Hồi
31 : NÁT ÓC TÍNH CỜ ĐÀNH TỰ TỬ
VÔ
TÂM ĐI ẨU ĐƯỢC THẦN CÔNG
31.
1. Lược truyện
-
Thông Biện Tiên Sinh, sư phụ của nhóm Bát hữu, đang tiếp
cờ với các kỳ thủ trên giang hồ tại trú xứ của ông.
Tiên sinh cho người xuống núi đón Đinh Xuân Thu, và theo xe
Đinh Xuân Thu, lên núi. Tiên sinh sẵn sàng ứng chiến với
Đinh lão quái.
- Thông
Biện trân trọng chào đón mọi người, rồi thản nhiên tiếp
tục ván cờ với Đoàn Dự. Tiên sinh khen ngợi mười mấy
nước cờ đầu của Đoàn Dự: vừa nghiêm mật, vừa cao vời.
Nhưng tiên sinh lại tiếc rẻ thấy chàng sắp lâm vào thế
bí, do nặng tình thương không nở hi sinh các quân cờ trắng.
- Thông
Biện nói rõ cho những người hiện diện biết về sự khinh
sư diệt tổ của Đinh lão quái.
- Phạm
Bạch Linh tiếp cờ, chỉ sau vài nước là thổ huyết; Thông
Biện kịp cứu giải.
- Mộ
Dung Phục, với sư Cưu Ma Trí và Vương Ngữ yên đi theo, đi
vào trận cờ Trân Lung với tâm kiêu mạn và hiếu thắng.
Nước cờ của công tử rất sát phạt, thí cờ bất tử.
Chàng sớm đi vào bế tắt, suy nghĩ lao lung. Đinh lão quái
đứng cạnh dùng thuật thôi miên kích động tâm lý khiến
chàng tức trí rút kiếm tự vẫn. Đoàn Dự hốt hoảng phóng
thần Kiếm Lục Mạch đánh rơi kiếm của công tử, kịp cứu.
Mộ Dung Phục đi ra khỏi cơn mê...
- Đoàn
Diên Khánh, tay rất cao cờ trong hàng kỳ thủ, vào cuộc. Ông
lại rơi vào nước bí của Mộ Dung Phục. Đinh lão quái lại
thôi miên sai sử ông quay đầu gậy sắt đâm vào cổ mình
tự vẫn. Hư Trúc hét lớn, nhanh tay vô tâm đặt xuống một
quân cờ trắng để thức tỉnh ông. Quân cờ đi vào tử vị,
nhưng bất ngờ phá được thế trận Trân Lung. Đoàn Diên
Khánh kịp tỉnh trí, bèn dùng pháp truyền âm nhập mật mách
các nước tiếp theo cho Hư Trúc kết thúc chiến thắng cuộc
cờ. Mọi người đều tỏ bày sự ngưỡng mộ Hư Trúc.
- Thông
Biện Tiên sinh dẫn Hư Trúc đi vào căn nhà không có cửa,
gợi ý cho Hư Trúc phá vách để vào. Có một âm thanh lạ
hướng dẫn chàng đi đến một mật thất yết kiến Vô Nhai
Tử, tổ sư chưởng môn phái Tiêu Dao. Hư Trúc theo lệnh làm
lễ bái sư; được chưởng môn truyền cho bảy mươi năm nội
công và trao chiếc nhẫn chưởng môn. Vô Nhai Tử nói cho Hư
Trúc nghe hết các bí mật của phái Tiêu Dao; dặn dò giữ
theo mình một tấm đồ hình và tìm gặp một nhân vật của
bổn phái để tiếp tục phát huy võ công đến cực điểm,
nhiên hậu trừ khử tên phản đồ Đinh Xuân Thu để trừ
họa cho giang hồ.
Dặn
dò xong, Vô Nhai Tử nhập định mà hóa.
Hư
Trúc tần ngần trở lại bàn cờ...
31.2.
Ý kiến
- Cánh
phản đồ Đinh lão quái là cánh mặt dày mày dạn, hủy hoại
lương tâm, gây họa cho giang hồ.
- Đoàn
Dự, với tâm thuần lương, dù rơi vào thế cờ bí vẫn thanh
thản, tự tại.
- Mộ
Dung Phục, với tà tưởng, rơi vào thế cờ bí thì tức trí
liền tự vẫn.
- Đoàn
Diên Khánh, đầy hận tâm, đi vào tuyệt lộ hẳn là phải
vong mạng, nếu Hư Trúc không kịp cứu.
- Hư
Trúc, với tâm nhân từ, vô dục, vô chấp nên mở ra được
thế giải: cờ đi vào thế tử mà lại sinh. Có lẽ đây là
nước cờ Văn hóa nhân văn của vô ngã, vô dục của nhà
Phật?
- Việc
chọn truyền nhân cho phái Tiêu Dao, với trí tuệ tác giả
đã cân nhắc kỷ mở ra thế trận Trân Lung, chờ đến ba
mươi năm sau mới hội đủ duyên lành chọn lựa:
- Đinh
lão quái thì đại gian đại ác chỉ có thể bị trừ khử,
mà không phải là đối tượng chọn lựa.
- Tô
Tinh Hà thì lương thiện, đa tài, đa năng, nhưng còn hữu niệm
nên khó có thể phát triển đến cao điểm các võ công thượng
thừa của Tiêu Dao để lợi lạc cho xã hội.
- Hư
Trúc thì vô dục, vô niệm, giàu lòng nhân từ, không tham ái,
không cố chấp là thích hợp được chọn làm truyền nhân.
Thật sự vô cầu mà được!
Hồi
32 : NGƯỜI CÂM TRỔ TÀI HÙNG BIỆN
NHÀ
SƯ LÃNH PHÁI TIÊU DAO
32.1.
Lược truyện
-
Vừa ra khỏi mật thất, Hư Trúc chứng kiến ngay một trận
thư hùng: Tô Tinh Hà đang tử chiến với Đinh lão quái. Tô
Tinh Hà đang dồn hết nội lực đẩy đám lửa mà lão quái
xua đến, sắp thiêu cháy tiên sinh. Tiên sinh quỵ ngã. Hư Trúc
vội vàng đỡ lưng tiên sinh; bảy mươi năm công lực Tiêu
Dao liền chảy qua người tiên sinh khiến tiên sinh khỏe hẳn
đẩy ra chưởng phong cuồn cuộn cuốn về Đinh lão quái đốt
cháy râu và áo của lão quái; lão hoảng hốt kêu cứu Du Thản
Chi mau xuất hàn phong chưởng để dập tắt lửa, rồi tuôn
chạy...
- Nhìn
thấy nội lực Hư Trúc vô cùng hùng hậu, và chiếc nhẫn
chưởng môn trên tay chàng, Thông Biện tiên sinh đã hình dung
ra mọi chuyện... Tiên sinh kéo Hư Trúc trở lại mật thất
để đảnh lễ di thể sư phụ, ra mắt tân chưởng môn, dặn
dò Hư Trúc và chỉ bày cho Hư Trúc cách vận công để chửa
thương cho quầân hùng...
- Thông
Biện tiên sinh và Huyền Nạn đại sư do bị nhiễm độc rất
nặng chỉ trong chốc lát sau sẽ hóa.
- Bát
hữu làm lễ ra mắt tân chưởng môn và xin được phục hồi
danh nghĩa môn nhân của Tiêu Dao. Hư Trúc hứa khả
Bên
ngoài, quần hùng lần lượt xuống núi ...
- Hư
Trúc đi tìm các sư Thiếu Lâm, lại gặp Đinh Lão quái và
A Tử (cải nam trang) cùng Mộ Dung Phục trong một phạn điếm.
Lão quái không biết Hư Trúc là truyền nhân của phái Tiêu
Dao nên có thái độ vô sự với chàng. Hư Trúc thì lánh mặt
lão.
- A
Tử đang bị lão quái tra vấn về chiếc "mộc đỉnh" của
bang phái để luyện Hóa Công Đại Pháp, thì Mộ Dung Phục
tìm đến để rửa hận về vụ Lão quái cố ý hại công
tử và các huynh đệ của công tử.
32.2.
Ý kiến
- Nhờ
có sức mạnh chân chính của Hư Trúc, trận huyết chiến giữa
Thông Biện tiên sinh và Tinh Tú lão quái mới được giải
giáp.
Sức
mạnh chân chính là sức mạnh vượt lên trên sức mạnh tranh
chấp thị, phi; là sức mạnh trừ hại. Hệt như chân tâm
thì siêu vượt các thiện tâm và ác tâm; nó là vô niệm.
Đó là sức mạnh của tiểu tăng Hư Trúc, rất thực!
Hồi
33 : ĐẨU CHUYỂN TINH DI
TRẤN
ÁP HỒ QUẦN, CẨU ĐẢNG
33.1.
Lược truyện
-
Vừa giáp mặt nhau ở phạn điếm, Đinh lão quái và Mộ Dung
Phục đã rõ lòng nhau. Bên ngoài thì tỏ vẻ xả giao, bên
trong thì ngầm xuất thủ tấn công nhau.
- Lão
quái lặng lẽ phóng bột vô sắc Tam Tiếu Tiêu Dao Tán. Mộ
Dung xuất chiêu Đẩu Chuyển Tinh Di chuyển độc phấn qua một
tên môn đồ của lão quái khiến hắn ta cười ba lượt rồi
ngả ra chết.
Lão
quái lại vận kình đẩy cốc rượu mời Mộ Dung. Công tử
thổi hơi chuyển cốc rượu đến một tên môn đồ khác,
tên này chết không kịp hé lời.
Lão
quái lại mời công tử cốc rượu thứ hai, tự ông đưa đến
chỗ ngồi của công tử; Mộ Dung rít một hơi làm rượu bay
thành vòng lên không đi vào miệng tên môn đồ thứ ba, tên
này gục ngã không kịp trối.
- Lão
quái trở nên bực bội, xuất chiêu Hóa Công Đại Pháp liên
tục tấn công công tử. Mộ Dung chỉ né đòn, mà không tiếp
chiêu. Lão quái dở ngụy kế đánh lừa, Mộ Dung mất cảnh
giác trong một thoáng liền bị bắt một tay hút vào Đại
Pháp Hóa Công; công tử liền liên tiếp kéo từng tên môn
đồ Tinh Tú Hải đang đứng vòng quanh thế chỗ hóa tán nội
lực của chàng. Thấy A Tử tụ thủ bàng quan, Lão quái phóng
một chiếc đũa làm mù mắt nàng để trừng phạt; thừa thế
bị phân lực, công tử chuyển mạnh Đẩu Chuyển Tinh Di thoát
khỏi Hóa Công, lẹ chân tẩu thoát - Mộ Dung một phen hú vía!
- Du
Thản Chi thấy A Tử đau đớn, liền bồng nàng phóng như bay
trốn thoát.
- Toàn
Quán Thanh phát hiện võ công đặc biệt của Du Thản Chi, đã
giúp chàng gỡ chiếc mặt sắt, ổn định tâm lý, hầu kết
nạp chàng vào Cái Bang để lợi dụng về sau.
- Các
đại hộ pháp Đại Lý đi điều tra ở Yến Tử Ổ và khám
phá quan tài của Mộ Dung Bác trống không: ông ta đã trá tử.
- Nhóm
người Mộ Dung, sau vài ngày dưỡng thương, lên đường và
lạc vào hang ổ của Vạn Tiên Đại Hội của 36 động và
72 đảo chúa... Xung đột đao kiếm xảy ra khá ác liệt. Toàn
nhóm bị vây chặt, Vương Ngữ yên bị bắt...
33.2.
Ý kiến
- Cuộc
đọ sức giữa Đinh lão quái và Mộ Dung Phục là cuộc đọ
sức điển hình của hai lực lượng ác tà: chỉ có bạo động,
dục vọng, sân hận, tàn sát ở đây. Chỉ có tiếng nói phi
nhân và hủy diệt ở đây. Nó gây kinh hải cho đời. Nó là
động lực làm bung dậy các mong ước thiết tha cái thiện
và nỗ lực xây dựng văn hóa nhân văn, phải chăng?
Hồi
34 : NÚI PHIÊU DIỂU MÂY DỒN GIÓ GIẬT
34.1.
Lược truyện
-
Nhóm Vạn Tiên Đại Hội dọa giết Vương Ngữ yên để uy
hiếp Mộ Dung Phục, nhưng chàng nhất mực phản công, không
chịu hạ kiếm.
- Đoàn
Dự vì nhớ nhung đã lần theo bước đi của Vương Ngữ yên,
giữ một khoảng cách vừa đủ để theo dõi. Lúc nàng bị
bức hiếp, chàng liền hành Lăng Ba Vi Bộ phóng tới và xuất
thần kiếm Lục Mạch cứu nàng. Chàng cõng Vương Ngữ Yên,
do nàng bị điểm huyệt, rồi đến gần Mộ Dung công tử
để nàng quan sát chiêu kiếm hầu có thể nhắc nhở.
- Bất
Bình Đạo Nhân yêu cầu các bên ngưng chiến để kịp chữa
độc thương cho hai phía. Tất cả nghe theo. Đạo nhân đề
nghị cùng kết bạn, và buộc Tang Thổ Công trao thuốc giải.
Đoạn ông gợi ý cho Ô Lão Đại, người triệu tập đại
hội, mời Mộ Dung công tử hợp tác để đối phó Thiên Sơn
Đồng Mỗ, kẻ đã buộc 36 động và 72 đảo chúa làm nô
lệ cho bà nhiều năm qua. Mộ Dung Phục chấp nhận lời mời
với ý đồ là sẽ nhờ đám quần hào này giúp chàng khôi
phục Đại yên ngày sau.
- Mộ
Dung Phục giới thiệu Đoàn Dự là thái tử Đại Lý giữa
khi Đoàn Dự hờ hững trước lời mời, do đang tư lự vì
ý nghĩ rằng chàng sẽ không có hi vọng gần gũi Vương Ngữ
yên trong tương lai. Đạo Nhân và Ô Lão Đại, tính vốn kiêu
ngạo, định trừng phạt Đoàn Dự một cách kín đáo: Ô Lão
Đại nắm chặt bàn tay Đoàn Dự và siết mạnh. Đạo Nhân
thì nắm tay chàng để truyền độc ngứa. Bắc Minh Thần Công
và Mãng Cổ Chu Cáp trong người Đoàn Dự đã vô hiệu hóa
độc ngứa và hóa tán nội lực người, khiến hai người
ơi ới la: "Ôi! Ngươi dùng Hóa Công Đại Pháp". Mộ Dung Phục
nhắc nhở khéo, Đoàn Dự sực tỉnh thu về Thần Công.
- Ô
Lão Đại kể tội Thiên Sơn Đồng Mỗ và Cung Linh Thứu, và
hô hào quần hùng đi trừ khử ngay. Ô Lão Đại cho biết hiện
Đồng Mỗ đang ở vào thời gian ngọa bệnh, hãy thừa cơ
tấn công gấp.
Mộ
Dung Phục ủng hộ kế hoạch tấn công. Đoàn Dự thì phản
đối, cho rằng hành động thừa cơ là thiếu chính khí.
34.2.
Ý kiến
- Vạn
Tiên Đại Hội Chống Thiên Sơn Đồng Mỗ cũng là tà chống
tà. Tại đây chỉ nói đến sức mạnh, thủ đoạn, mà không
nói đến chính nghĩa, bởi thiếu công chính và lòng nhân ái.
Nhưng cũng chính tại đây khát vọng tình người và điều
thiện hiện ra rõ hơn bất cứ nơi nào khác.
- Khi
thấy Vương Ngữ yên nhìn Mộ Dung rất thiết tha, Đoàn Dự
than thầm:
"Chẳng
bao giờ nàng muốn mình nâng đỡ nữa rồi. Trong cõi trời
đất này ta còn sinh thú gì nữa đâu? Thôi, ta thà về Đại
Lý, từ đây quyết không nhìn mặt nàng nữa. Hởi ôi! Ta về
chùa Thiên Long xuất gia đầu Phật, quy y dưới tòa Khô Vinh
đại sư ... Từ đây quán thân bất tịnh, rửa sạch lục
căn, không nhiễm bụi trần..."
(tr.206,
tập VII)
Khi
phấn chấn, Đoàn Dự không quên làm việc thiện theo giáo
lý nhà Phật. Khi tình cảm đi vào chỗ hầu như tuyệt vọng,
chàng vẫn không quên hướng về Thiên Long tự, hướng về
nếp sống ở ngoài dục vọng và thị phi. Đây là nếp sống
nhìn rõ mặt trái của thân sắc để dập tắt lòng ham muốn
các sắc tướng; nhìn rõ mặt trái thanh, hương, vị, xúc và
tư tưởng - ảnh tượng, để rửa sạch tham, sân, si khởi
lên từ chúng.
Lời
than của Đoàn Dự như là một sự phản tỉnh trở về các
dòng Kinh Phật.
Hồi
35 : CỨU ĐỒNG MỖ, TIỂU TĂNG PHẠM GIỚI
35.1.
Lược truyện
-
Ô Lão Đại nói về kế hoạch đánh cung Linh Thứu, núi Phiêu
Diễu. Ông cho biết về sự vắng mặt của Thiên Sơn Đồng
Mỗ, và việc ông bắt về, từ cung Linh Thứu, một cô bé
chừng chín tuổi, vừa câm, vừa điếc. Ông bảo dẫn cô gái
ra thích huyết để tuyên thệ tấn công.
- Lưỡi
đao đầu tiên của Ô Lão Đại sắp chém xuống cô bé thì
Đoàn Dự phóng thần kiếm để cứu nàng, nhưng kiếm khí
bị nghẽn. Hư Trúc đang ẩn mình gần đó thương tâm liền
cắp cô bé vụt chạy lên núi.
Ô
Lão Đại quyết rượt bắt để bảo toàn bí mật kế hoạch
tấn công.
- Hư
Trúc càng chạy càng bỏ xa Ô Lão Đại và Bất Bình Đạo
Nhân. Cô bé trong bao vải, vốn là Thiên Sơn Đồng Mỗ, lên
tiếng chỉ bảo Hư Trúc cách vận khí để phi hành qua các
cành cây, không để lại dấu vết. Trên núi cao, Đồng Mỗ
bảo Hư Trúc giết thú cho bà hút máu, và cho chàng có thịt
để ăn. Hư Trúc lớn tiếng phản đối, giúp Ô Lão Đại
và Đạo Nhân phát hiện hai người; họ bèn cùng với vài
cao thủ vây đánh Hư Trúc. Đồng Mỗ chỉ cách cho Hư Trúc
vận Bắc Minh chân khí ném ra hai nắm hạt tùng đánh chết
Đạo Nhân và các cao thủ, gây thương tích nặng cho Ô Lão
Đại. An động chúa nhờ khổ người thấp bé nên thoát chết,
ném khí giới chạy thục mạng.
- Hư
Trúc, theo lời chỉ điểm của Đồng Mỗ, vận khí đưa hai
người lên vùng núi cao hơn, thoát khỏi tầm tấn công của
quần hào. Đồng Mỗ dùng linh dược cứu sống Ô Lão Đại
để sai khiến; dạy Hư Trúc thêm võ công đủ để tự vệ
an toàn dù gặp phải đại cao thủ.
- Hằng
ngày Đồng Mỗ uống huyết tươi của loài động vật để
luyện môn nội công cao nhất của cung Linh Thứu: Bát Hoang
Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn. Sau một tuần lễ thì Đồng Mỗ
đã có công lực của cô gái 18 tuổi, dù chiều cao không phát
triển.
- Bà
vốn là sư tỉ của Vô Nhai Tử, nay tuổi thật đã là 96,
là địch thủ bất cộng đái thiên của người sư muội.
Người sư muội đang lùng kiếm bà để rửa hận.
35.2.
Ý kiến
- Giới
luật được Thiên Long Bát Bộ bàn đến là giới luật thuộc
bộ phái phát triển Phật giáo, hay gọi là Đại thừa, gồm
giới của Tỷ kheo (250 giới), giới của Bồ tát (58 giới)
- Thập nhân cũng là hạnh của Bồ tát hành các ba - la - mật
khá rành rẽ.
(tr.264
- 265, tập VII)
- Về
căn bản của đường tu phạm hạnh, tác giả đã phát biểu
qua lời lẽ của tiểu Tăng Hư Trúc:
"Đệ
tử nhà Phật lấy từ bi làm căn bản, lấy phổ độ chúng
sinh làm tâm nguyện, cốt sao cho minh tâm kiến tánh. Còn luyện
võ công được cao thâm cũng là hay, mà luyện chẳng tới đâu
thì cũng không ngại gì đến việc tu thành chánh quả. Kẻ
tu hành không thể chuyên tâm luyện võ mà xao lãng việc chính
yếu là tu tâm dưỡng tính"
(tr.294,
tập VII)
Lời
lẽ đã nói đủ hạnh tu chân chánh của Phật giáo là tự
độ song hành với độ tha để mình và người đều minh tâm
kiến tánh, đắc được trí tuệ giải thoát, cái trí tuệ
thấy rõ sự thật của vạn hữu và chặt đứt sạch mọi
phiền não khổ đau. Lời lẽ Hư Trúc đã phản ảnh trung thực
giáo lý nhà Phật.
- Khi
Hư Trúc đang vướng ngại, chấp thủ cái tướng tiểu cô
nương và đại cô nương, thì mường tượng nhớ đến một
lời kinh Kim Cương rằng: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư
vọng" (cái gì có tướng tức là hư vọng). Lời kinh này nhất
thời giúp Hư Trúc đi ra khỏi cái tâm vướng ngại về cái
tướng cô gái nhỏ, cô gái lớn để tự tại hơn trong học
hỏi và cứu giúp Đồng Mỗ.
Hồi
36 : BÓNG HỒNG ĐÃ KHÉP CỬA THIỀN
36.1.
Lược truyện
-
Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy là tỉ muội đồng môn.
Đồng Mỗ là sư tỉ của Vô Nhai Tử, người đương kim chưởng
môn phái Tiêu Dao, lớn hơn Vô Nhai Tử ba tuổi đời. Thu Thủy
là sư muội của Vô Nhai Tử, đang là Hoàng thái phi Tây Hạ.
Cả hai đều đem lòng thương yêu Vô Nhai Tử và trở thành
tình địch không đội trời chung. Cả ba đều thành tựu võ
công thượng thừa và riêng biệt.
- Đồng
Mỗ lúc luyện đến thời điểm thành tựu một võ công siêu
tuyệt thì bị Thu Thủy quấy nhiễu gây ra tẩu hỏa, cơ thể
bà không thể phát triển, chỉ ở độ tuổi 12, vì thế bà
có biệt danh là Đồng Mỗ (bà già với tấm thân trẻ con).
Đây là một mối hận lớn!
Đồng
Mỗ đã rửa hận bằng cách rạch nát gương mặt kiều diễm
của Thu Thủy, cái gương mặt đã làm lung lạc tình cảm của
Vô Nhai Tử. Hận này cùng thấm đến xương tủy, khó quên
đối với Thu Thủy. Bà mãi lùng tìm Đồng Mỗ để thanh toán
nợ nần.
- Giáp
mặt Đồng Mỗ đang trốn ở vùng núi cao, Thu Thủy bề ngoài
thơn thớt tỉ, muội, nhưng lời chào hỏi thì đến với Đồng
Mỗ như là bữa cơm cuối cùng của một tên tử tù.
- Đồng
Mỗ khoe chiếc nhẫn chưởng môn bà lấy từ Hư Trúc, và bảo
Thu Thủy làm lễ ra mắt tân chưởng môn. Thu Thủy nhanh như
chớp chặt lìa ngón tay đeo nhẫn; đoạt nhẫn về cho mình;
rồi tiện tay chặt đứt một bàn chân trái của Đồng Mỗ.
- Không
chịu nỗi sự tàn ác của Thu Thủy, con người có bề ngoài
rất văn nhã, Hư Trúc không nghĩ ngợi gì thêm, cứu Đồng
Mỗ băng chạy. Hai người bị rơi xuống một thung lũng, nhưng
thoát nạn... bèn tìm nơi lánh nạn an toàn: nơi ở của Thu
Thủy ở hoàng cung Tây Hạ, ẩn sâu dưới hầm chứa nước
đá để luyện công. Đây là thế cờ Trân Lung khác!
- Đồng
Mỗ mưu tính kế sử dụng Hư Trúc để bảo vệ bà, gạt
Hư Trúc ngã mặn, và mơ màng ngủ cùng công chúa Tây Hạ,
nhan sắc và hiền hậu, trong hầm nước đá: Bị điểm huyệt
gây mê khiến hai người có cảm nhận như gặp nhau trong mộng
và gọi tên nhau bằng Mộng Cô và Mộng Lang...
Đồng
Mỗ vừa luyện công vừa truyền dạy cho Hư Trúc cách giải
"sinh tử phù" và nhiều môn võ công thượng thừa suốt sáu
mươi ngày. Ngày cuối của công phu Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã
Độc Tôn thì Thu Thủy phát hiện tình địch ở hầm nước
đá, liền đến để rửa hận.
36.2.
Ý kiến
- Trao
đổi với Đồng Mỗ, Hư Trúc nói:
"Tiền
bối! Nhân sinh vô thường, vô thường là khổ. Người ta chịu
khổ phần nhiều là do ba cái độc tham, sân, si mà ra. Giả
sử tiền bối cố gắng tự tiêu trừ ba cái độc này, đừng
nhớ đừng hận sư đệ sư muội của tiền bối nữa, thì
trong lòng sẽ thấy dễ chịu hơn".
(tr.24,
tập VIII)
Lời
trao đổi nghe rất Phật giáo! Rất trung thực đối với giáo
lý nhà Phật, nói lên tính chất thiết thực hiện tại: an
lạc ngay trong hiện tại.
- Khi
bị hành khổ, Hư Trúc đọc lời kinh để tự tỉnh:
"Tu
đạo cực khổ, phải nghĩ kiếp trước, bỏ gốc theo ngonï,
sinh lòng yêu ghét, kiếp này không lỗi, nhưng lỗi ở kiếp
trước, sao thì phải vậy, không nên oán trách, gặp khổ chẳng
buồn, mới là đạt đạo".
(tr.35,
tập VIII)
- Biết
rõ khổ là do lòng tham lam nhiều, ham muốn nặng, nên trừ
hết lòng tham, hết ham muốn mới được tâm an:
"Người
trên thế gian, thường xuyên mê muội, không bỏ tham lam, cầu
danh cầu lợi, thiền sư giác ngộ, khác xa phàm nhân, an tịnh
cõi lòng, cảnh tùy tâm chuyển. Tam giới đều khổ, chẳng
ai được an. Kinh sách đã dạy rằng: còn cầu cạnh thì còn
khổ não, hết cầu cạnh mới được an vui".
(tr.
36, tập VIII)
- Rất
dặc biệt là về điểm tác giả Kim Dung, qua lời Hư Trúc,
đã luận về ý nghĩa phạm giới rất phù hợp với lời dạy
cua đức Phật:
"Đồng
Mỗ cười nhạt hỏi: "Người đã ăn đủ thứ thịt, nào
thỏ, nào hươu, nào hạc, nào công, thì còn thành hòa thượng
thế nào được nữa, niệm Kinh hoài làm chi?". Hư Trúc đáp:
"Tiểu tăng bị tiền bối bức bách chứ không phải tự ý
mình, không thể gọi là phá giới".
(tr.39,
tập VIII)
Hồi
37 : CÙNG CƯỜI HA HẢ MỘT TRÀNG,
CUỐI
ĐƯỜNG YÊU HẬN RÕ RÀNG LÀ KHÔNG
37.1.
Lược truyện
-
Thu Thủy dùng pháp Truyền Âm Siêu Hồn Đại Pháp để lần
tìm nơi ẩn núp của Đồng Mỗ.
- Sau
một hồi khẩu chiến, hai bà xuất liền tuyệt chiêu để
nhanh chóng đánh gục đối phương. Thu Thủy có lợi thế sức
mạnh của thân nên thắng được một chiêu, khiến Đồng
Mỗ thổ huyết. Đồng Mỗ lên tiếng xác nhận Hư Trúc là
truyền nhân của Tiêu Dao Vô Nhai Tử để khỏi bị Thu Thủy
hại, hầu tiếp tay hỗ trợ bà. Thu Thủy bồi tiếp tuyệt
chiêu để kết liễu Đồng Mỗ. Hư Trúc vội phóng chiêu bí
truyền để ngăn chặn. Đồng Mỗ lại tấn công Thu Thủy
gây thương thế nặng. Hư Trúc lại ra chiêu ngăn cản Đồng
Mỗ. Thu Thủy kịp điều khí, điểm huyệt Hư Trúc để bà
rảnh tay giết Đồng Mỗ.
- Cả
hai bà đánh nhau đến kiệt lực, lăn ra cạnh Hư Trúc; rồi
tiếp đấu nội lực gián tiếp qua thân thể trung gian Hư Trúc.
Nội lực của Hư trúc vốn đã rất hùng hậu nên thu hóa
hết nội lực của hai bà, tự mình giải khai huyệt đạo.
Chàng đưa hai bà ra khỏi hầm nước đá đang bị bốc cháy...
- Đồng
Mỗ bảo Hư Trúc bắn tín hiệu để triệu tập các môn đồ
đang hoạt động quanh vùng. Nhiều nữ môn nhân tức thì tề
tựu; Đồng Mỗ tuyên bố Hư Trúc là tân chưởng môn phái
Tiêu Dao và là chủ nhân cung Linh Thứu. Bà nhìn kỷ lại người
ở trong tranh, nhận ra không phải là Thu Thủy, bà buột miệng
kêu "không phải hắn", rồi cười một tràng mà chết.
- Thu
Thủy dùng pháp quy tức giả chết để tránh các đệ tử
của Đồng Mỗ sát hại. Giờ ngồi tựa gốc cây, thẩn thờ
xem lại đồ hình thì nhận ra là tranh vẽ muội tử của Thu
Thủy, Thu Thủy bàng hoàng kể lại câu chuyện tình giữa bà
và Vô Nhai Tử cho Hư Trúc nghe: bà và Vô Nhai Tử có chung một
cô con gái đi làm dâu nhà họ Vương ở Tô Châu. Rồi nước
mắt bà tuôn trào, tuôn trào đến lịm chết...
- Đám
cung nhân Linh Thứu kêu khóc rất thảm thương. Hư Trúc bảo
rước thi thể hai bà về an táng ở cung Linh Thứu, núi Phiêu
Diểu.
- Thám
báo phi báo: Cung Linh Thứu đang bị các phản đồ thuộc 36
động và 72 đảo chúa tấn công kịch liệt, sắp lâm nguy.
Hư Trúc và cả đoàn phi nhanh về cứu viện. Tiếp Thiên Kiều
nối vào cung đã bị chặt đôi; đoàn cứu viện phải dừng
chân; chỉ có một mình Hư Trúc phi qua vực vào cung giải cứu...
37.2.
Ý kiến
- Do
bởi mối tình si, Đồng Mỗ và Thu Thủy đều không thấy
đúng tình cảm chân thật của Vô Nhai Tử đã dành cho người
khác. Từ nhìn lầm, hai bà rơi vào thù hận, hại nhau suốt
một đời.
Cái
tướng biểu hiện của tình cảm của Vô Nhai Tử là mơ hồ,
mộng mị, huyễn hư, khó thấy cũng như là các tướng trạng
hiện hữu khác: chúng là duyên sinh mà người đời nhìn ra
hữu ngã, để rồi thương vay, khóc mướn suốt một đời,
chỉ còn đợi cười đến chết. Đây là điều mà tác giả
lập lại nhiều lần trong truyện "Phàm sở hữu tướng giai
thị hư vọng" (cái gì có tướng trạng đều là hư vọng,
không thật) của Kinh Kim Cương Bát Nhã. Lời kinh ấy là rọi
đường để sống, chớ có nói triết lý gì đâu?
- Cái
tâm lý của con người thường thay đổi theo các duyên (điều
kiện sống); nó là vô thường: trung thành đó, phản trắc
đó; bạn đó, thù đó ... Vô thường thì khổ!
Cái
đọng lại của hồi truyện 37 là thế!
Hồi
38 : CHÉN CHỦ CHÉN ANH
ĐỒNG
BỆNH SI TÌNH THÀNH HUYNH ĐỆ
38.1.
Lược truyện
-
Hư Trúc tiến thẳng vào sảnh đường, sẵn sàng ứng chiến.
Nhóm nổi dậy đang lấy cung. Có một âm thanh chính trực khuyên
can của Đoàn Dự vang ra. Hư Trúc thử ngồi theo dõi các lời
qua tiếng lại và chứng kiến cảnh các cao thủ bị cấy sinh
tử phù" lên cơn đau đớn...
- Mộ
Dung Phục đi theo nhóm Ô Lão Đại vốn là để có mối thân
tình hòng có thể lợi dụng về sau. Nay Đồng Mỗ đã chết,
không còn ai để giải sinh tử phù, các cao thủ sẽ vong mạng;
mưu đồ của Mộ Dung sớm trở thành sương khói. Vì thế
Mộ Dung ngồi yên đầy vẻ thờ ơ, vô tình...
- Hư
trúc sử dụng tuyệt chiêu của Đồng Mỗ, chàng bắn vào
vách trái tùng, phản lực đẩy một cung nhân dịch xa một
trượng, khiến Ô Lão Đại sợ hãi la lớn: "Đồng Mỗ xuất
hiện"... Sảnh đường trở nên nhốn nháo... Hư Trúc bước
vào vỗ nhẹ vào vai các cung nhân, các huyệt đạo liền giải
khai... Hư Trúc cho các cung nhân biết tin rằng các bộ Dương
thiên, Chu thiên, Hiệu thiên đã có mặt ở Tiểu Thiên Kiều...
mau tìm dây sắt để nối lại cầu...
- Hư
Trúc quay lại phía quần hào bảo: chàng vừa đem di thể của
Đồng Mỗ về để an táng tại cung Linh Thứu, mong tất cả
hãy giải mối thâm cừu.
- Ô
Lão Đại định khống chế Hư Trúc, nhưng vô hiệu... Trác
Bất Phàm, một tay tuyệt kiếm mà toàn gia đã bị Đồng Mỗ
giết sạch, thì đòi Hư Trúc nói lại di ngôn của Đồng Mỗ.
- Châu
Nhai Song Quái rút đồ hình người con gái giống hệt Vương
Ngữ Yên khỏi người Hư Trúc để trêu ghẹo... Trác Bất
Phàm liền uy hiếp Vương Ngữ Yên để ép Hư Trúc... Đoàn
Dự nhảy vào cứu nàng, bị thương máu chảy; Hư Trúc liền
xuất tuyệt chiêu cứu Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên, cầm máu
liền cho Đoàn Dự; rồi chàng sử dụng chiêu Thiên Sơn Chiết
Mai Thủ bắt hết các đao kiếm phóng đến, khắc chế các
cao thủ manh động...
- Bốn
nữ kiếm, tỳ nữ của Đồng Mỗ, ra mắt Hư Trúc để được
sai bảo. Hư Trúc trao đổi với bốn cô để giải "sinh tử
phù" cho quần hào...
- Mai
Kiếm đòi trị tội phản trắc: mỗi người tự chặt một
cánh tay...
- Hư
Trúc cử Đoàn Dự thay mặt chàng để giải quyết. Đoàn Dự
dõng dạc tuyên bố:
- Tất
cả ra cúi lễ trước thi thể Đồng Mỗ và các cung nhân đã
thiệt mạng.
- Tất
cả tự sám hối sai lầm của mình.
- Tất
cả từ nay nghe theo lệnh của Cung Linh Thứu, và tất cả đều
được tha bổng.
- Quần
hào mừng rỡ ra về
Tại
cung Linh Thứu, nam phái chỉ còn lại Hư Trúc và Đoàn dự
chén tạc chén thù. Hư Trúc thì bị hình ảnh Mộng Cô ám
ảnh mà lòng e ngại Mộng Cô là Chung Linh, người đang gần
gũi với Đoàn Dự; Đoàn Dự thì sầu nhớ Vương Ngữ yên
mà lòng lại e Hư Trúc cũng sầu nhớ nàng. Hai người không
ngại nhau, mà còn cảm thấy chung một "tâm bệnh" nên đã
cùng nhau kết nghĩa đệ huynh, và tôn Tiêu Phong làm đại ca,
sẽ bái kiến về sau...
38.2.
Ý kiến
- Với
tâm tốt như Hư Trúc và Đoàn Dự thì dù rơi vào hoàn cảnh
nào, họ cũng là bạn, mà không là thù, không ganh ghét, đố
kỵ nhau.
- Thiên
Long Bát Bộ ghi lại một kinh nghiệm lịch sử, xã hội rằng:
bằng thủ đoạn ma giáo để khống chế tha nhân, như việc
cấy "sinh tử phù", là trái với đạo lý, trái với tình người,
sẽ thất bại sớm hay muộn. Nói khác đi, không nên lãnh đạo
quần chúng bằng sự dối trá hay tàn ác.
- Nhà
lãnh đạo cần tích cực thể hiện lòng nhân, tâm từ, khoan
dung, công chính để an lòng dân, cô kết lòng dân để xây
dựng và phát triển xã hội trong thanh bình.
- Thái
độ sống - con tim và khối óc - của ba huynh đệ kết nghĩa:
Tiêu Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự như là thái độ mà xã hội
mong đợi vì hòa bình và thịnh vượng.
Hầu
như tác giả Thiên Long Bát Bộ tin như thế?
Hồi
39 : VẢI THƯA CHE MẮT THÁNH
BỐN
CHÍN GẶP NĂM MƯƠI
39.1
Lược truyện
-
Hư Trúc dần dần biết tôn trọng quy cũ tổ chức của cung
Linh Thứu, thích ứng dần các công việc phục vụ của các
cung nhân.
- Bốn
nàng thị nữ dẫn đường cho Hư Trúc vào động của tiền
chủ nhân Thiên Sơn Đồng Mỗ để luyện các võ công thượng
thừa theo các đồ hình trên vách động. Từ đây, Hư Trúc
phát triển võ công rất nhanh, dễ dàng giải trừ "sinh tử
phù" cho quần hào...
- Ở
lại cung Linh Thứu hai mươi hôm, Hư Trúc vừa luyện thuần
thục các võ công thượng thặng của một chưởng môn Tiêu
Dao, vừa giúp các cung nhân nâng cao trình độ võ thuật. Sau
đó, Hư Trúc trở về tham kiến sư phụ và thăm chùa Thiếu
Lâm, vừa để sám hối...
- Các
đại sư Thiếu Lâm bấy giờ đang bận lo vài phật sự trọng
đại, Hư Trúc tạm thời trú ở vườn rau, lo gánh nước,
chẻ củi. Nhà sư Duyên Căn phụ trách vườn rau lên mặt kẻ
cả trước Hư Trúc, phạt roi Hư Trúc; một tuần lễ sau Mai,
Lan, Cúc, Trúc Kiếm hóa trang thành bốn tiểu tăng rõ được
sự tình bèn trừng phạt Duyên Căn khiến Duyên Căn run sợ,
thay đổi thái độ: rất sốt sắng lo các việc cho Hư Trúc
...
- Đến
ngày thứ tám, toàn chúng Thiếu Lâm vân tập ở đại điện
để đón tiếp bốn vị khách Tăng: ba sư Trung Nguyên, và một
sư Tây Trúc. Các sư này đến hạch tội Thiếu Lâm, đòi Thiếu
Lâm thả sư Tây Trúc mà Thiếu Lâm đang giam giữ...
- Quốc
sư Thổ Phồn Cưu Ma Trí bỗng nhiên xuất hiện diệu võ dương
oai, biểu diễn 72 huyền công của Thiếu Lâm để nói lên
rằng Thổ Phồn cũng có 72 huyền công, hầu hạ uy danh Võ
Lâm Bắc Đẩu của Thiếu Lâm.
Cưu
Ma Trí đánh trọng thương sư Huyền Độ, khiến Hư Trúc không
chịu đựng được phóng chưởng hóa giải các chiêu thức
của Cưu Ma Trí. Hư Trúc giúp sư Huyền Độ điều hòa kinh
mạch, rồi tuyên bố các chiêu thức của sư Cưu Ma Trí là
Tiểu Vô Tướng Công của Đạo gia, mà không phải của Phật
gia.
- Thấy
rõ nội lực và chiêu pháp siêu tuyệt của Hư Trúc, và tấm
lòng bảo vệ danh dự Thiếu Lâm, Huyền Từ phương trượng
liền cho phép Hư Trúc tiếp chiêu với Cưu Ma Trí...
39.2.
Ý kiến
- Giữa
nhiều cao Tăng Phật Giáo như:
- Sư
Tây Trúc Triết La Tinh: rất ma giáo!
- Sư
Thổ Phồn Cưu Ma Trí: là đại ma đầu!
- Sư
chùa Thanh Lương: đầy dã tâm!
- Các
đại sư Thiếu Lâm thì nghiêm túc!
Tiểu
tăng Hư Trúc nổi bật cả đức và tài, dù thời gian làm
Tăng còn ngắn ngủi. Về tâm thì chân thật, hiền hậu, mà
đại nghĩa hiệp. Về tài thì có nội lực, võ công siêu tuyệt.
Điều này nhắc nhở người đời nhìn lại các giá trị hình
thức rất ước lệ của nền văn hóa cũ: nên nhìn kỷ vào
cái thực chất, thực tâm hơn là căn cứ vào cái tướng vốn
rất hư vọng.
- Phân
biệt sự khác nhau giữa Phật gia và Đao gia, tác giả viết:
"Tiểu
Vô Tướng Công là võ học của Đạo gia. Đạo gia dạy phải
giữ lòng dạ thanh tĩnh, thần trí phiêu diêu, so với lý thuyết
vô sắc vô tướng của nhà Phật, mới nhìn thì giống nhau,
bên trong lại khác hẳn... lúc thi triển chiêu thức Bát nhã
chưởng, Ma ha chỉ, Đại Kim Cương Quyền thì rõ ràng hắn
đã sử dụng Tiểu Vô Tướng Công uy mãnh đến cực điểm
để trấn áp mọi người hiện diện. Những người chưa hiểu
Tiểu Vô Tướng Công đều phải tin là hắn đã tinh thông
tuyệt Kỷ Thiếu Lâm, thật khó mà phân biệt... Huống hồ
Tiểu Vô Tướng Công đã lấy vô tướng làm yếu chỉ, không
có hình tướng thì còn vết tích đâu mà lần? Nếu không
phải là cao thủ đã luyện qua thì không thể nhận ra được..."
(tr.214
- 215, tập VIII)
Về
mặt võ công, sự khác biệt biểu hiện rất tế nhị:
- Các
Huyền Công của Thiếu Lâm và Tiểu Vô Tướng Công của Đạo
gia đều lấy vô tướng làm yếu chỉ: chiêu thức biểu hiện
không hình không tướng thì dưới cái nhìn của đôi mắt
trần và với sự phân biệt kinh nghiệm qua các tướng trạng,
thì hầu như chúng giống nhau; về mặt sức mạnh của chiêu
thức, thì với nội lực cao của Đạo gia (như của Cưu Ma
Trí) phát ra sức mạnh rất uy mãnh khó mà thấy được sự
khác biệt so với sức mạnh của các Huyền Công của Thiếu
Lâm. Đây là lý do mà Cưu Ma Trí "man trá" biểu diễn 72 Huyền
Công khiến chư tăng Thiếu Lâm phải sững sốt.
Điểm
khác biệt đích thật giữa các Huyền Công và Tiểu Vô Tướng
Công là nằm ở cái tâm và cái tuệ phát ra chiêu thức: Cưu
Ma Trí thì với cái tâm phát chiêu đầy tham vọng, dối gạt,
và ác hại sẵn sàng tiêu diệt danh dự và thân mạng của
đối phương nên chiêu thức vừa ác liệt, vừa lắc léo,
nhưng vẫn giới hạn, không thể ào ạt, mênh mang vô hạn
lượng. Các đại tăng chân tu với cái tâm đại từ, giác
tỉnh vô ngã, vô hại thì chiêu phát ra sẽ có sức mạnh vô
hạn lượng, nhưng thường thì các vị chỉ ra chiêu chừng
mực, vừa đủ để ngăn chặn, để hàng phục, mà không phải
để hủy diệt. Đấy là sự khác biệt mà chỉ có các đại
cao thủ mới tinh tế nhận ra.
Tiểu
tăng Hư Trúc do vì đã thành thạo xuất chiêu Tiểu Vô Tướng
Công nên nhận ra sự man trá của Cưu Ma Trí...
Về
mặt giải thoát của cá nhân và tập thể, sự khác biệt
giữa Phật gia và Đạo gia thì thật sự xa vời, nhưng lại
càng khó nhận ra đối với các phàm nhân và phàm Tăng. Điểm
khác biệt vẫn nằm ở cái tâm phát ra các hành động:
- Tâm
của Phật gia phát chiêu thì đầy đủ Giới đức (không gây
tổn hại mình và người), đầy đủ Định đức hay Tâm đức
(tâm tập trung, an tịnh, vô dục và từ bi), và Tuệ đức
(tâm bừng sáng tỏ ngộ sự thật vô ngã) hoàn toàn không
dính mắc tự ngã, không dính mắc vào thị, phi; được, mất,
hơn, thua...
Tâm
của sư Cưu Ma Trí thì thiếu Giới đức (vì ông thường gieo
rắt tổn hại), thiếu Tâm đức (vì tâm ông đầy dục vọng,
tham vọng), và thiếu Tuệ đức (chấp nặng nhân, ngã; bỉ,
thử,...)
Với
tâm đại bi và đại tuệ của nhà Phật, hành giả mới có
khả năng lớn để cứu khổ, độ đời, và mới có thể
làm nền cho một hệ văn hóa nhân văn.
Với
tâm hưởng thụ, vị kỷ... như tâm của Cưu Ma Trí, Mộ Dung
Bác, Mộ Dung Phục thì luôn là hiểm họa cho giang hồ.
Thiên
Long Bát Bộ khi phân biệt rành rẽ hai loại võ công trên là
muốn độc giả nắm cho được cái linh hồn Phật học lồng
vào một nền văn hóa Nhân văn?
Hồi
40 : BIẾT LÚC NÀO BỎ ĐƯỢC LÒNG SI
40.1.
Lược truyện
-
Hư Trúc xuống tấn, chỉ đi hai thế võ vỡ lòng của các
tiểu Tăng Thiếu Lâm là La Hán Quyền và Vi Đà Chưởng để
đối đầu với tuyệt học võ công của Cưu Ma trí.
Thoạt
đầu, còn lúng túng, Hư Trúc bị dính cả quyền và cước
của Cưu Ma Trí với sức mạnh đánh vỡ đá tảng, nhưng chàng
chỉ đau nhẹ, vẫn đứng vững để tiếp chiêu. Hư Trúc thức
tỉnh, sử dụng Chiêu Hổ Thâu Tâm của La Hán Quyền lồng
vào Tiểu Vô Tướng Công nên dễ dàng hóa giải các chiêu
ác liệt của Cưu Ma Trí, khiến ông ta và các đại sư đều
kinh ngạc.
- Hư
Trúc liền đỡ liên tiếp mười tám chiêu của sư Thổ Phồn
nhờ vào nội lực hùng hậu của chàng: nội lực tuôn trào
ào ạt, càng lúc càng mạnh khiến Cưu Ma Trí phải giữ một
khoảng cách khá xa nên rất khó đánh trúng chàng. Dằn co đến
hai trăm chiêu; càng đánh Hư Trúc xuất chiêu càng thạo, chuyển
từ thế thủ sang công. Chàng dùng chiêu Thiên Sơn Chiết Mai
Thủ và Thiên Sơn Lục Dương Chưởng mà Đồng Mỗ chân truyền
rất ảo diệu dồn Cưu Ma Trí vào hẳn thế hạ phong. Ông
ta vừa thẹn vừa tức, liền rút ra con dao trủy thủ tấn
công; Hư Trúc nắm chặt tay ông và gạt rơi dao, nhưng vì chưa
thạo khắc chế binh khí nên dao trủy thủ văng dính vào bả
vai chàng; tức thì bốn nữ kiếm thị nữø nhanh như cắt
dí ngay bốn mũi kiếm vào cổ Cưu Ma Trí, nhích nhẹ cho máu
chảy, Hư Trúc ngăn không cho hại sư...
- Cưu
Ma Trí bèn "trí trá" đòi Thiếu Lâm lên tiếng về việc dấu
giữ các nữ nhân trong chùa..., và đòi việc thi hành án Hư
Trúc mà đại sư Thiếu Lâm đã xử...
- Hội
đồng các Cao Tăng đang hội ý thì quần hào khắp nơi kéo
về Thiếu Lâm, bảo rằng để chứng kiến một trận thư
hùng giữa Huyền Từ (Thiếu Lâm) và Trang Tụ Hiền (Tân bang
Chủ Cái Bang) để xác định ngôi minh chủ võ lâm...
40.2.
Ý kiến
- Tại
hồi 40, Hư Trúc là trung tâm điểm của sự chú ý. Chàng hiện
ra như là một nhân vật nói lên quan niệm mới về giá trị,
về thái độ sống nhân bản trong một xã hội đầy biến
động, và về trí tuệ của nhà Phật.
- Về
một tu sĩ Phật Giáo:
- Hư
Trúc đã ăn mặn trong điều kiện bị ép, không có chọn lựa.
Chàng "liên hệ" với Mộng Cô trong điều kiện cả hai người
không có chủ ý. Chàng luyện võ công Tiêu Dao và làm chưởng
môn phái Tiêu Dao trong điều kiện sinh tử không thể từ chối.
Cũng vậy, chàng nhận làm chủ nhân cung Linh Thứu (toàn nữ
hiệp).
Biết
hành động như thế là trái với giới luật và môn quy của
Thiếu Lâm, chàng trở về Thiếu Lâm để sám hối và nhận
tội, chỉ mong được trở về làm một tiểu Tăng.
Về
mặt tâm thức, Hư Trúc không hề chủ ý vi phạm, nên về
Giới luật nhà chùa và về quy luật nhân quả, nghiệp báo,
chàng không mất giới và không có lỗi.
Về
đạo tình Thiếu Lâm, Hư Trúc rất kính thương, trân trọng
sư phụ và các trưởng lão.
Về
xử thế, Hư Trúc toàn làm các việc nghĩa, việc nhân, bảo
vệ điều thiện, khử trừ điều ác.
Thế
là, Hư Trúc rõ là một tiểu Tăng rất tốt, giữa khi nhiều
tiểu Tăng khác thì hẹp hòi, đố kỵ, thiếu từ, thiếu tuệ
lại được xem là tốt đẹp hơn Hư Trúc. Giữa họ và Hư
Trúc, ai thực sự đáng trách, đáng phạt?
- Về
điều mà nhiều người bảo là danh dự chùa Thiếu Lâm:
Nhiều
ý kiến nhao lên rằng: cần thi hành kỹ thuật thật nghiêm
khắc đối với Hư Trúc, nếu không thì danh dự chùa Thiếu
Lâm sẽ bị hủy hoại.
Danh
dự ấy là gì? - là thức ăn chay, đồ ăn mặn? Là thế múa
võ này, khác?
Giữa
khi các sư Tây Trúc và sư Cưu Ma Trí hạ nhục chùa Thiếu
Lâm "đến bến", thì chỉ có tiểu tăng Hư Trúc thực sự
bảo vệ danh dự, bảo toàn danh dự Thiếu Lâm đúng tư cách
của một nhà sư (chân thật, hiền hòa, lịch sự, nhân ái).
Cần
nghĩ kỷ lại rằng: danh dự của một nhà sư phải là bảo
vệ điều thiện, điều nhân, công chính, an lạc, hạnh phúc
của số đông. Đánh mất các giá trị đó mới thực sự
là đánh mất danh dự của một nhà sư Phật giáo!
Cần
phân biệt rõ rằng: bảo vệ danh dự thì khác với bảo vệ
các khái niệm về danh dự, về giá trị trống rỗng.