng Thinh-Văn Duyên-Giác biết được.
Phật
bảo Ca-Diếp Bồ-Tát : “ Nầy Thiện-nam-tử ! Đây gọi là
Bồ-Tát trụ nơi kinh Đại-Thừa Đại-Niết-Bàn thật hành
Thánh-hạnh.
Ca-Diếp
Bồ-Tát bạch Phật : Thế-Tôn, do nghĩa gì gọi là Thánh-hạnh
?
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Thánh là nói chư Phật Thế-Tôn. Do nghĩa nầy
nên gọi là Thánh-hạnh.
_ Bạch
Thế-Tôn ! Nếu là chỗ thật hành của chư Phật thời
chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên-Giác, Bồ-tát có thể tu hành
được.
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Đây là chư Phật Thế-Tôn an trụ nơi Đại-Niết-Bàn
này mà phân biệt khai thị như vậy, do nghĩa nầy nên gọi
là Thánh-hạnh. Hàng Thinh- Văn, Duyên-Giác, và Bồ-Tát nghe
như vậy rồi thời có thể phụng hành nên gọi là Thánh-hạnh.
Đại-Bồ-Tát nầy đặng tu hành hạnh đây rồi thời đặngtrụ
nơi bực vô sở úy. Chẳng còn sợ tham, sân, si, sanh, lão,
bịnh, tử. Cũng chẳng còn sợ ác đạo, địa ngục, súc sanh,
ngạ quỷ.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Luận về sự ác có hai hạng : Một là A-Tu-La,
hai là trong loài người. Trong loài người có ba hạng ác :
Một là nhứt-xiển-đề, hai là hủy báng kinh điển Đại-Thừa
Phương-Đẳng, ba là phạm bốn tội trọng. Trụ trong vô sở
úy nầy, hàng Bồ-Tát trọn chẳng sợ đọa trong những hạng
ác như vậy. Cũng chẳng còn sợ Sa-Môn, Bà-La-Môn, ngoại đạo
tà kiến, Thiên-Ma Ba-Tuần. Cũng chẳng còn sợ thọ thân trong
hai mươi lăm cõi. Vì thế nên bực nầy gọi là vô sở úy.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Đại-Bồ-Tát trụ bực vô sở úy chứng
đặng hai mươi lăm môn tam muội, phá hoại hai mươi lăm cõi.
Đặng vô-cấu tam-muội có thể phá hoại cõi địa ngục.
Đặng bất-thối tam muội có thể phá hoại cõi súc sanh. Đặng
tâm- lạc tam muội có thể phá hoại cõi ngạ quỉ. Đặng
hoan-hỷ tam muội có thể phá hoại cõi A-Tu-La. Đặng nhựt-quang
tam muội có thể dứt cõi Phất-Bà-Đề. Đặng nguyệt-quang
tam muội có thể dứt cõi Cù-Da-Ni. Đặng nhiệt-diện
tam muội có thể dứt cõi Uất-Đơn-Việt. Đặng như-huyễn
tam muội có thể dứt cõi Diêm- Phù- Đề. Đặng nhứt-thiết
pháp bất-động tam muội có thể dứt cõi Tứ-Thiên- Vương.
Đặng tối-phục tam muội có thể dứt cõi Đao-Lợi-Thiên.
Đặng Duyệt-ý tam muội có thể dứt cõi Diệm-Ma-Thiên. Đặng
Thanh-sắc tam muội có thể dứt cõi Đâu- Suất-Thiên. Đặng
Huỳnh-sắc tam muội có thể dứt cõi Hoá-Lạc-Thiên. Đặng
xích- sắt tam muội có thể dứt cõi Tha-Hoá-Tự-tại-Thiên.
Đặng Bạch-sắc tam muội có thể dứt cõi Sơ-Thiền. Đặng
chủng chủng tam muội có thể dứt cõi Đại- Phạm- Vương.
Đặng song tam muội có thể dứt cõi Nhị-Thiền. Đặng lôi-âm
tam muội có thể dứt cõi tam-Thiền. Đặng chú-võ tam muội
có thể dứt cõi Tứ-Thiền. Đặng như hư-không tam muội có
thể dứt cõi Vô-Tưởng. Đặng chiếu-cảnh tam muội có thể
dứt cõi Tịnh-Cư A-Na-Hàm. Đặng vô-ngại tam muội có thể
dứt cõi Không- Xứ- Thiên. Đặng thường tam muội có thể
dứt cõi Thức-Xứ-Thiên. Đặng lạc tam muội có thể dứt
cõi Bất-Dụng Xứ-Thiên. Đặng ngã tam muội có thể được
cõi Phi- Tưởng-Phi-Phi-Tưởng-Xứ-Thiên.
Đây
gọi là Bồ-Tát chứng đặng hai mươi lăm tam muội dứt hai
mươi lăm cõi.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Hai mươi lăm môn tam muội nầy gọi là vua
của các môn tam-muội. Đại Bồ-Tát nhập trong những môn
tam muội vương nầy, nếu muốn thổi hoại núi Tu-Di liền
có thể tùy ý. Nều muốn biết tâm niệm của mọi loài chúng
sanh trong cõi đại thiên, cũng đều có thể biết. Muốn đem
mọi loài chúng sanh trong cõi đại thiên để vào trong một
lỗ chơn lông nơi thân của mình liền có thể tùy ý, cũng
có thể làm cho những chúng sanh đó không c quan niệm chật
hẹp. Nếu muốn hoá làm vô lượng chúng sanh đầy khắp trong
cõi đại thiên, cũng liền có thể tùy ý. Muốn chia một thân
làm nhiều thân, lại hiệp nhiều thân làm một thân, dầu
làm những sự như vậy nhưng tâm không trụ trước, dường
như hoa sen.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Đại Bồ-Tát nhập trong những môn tam muội
vương như vậy rồi, liền đặng trụ nơi bực tự tại. Bồ-Tát
trụ bực tự tại nầy thời đặng sức tự tại, tùy ý muốn
sanh chỗ nào liền đặng vãng sanh.
Ví
như Chuyển-Luân-Thánh-Vương thống lãnh bốn cõi thiên hạ,
tùy ý qua lại không bị chướng ngại. Cũng vậy, tất cả
chỗ muốn thọ sanh Bồ-Tát nầy có thể tùy ý vãng sanh.
Bồ-Tát
nầy nếu thấy tất cả chúng sanh nơi địa ngục, kẻ nào
có thể làm cho sanh căn lành, Bồ-Tát liền qua mà thọ sanh
trong đó, dầu sanh nhưng chẳng phải là nghiệp quả, do sức
tự tại mà thọ sanh trong đó. Bồ-Tát nầy dầu ở nơi địa
ngục nhưng chẳng bị những sự khổ đốt cháy nát thân v.v…
Nầy
Thiện-nam-tử ! Bồ-Tát nầy thành tựu vô lượng vô biên
trăm ngàn muôn ức công đức như vậy, còn không thể nói
hết, huống là công đức của Phật mà có thể nói được.”
Bấy
giờ trong chúng hội, có một vị Bồ-Tát tên là Trụ-Vô-Cấu-Tạng-
Vương, có oai đức lớn thành tựu thần thông, đặng đại
tổng trì đầy đủ môn tam muội, chứng bực vô sở úy, liền
đứng dậy trịch y bày vai bên hữu qùy gối hữu, chắp tay
bạch Phật rằng : “Thế-Tôn ! Như lời đức Phật nói
: Chư Phật Bồ-Tát thành tựu vô lượng vô biên trăm ngàn
muôn ức công đức thiệt không thể nói được. Ý tôi còn
cho rằng vẫn chẳng bằng kinh điển Đai-thừa nầy vì nhơn
sức của kinh Đại- Thừa Phương-Đẳng nầy nên có thể xuất
sanh chư Phật Thế-Tôn vô thượng chánh giác”.
Phật
khen rằng : Lành thay ! Lành thay ! Phải lắm đúng như lời
ông nói. Những kinh Phương-Đẳng Đại-Thừa dầu thành tựu
vô lượng công đức, muốn so sánh với kinh nầy thời không
thể kịp được, trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn muôn ức
lần, nhẫn đến toán số thí dụ cũng chẳng kịp được.
Ví
như từ bò có sữa, từ sữa sanh ra chất lạc, từ lạc sanh
ra chất sanh tô, từ sanh tô sanh ra chất thục tô, từ thục
tô sanh ra chất đề hồ. Chất đề hồ là vị hơn hết, nếu
có người uống chất nầy các thứ bịnh đều tiêu trừ,
bao nhiêu chất thuốc đều vào trong đề hồ.
Cũng
vậy, từ Phật có ra mười hai loại kinh, từ mười hai loại
kinh có ra Tu-đa-la, từ Tu-đa-la có ra kinh Phương-đẳng, từ
kinh Phương-đẳng có ra Bát-Nhã Ba-La- Mật, từ Bát-Nhã Ba-La-Mật
có ra Đại-Niết-Bàn, như chất đề hồ. Chất đề hồ dụ
cho Phật tánh. Phật tánh tức là Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Do nghĩa nầy nên nói rằng Như-Lai có vô lượng
vô biên công đức chẳng thể nói được tính được.”
Ca-Diếp
Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Như lời Phật khen kinh
Đại-Niết- Bàn như chất đề hồ là vị thượng diệu, nếu
có người uống đề hồ thời những chứng bịnh đều tiêu
trừ, tất cả các vị thuốc đều vào trong chất đề hồ.
Tôi nghe lời nầy trộm nghĩ rằng : Nếu có người chẳng
nghe chẳng lãnh thọ được kinh nầy, phải biết người đó
rất là ngu si không có tâm lành.
Bạch
Thế-Tôn ! Nay tôi thiệt có thể kham chịu lột do làm giấy
, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm
viết, biên chép kinh Đại-Niết-Bàn nầy. Biên chép đọc tụng
thông thuộc, rồi vì người mà giảng rộng ý nghĩa đó.
Bạch
Thế-Tôn ! Nếu có chúng sanh tham trước của cải, tôi sẽ
bố thí của cải rồi sau đem kinh Đại-Niết-Bàn nầy khuyên
họ đọc. Nếu có người sang qúi, tôi trứơc dùng ái ngữ
để được cảm tình, rồi sau lần lần sẽ đem kinh Đại-Thừa
Đại- Niết- Bàn nầy khuyên họ đọc. Nếu là kẻ thường
dân, tôi sẽ dùng oai thế ép họ đọc tụng. Nếu với người
kiêu mạn tôi sẽ làm tôi tớ họ, tùy thuận ý của họ cho
họ vui lòng, rồi sau sẽ đem kinh Đại-Niết-Bàn nầy mà dẫn
dắt họ. Nếu có người hủy báng kinh Đại-Thừa tôi sẽ
dùng thế lực hàng phục họ, rồi sau khuyên họ đọc kinh
Đại-Niết-Bàn. Nếu có người ưa thích kinh Đại-Thừa, tôi
đích thân đến cung kính cúng dường tôn trọng tán thán họ.
Phật
khen Ca-Diếp Bồ-Tát : Lành thay ! Lành thay ! Ông thiệt đáng
là người ưa thích kinh điển Đại-Thừa, tham kinh Đại-Thừa,
thọ kinh Đại-Thừa, say kinh Đại- Thừa, kính tin tôn
trọng cúng dường kinh Đại-Thừa.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nay do tâm lành nầy, ông sẽ siêu việt
vô lượng vô biên hằng hà sa đại Bồ-Tát, đặng thành vô
thượng chánh giác trước, chẳng bao lâu ông cũng sẽ vì đại
chúng diễn nói tạng bí mật Đại-Niết-Bàn, Như-Lai, Phật
tánh, như ta hôm nay.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Về thuở quá khứ thời kỳ không có Phật
ra đời, lúc đó ta làm Bà-La-Môn tu hạnh Bồ-Tát, có thể
thông đạt những kinh luận của tất cả ngoại đạo, tu hạnh
tịch diệt, đầy đủ oai nghi, tâm ta thanh tịnh chẳng bị
các dục nhiễm ở ngoài phá hoại, dứt lửa sân hận, thọ
trì pháp môn thường, lạc, ngã, tịnh. Khắp nơi ta tìm cầu
kinh điển Đại-Thừa, nhẫn đến vẫn chẳng được nghe danh
tự kinh Phương-Đẳng. Bấy giờ ta ở núi Tuyết, núi nầy
thanh tịnh có suối chảy ao tắm, rừng rậm cây thuốc, hoa
thơm nở khắp núi, chim thú không thể tính đếm, nhiều thứ
trái ngon, lại có vô lượng ngó sen, củ ngọt củ thơm. Ta
ở một mình trong núi chỉ ăn các thứ trái, ăn xong ngồi
thiền chuyên tâm quán tưởng. Ta tu khổ hạnh như vậy trải
qua vô lượng năm, cũng chẳng được nghe có Phật ra đời
cùng tên kinh Đại-Thừa.
Thích-Đề-Hoàn-Nhơn
và chư Thiên thấy ta bền tu khổ hạnh như vậy lòng họ kinh
sợ bảo nhau rằng :
Chúng
ta nên xem coi. Trong núi Tuyết thanh tịnh, Người ly dục tịch
tịnh. Vua công đức trang nghiêm, Đã lìa tham sân mạn.
Dứt hẳn lòng ngu si, Miệng chưa từng nói ra, Những lời
thô ác thảy.
Có
một vị Thiên-tử tên là Hoan-Hỷ lại nói kệ rằng :
Người
ly dục như vậy, Thanh tịnh siêng tinh tấn, Toan chẳng cầu
Đế-Thích, Và làm chư Thiên ư ! Nếu là hạng ngoại
đạo, Họ tu hành khổ hạnh, Phần nhiều đều mong
cầu, Tòa ngồi của Đế-Thích.
Có
một vị Tiên-thiên-tử lại vì Đế-Thích mà nói kệ rằng
:
Thiên-Chúa
Kiều-Thi-Ca, Chẳng nên sanh lòng lo, Ngoại đạo tu khổ
hạnh, Hà tất cầu Đế-Thích.
Thiên-Tử
nầy lại thưa với Đế-Thích : “ Bực đại-sĩ trong
đời vì chúng sanh nên chẳng tham luyến thân mình mà tu vô
lượng khổ hạnh để làm lợi ích cho chúng sanh. Hạng người
như vậy thấy rõ những lỗi lầm trong giòng sanh tử, dầu
của báu đầy cả mặt đất, đại sĩ nầy cũng chẳng tham
muốn như thấy mũi dãi. Bực đại sĩ nầy rời bỏ của cải
vợ con đầu mắt tủy não tay chơn da thịt, nhà cửa, voi ngựa,
xe cộ, tôi tớ, cũng chẳng mong cầu sanh lên cõi trời, chỉ
mong muốn làm cho tất cả chúng sanh được an vui. Như chỗ
tôi hiểu bực đại-sĩ như vậy lòng thanh tịnh không ô nhiễm,
đã dứt hết phiền não chỉ muốn cầu quảvô thượng bồ-đề.
Thích-Đề-Hoàn-Nhơn
bảo rằng : “ Theo như lời ông nói thời người ấy vì nhiếp
thủ tất cả chúng sanh trong đời. Nầy Đại-Tiên ! Nếu trong
đời nầy có Phật dứt trừ được tất cả rắn độc phiền
não của chư Thiên, loài người và A-Tu-La. Nếu các chúng sanh
ở trong bóng mát của Phật thời tất cả những độc phiền
não đều tiêu diệt. Nầy Đại-Tiên ! Bực Đại-sĩ nầy nếu
trong đời vị lai sẽ thành Phật, thời chúng ta sẽ được
dứt trừ vô lượng phiền não. Việc nầy thiệt là khó tin,
vì vô lượng chúng sanh phát tâm vô thượng bồ-đề, bị
chút ít duyên liền thối thất Bồ- đề tâm, như bóng trăng
trong nước, nước động thời trăng động. Lại như
họa tượng, khó thành mà dễ hư . Cũng vậy, tâm Bồ-đề
khó phát mà dễ thối thất.
Nầy
Đại-Tiên ! Như có nhiều người mặc giáp cầm gậy muốn
đi dẹp giặc, lúc ra đến chiến trận lòng sợ sệt thời
bèn chay lui. Cũng vậy vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề
tự trang nghiêm bền chắc, lúc thấy lỗi sanh tử lòng sợ
sệt bèn thối thất. Nầy Đại-Tiên ! Ta từng thấy vô lượng
chúng sanh sau khi phát tâm Bồ- Đề đều bị thối chuyển.
Vì thế nên nay dầu thấy người nầy tu khổ hạnh tịch tịnh
không phiền não nhưng ta chưa tin được. Nay ta sẽ đến thử
xem coi người nầy thiệt có thể gánh vác nổi vô thượng
Bồ-Đề chăng ? Nầy Đại-Tiên ! Như xe có hai bánh thời có
công dụng chở chuyên, như chim có hai cánh mới có thể bay
đi. Người tu khổ hạnh nầy, dầu thấy là giữ gìn giới
cấm, nhưng chưa biết có trí sâu chăng. Nếu có sâu thời
có thể gánh nổi vô thượng Bồ-Đề. Nầy Đại-Tiên ! Như
cá mẹ đẻ ra bầy cá con, nhưng số cá được lớn khôn rất
ít. Như cây am-la nhiều bông mà ít trái. Chúng sanh phát tâm
Bồ-Đề đông vô lượng nhưng ít người được thành tựu.
Nầy Đại-Tiên ! Ông nên cùng ta đồng qua thử đó. Như vàng
ròng sau khi thử đủ ba cách mới biết là vàng thiệt, là
đốt, đập và mài. Nay chúng ta cũng thử người tu khổ hạnh
nầy.
Lúc
đó Thích-Đề-Hoàn-Nhơn tự biến thân mình làm quỉ La-sát
dung mạo đáng sợ, bay xuống núi Tuyết đến gần người
tu khổ hạnh, cất tiếng thanh nhã tuyên nói nửa bài kệ của
Phật quá khứ :
Các
hạnh vô thường, Là pháp sanh diệt.
Quỉ
La-sát nói nửa kệ xong liếc mắt tìm ngó bốn phía. Người
tu khổ hạnh nghe hai câu kệ ấy lòng rất vui mừng, như
người khách buôn ban đêm đến đường hiểm lạc mất đồng
bạn, kinh sợ tìm kiếm bỗng gặo được đồng bạn, lòng
rất vui mừng. Cũng như người bịnh lâu chưa gặp được
lương y, về sau bỗng gặp được. Như người trôi nổi ngoài
biển khơi bỗng gặp được thuyền bè. Như người quá khát
gặp được nước mát trong. Như người bị oán-địch rượt
mà chạy thoátđược. Như người bi trói nhốt đã lâu bỗng
đặng thả. Cũng như nhà nông trời nắng hạn mà gặp mưa.
Như người đi xa trở về đến nhà, cả nhà đều vui mừng.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Lúc nghe được nửa bài kệ ấy, lòng người
khổ hạnh vui mừng cũng như vậy. Liền đứng dậy lấy tay
đỡ tóc lên ngó tìm bốn phía nói rằng : “ Chẳng biết
ai vừa nói hai câu kệ ? Ngó mãi không thấy người nào khác
chỉ thấy quỉ La-Sát bèn nói rằng : “ Ai khai môn giải thoát
như vậy ? Ai có thể thuật lời của Phật như
vậy
? Ai có thể ở trontg giấc ngủ sanh tử mà có thể riêng
được giác ngộ xướng lên lời đó vậy ? Ai có thể
ở chốn nầy đem đạo vị vô thượng chỉ dạy cho chúng
sanh đang đói khát trong vòng sanh tử ? Ai có thể làm thuyền
lớn cứu vớt vô lượng chúng sanh đang nổi chìm trong
biển sanh tử ? Những chúng sanh nầy thường mang bịnh nặng
phiền não, ai có thể làm lương y nói hai câu kệ ấy khai
ngộ tâm của tôi. Như mặt trăng nửa như hoa sen hé nở.
Người
khổ hạnh lúc đó không thấy có ai khác chỉ thấy quỉ La-Sát
nghĩ rằng có lẽ quỉ nầy nói hai câu kệ ấy chăng ? Rồi
lại nghĩ rằng quỉ nầy hình dung hung dữ đáng sợ, phàm
người đặng nghe những câu kệ ấy thời tất cả sự sợ
sệt xấu xa liền tiêu trừ, đâu có lẽ người hình mạo
xấu xa nầy mà có thể nói lời kệ ấy. Như trong lửa mọc
được hoa sen. Trong ánh nắng mặt trời chẳng sanh được
nước mát. Rồi lại tự trách : Ta thật là vô trí hoặc quỉ
nầy đặng gặp chư Phật quá khứ, nên được nghe nửa bài
kệ ấy, nay ta nên hỏi ý nghĩa của lời ấy. Suy nghĩ xong
liền đến trước quỉ La-Sát nói rằng : “ Lành thay lành
thay ! Đại-Sĩ ! Ngài ở đâu mà học được nửa bài kệ
của Phật quá khứ như vậy ?
Quỉ
La-Sát liền đáp rằng : “ Nầy Bà-La-Môn ! Ông chẳng nên
hỏi ta về việc ấy. Vì ta đã nhiều ngày không được ăn
đói khát khổ não tâm ý mê loạn. Ta tìm cầu khắp nơi vẫn
chẳng được thức ăn. Vì thế nên ta nói những lời như
vậy.”
Người
khổ hạnh lại nói với quỉ La-Sát : “ Nếu Đại-Sĩ có
thể vì tôi nói trọn bài kệ, tôi sẽ trọn đời làm đệ
tử ngài. Kệ của Đại-Sĩ vừa nói lời chẳng đủ, nghĩa
chẳng trọn, sao Đại-Sĩ chẳng nói cho trọn ? Luận về tài-thí
thời có cạn hết, còn pháp-thí thời chẳng thể cùng tận,
nhiều sự lợi ích. Tôi nghe nửa bài kệ ấy sanh lòng kinh
nghi. Trông mong ngài vì tôi mà nói cho trọn, tôi sẽ trọn
đời làm đệ tử ngài.”
Qủi
La-Sát nói : “ Ông tham thái quá chỉ biết tự thương thân
mình mà chẳng nghĩ đến người. Ta đương đói khổ thiệt
không thể nói đặng”.
Người
khổ hạnh hỏi : “ Thức ăn của ngài là vật gì ?
Quỉ
nói : “ Ông đừng hỏi, nếu ta nói ra thời mọi người phải
kinh sợ”.
Người
khổ hạnh nói : “ Giữa đây chỉ có mình tôi không có người
nào khác. Tôi không sợ, ngài cứ nói.
Qủi
nói : “ Tôi chỉ ăn thịt người tươi nóng, chỉ uống máu
nóng của người. Vì ta phước mõng nên chỉ ăn những thứ
đó. Ta tìm khắp các nơi mà chẳng đặng. Trong đời dầu
có người đông nhiều, nhưng mỗi người đều có phước
đức, lại được chư Thiên-Thần thủ hộ, ta không đủ sức
bắt ăn được.”
Người
khổ hạnh nói : “ Ngài cứ nói đủ bài kệ ấy, tôi nghe
kệ rồi sẽ đem thân nầy dâng cho ngài dùng. Thưa Đại-Sĩ
nếu lúc tôi chết thân nầy sẽkhông dùng vào việc gì được,
sẽ bị cọp, sói, chim hiêu, kên kên ăn mổ, không được
một mảy phước đức. Nay tôi vì cầu Vô-thượng Bồ-đề
xả thí thân vô thường chẳng bền nầy, để đổi lấy thân
thường trụ bền chắc”.
Quỉ
nói : “ Ai tin được lời của ông, chỉ vì có tám chữ mà
thí bỏ thân đáng mến đáng tiếc.”
Người
khổ hạnh nói : “ Như có người đem đồ sành bố thí cho
người khác mà đặng đồ bằng thất bảo. Cũng vậy, tôi
xả thí thân vô thường nầy để đặng thân kim cương. Ngài
nói ai tin được lời tôi ?”
Các
vị Đại-Phạm-Thiên-Vương, Thích-Đề-Hoàn-Nhơn và Tứ-Thiên-Vương
có thể chứng minh lời tôi. Lại có các vị Bồ-Tát tu hành
Đại-thừa đủ lục độ, lợi ích vô lượng chúng sanh, có
thiên nhãn cũng chứng biết được lời của tôi, Thập phương
chư Phật cũng chúng biết cho tôi vì tám chữ mà xả thí thân
mạng.
Quỉ
nói : “Nếu ông có thể xả thí thân mạng như vậy, thời
nên lóng nghe kỹ tôi sẽ vì ông nói nửa bài kệ sau”.
Người
khổ hạnh nghe quỉ hứa nói vui mừng hớn hở, liền cởi
tấm da nai đang mặc trên thân trải tòa rồi mời quỉ : “
Bạch Hòa-Thượng xin thỉnh ngài lên tòa nầy”.
Quỉ
ngồi xong người khổ hạnh qùy dài, vòng tay thưa rằng : “
Mong Hòa- Thượng vì tôi mà nói nửa bài kệ còn lại cho được
đầy đủ”.
Quỉ
La-sát liền tuyên rằng :
Sanh-diệt
diệt rồi, Tịch diệt là vui.
Quỉ
La-Sát nói hai câu kệ rồi bảo rằng : “ Nầy Đại Bồ-Tát
nay ông đã nghe đủ cả nghĩa bài kệ, lòng mong muốn của
ông đã đầy đủ, nếu ông muốn lợi ích chúng sanh giờ
đây nên thí thân cho ta.
Người
khổ hạnh suy nghĩ kỹ những nghĩa trong bài kệ rồi biên
chép lên trên đá, trên vách, trên cây, bên đường đi. Tự
cột áo xiêm sợ sau khi chết thân thể lõa lồ rồi leo lên
cây cao.
Thọ-Thần
bảo người khổ hạnh : “ Lành thay ! Nay ông muốn làm
việc gì ?
Người
khổ hạnh đáp : “ Tôi muốn thí xả thân nầy để trả
giá bài kệ”.
Thọ-Thần
nói : “ Bài kệ như vậy có những lợi ích gì ?”
Người
khổ hạnh đáp : “ Những câu kệ ấy là lời thuyết pháp
của Phật ba đời, trong ấy chỉ dạy đạo pháp chơn không.
Tôi vì pháp nầy muốn lợi ích tất cả chúng sanh mà thí
xả thân nầy, chẳng phải vì lợi danh, chẳng cầu Chuyển-
Luân- Thánh-Vương, Tứ-Thiên-Vương, Thích-Đề-Hoàn-Nhơn, Đại-Phạm-thiên-Vương,
chẳng cầu quả vui của người của trời.
Lúc
sắp sửa xả thân, người khổ hạnh nói rằng : “ Nguyện
cho tất cả người tham lam bỏn sẻn đều thấy tôi xả thân.
Những người bố thí chút ít sanh lòng cống cao cũng đặng
thấy tôi vì một bài kệ mà xả thân mạng.
Nói
xong, người khổ hạnh buông mình từ trên cây rơi xuống.
Lúc thân chưa tới đất. Trong hư không vang ra các thứ tiếng
thấu đến cõi trời Sắc-Cứu-Cánh. Quỉ La-sát huờn lại
hình Thiên-Đế hứng lấy thân người khổ hạnh để nhẹ
nhàng xuống đất.
Bấy
giờ Thích-Đề-Hoàn-Nhơn, Đại-Phạm-Thiên-Vương cùng chư
Thiên đảnh lễ người khổ hạnh mà khen rằng : “ Lành thay
! Lành thay ! Thiệt là Bồ-Tát có thể lợi ích nhiều cho vô
lượng chúng sanh, muốn thắp đuốc pháp lên giữa đêm tối
vô minh. Vì tôi mến tiếc pháp lớn của Như-Lai nên cố nhiễu
não ngài. Ngưỡng mong ngài cho tôi sám hối tội lỗi. Thuở
vị lai ngài quyết định thành Vô- thượng Chánh-giác,. Khi
được thành Phật, mong ngài tế độ chúng tôi,
Nói
xong, Thích-Đề-Hoàn-Nhơn và chư Thiên đảnh lễ người khổ
hạnh, cáo từ, bỗng nhiên ẩn mất.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Người khổ hạnh thuở xưa chính là tiền
thân của ta. Ngày trước vì nửa bài kệ mà ta xả thí thân
mạng. Do cớ đó ta đặng vượt bực thành Phật trước Di-Lặc
mười hai kiếp.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ta đặng vô lượng công đức như vậy đều
do cúng dường chánh pháp củaNhư-Lai.
Nay
ông phát tâm Vô- thượng Bồ-đề, thời ông cũng đã vượt
hơn vô lượng vô biên hằng hà sa Bồ-Tát.
Nầy
Thiện- nam-tử ! Đây gọi là Bồ-Tát trụ nơi Đại-Thừa
Đại-Bát Niết-Bàn tu hành thánh hạnh.
HẾT
PHẨM THÁNH HẠNH THỨ MƯỜI CHÍN
