XIX
PHẨM
THÁNH HẠNH THỨ MƯỜI CHÍN
(Hán
bộ trọn quyển 11, 12 và 13)
Nầy
Thiện-nam-tử ! Thế nào là Đại Bồ-Tát trụ nơi Đại-thừa
Đại-Niết-Bàn thấy diệt cùng thấy diệt-đế ? Chính là
dứt trừ tất cả phiền não, nếu phiền não đã dứt thời
gọi là thường. Dứt lữa phiền não thời gọi là tịch diệt.
Vì phiền não diệt nên đặng hưởng thọ chơn lạc. Chư Phật
và Bồ-Tát cho nguyện cầu nên gọi là tịnh, chẳng còn thọ
thân trong hai mươi lăm cõi nên gọi là xuất thế. Do xuất
thế nên gọi là ngã, là thường. Đối với sắc, thinh, hương,
vị xúc, nam, nữ, sanh, trụ, diệt, khổ, lạc, bất khổ, bất
lạc, đều chẳng chấp lấy tướng mạo nên gọi là rốt
ráo tịch diệt chơn đế. Đây là Đại Bồ-Tát trụ nơi Đại-thừa
Đại-Niết-Bàn quán sát diệt Thánh-đế.
Thế
nào là Đại-Bồ-Tát trụ nơi Đại-thừa Đại-Niết-Bàn quán
sát đạo Thánh-đế ?
Ví
như trong tối nhơn đèn mà đặng thấy những vật lớn nhỏ.
Cũng vậy, Đại- Bồ- Tát trụ nơi Đại-Thừa Đại-Niết-Bàn
nhơn bát thánh-đạo mà thấy tất cả pháp : Thường, vô thường,
hữu vi, vô vi, chúng sanh, phi chúng sanh, vật, phi vật, khổ,
lạc, ngã, vô ngã, tịnh, bất tịnh, phiền não, phi phiền
não, nghiệp, phi nghiệp, thật, phi thật, thừa, phi thừa, tri,
bất tri, đà-la-phiên, phi-đà-la-phiên, cầu na, phi cầu na,
kiến, phi kiến, sắc, phi sắc, đạo, phi đạo, giải, phi giải.
Bồ-Tát trụ nơi Đạïi- thừa Đại-Niết-Bàn quán sát đạo
Thánh-đế như vậy”.
Ca-Diếp
Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Nếu tám Thánh-đạo
là đạo Thánh-đế thời nghĩa chẳng tương ứng. Như đức
Phật hoặc có lúc nói lòng tin là đạo có thể thoát khỏi
các phiền não. Hoặc có lúc nói chẳng phóng dật là đạo
vì chư Phật chẳng phóng dật nên đặng vô thượng Bồ-đề,
và cũng là phép trợ đạo của Bồ- Tát. Hoặc có lúc nói
tinh tấn là đạo, như Phật bảo A-Nan nếu có người siêng
tu tinh tấn thời đặng thành vô thượng Bồ-đề. Hoặc có
lúc nói quán thân niệm xứ, nếu chuyên tu tập thân niệm
xứ nầy đặng thành vô thượng bồ-đề. Hoặc có lúc nói
chánh định là đạo. Như Phật bảo Ma-Ha-Ca-Diếp : Chánh định
là đạo chơn thật, nếu nhập chánh định bèn có thể tư
duy sự sanh diệt của ngũ ấm, chẳng nhập thời không thể
tư duy. Hoặc có lúc nói một pháp : Nếu người tu tập cói
thề thanh tịnh chúng sanh, dứt trừ tất cả ưu sầu khổ
não chứng đặng chánh pháp, tức là niệm Phật tam muội.
Hoặc Phật lại nói rằng tu quán tưởng vô thường thời
gọi là đạo có thể chứng đặng vô thượng Bồ-đề. Hoặc
Phật nói không tịch ở nơi A-Lan-Nhã, ngồi một mình tư duy
có thể mau chứng đặng vô thượng Bồ-đề. Hoặc có lúc
Phật nói : Vì người diễn thuyết thời gọi là đạo, nếu
người nghe pháp dứt được lưới nghi thời chứng đặng
vô thượng Bồ-đề. Hoặc có lúc Phật nói trì giới là đạo,
nếu người tinh tấn tu trì giới cấm, người nầy thoát khỏi
khổ sanh tử. Hoặc có lúc Phật nói gần gũi Thiện-hữu gọi
là đạo, như Phật bảo A-Nan : Người gần gũi thiện-tri-thức
thời đầy đủ tịnh giới nếu có chúng sanh nào gần gũi
nơi Phật thời đặng phát tâm vô thượng Bồ-đề. Hoặc
có lúc Phật nói tu lòng từ là đạo, người tu học lòng
từ dứt các phiền não thời đặng bực bất động. Hoặc
có lúc Phật nói trí huệ là đạo, như ngày trước Phật
vì Tỳ-kheo-ni Ba-Xà-Ba-Đề mà nói rằng : Nầy Tỳ-kheo-ni !
Như hàng Thanh-Văn dùng sức trí huệ dứt được các
lậu phiền não. Hoặc có lúc Phật nói bố thí là đạo, như
ngày trước Phật bảo vua Ba- Tư-Nặc : Nầy Đại-Vương !
Ngày trước đức Phật làm nhiều việc bố thí do đó mà
nay đặng thành vô thượng Bồ-đề.
Bạch
Thế-Tôn ! Nếu bát thánh đạo là đạo đế, những kinh như
vậy há chẳng phải là hư vọng. Nếu những kinh đó chẳng
phải hư vọng thời duyên cớ gì trong những kinh đó chẳng
nói bát thánh đạo là đạo thánh đế. Nếu những kinh đó
chẳng nói, dễ thường ngày trước đức Như-Lai có lầm lộn.
Nhưng tôi quyết định biết rằng chư Phật từ lâu đã lìa
lầm lộn.
Đức
Phật khen Ca-Diếp-Bồ-Tát : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy thiện-nam-tử
! Nay ông muốn biết Kinh-diển Đại-thừa vi diệu có những
pháp bí mật nên hỏi như vậy. Những kinh ngày trước như
vậy đều vào trong đạo thánh đế.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như ta nói lòng tin là đạo. Tín căn nầy
có thể tá trợ đạo bồ- đề. Vì thế nên lời Phật nói
không có lầm lộn. Đức Như-Lai khéo biết vô lượng phương
tiện vì muốn hóa độ chúng sanh nên sự thuyết pháp có nhiều
loại.
Ví
như lương y biết các căn bịnh của chúng sanh, tùy theo bịnh
mà hiệp thuốc và những thứ cấm kỵ đối với thuốc. Chỉ
nước chẳng ở trong lệ cấm. Hoặc cho uống nước gừng,
nước cam thảo, nước tế tân, nước đường phèn, nước
trái a-ma- lặc, nước ni-ba-la, hoặc nước bát-trú-la, hoặc
cho uống nước lạnh, nước nóng, nước nho, nước thạch
lựu.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Lương y ấy khéo biết căn bịnh của chúng
sanh. Dầu rằng thuốc có nhiều sự cấm kỵ, nhưng chỉ có
nước là không ở trong lệ cấm.
Cũng
như vậy, đức Như-Lai khéo biết phương tiện, trong một
pháp tướng tùy theo các loài chúng sanh mà phân biệt diễn
thuyết nhiều loại danh tướng. Các loài chúng sanh kia tùy
theo chỗ lãnh thọ của họ mà tu tập, dứt trừ phiền não.
Như người bịnh kia theo lời dặn cũa lương y mà bịnh được
lành.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như có một người biết nhiều thứ tiếng
ở chung trong đại chúng. Một hôm đại chúng khát nước đều
kêu rằng : Tôi muốn uống nước ! Tôi muốn uống nước !
Người đó liền đem nước mát lạnh tùy theo từng người
mà trao cho uống. Hoặc nói là ba-ni, hoặc nói là uất-đặt,
hoặc nói là xa-lỵ-lam, hoặc nói là ba-lỵ, hoặc nói là ba-da,
hoặc nói là cam-lồ, hoặc nói là ngu-nhũ, dùng vô lượng
tên nước như vậy để nói với đại chúng. Cũng vậy, đức
Như-Lai dùng một thánh đạo vì hàng Thanh-Văn mà diễn thuyết
nhiều cách : Từ Tín-căn vân vân đến bát thánh-đạo.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như thợ kim hoàn dùng một chất vàng tùy ý
tạo làm các thứ trang sức : Dây chuyền, vòng, xuyến, xoa,
khoen tai, mão, ấn. Dầu làm nhiều thứ chẳng đồng nhưng
chẳng rời chất vàng. Cũng vậy, đức Như-Lai dùng một Phật
đạo, tùy theo mọi loài chúng sanh mà phân biệt diễn thuyết.
Hoặc nói một thứ, như nói chư Phật một đạo không hai.
Hoặc nói hai thứ là định và huệ. Hoặc nói ba thứ là kiến,
trí và huệ. Hoặc nói bốn thứ là kiến-đạo, tu đạo, vô
học đạo, và Phật đạo. Hoặc nói năm thứ là tín-hành-đạo,
pháp-hành-đạo, tín-giải- thoát-đạo, kiến-đáo-đạo, thân
chứng đạo. Lại nói sáu thứ là Tu-Đà-Hoàn-Đạo, Tư- Đà-
Hàm-Đạo, A-Na-Hàm-Đạo, A-La-Hán-Đạo, Bích-Chi-Phật Đạo,
và Phật-Đạo. Lại nói bảy thứ là niệm-giác-phần, trạch-pháp-giác-phần,
tinh-tấn-giác-phần, hỷ- giác-phần, trú-giác-phần, định-giác-phần
và xả-giác-phần. Lại nói tám thứ là chánh-kiến, chánh-tư-duy,
chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh- tấn, chánh-niệm,
và chánh-định. Lại nói chín thứ là bát-thánh-đạo, và
tín. Lại nói mười thứ là thập-lực. Lại nói mười
một thứ là thập-lực và đại-từ. Lại nói mười hai thứ
là thập-lực đại-từ và đại-bi. Lại nói mười ba thứ
là thập-lực đại- từ, đại-bi và niệm Phật tam-muội.
Lại nói mười sáu thứ là thập-lực, đại-từ, đại-bi,
niệm- Phật tam-muội và ba chánh-niệm. Lại nói hai mươi đạo
là thập-lực, tứ-vô- sở- úy, đại-từ, đại-bi, niệm-Phật
tam-muội và ba chánh-niệm.
Đạo-chỉ
là một thể, ngày trước đức Như-Lai vì chúng sanh mà phân
biệt diễn nói sai khác.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như một thứ lửa, nhơn nơi chỗ nó đốt
cháy mà có nhiều tên sai khác, như lửa cây, lửa cỏ, lửa
trấu, lửa phân bò, lửa phân ngựa. Cũng vậy, Phật đạo
chỉ là một không có hai vì chúng sanh mà phân biệt sai khác.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như một thức phân biệt nói có sáu, nếu
đến nơi nhãn căn, thời gọi là nhãn thức, nhẫn đến nơi
ý-căn thời gọi là ý-thức. Đạo cũng như vậy, chỉ là
một không hai vì hóa độ chúng sanh mà phân biệt sai khác.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như một sắc pháp, mắt thấy thời gọi là
sắc, tai nghe gọi là tiếng, mũi ngửi thời gọi là mùi, lưỡi
nếm thời gọi là vị, thân cảm giác thời gọi là xúc. Đạo
cũng như vậy, là một không có hai, vì muốn hóa độ chúng
sanh nên đức Như-Lai phân biệt sai khác.
Do
nghĩa nầy nên bát-thánh-đạo gọi là đạo thánh-đế.
Nầy
Thiện-nam-tử !Bốn thánh đế nầy chư Phật theo thứ lớp
mà giảng nói. Do đây vô lượng chúng sanh đặng thoát khỏi
sanh tử.
Ca-Diếp
Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Ngày trước có một lúc
Phật ở trong rừng Thi-Thủ trên bờ sông Hằng, đức
Như-Lai lấy lá cây bảo các Tỳ-kheo : Lá trong tay của ta đây
là nhiều hay tất cả lá trên mặt địa cầu là nhiều ? Các
Tỳ- kheo bạch Phật tất cả lá trên địa cầu rất nhiều
không thể tính đếm, lá trong tay Phật cầm rất ít không
đáng kể. Phật bảo các Tỳ-kheo : Những pháp mà ta giác ngộ
nhiều như những lá cỏ cây trên địa cầu, còn pháp mà ta
vì chúng sanh tuyên nói như mấy chiếc lá trong bàn tay.
Bạch
Thế-Tôn ! Cứ theo lời của Phật, thời đức Như-Lai rõ biết
vô lượng pháp- môn, nếu vào trong bốn thánh-đế thời như
đã nói, còn nếu chẳng vào nơi bốn thánh-đế lẽ ra phải
có năm đế.
Phật
khen Ca-Diếp Bồ-Tát : Lành thay ! Lành thay ! Lời hỏi của
ông có thể lợi ích an vui vô lượng chúng sanh.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Những pháp môn như vậy đều đã nhiếp ở
trong bốn thánh- đế.
Ca-Diếp
Bồ-Tát lại bạch Phật : Những pháp như vậy ở trong bốn
thánh đế cớ sao đức Như-Lai xướng rằng chẳng nói ?
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Dầu là nhiếp trong bốn thánh đế nhưng còn
chẳng gọi là đã nói, vì người rõ biết bốn thánh đế
có hai thứ trí : Một là trí bực trung, hai là trí bực thượng.
Bực trung là trí của Thanh-Văn Duyên-Giác. Bực thượng là
trí của chư Phật và Bồ-Tát. Biết thân ngũ ấm là khổ
thời gọi là trí bực trung, phân biệt các ấm có vô lượng
tướng thảy đều là khổ thời chẳng phải hàng Thanh- Văn
Duyên-Giác biết được, đây gọi là trí bực thượng. Những
nghĩa như vậy nơi các kinh khác ta trọn chẳng nói đến.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết các nhập gọi đó là môn cũng gọi là
khổ, đây gọi là trí bực trung. Phân biệt các nhập có vô
lượng tướng thảy đều là khổ thời chẳng phải hàng Thanh-Văn
Duyên-Giác biết được, đây gọi là trí bực thượng. Những
nghĩa như vậy nơi các kinh khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết các giới gọi đó là phần, cũng gọi
là tánh, cũng gọi là khổ, đây là trí bực trung,. Phân biệt
các giới có vô lượng tướng thảy đều là khổ thời chẳng
phải hàng Thanh-Văn Duyên-Giác biết được đây gọi
là trí bực thượng. Những nghĩa như vậy nơi các kinh khác
ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết sắc là tướng hư-hoại, đây là trí
bực trung. Phân biệt các sắc có vô lượng tướng hư hoại
thảy đều là khổ, thời chẳng phải hàng Thanh- Văn Duyên-Giác
biết được đây lại gọi là trí bực thượng. Những nghĩa
như vậy nơi các kinh khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết thọ là tướng giác xúc đây gọi là
trí bực trung. Phân biệt các thọ có vô lượng tướng giác
xúc thời chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên- Giác biết được,
đây gọi là trí bực thượng. Những nghĩa như vậy nơi các
kinh khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết tưởng là chấp lấy tướng đây gọi
là trí bực trung. Phân biệt nơi tưởng có vô lượng tướng
chấp lấy, thời chẳng phải hàng Thinh- Văn Duyên-Giác biết
được, đây gọi là trí bực thượng. Những nghĩa như vậy
nơi các kinh khác, ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết hành là tướng tạo-tác, đây gọi là
trí bực trung. Phân biệt nơi hành có vô lượng tướng tạo
tác thời chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên- Giác biết được,
đây gọi là trí bực thượng. Những nghĩa như vậy nơi các
kinh khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết thức là tướng phân biệt, đây gọi
là trí bực trung. Phân biệt nơi thức có vô lượng trí tướng,
thời chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên- Giác biết được, đây
gọi là trí bực thượng. Những nghĩa như vậy nơi các kinh
khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết ái làm nhơn duyên có thể sanh năm ấm
đây gọi là trí bực trung. Một người sanh ra ái vô lượng
vô biên, hàng Thinh-Văn Duyên- Giác không biết được. Có thể
biết tất cả chúng sanh khởi lên lòng có những ái như vậy
đây gọi là trí bực thượng. Những nghĩa ấy nơi các kinh
khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết dứt phiền não đây gọi là trí bực
trung, phân biệt phiền não chẳng thể tính đếm, dứt diệt
cũng chẳng thể tính đếm như vậy thời chẳng phải hàng
Thinh-Văn Duyên-Giác biết được đây gọi là trí bực thượng.
Những nghĩa như vậy nơi các kinh khác ta cũng chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết đạo có thể lìa phiền não đây
gọi là trí bực trung. Phân biệt đạo có vô lượng vô biên
tướng, lìa phiền não cũng vô lượng vô biên thời chẳng
phải hàng Thinh-Văn Duyên-Giác biết được đây gọi là trí
bực thượng. Những nghĩa ấy nơi các kinh khác ta cũng chẳng
nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Biết thế-đế gọi là trí bực trung. Phân
biệt thế-đế vô lượng vô biên chẳng thể tính đếm thời
chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên-Giác biết được đây gọi
là trí bực thượng. Những nghĩa ấy nơi các kinh khác ta cũng
chẳng nói.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Tất cả hạnh vô thường, các pháp vô ngã,
Niết-bàn tịch diệt, đây là đệ nhứt nghĩa, gọi là trí
bực trung. Biết đệ nhứt nghĩa vô lượng vô biên chẳng
thể tính đếm thời chẳng phải hàng Thinh-Văn Duyên-Giác
biết được đây gọi là trí bực thượng. Những nghĩa như
vậy nơi các kinh khác ta cũng chẳng nói.
Văn-Thù
Sư-Lợi Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Đức Phật nói
thế-đế và đệ nhứt nghĩa-đế ý nghĩa thế nào ? Bạch
Thế-Tôn trong đệ nhứt nghĩa-đế có thế- đế chăng ? Trong
thế-đế có đệ-nhứt nghĩa-đế chăng ? Nếu là có
thời có một đế. Nếu là không, chừng có phải đức Như-Lai
hư vọng diễn thuyết chăng ?”
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Thế-đế chính là đệ-nhứt nghĩa-đế.
_ Bạch
Thế-Tôn ! Nếu như vậy thời không có hai đế.
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Có phương tiện khéo tùy thuận chúng sanh diễn
thuyết hai đế. Nếu cứ theo ngôn thuyết thời có hai thứ
: Một là thế pháp, hai là xuất thế pháp.
Như
chỗ biết của người xuất thế. Thời gọi là đệ nhứt
nghĩa-đế. Chỗ biết của người đời thời gọi là thế-đế.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Năm ấm hòa hiệp gọi tên mỗ giáp. Phàm
phu chúng sanh tùy theo tên gọi đó là thế đế. Hiểu biết
năm ấm không có tên mỗ giáp, rời ngũ ấm cũng không có
mỗ giáp, người xuất thế đúng như tánh tướng mà hiểu
biết, gọi là đệ nhứt nghĩa đế.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Hoặc có pháp có tên có sự thiệt. Lại có
pháp có tên không sự thiệt. Có tên không sự thiệt chính
là thế-đế. Có tên có sự thiệt là đệ nhứt nghĩa-đế.
Như
: Ngã, chúng sanh, thọ mạng, tri kiến, dưỡng dục, sĩ phu,
tác giả, thọ giả dương-diệm, thành Càn-Thát-Bà, lông rùa,
sừng thỏ, vòng lửa xây, các ấm, giới, nhập… Đây gọi
là thế-đế. Khổ, tập, diệt, đạo, gọi là đệ nhứt nghĩa-
đế.
Thế-pháp
có năm thứ : Một là danh thế, hai là cú thế, ba là phược
thế, bốn là pháp thế, năm là chấp-trước-thế.
Nam,
Nữ, Bình, Áo, Xe, Nhà…… Những vật nầy gọi đó là danh-thế.
Bốn
câu thành một bài kệ, những bài kệ như vậy gọi là cú
thế.
Cuốn,
hiệp, trói, cột, chắp, tay… đây gọi là phược thế-đế.
Đánh
kiền-chùy nhóm tăng, chiêng trống răn quân lính, thổi ốc
để biết giờ… đây gọi là pháp thế.
Như
trông thấy đằng xa có người mặc y hoại sắc tưởng là
Sa-Môn chẳng phải Bà-La-Môn, thấy có người gút dây đeo
trên thân bèn nghĩ rằng là Bà-La- Môn chẳng phải Sa-Môn,
đây là chấp-trước thế-đế.
Như
trên đây gọi là năm thứ thế-pháp.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Nếu có chúng sanh nào đối với năm thứ thế
pháp như vậy tâm không điên đảo biết đúng như thật đây
gọi là đệ nhứt nghĩa-đế.
Lại
như hoặc đốt, hoặc cắt, hoặc chết, hoặc hoại, đây gọi
là thế-đế.
Không
đốt, không cắt, không chết, không hoại, đây gọi là đệ-nhứt
nghĩa- đế.
Lại
có tám tướng khổ gọi là thế đế, không sanh, không già
vân vân, đây gọi là đệ-nhứt nghĩa-đế.
Ví
như một người có nhiều tài : Lúc họ chạy thời gọi là
người chạy, lúc gặt cắt lại gọi là người gặt, lúc
nấu nường thời gọi là người làm đồ ăn, lúc cưa đẽo
cây gỗ thời gọi là thợ mộc, lúc nấu đập vàng bạc thời
gọi là thợ bạc. Chỉ có một người mà có nhiều danh hiệu.
Pháp cũng như vậy , thiệt chỉ là một mà có nhiều tên.
Nhơn nơi cha mẹ hòa hiệp mà sanh gọi là thế-đế. Mười
hai nhơn duyên hòa hiệp mà sanh gọi là đệ-nhứt nghĩa-đế.
Văn-Thù
Sư-Lợi Bồ-Tát bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Thật đế của
Phật nói ý nghĩa thế nào ?”
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Thật-đế là pháp chơn thật. Nếu pháp chẳng
phải chơn thời chẳng gọi là thật-đế. Thật-đế là không
điên đảo. Thật-đế là không hư vọng. Thật-đế gọi là
đại-thừa. Thật-đế là lời của Phật nói chẳng phải
lời của ma. Thật-đế là đạo duy nhứt thanh tịnh không
có hai, có thường, có lạc, có ngã, có tịnh, thời gọi là
nghĩa thật-đế.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Thế-Tôn ! Nếu cho chơn thật là thật-đế
thời pháp chơn thật tức là Như-Lai, hư không, Phật tánh.
Nếu như vậy thời Như-Lai, hư không và Phật tánh không có
sai khác.”
Phật
bảo Văn-Thù Sư-Lợi : Có khổ, có đế, có thật. Có tập
có đế có thật. Có diệt có đế có thật. Có đạo có đế
có thật.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Như-Lai chẳng phải khổ chẳng phải đế là
“thật”. Hư không chẳng phải khổ chẳng phải đế là
“thật”. Phật tánh chẳng phải khổ chẳng phải đế là
“thật”.
Khổ
là tướng vô thường, là tướng dứt được đó là thật
đế. Như-Lai tánh chẳng phải khổ chẳng phải vô thường
chẳng phải tướng dứt được vì thế nên là thật. Hư không
và Phật tánh cũng như vậy.
Tập
là có thể làm cho ngũ ấm hòa hiệp mà sanh, cũng gọi là
khổ cũng gọi là vô thường, là tướng dứt được, đây
là thật đế,. Như-Lai chẳng phải là tập, chẳng phải nhơn
của ngũ ấm, chẳng phải tướng dứt được vì thế nên
là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.
Diệt
là nói phiền não dứt diệt cũng là thường, cũng là vô thường,
hàng nhị thừa chứng đặng gọi là vô thường, chư Phật
chứng đặng thời gọi là thường, cũng gọi là pháp chứng
đặng, đây là thật đế, Như-Lai tánh chẳng gọi là diệt,
có thể dứt diệt phiền não, chẳng phải thường chẳng phải
vô thường, chẳng gọi là chứng tri, thường trụ không biến
đổi, vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như
vậy.
Đạo
là có thể dứt phiền não cũng là thường cũng là vô thường,
là pháp có thể tu tập, đây gọi là thật đế. Như-Lai chẳng
phải đạo có thể dứt phiền não, chẳng phải là thường
chẳng phải vô thường, chẳng phải pháp có thể tu tập,
thường trụ chẳng biến đổi, vì thế nên là thật. Hư không
và Phật tánh cũng như vậy.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Chơn thật chính là Như-Lai. Như-Lai chính là
chơn thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.
Nầy
Văn-Thù Sư-Lợi có khổ, có khổ nhơn, có khổ tận, có khổ
đối. Như-Lai chẳng phải khổ nhẫn đến chẳng phải đối,
vì thế nên là thật, chẳng gọi là đế. Hư không và Phật
tánh cũng như vậy.
Khổ
là hữu-vi hữu-lậu không an lạc. Như-Lai chẳng phải hữu-vi
chẳng phải hữu- lậu, đứng lặng an vui, nên là thật chẳng
phải đế.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : Thế-Tôn như lời Phật nói chẳng điên
đảo gọi là thật đế, nếu như vậy trong tứ đế có bốn
thứ điên đảo chăng ? Nếu là có, sao lại nói rằng không
có điên đảo gọi là thật đế ! Tất cả điên đảo chẳng
gọi là thật.
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Tất cả điên đảo đều vào trong khổ-đế.
Như chúng sanh có tâm điên đảo thời gọi là điên đảo.
Ví như có người chẳng lãnh thọ lời dạy răn của cha mẹ
tôn trưởng, hoặc dầu lãnh thọ mà không tùy thuận
thật hành, người nầy gọi là điên đảo. Điên đảo như
vậy chẳng phải không là khổ mà chính là khổ.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Như lời Phật nói chẳnghư vọng
chính là thật đế. Nếu như vậy thời biết rằng hư vọng
chẳng phải thật đế”.
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Tất cả hư vọng đều vào trong khổ đế.
Như có chúng sanh khi dối người khác, do nhơn duyên nầy đọa
nơi địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, đây gọi là hư vọng,
cũng chính là khổ. Những điều đó hàng Thinh-Văn Duyên- Giác
cùng chư Phật đều xa lìa chẳng thật hành, vì thế nên gọi
là hư vọng. Những điều hư vọng như vậy là chỗ dứt trừ
của nhị thừa và chư Phật, nên gọi là thật đế.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Như lời Phật nói Đại-thừa là
thật đế. Do đó biết rằng Thinh-Văn thừa và Bích-Chi Phật
thừa thời là chẳng thật.”
_ Nầy
Thiện-nam-tử ! Hàng nhị thừa cũng là thật cũng là chẳng
thật. Thinh-Văn Duyên-Giác dứt các phiền não thời gọi là
thật. Hàng nhị thừa vô thường chẳng trụ là pháp biến
đổi nên gọi là chẳng thật.
Văn-thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Như lời Phật nói những pháp của
đức Phật nói gọi là thật.
Do
đó biết rằng lời nói của ma thời chẳng phải thật. Bạch
Thế-Tôn ! Lời nói của ma có nhiếp trong thánh-đế chăng
?”
Nầy
Thiện-nam-tử ! Lời nói của ma nhiếp trong hai đế là
khổ và tập. Phàm tất cả những điều phi pháp phi luật
không thể làm cho người được lợi ích, dầu cả ngày diễn
nói cũng không có người nào thấy được khổ, dứt được
tập, chứng được diệt, tu được đạo, đây gọi là hư
vọng. Những điều hư vọng như vậy cũng đều là lời nói
của ma.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Như lời Phật nói đạo duy nhứt
thanh tịnh không có hai. Các phái ngoại đạo cũng nói ta có
đạo duy nhứt thanh tịnh không hai. Nếu cho rằng đạo duy
nhứt là thật đế thời cùng với ngoại đạo kia có sai khác
gì. Nếu không sai khác thời lẽ ra chẳng nên nói rằng đạo
duy nhứt thanh tịnh.”
_Nầy
Thiện-nam-tử ! Các phái ngoại đạo có khổ đế và tập
đế mà không diệt đế và đạo đế. Ở trong chẳng phải
diệt đế chẳng phải đạo đế, mà họ tưởng là diệt
là đạo. Ở trong chẳng phải quả chẳng phải nhơn,
mà họ tưởng là quả là nhơn. Do nghĩa nầy nên họ không
có đạo duy nhứt thanh tịnh không hai.
Văn-Thù
Sư-Lợi bạch Phật : “ Như lời Phật nói có : Thường, lạc,
ngã, tịnh là thật nghĩa, thời các phái ngoại đạo lẽ ra
cũng có thật-đế mà trong Phật pháp thời không. Vì các phái
ngoại đạo nói hạnh là thường. Thế nào là thường ? Vì
khả ý, bất khả ý, các nghiệp báo vân vân. Khi thọ rồi
thời chẳng mất. Khả-ý là nói mười báo lành. Bất khả
ý là nói mười báo chẳng lành. Nếu cho rằng các hạnh thảy
đều vô thường, kẻ tạo nghiệp đã chết mất thời ai ở
nơi kia mà thọ quả báo. Do nghĩa nầy nên các hạnh là
thường. Sát sanh nhơn duyên gọi là thường. Nếu cho rằng
vô thường thời kẻ giết cùng bị giết đều vô thường
cả, còn ai ở nơi địa ngục mà thọ tội báo. Nếu nói quyết
định có địa ngục thọ báo, thời các hạnh thiệt chẳng
phải là vô thường. Chuyên tâm ghi nhớ cũng gọi là thường,
như chỗ nhớ biết trải qua mười năm nhẫn đến trăm năm
cũng chẳng quên mất, vì thế nên là thường. Nếu là vô
thường thời những việc đã thấy biết lấy gì để nhớ.
Do cớ ấy nên tất cả các hạnh chẳng phải là vô thường.
Tất cả sự tưởng nhớ cũng là thường. Như có người ngày
trước thấy tay chưn mặt mày đầu cổ của người khác,
lúc sau gặp lại liền nhớ biết. Nếu là vô thường thời
những tướng thấy biết ngày trước lẽ ra đã diệt mất.
Nghề nghiệp tạo tác do tập học từ lâu, hoặc ba năm hoặc
năm năm rồi sau mới giỏi, nên gọi là thường. Phương pháp
tính đếm từ một, hai, ba nhẫn đến trăm ngàn, nếu là vô
thường lẽ ra một phải diệt, nếu một đã diệt thời lấy
chi đến hai. Do một chẳng diệt nên được đến hai, nhẫn
đến trăm ngàn, vì thế nên là thường. Như phương pháp đọc
tụng : Đọc Nhứt-A-Hàm rồi đến Nhị-A-Hàm, nhẫn đến
Tam tứ A-Hàm. Nếu là vô thường thời chỗ đọc tụng trọn
chẳng đến bốn. Do sự đọc tụng có tăng trưởng nên gọi
là thường. Bình, y, xe cộ, như người mang nợ, hình tướng,
địa cầu, núi, sông, cây rừng, cây cỏ, lá thuốc, chúng
sanh trị bịnh tất cả đều là thường cũng như vậy. Các
phái ngoại đạo đều nói rằng các hạnh là thường. Nếu
là thường thời là thật đế.
Bạch
Thế-Tôn ! Các phái ngoại đạo lại nói lạc. Thế nào biết
rằng có ? Vì người thọ quyết định đặng báo khả ý.
Phàm người thọ lạc quyết định đặng đó. Như Đại-Phạm-Thiên-Vương,
Đại-Tự-Tại-thiên, Thích-Đề-Hòan-Nhơn, và chư Thiên. Do
nghĩa nầy nên nói rằng quyết định có lạc. Lại vì chúng
sanh mong cầu nên ngoại đạo nói rằng có lạc. Như người
đói cầu ăn, người khát cầu uống, người lạnh cầu ấm,
người nóng cầu mát, người mệt nhọc cầu ngơi nghỉ,
người bịnh cầu lành. Nếu không có lạc thời những
người kia duyên cớ gì mà cầu. Do vì có người cầu nên
biết rằng có lạc.
Các
phái ngoại đạo lại cho rằng bố thí có thể đặng lạc.
Người đời ưa bố thí cho Sa-Môn Bà-La-Môn và kẻ nghèo cùng
khốn khổ những y phục, vật thực, giường ghế, thuốc thang,
voi ngựa, xe cộ, hương bột, hương thoa, nhà cửa, đèn đuốc.
Bố thí những thứ như vậy vì muốn đời sau tôi được
thọ báo khả ý. Vì thế nên biết rằng quyết định có lạc.
Có
phái ngoại đạo nói rằng người thọ lạc vì có nhơn duyên
nên có lạc xúc. Nếu không lạc đâu thành có nhơn duyên,
như sừng thỏ không có, thời không nhơn duyên. Vì có nhơn
duyên lạc, nên biết rằng có lạc.
Ngoại
đạo lại nói lạc có thượng trung và hạ. Thọ lạc bực
hạ như Thích-Đề- Hoàn-Nhơn. Thọ lạc bực trung như Đại-Phạm-thiên-Vương.
Thọ lạc bực thượng như Đại-Tự-Tại-Thiên. Vì thế nên
biết rằng có lạc.
Ngoại
đạo lại nói rằng có tịnh. Nếu không tịnh thời lẽ ra
chẳng sanh lòng mong muốn. Vì có mong muốn nên biết là có
tịnh. Như vàng bạc, châu báu, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não,
san hô, chân châu, bích ngọc, kha bối, suối mát, ao tắm, vật
thực, y phục, hoa hương, đèn đuốc, những vật như vậy
đều là tịnh. Họ lại nói thân ngũ ấm chính là tịnh khí
đựng những tịnh vật như thân người, Trời, Tiên, A- La-Hán,
Bích-Chi Phật, Bồ-Tát chư Phật. Do nghĩa nầy nên gọi là
tịnh.
Có
phái ngoại đạo lại nói rằng có ngã vì có thấy biết vì
có thể tạo tác. Như có người vào nhà thợ gốm, dầu chẵng
thấy thân người thợ nhưng vì thấy khí cụ nên biết quyết
định nhà đó là nhà thợ gốm. Ngã cũng như vậy, do mắt
thấy sắc biết chắc là có ngã. Nếu không có ngã thời ai
có thể thấy sắc ? Nghe tiếng nhẫn đến giác xúc cũng như
vậy. Họ lại nói có ngã. Làm sao biết rằng có ? Vì do nơi
tướng mà biết : Thở, ngáy, ngó, nháy, mạng sống, móng tâm,
lãnh thọ sự khổ vui, tham cầu, giận hờn, đều là tướng
của ngã. Vì thế nên biết quyết định của ngã.
Ngoại
đạo lại nói rằng có ngã, vì phân biệt được mùi vị
: Như có người ăn trái cây, thấy trái biết mùi vị.
Do đây nên biết quyết định có ngã.
Ngoại
đạo lại nói vì có chấp tác làm việc nên biết là có ngã
: Như cầm lưỡi liềm thời có thể cắt gặt, cầm búa thời
có thể chặt, cầm bình thời đựng nước, ngồi xe thời
cầm cương, do đó nên biết quyết định có ngã. Ngoại đạo
lại nói lúc mới sanh biết đòi bú đó là do tập quán đời
trước, nên biết quyết định có ngã.
Ngoại
đạo lại nói vì hòa hiệp lợi ích chúng sanh khác nên biết
rằng có ngã. Như bình, y, xe cộ, ruộng nhà, núi rừng, cây
cối, voi ngựa, trâu, dê những vật như vậy nếu hòa hiệp
thời có sự lợi ích. Năm ấm trong thân người cũng như vậy
: Nhãn căn vân vân… vì có hòa hiệp thời có sự lợi ích
cho người, do đó nên biết quyết định có ngã.
Ngoại
đạo lại nói có ngã vì rằng có sự vật ngăn ngại. Như
có vật thời có ngăn ngại. Nếu không vật thời không ngăn
ngại. Vì cóù ngăn ngại nên biết quyết định có ngã.
Ngoại
đạo lại nói vì có bạn cùng chẳng phải bạn nên biết
là có ngã. Như thân yêu cùng chẳng phải thân yêu thời chẳng
phải là bạn. Chánh pháp với tà pháp, trí với chẳng trí.
Sa Môn cùng chẳng phải Sa-Môn, Bà-La-Môn với chẳng phải
Bà-La-Môn, con cùng chẳng phải con, ngày với chẳng phải ngày,
đêm với chẳng phải đêm, ngã với chẳng phải ngã, các
pháp như vậy là bạn và chẳng phải bạn, do đó nên biết
quyết định có ngã.
Xem
Tiếp Trang 04
