Hồi
41. MƯỜI TÁM KỴ SĨ YÊN VÂN
KHÍ
THẾ THIÊN BINH VẠN MÃ
41.1.
Lược truyện
-
Đinh Xuân Thu đem theo một nghìn môn đệ đến Thiếu Lâm,
đang bao vây đánh nhóm Mộ Dung Phục ở chân núi Thiếu Thất.
Bốn đại ác nhân phi báo tin nầy khiến hầu hết quần hùng
đều xuống núi để chứng kiến trận thư hùng. Các đại
sư Thiếu Lâm cho năm trăm tu sĩ dàn trận thế La Hán để
phòng ngăn cản các môn đệ của Đinh lão quái.
- Trang
Tụ Hiền, A Tử (bị mù) và nhiều môn nhân Cái Bang đến.
Biết có mặt Đinh Xuân Thu, A Tử cho giương cao biểu ngữ
"Đoàn Chưởng Môn Phái Tinh Tú" (ám chỉ A Tử là chưởng
môn) và giục Trang Tụ Hiền tiêu diệt Lão quái và đoàn quân
của ông ta.
- Lão
quái ném từng tên một các môn nhân Tinh Tú đứng gần ông
ta và truyền độc qua người ấy để hại Trang Tụ Hiền.
Trang Tụ Hiền làm động tác tương tự, cũng lần lượt ném
từng môn nhân Cái Bang để phá chiêu. Lão quái dùng chiêu
Quách Sơn Thần Quyền hút bắt A Tử để uy hiếp Trang Tụ
Hiền, buộc anh ta nhận ổng làm sư phụ. Trang Tụ hiền chấp
thuận, trước lúc Huyền Từ và các Cao Tăng kịp hỗ trợ.
- Toàn
Quán Thanh mớm lời, và Đinh lãøo quái sai sử, Trang Tụ Hiền
đã thách Huyền Từ phương trượng đấu để định ngôi
minh chủ võ lâm. Dù đã cạn lời phân trần thị phi, Trang
Tụ Hiền vẫn khăng khăng quyết đấu, Huyền Từ bèn tuyên
bố sử dụng Đại Kim Cương Quyền của Thiếu Lâm, để đọ
với Hàng Long Thập Bát Chưởng của Cái Bang.
- Trang
Tụ Hiền, không biết võ công Hàng Long, chỉ sử dụng chưởng
độc đại âm hàn. Huyền Từ hóa giải được các chiêu đầu,
nhưng dư lực còn lại cắt đứt thắt lưng của phương trượng;
quần hùng la ó rằng đó không phải là Hàng Long, mà là chiêu
thức của Tinh Tú. Vừa lúc ấy, Tiêu Phong (và 18 hảo hán
Khất Đan) kịp thấy, liền lên tiếng: "Có Hàng Long Thập
Bát Chưởng đây"; chàng xuất chưởng tấn công ngay Đinh lão
quái, dồn lão quái vào thế th? động, cứu liền A Tử, giao
cho Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc...
- Nhiều
môn nhân Cái Bang mừng rỡ tham kiến Tiêu Phong. Quần hùng
thì vẫn định ý Tiêu Phong là mối hiểm họa của giang hồ,
lên tiếng đòi kết liễu Tiêu Phong. Cảm thấy bất bình với
quần hùng, Đoàn Dự và Hư Trúc nhảy ra bái kiến đại sư
ca Tiêu Phong; cả ba cùng nâng cốc, rồi phân chia ứng chiến:
- Hư
Trúc quần chiến với Đinh lão quái; Tiêu Phong kịch đấu
với Trang Tụ Hiền và Mộ Dung Phục (một đấu hai); 18 hảo
hán Khất Đan thì bảo vệ Đoàn Dự.
- Hư
Trúc thì vững thế thượng phong. Tiêu phong luôn làm chủ trận
thế. Sợ kéo dài tình trạng "một chọi hai" sẽ bất lợi,
Đoàn Dự bước vào cố làm phân tâm Mộ Dung Phục; chàng
bị Mộ Dung Phục khống chế, rất nguy kịch. Đoàn Chính Thuần
can thiệp bị trúng chiêu của Mộ Dung Phục, đổ máu; Đoàn
Dự tức khí nóng lòng cứu cha khiến thần kiếm Lục Mạch
cuồn cuộn tuôn trào; chàng liên miên tấn công áp đảo Mộ
Dung Phục, đánh gảy nhiều khí giới của Mộ Dung, ép Mộ
Dung vào tử địa...
41.2.
Ý kiến
- Hồi
41 là hồi kịch chiến của quần hào trong thiên hạ đủ các
phái tà, chính: tất cả tụ về Thiếu Lâm tự dồn toàn lực
vào một trận chiến quyết định tồn vong ác liệt nhất;
tất cả mâu thuẫn, âm mưu đều được đưa ra ánh sáng công
lý; tất cả võ công chính, tà đều có dịp thử thách sức
mạnh. Hồi truyện này giúp độc giả thấy rõ ưu thế của
các quan niệm cũ, mới về giá trị, về chánh, tà biểu hiện
qua các nhân vật tiêu biểu.
- Mưu
mô độc ác phản phúc, chỉ nhằm phục vụ tham vọng cá nhân
mà Đinh Xuân Thu, đã sửa soạn cả cuộc đời đã đến hồi
sụp đổ đầy bi đát!
- Các
tâm thức đại tà của Toàn Quán Thanh, Mộ Dung Phục từng
hiện rõ bộ mặt thật khiến quần hùng chán ghét.
- Các
tâm lý cố chấp, cái nhìn thiển cận của một số đông
quần hào có dịp cảm thấy ngỡ ngàng xét lại.
- Nổi
bật nhất là ba huynh đệ kết nghĩa Tiêu Phong, Hư Trúc và
Đoàn Dự chiến đấu để bảo vệ chính nghĩa, điều thiện,
lẽ phải, lòng nhân ái, mà tuyệt nhiên không vì tư dục hay
hận thù. Họ vượt qua sự chấp thủ khác biệt về tuổi
tác, địa vị xã hội, quốc độ và cả các loại võ công,
vì thế mà nội lực của họ ào ạt tuôn trào bất tận đổ
vào các chiêu thức mà họ sử dụng, hàng phục các sức mạnh
khác của quần hào. Đấy là ba chàng "Ngự Lâm Pháo Thủ"
của văn hóa nhà Chùa mà tác giả muốn giới thiệu, phải
chăng?
Hồi
42 : GIẢ CHẾT CHỜ THỜI PHỤC QUỐC
CÕI
THIỀN NẶNG NƠI PHU THÊ
42.1.
Lược truyện
-
Hư Trúc thì đang chế ngự các chiêu thức của Đinh lão quái.
- Tiêu
Phong đã đánh gãy cặp dò Trang Tụ Hiền (Du Thản Chi) đang
nằm lăn dưới đất. Chàng trở qua theo dõi trận chiến của
Đoàn Dự.
- Đoàn
Dự nghe lời chỉ điểm của Tiêu Phong chỉ liên tục sử
dụng một chỉ kiếm Thiếu Thương, đã dần dần dồn Mộ
Dung Phục tựa lưng vào một gốc cây, mất hẳn sức phòng
thủ, mặt trở nên xám xanh. Đoàn Dự chuyển qua xuất Thương
Dương Kiếm, kiếm khí vô hình, mau lẹ, đến độ Tiêu Phong
nghĩ rằng nếu chàng ở vào chỗ Mộ Dung Phục, chàng cũng
đành bó tay chờ chết. Thấy thậm nguy, Vương Ngữ Yên buột
miệng cầu xin Đoàn Dự "hạ thủ lưu tình". Đoàn Dự không
muốn thấy Vương Ngữ Yên đau khổ, nên vội vàng thu hồi
chỉ kiếm.
- Lần
đầu tiên chịu thất bại quá ê chề, nhục nhã, Mộ Dung
Phục không muốn sống nữa, chàng phóng cả người và phán
quan bút về phía Đoàn Dự để được kết liễu. Đoàn Dự
không nỡ hại, lách mình tránh và bị phán quan bút ghim vào
bả vai, máu đổ... Tiêu Phong liền phóng chưởng nhấc bổng
Mộ Dung và ném chàng ra xa mấy trượng... Mộ Dung rút bảo
đao ra để tự vẫn, thì liền có một luồng sáng bay tới
đánh văng đao... rồi có tiếng nói nhắc nhở Mộ Dung Phục
về sự nghiệp phục quốc Đại Yên, giúp chàng trấn tỉnh...
- Đoàn
cung nhân Linh Thứu đến; Cúc Kiếm ném bầu nước lã cho Hư
Trúc để phóng "sinh tử phù". Chưởng độc phong của lão
quái theo những hạt nước rơi bắn vào Cúc Kiếm khiến nàng
ngất lịm... Hư Trúc tung "sinh tử phù" phong tỏa bảy huyệt
đạo quan trọng trên người lão quái, khiến ông ta ngứa ngáy,
đau đớn không thể chịu nổi, bức cả áo mặc và chòm râu
bạc...
- Huyền
Từ lên tiếng bảo Hư Trúc giải khổ cho lão quái... Hư Trúc
cho lão quái giải dược và cứu tỉnh Cúc Kiếm.
- Đinh
lão quái mất hết kiêu khí, uy phong, người run lẩy bẩy...
Các môn nhân thì thiết tha xin gia nhập cung Linh Thứu...
- Cưu
Ma Trí nhắc Huyền Từ tiếp tục gia hình Hư Trúc. Hư Trúc
để mình trần chịu đòn phạt...
- Nhìn
thấy chín chấm đỏ trên lưng Hư Trúc, Diệp Nhị Nương nhận
ra Hư Trúc là con đẻ của bà, bà nhảy vào nói rõ tự sự
cho Hư Trúc biết... Hai mẹ con nhìn nhận nhau chi xiết vui mừng!
- Vào
lúc ấy, Tiêu Viễn Sơn (người áo đen, bố đẻ của Tiêu
Phong) lên tiếng nói rõ trước quần hào: Huyền Từ phương
trượng, "Thủ lĩnh đại ca", là cha ruột của Hư Trúc. Ông
đã bắt cóc Hư Trúc năm lên một, đem để ở vườn rau của
chùa Thiếu Lâm, diễn hệt tấn tuồng Huyền Khổ gửi Kiều
Tam Hòe nuôi nấng Tiêu Phong.
- Huyền
Từ nhận lỗi lầm của mình thời trẻ, an ủi Diệp Nhị
Nương và Hư Trúc, rồi truyền lệnh y luật gia hình mình hai
trăm trượng, không được vị nể...
- Các
việc làm trong bóng tối của Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn
đều được phơi bày:
+ Mộ
Dung Bác là thủ phạm tung tin thất thiệt gây ra vụ án Nhạn
Môn Quan.
+ Tiêu
Viễn Sơn là người giết Huyền Khổ, ông bà Kiều Tam Hòe,
Bạch Thế Kính, Triệu Tiền Tôn ... những người đã tham
gia vụ thảm sát Nhạn Môn Quan.
- Sau
khi chịu hình, Huyền Từ phương trượng, an nhiên "nhắm mắt"...
nhiều người đến nghiêng mình bên thi thể phương trượng...
- Diệp
Nhị Nương tự sát cạnh thi thể Huyền Từ...
- Hư
Trúc khóc vật vã!
42.2.
Ý kiến
- Tại
hồi 42, dưới chân núi Thiếu Thất, là thời điểm rất quyết
định của giang hồ đương thời: hoặc là giang hồ bẻ gãy
được một số nhân tố gây sóng gió, hoặc là giang hồ trở
nên rối rắm nghiệt ngã hơn.
Chiến
thắng của Hư Trúc trước Đinh lão quái, của Tiêu Phong trước
Trang Tụ Hiền, và của Đoàn Dự trước Mộ Dung Phục là
chiến thắng của giang hồ chính phái, và của độc giả đang
mải mê theo dõi cục diện: chừng nào sự sống còn có ý
nghĩa của khát vọng thanh bình, an lạc, công bằng và hạnh
phúc, thì lực lượng ma giáo, tà vạy luôn luôn bị đẩy
lùi, như kết quả trận chiến xung đột giữa sáng, tối xảy
ra ở Thiếu Lâm. Kết quả ấy hầu như hoàn toàn (hay phần
lớn) phụ thuộc vào tư duy và nỗ lực hành động của chính
phái, là tác dụng mà giáo lý nhà Phật nhắm đến và nhắc
nhở người đời rằng con người hãy làm chủ cái nghiệp
của mình. Đây là phần cộng nghiệp (nghiệp chung của tập
thể, xã hội). Bên cạnh cộng nghiệp, mỗi hành động của
cá nhân còn dẫn đến một hậu quả khác gọi là biệt nghiệp
(nghiệp của mỗi người riêng rẽ). Phần hậu quả này có
hai mặt mà cá nhân nhận chịu: một để lại trong tâm thức
mình vừa làm ray rứt hay gây phấn khởi tâm lý, vừa là chủng
tử (hạt giống) để phát sinh ra kết quả ở đời sau; một
chịu phản ứng tâm lý và hành động của các cá nhân khác
và xã hội trong kiếp hiện sinh.
- Bi
kịch thì xảy đến ở cả hai cánh chánh, tà. Đấy là cuộc
sống. Điểm khác biệt của chánh, tà là: cánh tà luôn hành
động vì động cơ dục vọng, tham vọng, sân hận, vị kỷ
vô bờ; cánh chánh thì luôn hành động theo đạo lý, theo sự
dẫn dắt của tình người, lòng nhân ái, vị tha và vì sự
an lành của tập thể, số đông.
- Bi
kịch đến với Huyền Từ phương trượng Thiếu Lâm thì ngậm
ngùi nhất, là sự kiện đáng suy gẩm, nhất là các tư duy
về giá trị, đạo đức: cần có tư duy mới về giá trị
đạo đức sinh động hơn là tư duy có tính công thức của
văn hóa cũ. Cái sai lầm một lần ở thời trai trẻ của Huyền
Từ cần được tách khỏi các việc làm đúng và tốt về
sau của người, cần được tách khỏi các việc làm của
một phương trượng (danh dự của một phương trượng), tách
khỏi danh dự của Thiếu Lâm Tự - một việc liên hệ tình
cảm với Diệp Nhị Nương; một liên hệ đến sự vụ phục
kích ở Nhạn Môn Quan, do Mộ Dung Bác tung tin thất thiệt -
và nhất là cần được tách khỏi ảnh hưởng của giáo lý
nhà Phật. Chính quyết định chịu hình phạt đòn đến chết
của Huyền Từ là quyết định của một phương trượng,
nhưng đấy là những gì chỉ phù hợp với cái nhìn của xã
hội đương thời, mà không phải là phù hợp với cái nhìn
của giáo lý giải thoát. Chỉ có nụ cười đọng lại trên
môi của Huyền Từ khi chết là cái gì ấy của một Thiền
sư Phật giáo, rất Phật giáo! Một số quần hùng đến nghiêng
mình bên thi thể Huyền Từ là nghiêng mình trước gương mặt
và nụ cười thanh thản ấy. Bi kịch tại đây không còn là
bi kịch nữa, mà là cái đã làm sáng rực lên nụ cười giải
thoát trên môi người. Đây mới thật sự là tư tưởng của
tác giả ở ngoài ngôn ngữ của các dòng truyện?
Hồi
43 : MỘT ĐỜI MỘNG BÁ VƯƠNG
CÙNG
TRỞ VỀ CÁT BỤI
43.1.
Lược truyện
-
Bao Bất Đồng báo cho các trưởng lão Cái Bang biết vụ thảm
sát nhiều bang nhân Cái Bang gần đây là do lệnh của Trang
Tụ Hiền; Trang Tụ Hiền bảo đó là lệnh của Toàn Quán
Thanh. Việc thứ hai thì Bao Bất Đồng cứ nói vòng vo, không
nói đích thật sự việc: đó chính là tin Tây Hạ kén Phò
mã, chọn anh hùng bốn phương.
- Toàn
Quán Thanh lại dẽo mồm thuyết phục các đại sư Thiếu Lâm
và các trưởng lão Cái Bang cùng đứng ra chủ trì đại cuộc
tiêu diệt Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong để trừ bớt họa
cho đại Tống, và ông ta đã thành công.
- Đoàn
cung nhân Linh Thứu, Hư Trúc và đám môn nhân Tính Tú Hải
thì bảo vệ an toàn cho 18 hảo hán Khất Đan. Hư Trúc đề
nghị để cho Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong ra đi, rồi chàng
sẽ bàn bạc sau. Hư Trúc hứa sẽ đứng ngoài, không phản
công quần hùng Thiếu Lâm và Cái Bang.
Đoàn
Dự thì đi theo quần hùng để phòng cần yểm trợ Tiêu Phong
lúc nguy biến...
- Tất
cả đều đổ ra phía sau núi Thiếu Thất, nơi địa thế hiểm
trở, thì thấy một vị sư già, áo lam thuộc hàng tu sĩ quét
tước phục dịch trong chùa, đang thuyết pháp; trước mặt
nhà sư thì có bố con Tiêu Viễn Sơn, bố con Mộ Dung Bác,
hai vị Hồ Tăng Triết La Tinh và Ba La Tinh và cả Cưu Ma Trí
đứng gần, các Khách Tăng và các sư hàng chữ Huyền đang
quỳ gối, cúi đầu, chắp tay, rũ mày nghe Pháp. Lời Pháp
vang đến là:
"Phật
tức thị Tâm; Tâm tức thị Phật; Tâm minh mới thấy Phật,
thấy Phật mới minh Tâm" (tr.144, tập IX). Hẳn là trước đó
nhà sư áo lam đã thị hiện thần thông về võ thuật và trí
tuệ mới thu phục được đám người anh hùng trên.
- Vốn
Mộ Dung Bác bị Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong rượt đuổi để
tiêu diệt; rồi Mộ Dung Phục và Cưu Ma Trí tiếp đến. Hai
bên sau khi đấu vài chưởng thì Mộ Dung Bác mới nói rõ tự
sự về sự nghiệp phục hưng nước Yên, cầu mong Khất Đan
liên kết Tây Hạ, Thổ Phồn đánh Tống để Mộ Dung Phục
có dịp phục yên; ông ta sẵn sàng chịu ngồi yên để Tiêu
Viễn Sơn đánh chết để rửa hận. Tiêu Phong phản đối,
cho rằng việc ấy sẽ làm khổ muôn dân, trăm họ của các
nước, chỉ nhất mực đòi trừ khử Mộ Dung Bác. Nhà sư
áo lam đứng cạnh cửa sổ nghe rõ tất cả, bèn lên tiếng
ca ngợi Tiêu Phong quả là một anh hùng có tâm Bồ tát.
- Nhà
sư áo lam hiển oai thần võ và nói pháp thức tỉnh Tiêu Viễn
Sơn và Mộ Dung Bác, hóa giải mộng bá đồ vương và báo
phục thê cừu.
- Khi
Đoàn Dự đi ngang qua chỗ Cưu Ma Trí thì bị Cưu Ma Trí đánh
lén ngất đi. Tiêu Phong cứu chàng đưa về ngôi nhà Kiều
Tam Hòe để dưỡng thương...
43.2.
Ý kiến
- Nhà
sư áo lam:
Một
vị sư già, ốm đã sống phục vụ trong Thiếu Lâm Tự hơn
40 năm; hằng ngày chỉ quét lá và lau dọn ở Tàng Kinh Các;
chỉ là hàng sư thấp thỏi ở dưới cả hàng chữ Hư; sống
lặng lẽ nhưng đã rất thông tuệ, có thiền định sâu, võ
công siêu tuyệt không lường; tỏ tường 72 huyền công của
Thiếu Lâm; biết rõ từng nhân vật trong hàng lãnh đạo của
Thiếu Lâm đã hành đúng, sai thế nào, và đã từng góp ý
cho một số lãnh đạo mà không được tiếp thu; biết rõ
hành tung của Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung Bác, Triết La Tinh đã
đánh cắp bí pháp như thế nào, ở ẩn luyện công như thế
nào, và bị phản tác dụng như thế nào (một hình thức tẩu
hỏa); biết rõ Cưu Ma Trí luyện võ phái Tiêu Dao và mạo nhận
là 72 huyền công của Thiếu Lâm như thế nào; nhà sư đã
chữa trị lành thân bệnh và tâm bệnh cho Tiêu Viễn Sơn và
Mộ Dung Bác giúp họ tỉnh ngộ Phật Pháp; nhà sư đã trân
trọng ngợi khen Tiêu Phong có tâm lớn của kẻ anh hùng của
một Bồ tát ... Thế mà nhà sư vẫn lặng lẽ ở ngoài các
trận thư hùng xảy ra ở Thiếu Lâm trong hồi truyện 43 này;
chỉ xuất hiện đúng lúc (khế thời), nói đúng pháp (khế
lý) chữa trị đúng thân bệnh và tâm bệnh (khế cơ). Danh
dự của chùa Thiếu Lâm là ở đây; tỏa sáng giới đức,
định đức và tuệ đức của Thiếu Lâm là ở đây; và Phật
giáo Trung Nguyên là ở đây; tợ như bí pháp Lăng Ba Vi Bộ
và Bắc Minh Thần Công là ở trong Vô Lượng động mà chẳng
phải ở ngoài vô lượng phái rộn ràng thị phi - Thật quả
là "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" cái tướng chẳng
nói lên được gì bao nhiêu về cái tâm, cái chân. Người
đời mãi chạy theo cái tướng để phải rơi vào từ sai lầm
này đến sai lầm khác. Hãy lắng nghe tiếng Pháp vọng ra từ
nhà sư áo lam lặng lẽ và khiêm tốn ấy:
- Khi
nghe Tiêu Phong phản đối lời yêu cầu kết hợp giữa Liêu,
Hạ và Thổ Phồn để đánh Tống rằng:
"...
Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại
tướng hết lòng chống cự thì Đại Liêu và Thổ Phồn có
hợp lực chiến đấu may ra nếu thắng được, cũng phải
máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ
Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng yên quốc. Việc kiến công
lập nghiệp cần nhất là phải giữ đất yên dân, ngươi
có biết không?"
(tr.159,
tập IX)
Nhà
sư áo lam liền khen: "Thiện tai, thiện tai! Tiêu cư sĩ nổi
từ tâm, thương xót lê dân thiên hạ, đúng là lòng dạ Bồ
tát" (tr.159)
- Về
Mộ Dung Bác; nhà sư nói:
"Mộ
Dung cư sĩ vốn thuộc giòng họ Tiên Ty, nhưng ở đất Giang
Nam đã mấy đời. Lúc đầu lão tưởng cư sĩ đã hấp thụ
được văn hóa Nam triều, ngờ đâu cư sĩ lại lẽn vào Tàng
kinh các, đem những lý thuyết về Thiền tông cùng ngữ lục
truyền đời của các vị cao tăng mà coi như đồ bỏ, tìm
được cuốn Niêm Hoa chỉ Pháp mà tưởng chừng như vớ được
đồ chi bảo. Hai vị cư sĩ đều là cao nhân đương thời
mà cũng có hành động ngu muội bỏ vật quý lấy vật hèn.
Hởi ôi! Hành động ấy làm hại người khác mà lại chẳng
ích gì cho mình".
(tr.
161, tập IX)
Các
võ công của Thiếu Lâm, chỉ là pháp phương tiện để luyện
tập cơ thể, ngăn ngừa ác nhân hại đời, mà không phải
là Chánh Pháp, Phật Pháp, theo lời sư. Nhà sư có lần đã
đặt cuốn Kinh Pháp Hoa vào chỗ các huyền công hầu để
Tiêu cư sĩ đọc mà tỉnh ngộ, thế mà cư sĩ chỉ chọn sách
võ công! Võ công chỉ trừ được thân bệnh và địch nhân
tức thời ở ngoài, còn Phật pháp thì trừ được phiền
não bên trong, trừ được cái nhân muôn đời của sinh tử,
khổ đau. Nắm Chánh Pháp, vì thế, là trí tuệ. Nắm võ công
thì quả là mê muội!
- Lời
sư dạy "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật" quả là diệu pháp
của Thiền tông Trung Nguyên. Phật ấy là thật pháp Vô ngã
pháp. Tâm ấy là chân tâm là thật pháp vô ngã. Thế nên,
"Tâm minh mới thấy Phật", "Thấy Phật mới minh Tâm". Thấy
Phật, thấy Tâm là thấy rõ sự thật vô ngã tính của thực
tại. Đây là linh hồn của Phật pháp, của văn hóa Phật
Giáo. Chính linh hồn vô ngã ấy đi vào văn hóa hữu ngã để
xóa mờ dần đi các nhân tố gây nên rối loạn và bất an
cho cá nhân và xã hội, có tác dụng như thời Pháp của nhà
sư quét lá chùa Thiếu Lâm đã thức tỉnh Mộ Dung Bác đi
ra khỏi mộng bá đồ vương, và thức tỉnh Tiêu Viễn Sơn
đi ra khỏi cái tâm phục báo thê cừu: cả hai người trong
30 năm qua đã giết hại rất nhiều người, và đã gây nên
bao khiếp hải, sóng gió trên cõi giang hồ.
Hồi
44. ĐỪNG XÂY MỘNG ĐẸP MÀ CHI
TRĂM
NĂM CHẲNG CÓ DUYÊN GÌ VỚI NHAU
44.1.
Lược truyện
-
Đoàn Dự nằm dưỡng thương ở nhà Kiều Tam Hòe - Chung Linh
theo dấu Đoàn Dự đến chăm sóc.
- A
Tử và Du Thản Chi cũng đi vào nhà lão Kiều để nghỉ chân.
Đang lời qua tiếng lại, do A Tử đòi móc mắt Chung Linh, thì
Tiêu Phong, Hư Trúc và bốn nữ kiếm trở về.
- Tiêu
Phong dịu giọng giàn hòa với A Tử.
- Tiêu
Viễn Sơn và Mộ Dung Bác ở lại Thiếu Lâm tự, xuất gia.
- Đinh
Xuân Thu bị quản cố ở Thiếu Lâm; Hư Trúc sẽ cho lão giải
dược "sinh tử phù" hằng năm...
- Lan
kiếm báo cho mọi người biết Mộ Dung Phục, Vương Ngữ Yên
và các anh hùng nhà Mộ Dung lên đường đi Tây Hạ, mà Hư
Trúc bảo là dự lễ kén phò mã.
- Đoàn
Dự, Hư Trúc, Tiêu Phong và các cung nhân, A Tử, Du Thản Chi
trở về cung Linh Thứu, trên đường đi Tây Hạ. Đoàn Dự
đề nghị đi thăm Tây Hạ một phen... Tiêu Phong tán thành...
- Hư
Trúc chữa thương cho Du Thản Chi...
- Ba
Thiên Thạch trao đến Đoàn Dự thư của Đoàn Hoàng gia bảo
chàng đi Tây hạ tham dự việc tuyển phò mã để mở rộng
bang giao...
- Hai
cao thủ Thổ Phồn chặn đường các chàng trai trẻ đi Linh
Châu, Tây Hạ, gây thương tích nhiều ứng viên...
Đoàn
Dự, trong lúc tranh cải với cao thủ Thổ Phồn bị hai chàng
chụp tay nắm giữ; Đoàn Dự vận Bắc Minh Thần Công thu hết
nội lực của hai người, hạ gục đối phương...
- Tất
cả tiếp tục nhắm hướng hoàng cung Tây Hạ tiến...
44.2.
Ý kiến
- Cuộc
sống là một tương quan nhân duyên, luôn luôn nảy sinh các
sự việc mới. Bước qua khỏi cuộc xung trận ở Thiếu Lâm,
ba huynh đệ Tiêu Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự lại lao vào Tây
Hạ, nơi kén lương duyên, nhưng lại hội tụ về các tham
vọng, mưu đồ chính trị, ngoại giao, kéo theo các tranh chấp
lớn ...
- Các
"vấn đề" đang ở trước mắt mà quần hào sẽ phải đối
mặt trong hồi truyện 45: sự việc ở Trung Nguyên và Tây Hạ,
Đại Lý, Thổ Phồn, Khất Đan đều ràng buộc chằng chịt
nhau; chuyện nơi này cũng có ảnh hưởng đến nơi xa xăm khác...
Hồi
45 : ĐÁY GIẾNG KHÔ HAI LÒNG HÒA NHỊP
CHỐN
BÙN LẦY HẸN ƯỚC CHUNG THÂN
45.1.
Lược truyện
-
Thất vọng vì Mộ Dung Phục quyết tranh Phò mã mà xem thường
mình, nhất là chàng chỉ lo khôi phục Đại Yên mà không để
ý đến tình riêng, Vương Ngữ Yên ở trên mỏm núi gieo mình
xuống vực sâu tự vẫn, vừa lúc Đoàn Diên Khánh, Nam Hải
Ngạc Thần và Vân Trung Hạc đang dạo bước quanh đó; Vận
Trung Hạc phóng đến kịp nắm được tay Ngữ Yên, cả hai
sắp rơi xuống vực; Nam Hải Ngạc Thần tiếp cứu, rồi Đoàn
Diên Khánh tiếp tay kéo 3 người lên, một mặt phóng gậy
sắt mắc vào một cành tùng lớn để giữ lại. Một tay Thổ
Phồn lực lưỡng đang xách búa đẵng cây cho bốn người
rơi xuống vực...
Đoàn
Dự, Hư Trúc, Du Thản Chi, Tiêu Phong đến hàng phục tay Thổ
Phồn để tiếp cứu. Du Thản Chi ngăn lại, bảo vệ tay Phổ
Phồn, ra điều kiện với Đoàn Dự hãy để Du Thản Chi và
A Tử đi con đường riêng thì mới chịu cứu... Đoàn Dự
đồng ý... Vương Ngữ Yên được cứu, nhưng lòng thì vô
cùng sầu muộn.
Tất
cả vào thành Linh Châu, ổn định chỗ nghỉ cho toàn đoàn
...
- Vương
Ngữ Yên đang đêm ra ngồi ở bờ hồ thổn thức. Đoàn Dự
lo lắng tìm đến, chọn lời an ủi... Vương Ngữ Yên bấy
giờ mới chịu giải bày tâm sự. Đoàn Dự rất trân trọng
tình cảm của Vương Ngữ Yên, chỉ biểu lộ hết lòng quan
tâm đến niềm vui, nổi buồn của nàng. Lần đầu tiên Ngữ
Yên nắm tay Đoàn Dự chân thành nói "Đoàn công tử: " Kiếp
này Ngữ Yên không thể báo đáp cho công tử được, xin hẹn
kiếp sau". Rồi nghẹn ngào...
- Đoàn
Dự, lại trong đêm, đi ra ngoài xem chừng; chàng bị Mộ Dung
Phục chờ sẵn điểm huyệt chàng rồi ném chàng xuống một
cái giếng cạn gần đó hầu trừ bớt một địch thủ nguy
hiểm có thể cản đường đến phò mã của Mộ Dung...
Vương
Ngữ Yên nghe có tiếng gọi tên mình liền chạy đến giếng
cạn - thật ra nàng đã trông thấy và nghe rõ lời qua tiếng
lại giữa Mộ Dung và Đoàn Dự. Nàng trao đổi ít lời với
Mộ Dung, thấy rõ thái độ tàn độc và lạnh nhạt của chàng,
bất giác nàng kêu khóc Đoàn Dự và nhảy xuống giếng cạn
đi theo chàng qua bên kia thế giới... Đáy giếng bỏ hoang nhiều
năm chứa toàn bùn và lá khô, nhờ thế Đoàn Dự và Ngữ
Yên chỉ ngất một lúc rồi tỉnh, không bị thương tích gì.
Hai người ngồi nghỉ dựa lưng vào thành giếng, tâm tình:
cả hai đã bộc lộ mối chân tình, sẽ mãi ở cạnh nhau,
không để bất cứ nhân duyên gì chia cắt nữa...
- Sư
Cưu Ma Trí hướng dẫn Thái tử Thổ Phồn đến Tây Hạ quyết
đoạt ngôi Phò mã. Sư hành quân rất quy mô để loại bỏ
các đối thủ đáng gờm. Từ khi biết rõ Mộ Dung Bác tặng
72 huyền công Thiếu Lâm cho sư là cố ý hại sư, sư đã có
cái nhìn khác về nhà Mộ Dung. Sư theo dõi Mộ Dung Phục tối
nay, đã nghe và thấy rõ toàn cảnh xử sự ác hại của Mộ
Dung, Sư ra mặt buộc Mộ Dung từ bỏ ý định tranh cướp
ngôi Phò mã Tây Hạ. Mộ Dung quyết không chịu; Sư liền nhanh
tay phong tỏa các huyệt đạo của Mộ Dung, rồi ném chàng
xuống đáy giếng, và sai thuộc hạ khiêng đá tảng che bít
miệng giếng.
- Bất
ngờ, tập sách Dịch Cân Kinh rơi theo Mộ Dung, Sư vội vàng
nhảy theo để giữ lại. Bây giờ "cơn tẩu hỏa" bộc phát,
Sư không vận được nội công, nên cũng bị rơi bịch xuống
đáy giếng như Mộ Dung...
- Vừa
định thần, nghe ra tiếng Đoàn Dự, Sư nhảy đến tóm cổ
Đoàn Dự, định bóp chết chàng... Mộ Dung Phục bấm tay vào
kẻ gạch để trườn lên miệng giếng, để mặc ba người
kia dằn co...
45.2.
Ý kiến
- Trước
cái chết cấp kỳ, người ta chỉ có phản xạ cấp cứu mà
không kịp suy nghĩ, và hẳn do không suy nghĩ mà không có thị
phi.
Hình
ảnh Vân Trung Hạc, Nam Hải Ngạc Thần, Đoàn Diên Khánh, rồi
Đoàn Dự, Hư Trúc... chỉ hành động cứu nạn cứu khổ mà
không còn bận tâm lập luận, tranh cải, thị phi gì, là một
bài học về kinh nghiệm tâm thức quý báu. Nếu con người
có cái nhìn cấp cứu chính cuộc đời mình, hay cấp cứu
tập thể, xã hội, trước cuộc vô thường, khổ đau, thì
tâm thức sẽ dễ dàng vượt lên trên các tranh chấp, thị
phi, vượt ra khỏi hận tâm và hành động rửa hận. Hình
ảnh trên tác giả đã khéo tả, thực sự là hình ảnh rất
văn học và rất triết học! Các nhát búa của tay lực sĩ
Thổ Phồn chặt vào gốc tùng cho toán bốn người rơi xuống
vực thẳm hiện ra như là những nhát búa đang chặt vào tư
duy thị phi của con người.
- Cưu
Ma Trí rủa ngầm nhà sư áo lam rằng:
"Thằng
trọc già kia nói mình gắng gượng luyện 72 tuyệt kỹ phái
Thiếu Lâm, chướng khí tích lại gây ra mầm họa. Sau đó
lại luyện môn Dịch Cân Kinh, chân khí trong người đảo lộn
và đại họa sắp đến nơi. Chẳng lẽ... chẳng lẽ thằng
trọc già đó nói đúng ư?".
(tr.289,
tập IX)
Thực
tế, bảy mươi hai Huyền Công là để hàng phục các thế
võ nguy hiểm trong thiên hạ, sức mạnh của chúng dễ dàng
gây thương tích hay tử vong đối phương. Người sử dụng
chúng, luyện tập chúng thì cần tu tập lòng từ, nhân ái,
hiệp nghĩa trước thì mới có thể chế ngự ác tâm, sân
tâm và hại tâm; nếu không, thì các hận tâm, sân tâm, hại
tâm, tánh nóng vội được nuôi dưỡng, phát triển ngày một
mạnh hơn. Đây gọi là chướng khí phát tác các bệnh về
thân và về tâm.
Khi
tu tập Dịch Cân Kinh, điều cốt yếu là tâm bình, khí hòa,
định tỉnh và đầy lòng từ bi thì mới thành công, vô hại.
Với tâm sân, tâm tham, tâm kiêu, tâm hại, người tập luyện
sẽ đi vào rối loạn tâm lý, kinh mạch đảo lộn. Do vậy,
với tâm chân chính thì luyện võ cũng là cách tu tập tâm.
Người tu tập tâm tốt thì võ nghệ sẽ tuyệt luân, điển
hình như nhà sư áo lam quét tước giữ Tàng Kinh Các mà tâm
giải thoát và tuệ giải thoát rất sâu, võ nghệ thì biến
hóa khôn lường.
- Truyện
ghi:
"Người
theo Phật Giáo phải quán được thân thể chỉ là một cái
túi thối tha, sắc là vô thường, vô thường là khổ, thân
không phải là bản ngã, phải biết chán ghét mà rời xa".
(tr.305,
tập IX)
Lời
ghi trên của tác giả rất phù hợp với giáo lý nhà Phật.
Thấy thân thể xú uế thì lòng tham dục về thân sắc sẽ
lặn mất; lòng tham dục lặn, thì tâm lý vị kỷ, chấp ngã
sẽ lặn dần theo; tâm lý vị tha, khoan dung phát khởi.
Không
chỉ nhìn bề trái của thân sắc đẹp, mà cần phải nhìn
bề trái của các cảm thọ, các tưởng nghĩ, các tác ý ưa,
ghét, các thấy biết từ tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý,
thì tâm sẽ rời xa cái dục vọng sẽ từ bi, định tỉnh,
tuệ sẽ tỏa sáng. Cái nhìn ấy được gọi là cái nhìn trí
tuệ hay nhìn với trí tuệ, có năng lực loại bỏ phiền não
cho tự thân, và tích cực hành thiện đem lại an vui, hạnh
phúc cho tập thể.
Về
võ học, cái nhìn trên sẽ tạo nên một tâm lý rất thuận
cho công phu tập luyện Dịch Cân Kinh và 72 Huyền Công của
Thiếu Lâm, tiêu biểu như trường hợp của Tiêu Phong, Hư
Trúc và Đoàn Dự.
- Giác
ngộ dưới đáy giếng bùn lầy:
Sư
Cưu Ma Trí là vị sư thông minh thông tỏ giáo lý, ý chí tập
luyện cao, tham vọng thành tựu lớn, nhưng thiếu cái chân
tâm và cái thật tuệ. Tánh kiêu mạn và ham muốn vô độ
của sư về võ thuật đã dung dưỡng các ác tâm, hại tâm,
sân tâm dẫn đến "chướng khí tẩu hỏa". Sư có được một
may mắn từ kiếp trước để lại, bị Bắc Minh Thần Công
của Đoàn Dự hóa tán hết nội lực, trở thành người không
có võ công. Bắc Minh Thần Công đồng thời làm tiêu chướng
khí, tiêu chứng "tẩu hỏa" giúp sư bừng tỉnh, cảm thấy
thoải mái như vừa đặt xuống một gánh nặng, mà hồi truyện
tiếp theo sẽ diễn rõ...
Hồi
46 : BA CÂU HỎI KÉN NGÔI PHÒ MÃ
46.1.
Lược truyện
-
Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, Tiêu Phong và Hư Trúc bàn việc
đi tìm Đoàn Dự. Mọi người cứ tưởng rằng Đoàn Dự cùng
Vương Ngữ Yên đi ngoạn cảnh quanh vùng.
- Mộc
Uyển Thanh hóa trang thành Đoàn Dự để đi dự yến do vua
Tây Hạ thết đãi. Tất cả tháp tùng Mộc Uyển Thanh.
- Trong
tiệc rượu, các người của Thái tử Thổ Phồn gây sự với
các cận vệ của Thái tử Đại lý một cách sỗ sàng
Phía
Thái tử Đại lý ứng phó nhẹ nhàng. Đoàn người Nhất Phẩm
Đường rất đông, tiến vào đại sảnh và nhiếp yên tất
cả.
- Sau
tiệc rượu, là tiệc trà do Công Chúa thỉnh mời ở một
sảnh đường khác: vừa thưởng trà, vừa thưởng thức nhiều
danh bút và danh họa.
- Đoàn
Dự và Vương Ngữ Yên kịp đến dự tiệc trà, đi vào đoàn
của Đại lý.
Trước
đó, ở đáy giếng, Vương Ngữ Yên hốt hoảng cứu Đoàn
Dự, đã cắn vào bả vai của Cưu Ma Trí làm thoát ra ngoài
dòng khí phong bế các huyệt đạo, khiến nội lực ông ta
bị Bắc Minh Thần Công hút sạch. Sư Cưu Trí mất hết công
lực và tiêu luôn bệnh "Tẩu hỏa" thường gây đau đớn.
Sư trở nên sáng suốt và hiền hòa, cùng Đoàn Dự và Vương
Ngữ yên bám dây ra khỏi giếng. Sư trở thành người nhàn
tản, tùy duyên du hành, hoằng dương Phật Pháp.
- Vượt
qua một ngự hoa viên, đến một tòa lầu giữa một vùng cây
cỏ, nơi đây khách dự tiệc có dịp yết kiến Công chúa
Ngân Xuyên của Tây Hạ. Sau tiệc trà, thị nữ mời khách
dưới 40 tuổi qua một thư phòng rộng để thưởng ngoạn
các danh họa và bút thiếp ...
- Đằng
sau các bức tranh là các đồ họa võ công thượng thừa của
phái Tiêu Dao. Một số người tò mò ngắm đồ họa rồi mê
mẫn, quay cuồn ... Hư Trúc báo cho Tiêu Phong biết những ai
thiếu nội lực hùng hậu xem đồ họa sẽ gặp nguy hiểm.
Tiêu Phong báo động ngừng xem đồ họa, rồi quạt tắt hết
đèn trong thư phòng, vừa chế ngự người thị nữ của công
chúa ...
- Một
cung nhân lên tiếng: Công chúa sẽ nêu ra ba câu hỏi, quý khách
nào có câu trả lời làm vừa lòng công chúa thì sẽ được
mời diện kiến.
Ba
câu hỏi đó là:
- Trong
đời quý vị, quý vị thấy nơi nào là khoái lạc nhất?
- Bình
sinh quý vị yêu ai nhất? Người đó tên là gì?
- Tướng
mạo người mà quý vị yêu ấy ra sao?
Các
ứng viên lần lượt trả lời và lần lượt được mời
qua khách phòng để nhận một bức tranh, hay thư họa làm quà.
- Đến
lượt cung nữ mời anh hùng Tiêu Phong, sau khi tiếp Mộ Dung
Phục; Hư Trúc lên tiếng Tiêu Phong đã đi mất
rồi bất
đắc dĩ ứng thí. Chàng đáp:
- Nơi
khoái lạc nhất của đời tôi là ở trong hầm nước đá
tối om.
- Tại
hạ không biết tên vị cô nương đó là gì.
- Dung
mạo nàng như thế nào, tại hạ cũng không biết nốt
...
Nghe
ba câu trả lời của Hư Trúc, mọi người đều bật cười
vang. Giữa lúc ấy một âm thanh khẽ hỏi Hư Trúc.
"Chàng
có phải là Mộng Lang chăng?"
Hư
Trúc run giọng nói:
"Nàng
... nàng là Mộng Cô đấy ư? Ta nhớ nàng đến chết được"
Hư
Trúc bước đến vài bước, đưa tay ra thì có một bàn tay
mềm mại nắm tay y và nói với âm thanh rất quen thuộc.
"Mộng
Lang! ta không tìm thấy chàng, nên phải tìm cách xin phụ hoàng
treo bảng văn, để mong chàng trở lại"
Thế
là Hư Trúc trở thành Phò Mã Tây Hạ!
- Hư
Trúc gửi một mảnh giấy báo cho Đoàn Dự biết chàng được
may mắn ngoài ý muốn ... Rất tiếc là có lỗi với Hoàng
gia ...
- Mai,
Lan Kiếm và Mộc Cô nương báo cho Đoàn Dự biết Đoàn hoàng
gia đang gặp cường địch nguy hiểm, phải lên đường gấp
để cứu viện ...
- Ba
Thiên Thạch đến từ giã viên Thượng Thư Tây Hạ, và nhập
đoàn về Đại lý tại dịch quán cách xa Linh Châu 30 dặm
để bảo toàn ...
46.2.
Ý kiến
- Giác
ngộ của quốc sư Thổ Phồn:
Sau
khi mất hết công lực, sư Cưu Ma Trí nghĩ thầm: "Như Lai dạy
dỗ Phật tử, muốn có hy vọng giải thoát thì đầu tiên
phải trừ tham, trừ ái, trừ thủ, trừ triền
Thế mà mình
chẳng trừ khử được gì, lại còn bị danh lợi buộc chặt
vào thân. Hôm nay, võ công mình mất hết, biết đâu đó chẳng
phải là Đức Thế Tôn chỉ điểm cho mình cải tà quy chính,
để được giải thoát thanh tịnh?"
(tr
28 tập X)
- Đoàn
Dự hỏi:
"Bây
giờ đại sư có quay về Thổ Phồn không?"
Sư
đáp:
"Lão
nạp muốn quay về nơi mà mình đã ra đi, không nhất thiết
là Thổ Phồn"
(tr
29, tập X)
Đoàn
Dự lại hỏi:
"Vương
tử quý quốc đang đến Tây Hạ cầu thân với công chúa,
đại sư không đợi kết quả việc này mà đã ra đi ư?"
Sư
đáp:
"Thế
ngoại nhàn nhân, sao còn mang những chuyện tục lụy trong lòng?
Từ nay lão nạp tấm thân vô định, tùy ngộ nhi an. Nơi mà
tâm an lạc, cũng là nơi mà thân an lạc".
(tr
29, Tập X)
Những
lời lẽ của sư bấy giờ đều là những lời lẽ Phật ngữ,
nghe đầy an tịnh. Khi mất hết võ công là khi mà các tham
vọng
danh lợi, cao ngạo, tự ngã sụp đỗ, bấy giờ sư thanh thản
không tham, không sân, không si, rời khỏi các nhân tố vô minh:
đây là sự hiện diện của minh tuệ cắt đứt sạch các
phiền não, khổ đau. Mất võ công và danh vọng trần tục,
nhưng sư được cái lớn hơn vạn lần: giải thoát và trí
tuệ! Đây là chỗ mà sư nói, "quay về nơi mình đã ra đi".
Quê
hương của sư bấy giờ là quê hương giải thoát có mặt
ở Thổ Phồn và ở khắp nơi. Vì thế sư đã nói, "Từ nay
lão nạp tấm thân vô định, tùy ngộ nhi an", tùy duyên mà
hành xử giúp đời.
- Vương
Ngữ Yên kết duyên với Đoàn Dự, Ngân Xuyên Công chúa hòa
điệu với Hư Trúc là thuận với tâm lý của độc giả,
vừa hợp với đạo lý nghiệp nhân nghiệp quả của nhà Phật.
Hai mỹ nhân ấy hiện ra như hai lời ca ngợi muôn thuở cái
tâm vị tha của Đoàn Dự và cái tâm vô cầu của Hư Trúc
vậy.
Hồi
47 : HOA TRÀ NỞ RỘ VÌ AI?
47.1.
Lược truyện
-
Được thám báo cho biết Đoàn Hoàng gia sẽ từ Trung Nguyên
trở về Đại lý, đi qua Thục Nam, Vương phu nhân đứng ra
tổ chức thật tốt để bẫy bắt người "bạc tình" đem
về "giam giữ" ở Mạn Đà Sơn Trang.
- Tình
báo cung Linh Thứu báo cho Đoàn hoàng gia tránh cạm bẫy đổi
lộ trình chuyển qua hướng khác. Không ngờ "tránh võ dưa
lại gặp võ dừa", Hoàng gia lại rơi vào ổ phục kích của
Đoàn Diên Khánh và bị tóm gọn.
- Đoàn
Dự và đoàn người đi theo rơi gọn vào cạm bẫy của Vương
Phu nhân tại Thục Nam, bị Túy Nhân Phong và mê dược đánh
mê, và bị trói gô chân tay.
- Kẻ
láo lường cơ hội Mộ Dung Phục bàn kế với Vương phu nhân
đem Đoàn Dự làm mồi để bẫy Đoàn hoàng gia (muốn cứu)
và Đoàn Diên Khánh (muốn giết)...
Mộ
Dung công tử bảo: nay một mặt thì bố trí Túy Nhân Phong
cùng thuốc mê, một mặt phái người đi dẫn dụ Đoàn Diên
Khánh... Vừa dứt câu nói thì Đoàn Diên Khánh xuất hiện
nói:
"Chỉ
cần bố trí Túy Nhân Phong cùng thuốc mê là được".
(tr.118,
tập X)
47.2.
Ý kiến
- Đoàn
Chính Thuần thân mang trọng trách mà phóng túng trong lãnh vực
tình cảm thì rất trở ngại cho các việc lớn của hoàng
gia.
Một
hiện hữu nói chung, một mỹ nữ nói riêng, có mối liên hệ
môi sinh và xã hội chằng chịt, vì thế đã đem đến cho
Hoàng gia biết bao là rắc rối, rắc rối ở hồi 47 và 48
có lẽ là rắc rối sau cùng mà Hoàng gia để lại cho hậu
thế bài học rất đắc giá và rất quý giá rằng: Lòng khát
ái thì vui ít khổ nhiều; và sự thật của một hiện hữu
không phải là chính nó, mà là các nhân các duyên sinh khởi
ra nó. Thấy như vậy để hành xử thích đáng. Đây là cái
nhìn và hành xử theo tinh thần Phật giáo được lồng vào
cuộc đời tình cảm của một nhân vật.
Hồi
48 : KẺ THÙ LẠI CHÍNH LÀ CHA
ĐỨA
CON OAN NGHIỆT BÂY GIỜ LÀ VUA
48.1.
Lược truyện
-
Đoàn Diên Khánh đến. Phong Ba Aùc, Công Dã Càn, Đặng Bách
Xuyên, Bao Bất Đồng và Mộ Dung Phục hợp đánh mà vẫn ở
thế hạ phong. Chế ngự được Phong Ba Ác , Đoàn Diên Khánh
tha chết. Mộ Dung Phục bèn ra hiệu dừng kiếm để trao đổi.
Mộ Dung Phục nói rõ đã bắt được Đoàn Dự, mong hai bên
hợp tác để sắp đặt Đoàn Diên Khánh lên ngôi vua, còn
Mộ Dung Phục về sau sẽ xin viện trợ quân sự để phục
hưng nước Đại Yên.
- Đoàn
Diên Khánh, thuận tình, bảo Nam Hải Ngạc Thần dẫn nhóm
người Đoàn Chính Thuần, đã bị điểm huyệt, vào nhà của
Vương phu nhân để tiếp tục thương nghị. Nhóm người bị
điểm huyệt bao gồm: Đao Bạch Phượng, Cam Bảo Bảo, Nguyễn
Tinh Trúc, Tần Hồng Miên, Phạm Hoa, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn
Chi và Đoàn Chính Thuần.
- Đoàn
Chính Thuần ngạc nhiên thấy mặt Vương phu nhân đang bảo
đem Đoàn Dự ra để Đoàn Diên Khánh nhận diện.
- Mộ
Dung Phục dối trá, vu khống Đoàn Dự đã làm ô uế Vương
Ngữ Yên khiến Vương phu nhân nổi khùng đấm đá Đoàn Dự...
- Nam
Hải Ngạc Thần đến cứu Đoàn Dự, sư phụ của ông, bị
Đoàn Diên Khánh đánh chết. Đoàn Diên Khánh đưa gậy lên
định giết luôn Đoàn Dự, thì vừa nghe có tiếng nói của
Đao Bạch Phượng khéo nhắc lại "hoạt cảnh" giao hợp giữa
ông ta và bà (mà ông đinh ninh là Bồ tát áo trắng) hai mươi
năm về trước, ông liền ngưng tay nhìn lại gương mặt Đoàn
Dự biết là con đẻ của mình, ông sững sốt...
- Mộ
Dung Phục, ác hiểm hơn, ném Bi Tô Thanh Phong để làm tê liệt
Đoàn Diên Khánh và mọi người, và ra điều kiện; Đoàn Chính
Thuần phải đăng quang trong vòng hai tháng tới; Đoàn Diên
Khánh nhận anh ta làm con nuôi...
- Phong
Ba Ác phản đối tính toán ấy của Mộ Dung Phục liền bị
chàng giết. Ba huynh đệ còn lại ôm xác bạn khóc rồi lặng
lẽ ra đi, đi xa...
- Đoàn
Chính Thuần không chịu nghe theo, Mộ Dung Phục lần lượt
giết bà Nguyễn Tinh Trúc, Cam Bảo Bảo, Vương phu nhân. Đến
lượt Đao Bạch Phượng, Đoàn Dự thức tỉnh ra khỏi tình
cảm tuyệt vọng, nội lực cuồn cuồn tuôn trào, bức được
dây trói, phóng Lục Mạch Thần kiếm cứu mẹ. Chàng đánh
gãy vụn kiếm của Mộ Dung Phục và đả thương chàng ở
bả vai, khá nặng; Mộ Dung Phục khiếp vía chạy trốn...
- Hiểu
rõ sự tình, Đoàn Chính Thuần vận công lấy kiếm tự vẫn,
nằm cạnh các tình nhân, cho trọn tình chung thủy.
- Đoàn
Dự định phóng chỉ kiếm giết Đoàn Diên Khánh thì bà Đao
Bạch Phượng kịp can ngăn, bảo Đoàn Dự đến gần, bà nói
rõ câu chuyện, bảo chàng giữ kín, về Đại Lý làm một
vị vua tốt, rồi bất giác bà cũng rút kiếm tự vẫn, nằm
cạnh phu quân Đoàn Chính Thuần...
Đoàn
Dự ôm xác bố, mẹ khóc nức nở...
Đoàn
Diên Khánh lòng cảm thấy phấn khởi, được an ủi và ra
đi, đi xa mãi...
- Mai
kiếm và Lan kiếm đến báo tin Hư Trúc đã chính thức làm
phò mã Tây Hạ...
- Đoàn
Dự và các đại thần Đại lý lo an táng, khâm liệm, và rước
linh cửu về hoàng cung...
- Giữa
đường về, nhóm Ba Thiên Thạch và Vương Ngữ Yên mới hồi
tỉnh khỏi ảnh hưởng của Túy Nhân Phong...
- Đến
nội cung, Đoàn Chính Minh và Đoàn Dự khóc rất đau đớn.
Đoàn
Dự tâu nhà vua về sự thật chàng là con đẻ của Đoàn Diên
Khánh và xin lệnh vua cho chàng rời khỏi hoàng thành. Nhà vua
bảo giữ kín chuyện. Vua đã xuất gia, nay truyền ngôi báu
cho Đoàn Dự, dặn dò bảo toàn danh dự cho song thân, thương
dân và biết nghe các lời can gián... không nên vọng động
binh đao...
48.2.
Ý kiến
- Về
một vị vua:
Theo
truyền thống của giáo lý nhà Phật, qua các kinh liên hệ
Chuyển Luân Thánh Vương, nhà vua phải có khả năng, rất đạo
đức, trị dân theo chánh đạo, hy sinh vì dân, trọng nhân
tài... nếu Đoàn Diên Khánh hiểu biết đạo lý này thì đã
không rơi vào từ sai lầm này đến sai lầm khác, và đã không
tạo ra nhiều bi kịch cho Hoàng gia. Thái độ của Đoàn Chính
Minh và Đoàn Dự là một thái độ nhận thức mới phù hợp
với đạo lý nhà Phật, không chấp thủ về huyết thống,
tộc hệ, mà chỉ vì an lạc hạnh phúc của toàn dân. Đây
là một cái nhìn mới về yêu cầu ở một nhà lãnh đạo
mà Thiên Long Bát Bộ giới thiệu.
- Về
nhân vật Hoàng gia Đoàn Chính Thuần, ông là người đa tài,
đa năng và đa tình, là một nhà ngoại giao có tầm nhìn rộng,
có nhiều năng lực. Gác lại các nhận định về cuộc đời
tình cảm của ông, mà chỉ nhìn về khía cạnh "nhân duyên"
ràng buộc các hiện hữu, bạn đọc sẽ thấy rằng:
- Nếu
không vì an ninh của Đại lý và của Đoàn Hoàng gia, thì Đoàn
Chính Thuần sẽ không cưới Đao Bạch Phượng.
- Nếu
không cưới Đao Bạch Phượng, thì Đoàn Chính Thuần sẽ không
bị ràng buộc vào phong tục một vợ một chồng.
- Nếu
không bị ràng buộc vào tập quán khắt khe ấy, Đoàn Hoàng
gia sẽ không gặp rắc rối về các vụ tình duyên, do có thể
dễ dàng sắp đặt thuận thảo giữa các bà phu nhân Đại
lý hay dị tộc... Đấy là ý nghĩa:
"Cái
này sanh thì cái kia sanh
Cái
này diệt thì cái kia diệt"
của
giáo lý Duyên Khởi của Phật Giáo.
- Mộ
Dung Phục là một điển hình của "đại tà". Anh ta vận dụng
mọi thủ đoạn, và xem tất cả xã hội là công cụ của
anh ta để thỏa mãn các tham vọng cá nhân. Đấy là một suy
nghĩ rất sai lầm, đi ngược với đạo lý, tình người...
Kết quả là, dù rất thông minh tài ba, dù dốc cạn hết năng
lực và ý chí để thực hiện ý đồ cá nhân, anh ta vẫn
phải chịu khổ thê thảm hơn cái chết: điên loạn.
Thiên
Long Bát Bộ cho thấy đó là con đường hại mình, hại người,
hại xã hội, cần được khóa chặt lại. Qua đó, Thiên Long
Bát Bộ còn cho thấy văn hóa Phật giáo không phải chỉ là
văn hóa của giải thoát cá nhân, mà còn là văn hóa xây dựng
và phát triển một xã hội tốt đẹp, ổn định lâu dài,
trong mối tương quan rộng rãi khu vực và quốc tế.
Hồi
49 : SỐNG CHẾT CHẲNG QUA LÀ GIẤC MỘNG
SÁ
GÌ PHÚ QUÝ VỚI VINH HOA
49.1.
Lược truyện
-
Ở Đại Lý, Đoàn Chính Minh chính thức truyền ngôi báu cho
Đoàn Dự. Cùng lúc, ở Đại Tống cách xa mấy nghìn dặm
về phía Bắc, Thái hoàng thái hậu Cao Thị băng hà, Triệu
Hú, mới lên 18 tuổi, trực tiếp chấp chính thi hành "biến
pháp" của Vương An Thạch, bạc đãi hai vị trọng thần là
Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt (tể tướng), giáng xuống
làm quan nhỏ ở Châu, Huyện.
- Gia
Luật Hồng Cơ, vua Khất Đan, nhân cơ hội cử Nam Viện Đại
Vương Tiêu Phong hưng binh Chinh Nam phạt Tống. Tiêu Phong sợ
trăm họ hai nước điêu linh, can gián nhà vua không được,
xin treo ấn từ quan (lặng lẽ trốn đi). Hay tin, Gia Luật Hồng
Cơ và Mục quý phi đánh độc dược bắt giam ngục Tiêu Phong,
tiếp tục điều binh đánh Tống.
- Tiêu
Phong giục A Tử trốn về Trung Nguyên. Lúc giải Tiêu Phong
và A Tử đi qua cầu, A Tử phóng mình xuống dòng sông, lặn
mất... rồi về Trung Nguyên cấp báo cho Ngô trưởng lão, Hư
Trúc, Đoàn Dự...
49.2.
Ý kiến
- Gia
Luật Hồng Cơ luôn luyện tập quân sĩ, sẵn sàng cho cuộc
Nam Chinh, nhòm ngó đến giang sơn trù phú của Đại Tống.
Tiêu
Phong thì chỉ lo nghĩ bảo vệ biên cương vững chắc, lo cho
muôn dân thái bình, hạnh phúc. Liêu, Tống không xâm phạm
lẫn nhau.
Ở
chùa Thiếu Lâm, một lần Tiêu Phong cũng đã phát biểu như
thế, và được nhà sư áo lam ca ngợi là Tiêu Phong có tấm
lòng của Bồ tát. Đó là cách hành xử đúng đắn và phù
hợp với văn hóa Phật giáo. Đoàn Dự và Hư Trúc có cùng
cách hành xử như thế.
Nếu
phóng tầm nhìn ra thế giới, lùi về vài nghìn năm lịch sử
trong quá khứ, thì bạn đọc sẽ phát hiện ra một sự thật
rằng: các triều đại chủ trương xâm lược đều là các
triều đại gắn liền với tôn giáo khác Phật giáo. Đây
là điều đáng được thời đại suy ngẫm!
Hồi
50 : TRUNG NGHĨA KHÓ TOÀN ĐÀNH TỰ VẪN
THÂN
TÀN CHƯA TỈNH MỘNG QUÂN VƯƠNG
50.1.
Lược truyện
-
Gia Luật Hồng Cơ hạ lệnh giam Tiêu Phong. Ngự Doanh chỉ huy
sứ giam chàng trong chiếc cũi sắt lớn, xích tay chân. Bên
ngoài cũi có 100 dũng sĩ với trường thương canh giữ ngày
đêm.
- Chàng
được phục vụ cơm, rượu đầy đủ. Suốt một tháng, ngày
nào cũng có thuyết khách đến thuyết phục chàng chấp hành
lệnh chinh Nam. Chàng một mực từ khước.
- Một
hôm A Tử cải dạng làm một lính canh vào báo cho Tiêu Phong
biết sẵn sàng đã có cứu viện. Rồi tức thì mở đầu
các đợt tấn công: độc xà trận... A Tử nhân lúc quân canh
rối loạn, nàng đến chặt đứt dây sắt và song sắt bằng
bảo kiếm.
- Hoa
Hách Cấn đào địa đạo vào và đón Tiêu Phong theo địa
đạo ra ngoài.
- Đoàn
quân Cái Bang, Thiếu Lâm, Linh Thứu và Đại lý hợp sức mở
đường ra khỏi thành, đi về Nhạn Môn Quan. Quân của bộ
tộc Nữ Chân thiện chiến, anh dũng cũng đến.
- Quân
giữ thành bị tổn thất nhiều, phía quần hùng cứu viện
thì tổn thất ít.
- Tướng
Tống giữ thành ở Nhạn Môn Quan đóng chặt cửa thành, không
cho quần hùng vào lánh. Quân của Gia Luật Hồng Cơ bao vây
chặt. Gia Luật Hồng Cơ giáp mặt Tiêu Phong nói những lời
mĩa mai. Hư Trúc và Đoàn Dự nhanh như chớp với tuyệt vời
võ công phi đến bắt sống liền Gia Luật Hồng Cơ. Tiêu Phong
xin nhà vua hạ lệnh lui quân, trọn đời không xâm lấn đất
Đại Tống, chàng sẽ bảo đảm an toàn cho nhà vua và các
tướng sĩ. Gia Luật Hồng Cơ miễn cưỡng chấp thuận.
- Gia
Luật Hồng Cơ vừa quay lưng, Tiêu Phong đã tự sát để tỏ
lòng trung với Khất Đan, và lòng Nhân đối với Đại Tống.
A Tử kéo thi thể Tiêu Phong đến bờ vực, rồi ôm nhảy xuống
vực thẳm mà chết...
- Hư
Trúc, Đoàn Dự quỳ lạy trước vực thẳm rồi vượt núi
mà đi.
- Tướng
giữ ải dâng sớ về triều kể công đã giết được Nam
Viện Đại Vương Tiêu Phong, và xua quân Gia Luật Hồng Cơ
về nước.
- Đoàn
Dự trở về Đại Lý, triều thần và Vương Ngữ Yên ra đến
tận biên cương để đón tân vương.
Trên
đường hồi triều, hai người chứng kiến cảnh ngộ: A Bích
đang phân phát kẹo cho lũ trẻ con; Mộ Dung Phục thì ra lệnh
cho lũ trẻ tung hô vạn tuế, vạn vạn tuế...
Biết
chẳng thể nào thay đổi được gì, Đoàn Dự và Vương Ngữ
Yên lặng lẽ đi, không nén nổi đau lòng.
50.2.
Ý kiến
Cho
đến khi Ngô trưởng lão Cái bang, sau đi được A Tử cấp
báo, cho thám báo qua nước Liêu thăm dò biết rõ sự thật
Tiêu Phong đang bị giam cầm vì cái tội phản đối cuộc chinh
phạt Đại Tống mới dám tin. Lòng sững sốt đầy nỗi ăn
năn! Trưởng lão cho Bang chúng truyền tin rất nhanh đi khắp
nơi, triệu tập quần hào đi giải cứu. Thiếu lâm chi xiết
ngậm ngùi, nhiều đại sư lên đường cứu viện. Đoàn Dự...
Hư Trúc với Cung Linh Thứu và quần hào của 36 động, 72 đảo
chúa đều vội vã lên đường...
Xa
rồi những lo âu của Huyền Khổ đại sư, của tiền bang
chủ Cái Bang, của Huyền Từ Phương Trượng, của Trí Quang
đại Sư, và của nhiều quần hùng!
Gia
Luật Hồng Cơ giam giữ Tiêu Phong vào ngục đã giúp cho toàn
anh hùng Trung Nguyên thức tỉnh, tan hết nghi tâm, làm sống
lại trọn vẹn giá trị chân thật anh hùng trong sáng và hào
sảng của chàng: hình ảnh Tiêu Phong được phóng lớn vô
cùng, còn hình ảnh của quần hùng Trung Nguyên thì thu nhỏ
lại, rất bé nhỏ! Tất cả giá trị anh hùng, nghĩa hiệp,
trung thực được sống dậy, và tất cả sự hư đối, u ám,
tiểu tâm đều nhất thời tan biến: đó là hình ảnh quần
hùng Trung Nguyên, Linh Thứu, Đại Lý, Nữ Chân ào ạt đổ
vào nước Liêu để giải cứu Tiêu Phong: Thế là Tiêu Phong
đã trở thành bất diệt, ở ngoài cái sống và cái chết.
Thế nên, sau khi ép Gia Luật Hồng Cơ tuyên bố lui binh và
không xâm phạm bờ cõi Đại Tống lâu dài về sau trong triều
đại của người, Tiêu Phong đã không còn ngần ngại bóc
rõ trái tim Khất Đan của chàng ra cho nhà vua và nhân dân Khất
Đan thấy: Chàng sống và chết đều vì nhân dân Khất Đan
và Nhân dân Đại Tống, vì lẽ công chính, nhân ái, vì an
lạc, hạnh phúc của mọi người. Chỉ là con người, hà tất
phải gọi thêm từ ngữ Khất Đan hay Đại Tống. Đấy là
trái tim của con người vậy!