KINH
803. AN-NA-BAN-NA NIỆM (3)[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu tập An-na-ban-na niệm. Nếu Tỳ-kheo tu tập An-na-ban-na niệm,
tu tập nhiều, thân chỉ tức và tâm chỉ tức, có giác, có
quán, tịch diệt, thuần nhất, phân minh tưởng, tu tập đầy
đủ. Thế nào là tu tập An-na-ban-na niệm, tu tập nhiều, thân
chỉ tức và tâm chỉ tức, có giác, có quán, tịch diệt,
thuần nhất, phân minh tưởng, tu tập đầy đủ? Tỳ-kheo,
nương vào xóm làng, thành ấp mà ở; sáng sớm đắp y, mang
bát, vào thôn khất thực, nên khéo hộ trì thân, giữ gìn
các căn, khéo cột tâm an trụ; khất thực xong trở về chỗ
ở, cất y bát, rửa chân xong, hoặc vào trong rừng, trong phòng
vắng, dưới bóng cây, hoặc nơi đất trống, thân ngồi ngay
thẳng, cột niệm trước mặt, cắt đứt mọi tham ái thế
gian, ly dục thanh tịnh, đoạn trừ sân nhuế, thùy miên, trạo
hối và nghi, vượt qua các nghi hoặc, đối với các pháp lành,
tâm được quyết định; viễn ly năm triền cái vốn làm phiền
não tâm, khiến tuệ lực suy giảm, là phần chướng ngại,
không hướng đến Niết-bàn.
“Niệm
hơi thở vào[9], cột niệm, hãy khéo học. Niệm hơi thở ra[10],
cột niệm, hãy khéo học. Hơi thở dài[11], hơi thở ngắn[12].
Cảm giác biết toàn thân khi thở vào, khắp toàn thân thở
vào, hãy khéo học[13]; cảm giác biết toàn thân khi thở ra,
khắp toàn thân thở ra, hãy khéo học. Giác tri tất cả sự
an tịnh của tất cả thân hành khi thở vào[14], tất cả thân
hành an tịnh thở vào, hãy khéo học; giác tri tất cả sự
an tịnh của tất cả thân hành khi thở ra, tất cả thân hành
an tịnh thở vào, hãy khéo học. Giác tri hỷ, giác tri lạc,
giác tri tâm hành[15], giác tri sự an tịnh của tâm hành khi
thở vào, giác tri tâm hành an tịnh thở vào, hãy khéo học[16].
Giác tri sự an tịnh của tâm hành khi thở ra, giác tri tâm
hành an tịnh thở ra, hãy khéo học. Giác tri tâm, giác tri tâm
hoan hỷ, giác tri tâm định, giác tri tâm giải thoát khi thở
vào[17], giác tri tâm giải thoát thở vào, hãy khéo học. Giác
tri tâm giải thoát khi hơi thở ra, giác tri tâm giải thoát
thở ra, hãy khéo học. Quán sát vô thường, quán sát đoạn,
quán sát vô dục, quán sát diệt[18] khi hơi thở vào, quán
sát diệt thở vào, phải khéo học. Quán sát diệt khi hơi
thở ra, quán sát diệt thở ra, phải khéo học. Đó gọi là
tu An-na-ban-na niệm, thân chỉ tức và tâm chỉ tức, có giác,
có quán, tịch diệt, thuần nhất, phân minh tưởng, tu tập
đầy đủ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
KINH
810. A-NAN[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Tát-la-lê, cạnh sông Bạt-cầu-ma
tại tụ lạc Kim cương. Bấy giờ giờ Tôn giả A-nan ở một
mình nơi vắng, thiền quán tư duy, tự nghĩ như vầy: ‘Có
một pháp nào được tu tập, tu tập nhiều, khiến cho bốn
pháp đầy đủ. Bốn pháp đã đầy đủ rồi, thì bảy pháp
đầy đủ. Bảy pháp đã đầy đủ rồi, thì hai pháp đầy
đủ?’
Sau
khi từ thiền tịnh tỉnh giấc, Tôn giả A-nan đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật rằng:
“Khi
con ở một mình nơi chỗ vắng, thiền quán tư duy tự nghĩ:
‘Có một pháp nào được tu tập, tu tập nhiều, khiến cho
bốn pháp đầy đủ. Bốn pháp đã đầy đủ rồi, thì bảy
pháp đầy đủ. Bảy pháp đã đầy đủ rồi, thì hai pháp
đầy đủ?’.”
Phật
bảo A-nan:
“Có
một pháp được tu tập, tu tập nhiều,… cho đến hai pháp
đầy đủ. Những gì là một pháp? Đó là An-na-ban-na niệm,
được tu tập, tu tập nhiều, có khả năng làm cho bốn Niệm
xứ đầy đủ. Bốn Niệm xứ đã đầy đủ rồi, bảy Giác
phần đầy đủ. Bảy Giác phần đã đầy đủ rồi, minh và
giải thoát[52] đầy đủ.
“Thế
nào là tu tập An-na-ban-na niệm, thì bốn Niệm xứ đầy đủ?
Tỳ-kheo nương vào làng xóm mà ở… cho đến khéo học quán
diệt khi niệm hơi thở ra.
“Này
A-nan, như vậy Thánh đệ tử, khi niệm hơi thở vào, học
như niệm hơi thở vào; khi niệm hơi thở ra, học như niệm
hơi thở ra. Hoặc dài hoặc ngắn. Giác tri tất cả thân hành,
khi niệm hơi thở vào, học như niệm hơi thở vào; khi niệm
hơi thở ra, học như niệm hơi thở ra. Thân hành an tịnh khi
niệm hơi thở vào, học như thân hành an tịnh niệm hơi thở
vào; thân hành an tịnh khi niệm hơi thở ra, học như thân
hành an tịnh niệm hơi thở ra. Thánh đệ tử lúc bấy giờ,
an trụ chánh niệm quán thân trên thân. Nếu khác với thân[53],
kia cũng như vậy, tùy theo thân tương tự tư duy.
“Nếu
có lúc Thánh đệ tử giác tri hỷ, giác tri lạc, giác tri tâm
hành, giác tri tâm hành an tịnh, khi niệm hơi thở vào, học
như tâm hành an tịnh niệm hơi thở vào; tâm hành an tịnh
khi niệm hơi thở ra, học như tâm hành an tịnh niệm hơi thở
ra. Thánh đệ tử lúc bấy giờ, an trụ chánh niệm quán thọ
trên thọ. Nếu khác với thọ thì kia cũng tùy theo thọ tương
tự tư duy[54].
“Nếu
có khi Thánh đệ tử giác tri tâm, giác tri tâm hoan hỷ, tâm
định, tâm giải thoát, khi niệm hơi thở vào, học như tâm
giải thoát niệm hơi thở vào. Tâm giải thoát khi niệm hơi
thở ra, học như tâm giải thoát niệm hơi thở ra. Thánh đệ
tử lúc bấy giờ, an trụ chánh niệm quán tâm nơi tâm. Nếu
có tâm khác, kia cũng tùy theo tâm tương tự tư duy.
“Nếu
có khi Thánh đệ tử quán vô thường, đoạn, vô dục, diệt,
học an trụ quán như vô thường, đoạn, vô dục, diệt. Thánh
đệ tử lúc bấy giờ, an trụ chánh niệm quán pháp trên pháp.
Nếu có pháp khác, kia cũng tùy theo pháp tương tự tư duy.
Đó gọi là tu An-na-ban-na niệm, thì bốn Niệm xứ đầy đủ.”
A-nan
bạch Phật:
“Khi
tu tập An-na-ban-na niệm như vậy, khiến cho bốn Niệm xứ
đầy đủ. Thế nào là tu bốn Niệm xứ làm cho bảy Giác
phần đầy đủ?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
Tỳ-kheo an trụ chánh niệm quán thân trên thân. Sau an trụ
với chánh niệm, cột niệm trụ yên không cho mất, bấy giờ,
phương tiện tu Niệm giác phần. Khi đã tu niệm giác phần
rồi, niệm giác phần được đầy đủ. Khi niệm giác phần
đã đầy đủ rồi, đối với pháp mà tuyển trạch, tư lường;
bấy giờ phương tiện tu Trạch pháp giác phần. Khi đã tu
trạch pháp giác phần rồi, trạch pháp giác phần được đầy
đủ. Sau khi đối với pháp đã tuyển trạch, phân biệt, tư
lường rồi, phương tiện tinh cần sẽ đạt được, lúc bấy
giờ phương tiện tu tập Tinh tấn giác phần. Khi đã tu tinh
tấn giác phần rồi, tinh tấn giác phần được đầy đủ.
Sau khi phương tiện tinh tấn, tâm được hoan hỷ, lúc bấy
giờ phương tiện tu Hỷ giác phần. Khi đã tu hỷ giác phần
rồi, hỷ giác phần được đầy đủ. Khi đã có hoan hỷ
rồi, thân tâm khinh an, lúc bấy giờ phương tiện tu Khinh an
giác phần. Khi đã tu khinh an phần rồi, khinh an giác phần
được đầy đủ. Sau khi thân tâm an lạc rồi đạt được
tam-muội, lúc bấy giờ tu định giác phần. Sau khi đã tu Định
giác phần rồi, định giác phần được đầy đủ. Khi định
giác phần đã đầy đủ rồi, tham ưu thế gian bị diệt,
đạt được xả bình đẳng, lúc bấy giờ phương tiện tu
Xả giác phần. Sau khi đã tu xả giác phần rồi, xả giác
phần được đầy đủ. Đối với thọ, tâm, pháp trên pháp
niệm xứ cũng nói như vậy. Đó gọi là tu bốn Niệm xứ
thì bảy Giác phần sẽ đầy đủ.”
A-nan
bạch Phật:
“Đó
gọi là tu bốn Niệm xứ, bảy Giác phần sẽ đầy đủ. Thế
nào là khi tu bảy Giác phần thì minh và giải thoát sẽ đầy
đủ?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
Tỳ-kheo tu Niệm giác phần, y viễn ly, y vô dục, y diệt, hướng
đến xả. Sau khi đã tu niệm giác phần rồi, minh giải thoát
sẽ đầy đủ… cho đến khi tu xả giác phần y viễn ly, y
vô dục, y diệt, hướng đến xả. Cũng vậy, khi đã tu xả
giác phần rồi, minh giải thoát sẽ đầy đủ.
“A-nan,
đó gọi là mọi pháp đều tùy thuộc vào nhau, mọi pháp đều
ảnh hưởng lẫn nhau. Mười ba pháp như vậy, một pháp làm
tăng thượng, một pháp là cửa ngõ, theo thứ lớp tiến lên,
tu tập đầy đủ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Trích:
KINH TẠP A-HÀM
Hán
dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Ðà-La
Việt
dịch: Thích Ðức Thắng - Hiệu đính & Chú thích: Thích
Tuệ Sỹ
http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-29.htm
Bài
Đọc Thêm:
VỀ
PHÁP QUÁN NIỆM HƠI THỞ
Pháp
sư Tăng-già-bạt-đà-la (Sanghabhadra - Chúng-Hiền)
Tỳ
kheo Tâm Hạnh dịch Việt
Trích:
"Chú giải Luật Thiện Kiến", quyển 10-11, Pháp sư Tăng-già-bạt-đà-la
dịch sang Hoa văn năm 488 TL, Tỳ kheo Tâm Hạnh dịch sang Việt
văn năm 2000 TL.
Ðây
là pháp niệm A-na-ba-na (Anàpànasati - quán hơi thở) mà trong
luật bản đã nói đến. Sau đây tôi sẽ trình bày đầy đủ
về câu văn và ý nghĩa pháp thiền vô thượng mà đức Phật
dạy cho các Tỳ kheo. Các vị hãy chú tâm lắng nghe để ghi
nhận.
Tỳ
kheo hiện tại này, Phật bảo các Tỳ kheo: - Không chỉ có
tu tập pháp quán bất tịnh mới trừ diệt được phiền não
mà pháp quán hơi thở này cũng trừ diệt được phiền não.
Pháp
sư nói: - Tuần tự sẽ giảng rộng, A-na-ba-na (anàpàna) nghĩa
là hít vào và thở ra. Như trong kinh có dạy: Tướng trạng
hít vào không phải là tướng thở ra, tướng thở ra không
phải là tướng hít vào, niệm hơi thở vào, niệm hơi thở
ra, niệm hơi thở ra vào thì tâm được định. Niệm hơi thở
vào hơi thở ra chính là chánh định. Các vị hãy biết rõ
ý nghĩa như vậy.
Sổ
quán: nghĩa là nuôi dưỡng (chánh niệm) làm cho tăng lên.
Làm
lại: nghĩa là tư duy đi, tư duy lại đến giai đoạn rất
tịnh hảo.
Hỏi:
- Hai pháp này ý nghĩa thế nào?
Ðáp:
- Không giống nhau, bởi vì A-na-ba-na làm cho tâm không còn loạn
động, còn quán bất tịnh thường làm cho tâm không ổn định.
Tại sao? Vì nhàm chán. Trong luật bản có nói: Pháp này rất
an tịnh vi diệu tăng thêm làm cho an lạc mãi, ngay từ khi mới
phát tâm cũng đã không bị não loạn nên Như Lai khen ngợi
pháp này rất tốt đẹp an tịnh, có khí vi, làm cho thân tâm
hoan hỷ thoải mái, dễ thâm nhập.
Pháp
khởi là không bị trụ lại, không bị che đậy làm cho pháp
ác bị tiêu diệt rất nhanh, đạt bốn đạo quả tùy theo
khả năng. Như vào nửa tháng không mưa giữa mùa xuân, voi,
ngựa, người, bò dẫm đạp làm cho bụi bay khắp không trung.
Vào tháng năm đầu mùa hạ mưa to gió lớn làm cho trên không
chẳng còn chút bụi nào nữa. Pháp quán A-na-ba-na diệt trừ
phiền não như mưa làm mất bụi.
Phật
bảo các Tỳ kheo: - Ðối với pháp thiền định A-na-ba-na (anàpànasati-samàdhi)
thì tư duy, chánh niệm và hành trì như thế nào để biết
tu tập về niệm hơi thở. Các Tỳ kheo, người nào (vì lòng
tốt mà) xuất gia học đạo, ở tại nơi trống vắng, dưới
gốc cây, nơi rừng núi là những nơi đưa đến sự an tịnh.
Hỏi:
- Thế nào là đưa đến sự an tịnh?
Ðáp:
- Tránh xa nơi ồn ào. Như người chăn bò có một con bò nghé
phải bú sữa mẹ từ khi mới sinh ra cho đến khi lớn. Khi
muốn lấy sữa bò mẹ, phải cột bò nghé vào cây trụ. Bò
nghé nhớ sữa nên cứ kéo dây và đạp chân liên tục. Do
dây chắc, trụ cứng nên con nghé không thoát ra được phải
dựa trụ mà thở. Tỳ kheo như người chăn bò, bò mẹ như
làng xóm, tâm là con nghé, sữa là năm dục, cây trụ là A-lan-nhã
(aranna), dây cột là pháp niệm hơi thở, tất cả thiền định
về niệm hơi thở là pháp được chư Phật, A-la-hán, Duyên
giác tôn trọng. Nếu không xa lánh làng xóm tụ lạc thì tu
tập niệm hơi thở khó có kết quả. Tỳ kheo tu thiền nào
nắm rõ được định này rồi, tức là thâm nhập vào thiền
thứ tư và lấy đó làm nơi y cứ để quán sát về khổ,
không, vô ngã. Khi quán sát được thành tựu thì chứng quả
A-la-hán. Do đó, vì người tu tập thiền mà đức Phật quy
định về trú xứ A-lan-nhã.
Ðức
Phật như thầy địa lý (vatthuvijjàcariya) muốn xây dựng thành
phố, đất nước phải biết phân biệt rõ tướng tốt xấu
của các thế đất và tâu vua rằng vùng đất này tốt có
thể dựng nước, lập làng xóm... thì vua được lợi lớn.
Nghe theo lời, nhà vua cho dựng nước, làng xóm và ban thưởng
cho thầy địa lý.
Ðức
Phật cũng vậy, biết rõ về các cảnh giới thiền nên nói
với người tu tập thiền rằng pháp này dễ thành tựu được
thiền. Nghe lời và làm theo Phật dạy, những người tu thiền
tuần tự chứng quả A-la-hán, khen ngợi đức Phật cũng như
nhà vua tạ ơn thầy địa lý. Những người tu thiền như sư
tử ở trong rừng rậm ẩn kín thân để rình cầm thú. Con
nào đến gần, sư tử liền vọt ra bắt ăn thịt. Cũng vậy,
Tỳ kheo sống ở nơi A-lan-nhã theo dõi từng đạo quả Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán và tuần tự chứng đắc theo
từng quả vị. Xưa có bài kệ:
Cũng như vua sư tử,
Ở ẩn trong núi rừng,
Rình các thú đến gần,
Liền bắt ngay, ăn thịt,
Phật tử cũng như vậy,
Ẩn cư nơi yên tịnh,
Tu tập đạo vô thượng,
Chứng đắc quả sa-môn.
Dưới
gốc cây (rukkhamùlagata) là ngồi hay kinh hành dưới gốc cây.
Tịnh
thất (sunnàgàragata), là trừ dưới gốc cây và chỗ A-lan-nhã
ra, các chỗ ở yên tịnh khác đều gọi là tịnh thất. Thời
tiết thích hợp với thân thể là thuận tiện cho việc tu
tập niệm hơi thở. Thế nên trong luật nói: Ngồi kiết già,
đó là biểu hiện sự tu tập niệm hơi thở... cũng dễ hiểu.
Ngồi
kiết già: dễ hiểu.
Ngồi
thẳng là 18 đốt xương sống nối thẳng nhau, thư thả lỏng
gân, mạch, da. Nếu ngồi mà giữ cứng các cơ thì rất nhanh
mệt nhọc và thối thất khỏi thiền.
Ðặt
niệm ở trước (mặt) (parimukham), là chánh niệm vào pháp
thiền và đặt nó trước mặt.
Hơi
thở vào ra, là sau khi ngồi kiết già ổn định, Tỳ kheo chánh
niệm tỉnh giác niệm hơi thở vào ra như sau: Biết rõ thở
hơi dài, biết rõ thở hơi ngắn. Nhờ biết rõ hơi thở dài
ngắn nên tâm được tịnh, không còn tán loạn; nhờ không
tán loạn nên thành tựu chánh niệm. Nhờ niệm và tuệ phát
sinh nên biết rõ hơi thở dài, ngắn. Như đứa bé trong thai,
mới vừa ra khỏi thai; (hành giả) có thể biết được hơi
thở dài hay ngắn ban đầu của nó.
Biết
như thế nào? Cũng như nước chảy tùy theo vật dài ngắn,
như voi và rắn vì thân to, dài nên hơi thở vì vậy mà dài,
thân con ếch ngắn nên hơi thở ngắn. Tỳ kheo tọa thiền
cũng vậy, nhờ ví dụ này mà biết hơi thở dài ngắn, nhờ
chánh niệm nên tâm sinh lạc, nhờ lạc nên hơi thở ra vào
dài và vi tế. Tâm trở nên an lạc nhờ hơi thở ra vào và
càng an lạc thì hơi thở càng nhẹ và dài. Nhờ lạc nên tâm
hoan hỷ và thêm hoan hỷ nửa, hơi thở nhờ vậy càng thêm
vi tế khó phân biệt và tiến đến tâm xả. Ðây là chín
pháp (nava àkàrà), các vị hãy biết lấy.
Biết
rõ toàn thân, ta thở ra; biết rõ toàn thân, ta thở vào, biết
rõ hơi thở vào ra toàn thân; biết rõ hơi thở dài, ngắn,
trước, giữa, sau một cách rõ ràng, bằng tâm biết rõ sự
biết này, biết hơi thở trước và sau. Lại nữa, có Tỳ
kheo tu tập thiền thấy hơi thở ra như rải bụi. Thấy rõ
trong hiện tại, thấy bắt đầu thở ra, không thấy giữa
và sau, muốn thấy giữa và sau thì tâm cũng không cảm nhận
được. Lại nữa, khi đã thở ra thì chỉ thấy hơi thở ở
giữa chứ không thấy hơi thở trước và sau. Lại nữa, khi
thấy hơi thở ra ở đoạn sau thì không thấy hơi thở ở
đoạn đầu và giữa.
Lại
có Tỳ kheo thấy rõ hơi thở ở cả ba giai đoạn đầu, giữa,
cuối, vì tâm vị ấy không có mệt mỏi. Ai đạt được như
vậy là thiện xảo với pháp thở ra vào.
Người
học về thiền này không nghỉ, không ngưng lại, luôn luôn
quán sát hơi thở ra vào thì hộ trì được ba nghiệp thân,
miệng, ý, gọi là giới học và định, tuệ. Tâm định gọi
là định-học. Nếu phân biệt rõ được giới và định thì
gọi là tuệ. Ðây là ba học. Ðối với quán xứ này, dùng
chánh niệm đem tâm tùy thuận theo pháp đã học và liên tục
duy trì như vậy cho đến về sau.
Người
nào chuyên cần học như vậy sẽ diệt được hơi thở vào,
hơi thở ra. Phần thô của hơi thở ra và vào bị diệt. Diệt
nghĩa là (diệt) sự trú vào (phần thô). Thô là gì? Tỳ kheo
mới vào thiền thì thân tâm mệt mỏi nên hơi thở ra vào
thô nặng đầy cả hai lỗ mũi và theo miệng thở ra vào nên
thô. Khi thân tâm không còn mệt nhọc thì hơi thở dần dần
nhẹ đến vi tế và Tỳ kheo sẽ sinh ý nghĩ phân vân ta còn
có hơi thở ra vào hay không. Như người leo lên núi cao, thân
tâm mệt nhọc, hơi thở nặng nề, nhưng lúc đi xuống núi
đến chỗ bằng phẳng, có ao nước và cây lớn. Người này
sau khi xuống ao tắm, đến nghỉ dưới bóng cây, hoặc ngủ
hoặc ngồi nghỉ, thân tâm trở nên mát mẻ và hơi thở trở
nên nhẹ nhàng vi tế. Tỳ kheo vừa nhập định cũng như vậy,
khi chưa điều phục đuợc thân tâm nên hơi thở ra vào thô
nặng. Vì sao? Vì không chánh niệm. Niệm trở nên vi tế vì
điều phục được thân tâm. Như có bài kệ:
Thân tâm rất mệt nhọc,
Nên hơi thở thô nặng.
Thiền
thứ nhất thô (olàrika), thiền thứ hai vi tế (sukhuma), thiền
thứ ba tế hơn, thiền thứ tư là định. Thiền thứ ba là
thô, thiền thứ tư gọi là tế. Ðây là chỗ tận cùng của
hơi thở. Nếu không giữ lấy hơi thở thì hơi thở vào ra
thô, nếu giữ hơi thở vào ra thì hơi thở tế. Không giữ
nghĩa là thả hơi thở. Giữ hơi thở nghĩa là bắt đầu thiền
thứ tư chỉ còn giữ tâm, đến khi vào thiền thứ tư thì
không còn hơi thở vào ra. Ðây gọi là pháp Xá-ma-đà (samatha
- thiền chỉ).
Pháp
Tỳ-bà-xá-na (vipassanà - thiền quán) không giữ phần rất
thô của hơi thở ra vào, quán sát bốn đại là tế, nếu
quán Ưu-ba-đà-na sắc tế (upàdàrùpapariggahe sukhuma - sở tạo
sắc biến thủ vi tế), sắc thô (năm căn và năm cảnh - người
dịch) do bốn đại tạo thành. Lại quán sát tất cả sắc
tế, sắc thô do bốn đại tạo thành, lại quán vô-sắc tế,
tất cả sắc thô sở tạo. Lại quán sắc và vô sắc tế,
vô sắc sở tạo thô, lại quán nhân duyên tế, sắc và vô
sắc sở tạo thô. Lại quán nhân và danh sắc tế, nhân duyên
sở tạo thô. Lại quán tướng quán Tỳ-bà-xá-na tế, nhân
và danh sắc sở tạo thô, quán tiểu tỳ-bà-xá-na tế, quán
tướng tỳ-bà-xá-na sở tạo thô, quán đại tỳ-bà-xá-na
tế, quán tiểu tỳ-bà-xá-na sở tạo thô. Theo thứ tự như
trước, thứ tự trước là tế, sau dần là thô. Thô tế Ba-tát-đề
(passaddhi - yên tịnh không mệt nhọc) được nói trong Tam-bạt-đà
(patisambhidà).
Hỏi:
- Thế nào là học về diệt hơi thở ra, hơi thở vào? Thế
nào là hơi thở ra? Thế nào là hơi thở vào?
Ðáp:
- Niệm về thân có hơi thở vào, học diệt hơi thở ra và
hơi thở vào, nhờ vậy thân tâm không nghiêng ngả, rút lại,
lay động, yên tịnh đến vi tế cực độ như không còn thân.
Ðây gọi là học diệt hơi thở vào hơi thở ra. Với hơi
gió an trụ như vậy mà chưa thành tựu niệm A-na-ba-na thì
cũng chưa thành tựu quán, chưa thành tựu trí tuệ thì chưa
vào được định này và cũng chưa xuất định này. Nếu học
diệt hơi thở vào, hơi thở ra mà thành tựu thì hơi gió an
trụ không còn sinh nữa, gọi là đã mở được trí tuệ hoàn
toàn. Người nhập được vào pháp này thì cũng từ đó xuất
ra được.
Tại
sao biết được? Ví như đánh vào vật bằng đồng, bắt đầu
phát tiếng to sau đó nhỏ dần. Ðã nhớ rõ tiếng lớn thì
sau đó cũng ghi nhớ rõ tiếng nhỏ dần trong tâm. Sa đó tiếng
nhỏ dần rồi mất hẳn nhưng âm thanh vẫn còn ghi trong tâm.
Hơi thở ra, hơi thở vào cũng như vậy, trước thô sau vi tế,
ghi nhận bắt đầu là thô và dần dần đến tế. Ðến khi
tế thì hơi thở không còn, nhưng vẫn còn ghi nhớ trong tâm,
do sự ghi nhớ ấy nên tâm định trụ. Như vậy là đắc (định
nhờ) hơi thở về gió. Tâm đã định trụ do tập luyện mà
thành tựu về quán hơi thở vào, thở ra. Như vậy là thành
tựu về định hơi thở vào hơi thở ra. Người trí nhập
vào và xuất khỏi định này do sự chứng đạt trên. Do đó,
trong luật nói rằng diệt hơi thở ra, hơi thở vào rồi thì
sau đó (có thể) tùy theo niệm mà phát sinh, nên gọi là tùy
quán.
Biết
rõ hơi thở vào, hơi thở ra không phải tùy niệm, tùy niệm
cũng không phải hơi thở vào hơi thở ra. Nhờ hai pháp này,
biết quán sát rõ về thân này nhờ đó chứng đắc quả A-la-hán.
Người mới học thiền phải học theo trình tự sau: Tỳ kheo
với tâm thiện phải hộ trì thanh tịnh bốn loại giới.
Thanh
tịnh có ba:
Một, không phạm giới.
Hai, lỡ phạm phải sám hối.
Ba, không bị các phiền não phá hoại.
Hộ
trì giới thanh tịnh như vậy thì thành tựu chánh niệm và
đồng thời nên làm phòng Phật, xây dựng khu vực cây Bồ
đề, làm phòng tắm cho hòa thượng, A-xà-lê; làm nhà thuyết
giới. Trong phần xây cất phòng xá thuộc 82 kiền-đà-ca có
nói đến bốn loại xây cất như vậy (cetiyangavatta- bodhiyanganavatta-
upajjhàyavatta- àcariyavatta- jantàgharavatta- uposathàgàravatta-
dvevisatikhandhakavattàni-cuddasavidhamahàvatta). (Ai) thực hiện
được như vậy là khéo trì giới. Tỳ kheo nào ưa thích học
giới này nên giữ đầy đủ. Nếu Tỳ kheo nói: Tôi giữ giới
đầy đủ không bị hư khuyết, mà không (suy nghĩ rằng ta
sẽ chết nên từ bỏ các việc làm vô ích khác, để chăm
chỉ chuyên cần trì giới. Tỳ kheo như vậy mà đầy đủ
giới thì không thể có. Tỳ kheo nào khéo giữ giới thì Tỳ
kheo ấy viên mãn về giới. Nhờ viên mãn giới nên đắc định.
Tại sao? Như trong kinh có nói: Phật bảo các Tỳ kheo rằng
nếu người không học tập hoàn hảo về giới thì giới của
người ấy khó đầy đủ. Có bài kệ:
Chùa, gia định, lợi dưỡng,
Chúng, xây dựng là năm,
Ði chơi, thân thuộc, bệnh,
Ðọc, thần thông là mười.
Ai
có thể xa lìa mười pháp quyến luyến này (dasa-palibodhà -
mười pháp trở ngại cho sự giác ngộ) thì sau đó mới có
thể nhập định. Pháp thiền định có hai loại. Một là quán
tất cả (sabbatha kammatthàna). Hai là nhiếp thân thuộc (parihàriya
kammatthàna).
Hỏi:
- Thế nào là quán tất cả?
Ðáp:
- Ðầu tiên là đối với Tỳ kheo tăng, có tâm đại bi, niệm
chết, quán bất tịnh. Tỳ kheo có tâm từ thì bắt đầu quán
từ tâm này như thế nào. Khi bắt đầu quán, Tỳ kheo phải
quán theo từng phạm vi. Ðầu tiên là quán về Tỳ kheo tăng,
sau đó là quán về các vị trời, người sau đó quán về
đại phú gia, rồi quán đến người thường, sau đó quán
đến khắp cả chúng sinh.
Hỏi:
- Vì sao phải quán tâm từ về Tỳ kheo tăng trước?
Ðáp:
- Vì sống chung. Nếu tâm từ bao phủ khắp chúng Tỳ kheo thì
được sống an lạc.
Hỏi:
- Vì sao phải quán tâm từ về các vị trời?
Ðáp:
- Vì sự hộ trì, nếu tâm từ bao phủ khắp chư thiên thì
chư thiên làm theo thiện pháp với tâm nhu hòa.
Hỏi:
- Tại sao phải quán tâm từ về đại phú gia?
Ðáp:
- Ðể họ làm theo pháp thiện.
Hỏi:
- Tại sao phải quán tâm từ về người thường?
Ðáp:
- Vì cùng hành pháp như nhau nên không hại nhau.
Hỏi:
- Tại sao phải quán tâm từ về tất cả chúng sinh?
Ðáp:
- Vì cho chúng không còn khổ nạn.
Hỏi:
- Tại sao phải niệm cái chết?
Ðáp:
- Ðể tăng trưởng tâm thương mình nên không còn biếng nhác.
Quán
bất tịnh là thánh quán. Quán pháp bất tịnh này thì được
xa lìa dục và tất cả pháp ác. Dục là căn bản, nên phải
tôn trọng pháp quán bất tịnh vì nó thành lập được các
pháp thiện, nên gọi là quán tất cả.
Ðối
với 38 pháp quán (atthatimsàrammanàni), tùy ý tu tập, tu tập
liên tục thì gọi là nhiếp quán. Ðây gọi là niệm A-na-ba-na
thể nhập nhiếp quán.
Pháp
sư nói: - Nay tôi nói lược, vị nào muốn biết rõ thì xem
đủ trong A-tỳ-đàm Bà-sa (Visuddhimagga, Thanh tịnh đạo).
Giữ
tịnh giới như vậy và xa lìa các duyên sự (upacchinnapalibodha)
thì nhập định A-na-ba-na. Nhờ vào định A-na-ba-na nên đi
sâu vào bốn thiền và tiếp theo là quán khổ, không, vô thường.
Quán như vậy rồi, đến hỏi vị A-la-hán. Nếu không có vị
A-la-hán thì hỏi vị A-na-hàm. Nếu không có vị A-na-hàm thì
hỏi vị Tư-đà-hàm, nếu không có vị Tư-đà-hàm thì hỏi
vị Tu-đà-hoàn. Nếu không có vị Tu-đà-hoàn thì đến hỏi
vị đã đắc thiền.
Hỏi:
- Tại sao phải hỏi những vị như vậy?
Ðáp:
- Những vị ấy đã đắc thiền nên dễ chỉ dẫn cho ta.
Ví
như theo dấu chân voi thì dễ tìm đường, không bị lạc lối.
Người đắc đạo, đắc thiền cũng như vậy. Tại sao? Vì
chỉ dạy cho ta dễ dàng.
Pháp
sư nói: - Tôi sẽ nói bước đầu về sự tu tập. Vị Tỳ
kheo với trang phục gọn gàng đơn giản, không chứa vật dư,
đầy đủ uy nghi đi đến gặp vị thầy. Ðến nơi, hành giả
phải phục vụ (vatta) hoàn toàn theo ý muốn của vị thầy.
Từ từ, vị thầy với lòng thương nên cho nhận năm việc.
Ðó là: lấy, hỏi, bắt đầu, giữ, tướng.
- Lấy (thủ) là cho nhận lấy pháp thiền.
- Hỏi là được hỏi theo trình tự.
- Bắt đầu là đi vào pháp thiền định.
- Giữ là giữ vững lấy pháp thiền định.
- Tướng là phân biệt tướng mạo thiền định.
Ðây
là năm phần.
Bước
đầu phải nhận lấy năm phần ấy vì làm cho thân thể không
mệt nhọc và không làm cho thầy dạy bị mệt nhọc. Năm phần
này dễ ghi nhớ và dễ tu tập theo nên được dạy trước.
Nhận
lấy năm phần này rồi, nếu tại chỗ ở của thầy thuận
tiện thì ở lại, nếu không tiện thì đi ở nơi khác. Người
không có trí tuệ thì ở cách xa thầy một do-tuần. Người
có trị tuệ thì được ở xa hơn. Nên xa lìa 18 loại trú
xứ thì tốt (atthàrasesanàsana). Có năm chỗ ở nên nhận (pancasenàsana).
Nhận rồi nên chấm dứt các công việc nhỏ nhặt, sau khi
dùng bữa trưa nên nghỉ ngơi một chút. Sau khi nghỉ trưa xong,
nên niệm đến Tam bảo làm cho tâm hoan hỷ. Phải theo lời
thầy dạy, không được quên mất. Phải ghi nhớ rõ pháp a-na-ba-na
này trong tâm.
Pháp
sư nói: - Tôi đã nói sơ lược, trong A-tỳ-đàm nói rộng
hơn, ông hãy tìm hiểu lấy.
Ghi
nhận trong tâm là đếm, theo dõi (tùy), xúc chạm, an trí, quan
sát, quay lại, thanh tịnh, quán sát lại (ganàna anubadhanà thabanà
sallakkhanà vivattanà pàrisuddhi tesan ca patipassanà).
- Ðếm là bắt đầu với số một, hai.
- Theo dõi là ghi nhận liên tục hơi thở ra vào.
- Xúc chạm là nơi hơi thở tiếp xúc (khi ra vào).
- An trí là đạo.
- Tịnh là kết quả.
- Quán lại là pháp tướng.
Với
người mới học, ban đầu niệm rõ trong tâm pháp đếm số
mà bắt đầu từ số nhỏ từ một đến năm và đếm trở
lại, không được chỉ đếm đến ba hay bốn. Số lớn hơn
là đếm từ một đến mười rồi đếm ngược lại, không
được đếm đến tám, chín.
Hỏi:
- Nếu đếm chỉ đến ba hay bốn thì có gì không tốt?
Ðáp:
- Nếu hơi thở bị thúc ép thì khó điều khiển được tâm,
như trong chuồng có quá nhiều bò đang chen chúc lấn ép nhau
thì chúng sẽ phá chuồng để ra. Nếu đếm đủ mười thì
thân thể thoải mái như chuồng rộng rãi. Chuồng rộng thì
bò được nuôi dưỡng dễ dàng.
Hỏi:
- Nếu đếm đến tám, chín thì có gì không tốt?
Ðáp:
- Không làm cho nhầm lẫn nhưng sinh tâm phân vân, hoặc cho
rằng ta được thiền vị, nên sinh tâm mê hoặc. Với lỗi
lầm như vậy, ông hãy từ bỏ. Nếu đếm hơi thở mà đếm
rõ chậm rãi từ từ từng số, thì như người đong ngũ cốc,
đầu tiên đổ vào cho đầy rồi mới đếm một, sau đó mới
đong phần ấy sang. Nếu có cỏ đất thì ông ta nhặt vứt
bỏ ra, khi đổ vào đầy và đếm hai (rồi mới đong), tuần
tự đong như vậy cho đến mười. Tỳ kheo tọa thiền đếm
số (trước) hơi thở ra vào cũng như vậy.
Nếu
đếm nhanh thì như mục đồng đếm bò. Ðếm như thế nào?
Mục
đồng có trí, tay cầm roi, ngồi ngay trên trụ cửa chuồng,
dùng viên...làm số (sakkaram khipitvà) (để đếm) và lùa bò
ra ngoài. Khi lùa bò ra thì ông ta bắt đầu đếm một, hai,ba,
bốn, năm... đến mười con.
Tại
sao đếm như vậy? Có lúc bốn đại không đều hòa, hơi thở
vào ra nhanh thì tùy theo sự vào ra của hơi thở mà đếm nhanh
1. 2. 3. 4. 5; 1.2.3.4.5. Khi đếm bò, người chăn đứng ngay cửa
mà đếm, không đếm bò đang ở trong hay ngoài cửa. Nhờ theo
dõi số đếm mà tâm được định. Vì sao? Như người đi
thuyền ngược dòng nước chảy xiết (candasota), dùng cây sào
chống một, hai, ba, bốn, năm làm cho con thuyền được vững
vàng (để đi lên). Thở vào thở ra cũng vậy. Vì sao? Tâm
ví như chiếc thuyền, hơi thở vào ra như cây sào chống, (thuyền)
tâm trôi chảy theo (sông) năm dục mà được hơi thở vào
thở ra chế ngự làm tâm ổn định. Nếu hơi thở vào mà
tâm theo vào, như chất bổ vào thân làm cho no đầy. Nếu thở
ra mà tâm tùy theo ra, làm pháp quán bị rộng lớn (phân tán).
Do phân tán rộng nên tâm khó được điều phục. Trừ hai
pháp này, vị ấy chỉ trụ tâm tại chỗ hơi thở tiếp xúc
(chóp mũi hay đầu môi trên) thì sau đó sẽ đắc định. Thế
nên trong luật bản nói: Không được đếm theo hơi thở ở
trong hay ngoài.
Vậy
đếm đến bao giờ mới ngưng? Nếu tâm không còn loạn mà
vẫn biết rõ hơi thở ra vào thì không cần đếm nữa. Như
vậy là đã bằng phương tiện đếm mà được tùy niệm (an
trú niệm).
Thế
nào là tùy niệm? Biết rõ hơi thở ra vào, không cần nhờ
vào sự đếm nữa mà vẫn biết rõ và an trú niệm trên ba
chỗ (hơi thở ra đi). Nếu thở ra thì bắt đầu là rốn,
giữa là tim, cuối là chóp mũi (nàbhi àdi hadayam majjham hàsikà
poriyosàham). Nếu thở vào thì bắt đầu ở chóp mũi, giữa
là tim và rốn là cuối. Nếu tâm đi theo hơi thở thì tâm
không định. Do tâm không định thì tâm bị dao động. Thế
nên trong luật nói: Nếu tâm đi theo hơi thở ra, hơi thở vào
thì bên trong tâm không định và trong tâm ngoài thân đều
dao động. Do dao động nên không đắc định. Nếu đi theo
hơi thở vào và ra là như vậy. Thế nên không được theo
hơi thở vào và ra ở giai đoạn giữa và sau, chỉ chú tâm
ở chóp mũi, bám chặt vào đó và ghi nhận hơi thở ra vào.
Nếu từ bỏ sự đếm số thì tâm ghi nhận tự vào định.
Như có người bị què trông giữ em bé bằng cách đặt em
bé trong cái nôi treo ở giữa nhà, ngồi một chỗ, lắc cái
nôi qua lại mà (người ấy) vẫn ở một chỗ chứ không phải
di chuyển bằng tay. Tỳ kheo tọa thiền cũng vậy. Lại nói:
Ví như người giữ cửa, không cần hỏi trước với những
người ra vào, chỉ hỏi khi họ đến ngay cửa, cũng không
hỏi họ từ đâu đến và cầm những vật gì, chỉ biết
họ có ra vào mà thôi. Tỳ kheo tọa thiền cũng vậy, không
cần biết trước và nghĩ lấy thở ra vào. Như vậy, ông hãy
tự biết lấy.
Phật
dạy: -Ai biết rõ ba pháp thì tâm được định.
Ba
pháp ấy là:
Một, ưa thích vào.
Hai, phương tiện.
Ba, được tăng trưởng.
Như
cây gỗ lớn được đặt vững trên mặt đất. Có người
muốn xẻ cây này, trước tiên xem xét vỏ cây, sau đó dùng
cưa xẻ ra, tâm luôn chuyên chú nhìn (chỗ) răng lưỡi cưa
(tiếp xúc với gỗ), làm cho nó đi thẳng đường chứ không
nhìn lưỡi cưa qua lại. Quán hơi thở ra vào cũng vậy. Tư
duy về pháp thiền đang hành trì, với phương pháp hoàn bị
như cây gỗ lớn vững trên đất. Quán sát kỹ chung quanh cây,
như tâm khéo tư duy về pháp thiền. Hơi thở ra vào cũng như
lưỡi cưa qua lại. Tâm chú ý vào lưỡi răng cưa, như chú
ý vào đầu mũi. Tỳ kheo tọa thiền nên hiểu ví dụ này,
với thiền định trong hiện tại, với phương tiện hoàn bị
thì đật đến chỗ tăng thượng.
Hỏi:
- Thế nào là thiền định?
Ðáp:
- Thân tâm tinh tấn và thành tựu nhuần nhuyễn là thiền định.
Hỏi:
- Thế nào là phương pháp (payoga) hoàn bị?
Ðáp:
- Với dũng mãnh tinh tấn làm tiêu trừ phiền não và diệt
tận suy nghĩ.
Hỏi:
- Thế nào là đạt đến chỗ tăng thượng?
Ðáp:
- Bằng dũng mãnh tinh tấn làm tiêu trừ kiết sử (samyojana).
Ba
pháp (tướng, thở vô, thở ra) không phải được thành tựu
chỉ do nhất tâm quán sát mà cũng phải nhờ biết rõ ba pháp
ấy. Và tâm không dao động là nhờ vào pháp thiền định
trong hiện hành, phương pháp hoàn bị thì đưa đến chỗ tăng
thượng. Khi đắc được như vậy rồi, sau đó tâm dán chặt
vào A-na-ba-na thì gọi là thành tựu. Tỳ kheo nào thực hành
pháp niệm A-na-ba-na thì vị ấy làm sáng chói thế gian như
mặt trăng ra khỏi mây.
Trong
thiền định này, có người mới làm thì có tướng lành xuất
hiện, có người nhờ sổ-tức mà hiện ra tướng lành.
Tướng
lành ấy thế nào? Tỳ kheo này ngồi dưới đất hay trên giường,
không có tọa cụ, mà (có cảm giác) chỗ ngồi ấy lại mềm
mại như bông gòn. Vì sao? Vì đã sổ-tức nên làm cho thân
thể nhẹ nhàng thoải mái, và tuần tự, hơi thở ra vào thô
bị diệt, thân tâm nhẹ nhàng vô cùng, như ở giữa không
trung. Khi hơi thở trở nên vi tế thì như có như không. Như
người đánh khánh thì (âm thanh phát ra) trước lớn sau nhỏ.
Tỳ kheo tọa thiền sổ tức cũng vậy. Thế nên trong luật
nói trước to lớn sau nhỏ dần.
Pháp
sư nói: - Thiền định sổ tức này khác với những thiền
định khác. Những thiền định khác thì trước vi tế sau
thô. Tỳ kheo nào vào thiền sổ tức này mà thiền tướng
không hiện rõ thì không nên đứng dậy mà nên yên tâm ngồi
ngay thẳng và tư duy. Tư duy như thế nào? Khi đã biết thiền
tướng không hiện rõ, vị ấy nên tự nói: hơi thở vào hơi
thở ra này nơi nào có nơi nào không, có với ai, không có
với ai. Và tự nói rằng người đang ở trong thai mẹ, không
có hơi thở ra vào, khi đang lặn trong nước không có hơi thở
ra vào, chư thiên ở cõi Trường Thọ cũng không có hơi thở
ra vào, nhập vào thiền thứ tư cũng không có hơi thở ra vào,
thây chết cũng không có hơi thở ra vào, sắc hay vô sắc giới
cũng không có hơi thở ra vào, diệt tận định cũng không
có hơi thở ra vào.
Sau
khi suy nghĩ như vậy rồi, hành giả tự chê trách thân mình:
Ngươi là người trí tuệ, không phải đang ở trong bụng mẹ,
không ở trong nước, không ở cõi trời sắc và vô sắc giới,
không phải đang vào định diệt-tận, không phải đang ở
cõi trời Trường Thọ, chẳng phải là thây chết, cũng không
phải đang ở cõi thiền thứ tư. Ngươi đang có hơi thở ra
vào rất vi tế mà không thể biết được, hãy chú tâm lại.
Nếu với người có mũi dài, thì đặt tâm ở lỗ mũi (nàsàputa).
Nếu người có mũi ngắn thì chú tâm trên đầu môi trên.
Thế nên phải giữ chặt ở vị trí này.
Như
trong kinh có nói: Phật bảo các Tỳ kheo, người nào hay quên,
không tỉnh giác chú tâm được thì không thể nhập thiền
định A-na-ba-na. Không chỉ riêng thiền định A-na-ba-na mà
đối với các thiền định khác cũng vậy. Nếu ai chánh niệm
được thì thiền định sẽ hiện rõ. Thiền định A-na-ba-na
này rất trọng yếu. Chư Phật, Bích-Chi-Phật, đại A-la-hán
(Buddhapahà) đều dùng pháp niệm A-na-ba-na này làm nền móng
và sau đó mới được đắc đạo, tùy niệm đưa đến cực
tịnh. Thế nên trong định này tùy niệm phải được tăng
trưởng cùng trí tuệ.
Như
may trên tấm vải rất mỏng thì phải dùng kim chỉ rất nhỏ.
Kim ví như tùy niệm, chỉ như trí tuệ, liên kết với nhau
không gián đoạn, nhờ vào hai pháp này, không cho quên mất
hơi thở vào và hơi thở ra. Như người cày ruộng, khi con
bò đã mệt và người cày cũng mệt thì thả cho bò nghỉ
ngơi. Sau được thả ra, bò đi vào rừng. Nghỉ ngơi xong, người
kia lại đi tìm bò nhưng không cần tìm theo dấu chân bò, mà
đi thẳng vào rừng, đến nơi bò thường đi lại uống nước
và nằm hoặc ngồi chờ cho bò uống nước xong, dùng dây xỏ
mũi bò và cầm gậy tiếp tục lùa nó trở lại cày ruộng.
Cũng như vậy, Tỳ kheo thiền định về thở ra thở vào khi
quá mệt thì tạm thời ngừng lại và nghỉ ngơi, không theo
dõi hơi thở ra vào nữa mà chỉ đặt (niệm) ở chóp mũi,
chú ý và đếm hơi thở ra vào với chánh niệm ví như sợi
dây (cột mũi bò) và trí tuệ ví như cây gậy và cứ tiếp
tục chú ý đến (chỗ) hơi thở vào ra.
Nếu
làm được như vậy thì không bao lâu thiền tướng (nimitta)
sẽ hiện rõ (trở lại) và thân thể khoan khoái như tiếp
xúc với bông gòn, thân cảm thấy mềm mại. Có người thấy
như chạm vải kiết bối, có người thấy như chạm luồng
gió mạnh, có người thấy như các vì sao, có người thấy
như chuỗi ngọc, có người thấy như ngọc trắng bị vung
vãi, có người thấy như (chạm) phải hạt hoa kiết bối,
có người thấy như sợi dây, có người với sự tiếp xúc
thô cứng, có người thấy như ánh lửa, có người thấy như
con khỉ, có người thấy như mây nổi, có người thấy như
hoa sen, có người thấy như bánh xe, có người thấy như trăng
tròn.
Vì
sao? Như trong kinh nói: Các Tỳ kheo tập họp tụng kinh nhưng
mỗi người lại thấy điềm lành khác nhau. Có người thấy
như núi non, như dòng sông, như cây rừng, tuy rằng với sự
bắt đầu như nhau.
Hỏi:
- Với núi non, dòng sông và cây rừng, do đâu mà có sự khác
nhau này?
Ðáp:
- Từ tâm tưởng mà có. Do ý tưởng của từng người khác
nhau nên sinh ra tướng khác nhau. Có người quán về hơi thở
ra, có người quán hơi thở vào, có người quán thiền tướng
(nimittàranamana). Nếu không quán như vậy thì cũng không phát
minh được pháp A-na-ba-na (anapana-sati) và không thành pháp sơ
thiền. Nếu có ba pháp này thì thành tựu thiền định.
Tỳ
kheo tọa thiền nếu có xuất hiện tướng như vậy nên đi
thưa với thầy: Con thấy tướng trạng như vậy.
Thầy
đáp rằng là tướng thấy chứ không nói là tướng thiền
nhưng cũng không nói chẳng phải tướng thiền.
Sau
khi dạy như vậy, vị thầy nói: - Trưởng lão! Thầy hãy gia
tâm thêm.
Pháp
sư nói: - Vì sao vị thầy không nói đó là thiền tướng hay
chẳng phải thiền tướng?
Ðáp:
- Nếu nói với vị ấy cụ thể riêng từng phần, đấy là
thiền tướng thì (vị ấy) sinh tâm giải đãi (vì kiêu căng
nên bỏ phế); nếu nói không phải thiền tướng thì (vị
ấy) thối tâm. Do đó không nói từng phần mà chỉ ân cần
dạy bảo, thì thiền tướng tự hiện.
Xưa
có bài kệ:
Dán tâm nơi pháp quán
Sẽ hiện ra nhiều tướng,
Nếu người có trí tuệ,
Giữ tâm tiếp tục niệm
Ở hơi thở ra vào,
Tinh cần không tán loạn.
Khi
thiền tướng xuất hiện, thì các triền cái bị quản thúc,
các phiền não lặng yên tự ngưng lại. Nhờ hai pháp này mà
tâm được an trụ và trở thành định, hoặc đắc sơ địa,
hoặc đắc trừ phiền não địa, hoặc nhờ vào sự xuất
hiện các thiền chi mà đắc sơ địa (cận hành định). Ðây
là đang đắc sơ định địa.
Hỏi:
- An trú vào định (an chỉ định) và sơ định (cận hành
định) là khác hay giống nhau?
Ðáp:
- Khác nhau, sơ định - cận hành định - là tâm đã thuần
thục, đi vào chỗ an trú của tâm (Bà-bàn-già - Bhavanga, hữu
phần: chỗ tâm yên nghỉ). An trú vào định - an chỉ định
- là tâm trong cảnh giới này luôn cả ngày đã thuần thục
không còn tùy thuộc vào Bà-bàn-già. Hai pháp này khác nhau
như vậy.
Nếu
thiền tướng đã hiện rõ, do quán sắc hoặc quán tướng
mạo thì phát triển thêm. Như vua Chuyển Luân còn ở trong
thai, được cha mẹ yêu mến bảo hộ, ở nơi điều hòa ấm
mát và dùng các thức ăn thích hợp. Nếu khéo nuôi dưỡng
thì sẽ được kết quả tốt đẹp.
Tỳ
kheo hộ trì thiền tướng cũng vậy, nếu không hộ trì luôn
thì bị mất. Vậy hộ trì như thế nào?
Một: Ở trú xứ thích hợp.
Hai: Khu vực đi lại (khất thực) thuận tiện.
Ba: Thân cận người thiện.
Bốn: Thực phẩm thích hợp.
Năm: Khí hậu điều hòa.
Sáu: Chọn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm thích hợp.
Bảy: Tránh xa sự ồn ào và nhất là ăn uống.
Nhờ
bảy pháp này hộ trì thì thiền tướng được an trú kiến
cố.
Tuần
tự, thiền tướng tăng trưởng và hiện rõ rồi, các căn
được rất thanh tịnh nhu nhuyến thì đối với tâm, nếu
muốn thì có thể giữ lại hay buông thả, sinh khởi hay điều
phục, hoan hỷ hay xả một cách dễ dàng, gần gũi người
đắc thiền tướng và tránh xa người chưa đắc thiền tướng,
chí tâm đối với thiền và biết rõ thiền tướng. Ðối
với mười pháp này người trí khéo an trú tâm vào, không
được biếng nhác, nên tinh cần tu tập, nên suy nghĩ rằng
ta hãy an trú vững vào định và xả bỏ tâm Bà-bàn-già (hữu
phần) mà khởi lên ý muốn hướng tâm (manadvàvajjanam uppajjati)
trụ trong một sát na rồi diệt, lại khởi lên bốn hay năm
(4,5) xà-bà-na (javana - tốc hành tâm).
Năm
tâm này gồm có: 1- Tâm tác động; 2- Tâm học (cận-hành);
3- Tâm tùy thuận; 4- Tâm trung gian; 5- Tâm an trú.
Nếu
gom năm tâm này thành bốn, thì: 1- Tâm tác động cận hành;
2- Tâm tùy thuận; 3- Tâm trung gian; 4- Tâm an trụ. Tâm thứ
tư này cũng gọi là tâm thứ năm, không có thứ sáu và thứ
bảy.
Những
tâm trước thuộc dục giới, tâm thứ năm (an trụ) này thuộc
sắc-giới. Nhờ vào tâm này nên diệt năm chi (triền cái)
và phát sinh năm thiền chi (tầm, từ, hỷ, lạc, nhất tâm),
đầy đủ mười tướng (đặc tính) tốt đẹp cả ba (giai
đoạn) và đắc thiền thứ nhất rồi, thì tư niệm trong pháp
quán này hoàn toàn bị diệt và đắc thiền thứ hai, diệt
tướng này luôn thì chứng thiền thứ ba, đến thứ tư. Huấn
luyện tâm và vượt lên trên.
Pháp
sư nói: - Ðây là nói lược, nếu nói rộng thì hãy xem trong
Thanh-tịnh-đạo (Visuddhimagga).
Tỳ
kheo đã đắc thiền thứ tư rồi, khéo ghi nhận và làm cho
tăng trưởng. Nếu muốn đạt đến chỗ hoàn toàn chân thật
thì thiền thứ tư này có năm điều tốt đẹp. Một, tâm
trú; hai, nhập vào; ba, sắc (quyết định); bốn; xuất ra;
năm, quán sát trở lại. Nhờ năm pháp này mà đạt đến chỗ
chân thật.
Tỳ
kheo này đã tụ tập thông suốt (pháp thiền này) có thể
bắt đầu quán sát với sắc, hoặc bắt đầu với vô sắc.
Quán sắc và vô sắc rồi lại tu tập tăng lên với pháp Tỳ-bà-xá-na
(Vipassana, niệm xứ). Tăng lên như thế nào?
Tỳ
kheo xuất khỏi thiền thứ tư rồi, vẫn nắm vững thiền
chi (jhànanga). Sau khi nắm vững thiền chi này trong tâm, tâm
y vào bốn đại chủng (cattàibhutani) mà quán sát thân bốn
đại. Từ thiền chi này mà nói thì bắt đầu là phi sắc
(tâm) xứ. Do pháp sắc, phi sắc (tâm) này mà thấy (tâm) thức.
Bắt đầu với bốn đại chủng mà có sắc cộng với các
sắc tâm thức không phải sắc. Nếu xuất khỏi định và
(trở lại) thở vào thở ra thì thân và tâm là nhân của nó.
Như ống bệ bằng da của người thợ rèn, nhờ sức chuyển
động nên có hơi gió vào. Hơi thở ra vào cũng vậy, nhờ
vào thân tâm nên thở ra vào. Tỳ kheo này thấy hơi thở ra
vào nên thấy thân, thấy sắc tâm sở.v.v... cùng với các
pháp phi sắc tâm này. Nhờ thấy rõ danh sắc như vậy, lại
quán sát thấy rõ nhân duyên làm cho danh sắc nối tiếp mãi
không ngừng trong ba đời.
Do
danh sắc nối mãi nên sinh hoài nghi. Sau khi đoạn trừ nghi
ngờ (kankhà) rồi thì quán sát ba tướng (của danh sắc là
khổ, vô thường, vô ngã), sau khi quán ba tướng rồi, lại
quán sát sự sanh diệt. Nhờ quán sát sanh diệt nên trước
tiên thấy ánh sáng và xa lìa mười phiền não thuộc Tỳ-bà-xá-na
(dasavipassanùpakilesa). Sau khi xa lìa (mười phiền não trên)
vị ấy phát sinh trí tuệ về đạo (patipadà-nàna, hành đạo
tri kiến). Sau khi vượt qua pháp đã phát sinh, lại thấy rõ
pháp sanh diệt (udayam pahàya bhangànupassanam patvà) và các niệm
kế tục nhau bị tiêu diệt. Nếu hai trí này (đạo trí và
hoại diệt trí) đã phát sinh thì đối với ba cõi, hành giả
sinh (tâm) nhàm chán (sabbasankhàresunibbindanto). Và tuần tự
đắc bốn đạo như vậy, hành giả đạt đến quả A-la-hán.
Có 19 trí quán sát (ekùnavísatibhedassapacavekkhan ànànassa pariyatappatto
sadevakassa lokassa aggadakkhineyyo hoti) biết rõ (các pháp) đến
cùng tận, và vị này trở thành bậc ruộng phước vô thượng
cho ba cõi gồm cả phạm, ma, Sa-môn, Bà-la-môn.
Ðây
là pháp niệm hơi thở vào hơi thở ra. Và đã giải thích
xong bốn câu đầu của phần thứ nhất (bốn đề tài niệm
về thân).
Bốn
câu trong ba phần còn lại cùng với các thiền khác không khác.
Thế nên, tôi sẽ giảng giải.
Giác
là đang cảm giác về hỷ: (trong đề tài) tôi đang (cảm giác)
hít vào thở ra rõ ràng với hỷ. Ðược cảm giác hỷ nhờ
vào hai việc. Ðó là:
1- Ðối tượng quán.
2- Không mê mờ.
Thế
nào là có cảm giác hỷ đối với đối tượng quán? Khi vào
hai thiền thì có hỷ. Ở trong thiền này, khi muốn được
(hỷ thọ) với trí tuệ thì với đối tượng quán, tự nhiên
được cảm giác hỷ thọ. Thế nên nhờ vào đối tượng
quán mà được cảm giác hỷ thọ.
Thế
nào là nhờ không mê mờ mà có cảm giác hỷ thọ? Hai thiền
đều có hỷ, sau khi nhập và xuất thiền này thì trí tuệ
quán sát hỷ ấy (sẽ bị) tiêu diệt nơi thiền quán, thấu
suốt tướng của nó (tướng quán) không bị mê mờ; nhờ
không mê mờ nên đạt đến cảm giác hỷ thọ.
Trong
kinh Bà-trí-tam-tỳ-bà (Patisambhidà - Vô ngại giải) nói: Bằng
hơi thở vào hơi thở ra mà đạt được nhất tâm. Tâm không
tán loạn thì biết tỉnh thức rõ ràng. Nhờ biết tỉnh thức
rõ ràng mà có cảm giác hỷ thọ. Nhờ thở ra dài nhờ thở
vào ngắn mà cảm giác được toàn thân, cảm giác được
sự diệt của thân. Nhờ thở vào thở ra thành tựu nhất
tâm mà biết rõ. Nhờ hai pháp này mà cảm giác phát sinh.
Do
an tâm nên có cảm giác hỷ thọ, nhờ biết rõ, nhờ pháp
quán, quán ngược xuôi làm tâm ổn định lại, chí tâm giữ
tinh tấn mà phát sinh hiểu biết, tâm tập trung ổn định
biết rõ với trí tuệ, cái cần phải biết thì biết rõ,
cái cần phải xả bỏ thì xả bỏ, cái cần phải quán sát
thì quán sát, cái hiện rõ (tu tập) thì hiện rõ và đưa đến
cảm giác hỷ thọ. Như vậy là đạt được cảm giác hỷ
thọ. Các câu sau ý nghĩa cũng theo như vậy. Trong ba thiền
định có điểm khác vì có cảm giác lạc còn ở bốn thiền
định là cảm giác tâm hành (cittasànkhàrapatisamvedita- cảm
giác tâm hành)
Hỏi:
- Tâm hành là gì?
Ðáp:
- Thọ và tưởng ấm (vedanàdayo duve khandhà) là tâm hành.
Cảm
giác lạc đây thuộc về thiền tuệ Tỳ-bà-xá-na. Lạc có
hai: một là lạc thuộc thân; hai là lạc thuộc tâm. Trong Vô-ngại-giải
có nói: Diệt tâm hành tức là ổn định tâm hành thô và
diệt nó (olàrikam cittasankhàram passambhanto nirodhento ti attho)
cũng gọi là định chỉ. Nếu nói rộng thì được giải rõ
trong phần thân hành, hãy tự nghiên cứu (yasankhàra). Hỷ trong
câu nói (cảm giác hỷ) về thọ là thuộc hành. Nếu chọn
lấy lạc thì thuộc cảm thọ. Cả hai trường hợp cảm giác
trên trong câu tâm hành (cảm giác tâm hành) thì gồm cả tưởng
và thọ tâm sở (sanna vedanà cetasika - tưởng thọ tâm sở).
Hai pháp này không rời tâm, nếu chọn lấy tâm hành thì bao
gồm cả tưởng và thọ. Bốn câu trong phần này là nói xong
về quán cảm thọ, hãy tự nghiên cứu.
Câu
cảm giác về tâm trong bốn câu thuộc pháp thứ ba (niệm tâm)
là thuộc về cả bốn thiền định.
Cảm
giác về tâm (abhippamodaya-citta) nghĩa là gì? Cảm giác tâm
hoan hỷ, hoan hỷ hoàn toàn, tâm rất hoan hỷ, tôi đang cảm
giác thở ra, thở vào. Có hai mặt hoan hỷ, đó là nhờ vào
định và nhờ vào tuệ quán.
Thế
nào là nhờ định? Có cảm giác hỷ và đi vào hai thiền định
và khi đã vào rồi cũng có hỷ, trong một sát na tâm cùng
với hỷ.v.v.. hân hoan vào trong tâm và rất hoan hỷ.
Thế
nào là nhờ tuệ quán mà nhập vào hai thiền định? Có hỷ
(thay đổi) theo thiền định (nhập vào) và xuất, và nhờ
thấy hỷ có thể bị tiêu diệt nên luôn tiếp xúc với thiền
hỷ (bằng tuệ). Như vậy, tuệ quán Tỳ-bát-xá-na (vipassanàkkhana)
luôn luôn hoạt động với hỷ rong từng sát na là nhờ vào
tuệ quán mà tâm có hỷ như vậy, tùy theo tâm mà có hân hoan.
Tôi
đang hít vào thở ra với tâm hoàn toàn ổn định. Nhờ vào
thiền định thứ nhất, đặt tâm hoàn toàn ổn định trên
đối tượng quán, (hoặc là) sau khi đã nhập và xuất thiền,
hành giả thấy tâm thiền định bị diệt theo từng pháp trong
tuệ quán Tỳ-bát-xá-na này. Tâm định trong một sát na do
hiện-quán vượt qua tưởng. Tâm định khởi lên trong một
sát na ấy là nhất tâm định. Và tâm hoàn toàn an trụ trong
tuệ quán này.
Câu
" Tôi cảm giác (hít vào thở ra) với tâm giải thoát"
Nghĩa
là giải thoát khỏi phiền não, thoát ly tư và niệm (tầm
và tứ) ở thiền thứ hai, thoát ly hỷ ở thiền thứ ba, thoát
ly khổ và lạc ở thiền thứ tư, giải thoát theo tuần tự
như vậy. Sau khi (nhập) và xuất khỏi thiền, thấy rõ tâm
diệt theo từng pháp trong thiền tuệ Tỳ-bà-xá-na này. Khi
hành giả thấy vô thường thì xả bỏ pháp thường, thấy
pháp khổ thì xả bỏ tưởng về lạc, thấy vô ngã thì xả
bỏ tưởng về lạc (ngã?), tâm không còn tham đắm. Do không
tham đắm nên quán sát ly dục, từ nơi dục mà quán diệt
tưởng, từ chỗ sinh tưởng mà quán xả bỏ (chấp thủ),
từ chấp thủ mà tâm được giải thoát. Thế nên, trong luật
nói: (quán) hơi thở vào hơi thở ra thì tâm được giải thoát.
Trên đây là (giải thích) câu thứ tư trong phần quán tâm.
Trong
bốn câu ở phần thứ tư thì quán vô thường là tưởng vô
thường, nên biết rõ về quán vô thường, nên biết rõ về
sự quán liên tục về vô thường.
Hỏi:
- Cái gì vô thường?
Ðáp:
- Năm ấm vô thường.
Hỏi:
- Tại sao năm ấm vô thường?
Ðáp:
- Vì chúng là pháp sanh diệt.
Hỏi:
- Sanh diệt như thế nào?
Ðáp:
- Là pháp biến đổi tướng trạng, vì biến đổi nên các
pháp đã sinh (bị biến đổi) không có tướng cố định trong
từng sát na sát na. Ðây gọi là quán vô thường. Bắt đầu
là quán về sắc. Quán sắc vô thường là quán sắc luôn luôn
vô thường. Quán sát nhân (của sắc) là do bốn đại chủng
nên có hơi thở ra hơi thở vào, chúng là pháp hoại diệt,
nên gọi là quán vô thường.
(Ðề
tài) quán ly ái dục.
Có
hai loại quán ly ái dục là: Một, quán tiêu trừ ái dục.
Hai, quán hoàn toàn không còn ái dục.
Hỏi:
- Thế nào là tiêu trừ ái dục?
Ðáp:
- Các pháp bị diệt trong từng sát na (sát na diệt)
Hỏi:
- Thế nào là hoàn toàn không còn ái dục?
Ðáp:
- Quán hoàn toàn không còn ái dục là Niết-bàn.
Nhờ
hai pháp này mà đạt đến chỗ thấy đạo; nhờ thấy đạo
mà thấy được pháp Tịch diệt.
Thấy
tịch diệt rồi thì quán xả ly. Nhờ quán tuệ Tỳ-bà-xá-na
mà xả ly phiền não, chuyển hướng về Niết-bàn.
Như
vậy, đây là (giải thích) phần cuối của pháp niệm hơi
thở.
Hết
phần Niệm hơi thở
(Ànàpànasatisamàdhikathà
nitthìtà).
Trích:
"Chú giải Luật Thiện Kiến", quyển 10-11,
Pháp
sư Tăng-già-bạt-đà-la dịch Hán,
Tỳ
kheo Tâm Hạnh dịch Việt
Bài
Đọc Thêm:
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở, Nhất Hạnh dịch và chú giải