Hồi
9 : PHƯỢNG BAY RA, LOAN VÀO TỔ
9.1.
Lược truyện
-
Hoàng Mi đại sư dùng Kim Cương chỉ lực để khắc bàn cờ
vây trên nền đá và khắc dấu quân đi. Ván cờ dần đi vào
gay cấn, Hoàng Mi sắp rơi vào thế bí...
- Chung
Linh vào phòng giam kịp thay chỗ Mộc Uyển Thanh, các đại
thần Đại Lý đưa Mộc cô nương ra ngoài trước.
- Lúc
cửa nhà giam mở ra trước mắt quần hào, Đoàn Dự bế Chung
Linh đi ra khiến Chung Vạn Cừu và bốn đại ác nhân sững
sốt, bẽ bàng. Thế là cách sắp đặt mưu hại của các ác
nhân phút chốc thành "dã tràng xe cát..."
- Đoàn
Dự liền vận Bắc Minh Thần Công vào đầu gậy sắt của
Đoàn Diên Khánh và điều khiển khắc dấu quân đi vào tử
địa, chuyển thế thắng của Diên Khánh thành bại.
- Biến
cố kết thúc. Tất cả hồi cung mở tiệc mừng.
- Hoàng
gia lại được tin Huyền Bi Đại sư Thiếu Lâm và sư huynh
của Thôi Bách Tuyền bị tử nạn bởi chiêu thức "Gậy ông
đập lưng ông" của nhà Mộ Dung.
- Thôi
Bách Tuyền, trên đường về Đại Tống, đã ghé lại Vạn
Kiếp Cốc để cứu Chung Linh đang bị Vân Trung Hạc bắt đi.
Hoàng Mi tăng thì trở lại Vạn Kiếp Cốc để xem lại ván
cờ và xóa nhòa các dấu vết.
- Đoàn
Chính Thuần đi thăm dò tin tức Chung Linh, con gái của ông
ta, đã theo địa đạo đến gặp Cam Bảo Bảo (Chung Vạn Cừu
Phu nhân).
- Vân
Trung Hạc đang dằng co với Chung Linh ở cửa hầm địa đạo
tại chỗ ở của cô. Trong địa đạo đã có mặt Hoàng Mi
tăng và các anh hùng Đại Lý dùng nội lực giữ Chung Linh.
Chung Vạn Cừu, Nam Hải Ngạc thần và Diệp Nhị Nương tiếp
tay Vân Trung Hạc. Đoàn Dự ở trên địa đạo thì giữ chân
Diệp Nhị Nương và vận dụng Bắc Minh Thần công khiến nội
lực của nhóm ác nhân tràn vào cơ thể chàng; chàng trở nên
vô cùng mạnh mẽ kéo ra khỏi cửa địa đạo một đoàn người
dính vào nhau. Tất cả đều kinh ngạc tưởng rằng Đoàn Dự
sử dụng Hóa Công Đại Pháp của Tinh Tú Lão quái!
9.2.
Ý kiến
- Vua
Bảo Định Đế nhân ái chăm sóc dân tình, nặng tình hoàng
tộc nên rất khó xử sự đối với việc Đoàn Diên Khánh
bắt cóc Đoàn Dự: Nhà vua vừa không thể trao toàn dân cho
kẻ ác, không thể để mất Đoàn Dự, vừa không nỡ gây
tổn thương Đoàn Diên Khánh. Những gì tốt nhất có thể
làm là điều nhà vua chọn lựa. Chọn lựa thì hẳn bản thân
đã có sự hy sinh. Giải pháp cuối cùng để hành động là
âm thầm giải cứu và tránh gây tổn hại đến mức tối
đa có thể: đây là giải pháp nặng nét từ bi và trí tuệ
của Phật Giáo!
Hồi
10 : KIẾM KHÍ DỌC NGANG NHƯ TƯỜNG KHÓI
10.1.
Lược truyện
-
Đoàn Dự thu vào cơ thể nhiều loại nội lực âm công và
dương công mà không biết cách chuyển hóa nên người trở
nên cuồng sốt. Các thái y ở hoàng cung không thể chữa trị.
Bảo Định Đế đưa Đoàn Dự đến Thiên Long tự nhờ các
đại sư hóa giải.
- Tại
chùa Thiên Long, các đại sư đang nhập định luyện công tăng
sức để chờ đối phó với Cưu Ma Trí, quốc sư nước Thổ
Phồn, nên chưa thể giúp Bảo Định Đế điều hòa kinh mạch
cho Đoàn Dự. Bảo Định Đế bèn đánh bạo hướng dẫn Đoàn
Dự dẫn khí vào hư vô. Kết quả ổn định được thân nhiệt.
- Bảo
Định Đế liền thế phát xuất gia, đạo hiệu là Bản Trần.
Khô Vinh Hòa Thượng, bốn đại thiền sư và Bản Trần cùng
khởi luyện Lục Mạch Thần kiếm, một võ công thượng thừa
của Thiên Long tự. Mỗi vị Tăng chỉ tập trung luyện một
chỉ kiếm để kịp ứng phó với Cưu Ma Trí.
- Khô
Vinh dạy Đoàn Dự ở cạnh sư quan sát kỹ và nhớ thuộc
nằm lòng sáu đồ hình và chú dẫn của thần kiếm Lục Mạch,
rồi ngầm luyện theo quy luật của Thiên Long tự, các cư sĩ
thì không được phép luyện Lục Mạch.
- Cưu
Ma Trí tặng chùa Thiên Long 72 huyền công, và cách phá giải
72 huyền công của Thiếu Lâm Tự. Đổi lại, sư yêu cầu
Thiên Long tự trao cho sư sách Lục Mạch Thần Kiếm để hỏa
thiêu tặng người bạn đã quá vãng Mộ Dung Bác.
- Thương
lượng không thành, Cưu Ma Trí liền vận chưởng xuất ba đại
chỉ kiếm của Thiếu Lâm Tự (Niêm Hoa chỉ, Đa - La Diệp
chỉ, và Vô Tướng Kiếp chỉ) để uy hiếp. Các đại sư
Thiên Long Tự liền vận Lục Mạch Thần Kiếm để nghênh
đón. Do thời gian luyện Lục Mạch Thần Kiếm quá ngắn nên
chỉ kiếm phát ra uy lực còn non, Khổ Vinh Hòa thượng phải
dùng tuệ xuất chỉ lực bất thần, vừa có chỉ lực "nghi
binh" khiến Cưu Ma Trí nhất thời không kịp đón đỡ, thần
kiếm cắt đứt mất một mảnh y trên vai làm rướm máu. Cưu
Ma Trí phải lùi lại nhiều bước để né tránh. Thế là chiêu
đầu của nhà sư Thổ Phồn ở thế hạ phong.
- Cưu
Ma Trí cẩn mật dốc toàn lực xuất Vô Tướng kiếp chỉ
tấn công đồng lượt sáu nhà sư chùa Thiên Long. Khô Vinh
biết Cưu Ma Trí sẽ tạo cơ hội đánh cướp đồ hình Lục
Mạch Thần Kiếm, liền xuất một chỉ lực đốt cháy sách
Lục Mạch, một chỉ lực đẩy khói vận thành bốn nhóm tấn
công Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí vội lui về thế thủ. Lúc nhận
ra khỏi tỏa khắp phòng biết là sách Lục Mạch Thần Kiếm
đã bị thiêu, Cưu Ma Trí thất vọng biết rằng ông ta đã
thua gọn chiêu thứ hai.
- Cưu
Ma Trí nghĩ kế rút lui an toàn, bèn dỡ ngón ma giáo: Vừa dùng
xảo ngôn đánh lừa sự chú ý của các đại sư, vừa bất
thần điểm huyệt Bản Trần dẫn đi ra khỏi thiền phòng.
Đoàn
Dự vội vàng chạy theo Bản Trần nắm chặt bàn tay bá phụ
và truyền vào Bắc Minh Thần Công để hóa tán nội lực của
Cưu Ma Trí, kéo bá phụ tách khỏi nhà sư Thổ Phồn. Mọi
người kinh ngạc về võ công của chàng...
Cưu
Ma Trí nhanh trí không dám đối chưởng với Đoàn Dự, dùng
kỹ thuật điểm huyệt, điểm các yếu huyệt trên cơ thể
chàng trong chớp nhoáng, rồi kẹp chàng lên ngựa phi nước
đại. Cưu Ma Trí mừng thầm cho rằng Đoàn Dự là cuốn sách
Lục Mạch Thần Kiếm sống.
Chùa
Thiên Long không kịp rượt đuổi quốc sư Thổ Phồn đầy
mưu lược...
10.2.
Ý kiến
- Nước
Đại Lý ở phía Nam Trung Quốc, nay là tỉnh Vân nam, là một
quốc độ Phật giáo. Các vương tử, đại thần đều rất
sùng Phật. Các đế vương sau khi truyền ngôi đều xuất gia
ở Thiên Long Tự, theo truyền thống Chuyển Luân Thánh Vương
của Phật giáo rất nguyên thủy.
Trung
Nguyên thì có Thiếu Lâm tự thuộc Thiền tông của Phật Giáo
phát triển kể từ tổ Đạt Ma sang truyền đạo đời Lương
Võ Đế.
Thiên
Long thì có hai bí kíp Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần
Kiếm, Thiếu Lâm thì có Dịch Cân Kinh và Thất Thập Nhị
Huyền Công, là những bí pháp danh trấn giang hồ trên toàn
cõi Trung Quốc, như là hai nguồn sáng Nhật, Nguyệt rọi sáng
toàn bộ văn hóa, Lịch sử xứ này.
Nhất
Dương Chỉ thực sự là một chỉ kiếm thuộc bí pháp Lục
Mạch Thần Kiếm. Thần Kiếm là biểu tượng của trí tuệ
toàn giác, hay gọi là Kim Cương Bát Nhã trí, có thể chặt
đứt vô minh và hết thảy mọi thứ ràng buộc khổ đau, như
là kiếm khí có thể chặt đứt các khí giới. Trí tuệ ấy
phát khởi từ sáu nguồn mạch; sáu căn, sáu trần và sáu
thức (gọi là sáu xúc xứ, hay Lục xứ). Trong trí tuệ ấy
có mặt tâm đại từ, đại bi. Trí tuệ ấy nói đủ là:
Đại Bi và Đại Tuệ, có thể hàng phục mọi thứ xấu ác,
khổ sầu.
Tác
giả Kim Dung, với Thiên Long Bát Bộ, hầu như đang giới thiệu
Phật Giáo như là nhân tố để ổn định yên bình toàn cõi
giang hồ vốn đầy dẫy tham vọng, hận thù, tà kiến và bạo
hành. Khí giới tối ưu để dẹp tan mọi vận hành của tâm
lý xấu là tâm đại từ bi, vô dục và vô trước (vô chấp
thủ). Cuộc đọ sức giữa nhà sư Thổ Phồn Cưu Ma Trí (với
sức mạnh của nhiều loại võ công vô địch trên giang hồ)
với Lục Mạch Thần Kiếm (mà về sau mà Đoàn Dự sẽ biểu
hiện)đầy đủ sức mạnh để chiến thắng của các nhà
sư Thiên Long Tự cho độc giả thấy rõ sức mạnh tối ưu
ấy.
Giới
thiệu văn hóa Phật giáo bằng võ thuật như thế thì quả
là ý vị và tài tình!
- Để
có cái nhìn đúng về sức mạnh của Niêm Hoa Chỉ, Đa La Diệp
Chỉ, Vô Tướng Kiếp Chỉ (của chùa Thiếu Lâm) và Nhất
Dương Chỉ (của chùa Thiên Long) Khô Vinh đại trưởng lão
hỏi Bản Nhân phương trượng rằng:
"Theo
người thì Nhất Dương Chỉ của họ Đoàn, Đại Lý so với
ba loại chỉ pháp Niêm Hoa, Đa La Diệp, Vô Tướng Kiếp của
Thiếu Lâm, ai hơn, ai kém?"
"Chỉ
pháp không có hơn kém, công phu rèn luyện có kẻ cao người
thấp".
(trang
293, Tập II).
Đấy
là tác giả xác nhận rằng: sức mạnh diệu dụng của các
võ công là nằm ở nội lực sung mãn của người sử dụng,
mà không nằm ở võ pháp, võ thuật. Cùng thế, đại, tiểu
thừa Phật giáo là nằm ở tâm hành của các hành giả, mà
không nằm ở Pháp, giáo lý. Giáo lý như Duyên Khởi, Tứ đế,
v.v.. không có đại, tiểu (Đây là quan điểm rất trí tuệ,
rất chuẩn xác về võ thuật, và về giáo lý nhà Phật). Đây
là cái nhìn rất vô ngã và rất khoáng đạt giúp độc giả
bốn phương có cơ sở tin tưởng vào nhận thức nghiêm túc
của tác giả về Phật học.
- Cưu
Ma Trí đã khổ luyện chỉ công Niêm Hoa, Đa La Diệp, và Vô
Tướng Kiếp nhưng chỉ lực phát ra với uy lực còn hạn chế,
do vì sư xuất chiêu với tâm còn tham vọng, trí trá. Ngược
lại, Đoàn Dự chỉ nhiếp Lục Mạch Thần Kiếm trong chốc
lát đã có thể phóng ra chỉ kiếm khiến Cưu Ma Trí kinh tâm
(nếu Đoàn Dự khổ luyện cho đến mức thuần thục xuất
chỉ theo ý muốn thì sức mạnh của Lục Mạch Thần Kiếm
hẳn là vô cùng), do vì chàng xuất chiêu với tâm vô dục,
vô chấp, và với tâm đại từ bi. Đại bi và đại tuệ mới
là sức mạnh quyết định của võ thuật và của văn hóa.
Có thể nói, với niềm tin trong sáng, đó là sức mạnh của
một nền văn hóa hậu hiện đại, phải chăng?
Hồi
11 : HAI CÔ MỸ NỮ, MỘT CHIẾC THUYỀN CON
11.1.
Lược truyện
-
Cưu Ma Trí dẫn Đoàn Dự đi tìm nhà Mộ Dung ở Yến Tử Ổ,
Tham Hợp Trang. Dọc đường sư vận dụng đủ cách thuyết
phục Đoàn Dự viết ra Lục Mạch Thần Kiếm pháp. Đoàn Dự
một mực khước từ: với Bắc Minh Thần Công và nội công
thâm hậu khử mọi thứ độc dược, sư khó bắt ép chàng.
- Thôi
Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi tìm nhà Mộ Dung để rửa hận,
gặp Đoàn Dự ở Tham Hợp Trang, và nhập đoàn.
- A
Bích, gia nhân của nhà Mộ Dung, chèo thuyền đến đón cả
bốn người đến Cầm Vận Tiểu Trúc, nơi ở riêng của nàng
ở Yến Tử Ổ. A Bích thì trẻ trung, nhan sắc, duyên dáng,
sành đàn hát khiến người ta nghĩ đến vị chủ nhân Mộ
Dung Phục phải là một Hán tử hào hoa, phong nhã.
- A
Châu, một gia nhân khác của nhà Mộ Dung, bạn của A Bích,
cùng có mặt ở Cầm Vận Tiểu Trúc. Nàng thì thông sáng,
nhan sắc, giỏi hóa trang, khéo lập luận, đã lần lược hóa
trang thành viên quản gia và Lão thái thái để khai thác và
đùa bỡn sư Cưu Ma Trí . Đoàn Dự thì nhận ra nàng qua mùi
hương, dù nàng đóng vai nào. Chàng cười tế nhị, bí mật
để nàng biết là chàng đã rõ trò đùa của nàng...
-A
Châu yêu cầu Cưu Ma Trí giải các huyệt đạo để Đoàn Dự
biểu diễn Lục Mạch Thần Kiếm cho Lão thái thái xem. Đoàn
Dự không chịu xuất chiêu. Núng thế, sư Cưu Ma Trí dỡ mẹo
tấn công A Châu, A Bích để ép Đoàn Dự cấp cứu xuất chiêu.
Mọi người đã có dịp thấy thần Kiếm.
- A
Châu và A Bích thiết đãi mọi người bữa cơm chiều trên
Thính Vũ Cư, giữa hồ. Nàng sắp đặt tinh tế kế hoạch
đánh chìm ba người kia rồi cùng A Bích, Đoàn Dự lên thuyền
lẫn thoát. Cưu Ma Trí không thể rượt đuổi, dù sử dụng
ma thuật...
- A
Châu, A Bích và Đoàn Dự ghé Mạn Đà Sơn Trang của Vương
phu nhân để "giải tỏa" sau nhiều giờ bơi thuyền mệt mỏi.
11.
2. Ý kiến
- Trước
thiên nhiên đẹp, Đoàn Dự cất giọng ngâm nga, Cưu Ma Trí
bảo "Chết đến gáy mà mi vẫn còn ngâm thơ vịnh phú nhàn
nhã thế ư? - Đoàn Dự đáp: "Sắc thân vốn vô thường, đã
còn là vô thường tức là còn khổ. Thiên hạ có ai mà không
chết. Mi sống thêm mấy năm nữa có hơn ta được cái gì
không?"
(tr.
13, tập III)
Lời
nói của Đoàn Dự là nguyên văn của một đoạn trong Kinh
điển Phật Giáo, rất Phật Giáo (Nam và Bắc truyền): Sắc
thân thì vô thường, thay đổi liên tục giữa khi con người
muốn nó đứng yên, không biến đổi, đây là duyên do gây
ra cảm thọ khổ.
- Thái
độ sống lạc quan của Đoàn Dự phản ánh khá trung thực
tinh thần Phật Giáo: người Phật tử hiểu đạo thì thấy
rằng không có gì sự thật là ta, là của ta nên sống an nhiên,
không dao động. Mức độ tự chủ an nhiên không dao động
tùy thuộc vào mức độ thâm hiểu và thâm hành Phật Pháp.
- A
Bích ở trên thuyền đã đánh lên một khúc nhạc êm ả bằng
cái bàn toán Kim Khí và Cây nhuyễn tiên (hai thứ vũ khí).
Đoàn Dự đã nói:
- "Quả
đúng thế! Cô nương thực là người tao nhã. Cái món đồ
chơi đầy tục khí của người ta vào tay cô nương lại thành
ra nhạc khí được".
(tr
21, tập III)
- "Món
binh khí đã từng ngang dọc đại giang Nam, Bắc, chiến đấu
với biết bao anh hùng hắc, bạch, nay vào bàn tay trắng trẻo
mềm mại của nàng lại biến thành nhạc khí".
(tr
21, tập III)
Với
giáo lý nhà Phật, các hiện hữu đều do nhân duyên mà sinh,
nên chúng là vô ngã tính, bất định tính. Nói khác đi, tùy
vào các duyên hội hợp mà chúng hiện ra các ngã tính khác
nhau. Hệt như cái bàn toán kim khí dùng để giết người thì
gọi là vũ khí, dùng để chơi nhạc thì gọi là nhạc khí;
nó hư hoại, không dùng thì thành sắc vụn (sắc loại). Ngữ
khí trên của Đoàn Dự có âm hưởng tương tự lời Kinh Kim
Cương Bát Nhã: "Trang nghiêm, tức phi trang nghiêm, thị danh
trang nghiêm, v.v..." Nghe ra âm hưởng Phật giáo!
Hồi
12 : NGƯỜI ĐÂU GẶP GỠ LÀM CHI...
12.1.
Lược truyện
-
Mãi ngắm các hoa Mạn Đà La ở sơn trang của Vương phu nhân,
Đoàn Dự lạc bước vào vườn hoa. Bất chợt chàng giáp mặt
Vương Ngữ Yên (*) , người con gái duy nhất của Phu nhân,
nhân hậu, thông sáng và tuyệt sắc. Đoàn Dự ngẩn ngơ một
hồi, thấy giống hệt tượng ngọc Tiên nữ ở thạch động
Vô Lượng Sơn.
- Đoàn
Dự còn cảm giác bàng hoàng cho đến khi cùng A Châu, A Bích
lên thuyền rời mạn Đà Sơn Trang. Vừa lúc ấy thuyền Phu
nhân trở về cập bến. A Châu, A Bích bỗng hoảng sợ...
- Vương
phu nhân, từ ngày bặt tin người tình Đoàn Chính Thuần, lòng
trở nên lạnh lùng, xử sự tàn độc với các chàng trai ngoại
tình, với ai mang họ Đoàn, hoặc là dân Đại Lý.
- Bà
chở về thêm bốn chậu hoa Mạn Đà La quý hiếm, nhưng bà
không biết rõ giá trị của chúng, cũng không rành kỹ thuật
chăm sóc. Được dịp, Đoàn Dự, vốn rất sành sõi hoa Mạn
Đà La ở hoàng cung Đại Lý, lên tiếng ca ngợi các chậu
hoa; chàng hé mở ít nét phẩm bình... Vương phu nhân thích
ý đến quên cả việc trừng phạt các chàng trai bén mảng
đến Mạn Đà Sơn Trang, gác lại việc trừng phạt A Châu,
A Bích không được phép của phu nhân mà dám đến Sơn trang,
giục chàng tiếp tục bình phẩm hoa Mạn Đà La. Phu nhân vui
vẻ giữ Đoàn Dự lại, mở yến thết đãi để nghe tiếp
lời thuyết trình về hoa rất hấp dẫn của chàng.
Đoàn
Dự có lúc đã quá lời, xúc phạm đến sự tôn quý của
phu nhân. Phu nhân phạt chàng đi trồng và chăm sóc bốn chậu
hoa quý ấy: nếu để một cây bị héo, phu nhân sẽ chặt
đứt một cánh tay hay một chân...
- Dù
phải ở lại trong môi trường sống lắm phiền phức, Đoàn
Dự vẫn vui thích với niềm hi vọng có dịp chiêm ngưỡng
dung sắc của Vương Ngữ Yên.
Một
hôm, Vương Ngữ Yên đang dò hỏi một thị nữ về tin lức
Mộ Dung Phục, người biểu ca mà nàng thầm yêu, trộm nhớ,
Đoàn Dự nắm được cơ hội ra mặt bắt chuyện với nàng.
Chàng nói về cái chết của Huyền Bi đại sư và các dư luận
về chiêu "gậy ông đập lưng ông" của nhà Mộ Dung, theo chiều
thị hiếu của Vương Ngữ Yên. Vương Ngữ Yên dù có lệnh
cấm giao tiếp với nam giới của phu nhân, vẫn nán lại để
nghe Đoàn Dự kéo dài câu chuyện thao thao. Đoàn Dự thì nghe
lòng rộn ràng hạnh phúc...
- Một
hôm phu nhân bực mình bèn ra lệnh cho bà vú già chặt đứt
một cánh tay của A Châu, A Bích (đang bị tạm giam) về cái
tội dẫn trai vào Sơn Trang. Vương Ngữ yên không thể xin tội
cho hai nàng gia nhân của biểu ca mà nghe lòng quá ray rức,
rầu rĩ. Đoàn Dự hiến kế lập mưu gạt vú già, cứu hai
nàng, rồi cả bốn người (bao gồm Vương Ngữ Yên) cùng trốn
thoát khỏi sơn trang...
12.
2. Ý kiến
- Trong
kinh Phật có hai loại thiên hoa quý mà chư Thiên thường tung
rãi để cúng dường các bậc đại Thánh: đó là hoa Mạn
Đà La và Mạn Thù Sa. Loài hoa Mạn Đà đã được tác giả
để phô sắc trong truyện dài Thiên Long Bát Bộ, trong hoàng
cung Đại Lý, nước Đại Lý và trong Mạn Đà sơn trang. Đó
là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Chánh Pháp (Phật
Pháp).
- Ở
tâm của Đoàn Dự, tác giả đã giới thiệu cái tâm sùng
Phật, ham điều thiện, và cái tâm yêu chuộng thiên nhiên,
vẻ đẹp hầu như đều mãnh liệt như nhau và hầu như chẳng
thấy điều gì miễn cưỡng, và hầu như đó là lòng, chỉ
một lòng, yêu cái chân, cái thiện và cái mỹ. Đó là ba mà
là một vậy!
(*)
Trong những bản dịch cũ, được phiên âm là Vương Ngọc
Yến, những bản dịch mới được lưu hành hiện nay là Vương
Ngữ Yên ( LTS)
Hồi
13 : CÔ NƯƠNG CHỈ ĐIỂM, QUẦN HÀO NGẨN NGƠ
13.1.
Lược truyện
-
Hai mươi người phái Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao và hai mươi người
phái võ Thanh Thành đều hiện diện ở Thính Hương Thủy Tạ,
trú xứ của A Châu, chờ gặp Mộ Dung công tử để phân rõ
thị phi về các vụ án "gậy ông đập lưng ông" liên hệ
đến họ.
- A
Châu, A Bích, Vương Ngữ Yên và Đoàn Dự hóa trang thành dân
chài địa phương đến tận nơi để nghe ngóng tình hình.
A Bích để lộ hình tích nên việc bại lộ. A Châu liền lên
tiếng nàng là chủ nhân của căn nhà thủy tạ và bắt đầu
đối thoại.
- Vương
Ngữ Yên, liền nhân dịp biểu hiện kiến thức về võ thuật
uyên bác của nàng, nói rõ gốc ngọn các chiêu thức của
Thanh Thành và Tần Gia Trại. Quần hùng có mặt đều kinh ngạc.
Chư
Bảo Côn, kẻ nằm vùng ở Thanh Thành, khi xuất chiêu (dù đã
khéo dấu kín lai lịch) đã bị Vương Ngữ Yên phát hiện
gốc gác, nàng nói: "Một phần số chiêu thì bên ngoài biểu
hiện na ná chiêu Thanh Phong Đinh của Thanh Thành, mà kỳ thực
là chiêu Thiên Vương Bổ Tâm Chân của Bồng Lai phái. Sự
khác biệt là ở chỗ Thanh Phong Đinh chỉ có một mũi cương
tiêu, trong khi Thiên Vương Bổ Tâm chân có đến 12 mũi cương
tiêu.
Sự
kiện phân tích ấy đã tiết lộ thân phận của Chư Bảo
Côn là người của phái Bồng Lai nằm vùng ở Thanh Thành.
Hai phái võ ấy, một ở Nam, một ở Bắc, từng kình chống,
thanh toán nhau suốt 100 năm qua.
- Tư
Mã Lâm, bang chủ Thanh Thành, cùng hai người sư thúc Khương,
Mạnh liền xuất chiêu ba mặt tấn công Chư Bảo Côn. Sau một
hồi chống đỡ khó khăn, Chư Bảo Côn bị trúng một nhát
búa và một nhát kiếm, sắp lâm nguy. Vương Ngữ Yên ân hận
đã vô tình nói ra, nàng yêu cầu ngừng đánh để cứu Chư
Bảo Côn. Khương, Mã và Tư Mã Lâm không thèm nghe nàng, Vương
Ngữ Yên bèn chỉ điểm cho Chư Bảo Côn ra chiêu khắc chế,
giúp chàng hạ được Khương, Mạnh gây ra thương thế rất
nặng; Tư Mã Lâm ra độc chiêu bí truyền để trừ khử đối
phương. Vương Ngữ Yên lại chỉ điểm cho Chư Bảo Côn tránh
đòn. Bấy giờ, biết không thể thắng, Tư Mã Lâm mới chịu
ngưng chiến.
- Diêu
Bá Đương, trại chủ của Tần Gia Trại, và Tư Mã Lâm nhận
ra Vương Ngữ Yên như là một kho quý của Võ thuật, tranh
nhau bắt giữ nàng. Hai bên xô xát, vừa lúc Bao Bất Đồng
(nhà Mộ Dung) trở về đánh đuổi gọn tất cả chỉ trong
chừng vài mươi chiêu.
- Bao
Bất Đồng thông báo tin tức về Mộ Dung công tử vào bữa
cơm tối, chàng cho biết thêm tin tức nhóm Nhất Phẩm đường,
Tây Hạ, đã có mặt ở Giang nam.
- Nhóm
bốn người nhà Mộ Dung quyết định sáng ngày hôm sau lên
đường tìm Mộ Dung công tử, Đoàn Dự cảm thấy mình lạc
lỏng, dư thừa liền nói lời từ giã sớm, và chèo thuyền
đi về phương Bắc.
13.2.
Ý kiến
- Sự
kiện Mã Phó Bang Chủ Cái Bang, Huyền Bi đại sư và một số
cao thủ khác bị chết bởi chính chiêu thức của mình đã
khiến giang hồ hầu hết quy tội về chiêu "Gậy ông đập
lưng ông" của nhà Mộ Dung, trên mặt luận lý, cũng như trên
thực tế, có thể có hai người, hay nhiều hơn hai, có thể
sử dụng tuyệt chiêu ấy, không phải chỉ một nhà Mộ Dung.
Sự
nhận lầm trên cho thấy rõ một sự thật rằng: nếu không
thấy rõ cái nhân của hiện tượng, thì sẽ không hiểu hiện
tượng, và không thấy con đường dẫn đến chấm dứt hiện
tượng.
Đây
là nội dung của cái nhìn Phật Giáo!
Một
nghịch lý:
Văn
hóa xưa ở Trung Nguyên bảo kẻ hảo hán phải biết trả thù,
rửa hận. Nếu có thù mà không trả thì là hèn hạ, không
đáng sống. Để trả thù một người, kẻ hảo hán có khi
phải hy sinh nhiều người bên phe ta và phe địch. Cứ thế,
thù lại nẩy sinh nhiều thù hận hơn nữa. Qua nhiều năm tháng,
có khi trái đất trở thành một trận địa lớn của thù
hận. Thật là phi lý, nghịch lý!
Trọn
hồi 13 và cả nhiều hồi trước và sau đó, tác giả đã
phơi bày rõ hậu quả quá tai hại về việc trả thù, quá
gian khổ, mệt mỏi vì thù hận để đẩy độc giả đến
một vùng văn hóa im mát của Phật Giáo, mà lời dạy trong
Pháp Cú dưới đây là tiêu biểu.
"Hận
thù không rửa được hận,
Càng
báo oán, oán càng chập chùng.
Chỉ
có tình thương trừ bỏ được hận thù,
Đây
là định luật nghìn thu".
(P.C)
*
*
*
Hồi
14 : MỸ TỬU CHẠY THEO LỤC MẠCH
ĐỆ
HUYNH UỐNG ĐỦ THIÊN BÔI
14.1.
Lược Truyện
-
Nhớ nhung Vương Ngữ Yên, một dáng ngọc thiên hương, Đoàn
Dự vào Tùng Hạc Lâu để nhắm rượu tiêu sầu.
Tại
đó, một đại hảo hán Kiều Phong cũng đang uống rượu một
cách hào sảng. Đoàn Dự đến làm quen, đối ẩm. Hai đằng
uống đến 50 bát lớn mỗi người mà vẫn còn cứ tỉnh.
Hai người mến nhau, quả là:
"Tửu
phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu"
- Rời
Tùng Hạc Lâu, Kiều Phong và Đoàn Dự thi triển thuật Khinh
công, phi hành. Đoàn Dự nhờ có nội lực rất thâm hậu cộng
với thuật Lăng Ba Vi Bộ nên chỉ kém chút ít về tốc độ
so với Kiều Phong, nhưng lại vượt trội về độ bền. Kiều
Phong cảm thấy vị nể chàng trai trẻ. Hai đằng bèn kết
nghĩa tâm giao huynh đệ. Bấy giờ Đoàn Dự bèn thành thật
tiết lộ xảo thuật dùng Nhất Dương Chỉ của chàng khi uống
rượu với Kiều Phong. Nhận ra trong người Đoàn Dự có mặt
Lục Mạch Thần Kiếm mà chưa thạo sử dụng, Kiều Phong càng
mến mộ nhiều hơn, biết là mình đang kết nghĩa với thái
tử nước Đại Lý.
- Bỗng
có tin Cái Bang cấp báo: Bao Bất Đồng, người nhà Mộ Dung,
đang gây sự ở bang. Kiều Phong và Đoàn Dự quay về Cái Bang,
khất hẹn lại một tuần đối với Nhất Phẩm Đường Tây
Hạ.
- Vương
Ngữ Yên, A Châu và A Bích đều ở cạnh Bao Bất Đồng. Phong
Ba Aùc (nhà Mộ Dung) cùng xuất hiện. Bốn trưởng lão Cái
Bang vây đánh hai người, một chọi một. Phong Ba Aùc bị trúng
độc bò cạp, rất nguy kịch. Đoàn Dự vốn đề kháng độc,
đã phản xạ tự nhiên đến hút hết độc ra ngoài cho Phong
Ba Aùc, cứu sống chàng.
- Kiều
Phong xuất chưởng rất lẹ khống chế ngay Phong Ba Ác và Bao
Bất Đồng để tránh động thủ. Hai hảo hán nhà Mộ Dung
tâm phục ra đi, đi về Thiếu Lâm tự để tìm Mộ Dung công
tử.
Vương
Ngữ Yên, A Châu, A Bích được Kiều Phong bảo vệ mở lối
để các nàng ra đi tự do. Vừa kịp quay lưng, ba nàng liền
dừng lại để chứng kiến cảnh tranh cải trong nội bội
Cái Bang.
- Toàn
Quán Thanh và các Đà chủ đã giam giữ trưởng lão chấp pháp
và trưởng lão truyền công. Thấy vắng mặt hai trưởng lão
này, Kiều Phong linh cảm có sự biến. Thực sự các trưởng
lão chủ mưu truất phế Kiều Phong đang rắp vây chặt Kiều
Phong. Nhanh ý, Kiều Phong khống chế liền Toàn Quán Thanh và
bốn trưởng lão trong chớp nhoáng. Chàng cho đi cứu hai trưởng
lão bị bắt giam, nhiếp yên toàn bang chúng để làm sáng tỏ
sự việc...
14.
2. Ý kiến
- Kiều
Phong được Huyền Khổ đại sư dạy võ nghệ và đạo đức,
dù chàng chưa học sâu giáo lý. Chàng được ban chủ Cái Bang,
một đại hiệp khách nhận làm môn đồ và truyền Giáng Long
Thập Bát Chưởng và Đả Cẩu Bỗng pháp.
- Đoàn
Dự thì học sâu giáo lý nhà Phật, được đại sư Thiên
Long Tự trực tiếp giáo huấn; được Khô Vinh đại trưởng
lão chỉ điểm Lục Mạch Thần Kiếm với nội lực thâm hậu
và võ công thâm hậu của phái Tiêu Dao ở Vô Lượng Sơn (tự
tại ngoài mọi bó buộc).
Hai
người kết nghĩa là sự gặp gỡ của hai tâm hồn trung chính,
nhân ái và vị tha. Đó là linh hồn của một nền văn hóa
nhân bản và trí tuệ - Rất Phật giáo!
*
*
*
Hồi
15 : DÙ NGƯỜI PHỤ TA
TA
CHẲNG PHỤ NGƯỜI
15.1.
Lược truyện
-
Ngô trưởng lão trước bang chúng Cái Bang nhìn nhận các trưởng
lão và đà chủ Toàn Quán Thanh đã tổ chức phế bỏ Kiều
Phong, vì một lý do trọng đại không thể nói ra.
- Chấp
pháp Bạch Thế Kính quyết định thi hành bang quy: các trưởng
lão chủ mưu thì chết dưới một đao; Toàn Quán Thanh đa trá
thì chết dưới chín đao; các người khác sẽ được xử
phạt sau, sau khi điều tra rõ tội trạng.
- Kiều
Phong nêu rõ các công trạng lớn của các trưởng lão trong
sự nghiệp xây dựng bang phái và bảo vệ đất nước, rồi
tự mình rạch tay cho đổ máu ra để rửa tội cho các trưởng
lão để được tha bổng.
Quần
hào Cái Bang chi xiết cảm động!
- Riêng
Toàn Quán Thanh, vốn là người đa trá, thiếu lòng trung với
dân với nước, nên lột bỏ tám túi của một đà chủ, loại
ra khỏi Bang và cho ra đi tự do.
- Kiều
Phong nêu rõ các tính anh hùng hảo hán của Công Dã Càn, Phong
Ba Ác và Bao Bất Đồng (các người của nhà Mộ Dung) và kết
luận: vụ án "gậy ông đập lưng ông" sẽ được điều tra
tận tường, sẽ có thái độ sau khi có kết luận. Chưa vội
kết án Mộ Dung công tử.
- Vừa
lúc Toàn Quán Thanh sắp ra đi thì Từ trưởng lảo, một tiền
bối trọng tuổi nhất, và nhiều đại cao thủ tiền bối
võ lâm lần lượt kéo đến Cái Bang, rừng Hạnh, nói lên
một phần bí mật về thân thế Kiều Phong và vụ án lịch
sử về Nhạn Môn Quan của 30 năm trước, cái bí mật mà Toàn
Quán Thanh đã triệt để khai thác dẫn đến nội biến.
15.2.
Ý Kiến
- Lối
xử sự rất công minh, có tình có lý của Kiều Phong trước
các tội trạng tử hình biểu hiện một tâm hồn minh mẫn,
trong sáng và đầy tình người của Kiều Phong. Tâm hồn ấy
như là kết quả của một ảnh hưởng để lại cho đời
của nếp sống vị tha của nhà Phật.
- Vụ
nội biến lật đổ bang chủ Kiều Phong như là một biểu
hiện của cái rối rắm của quan niệm về giá trị của nền
văn hóa Nho học ở Trung Nguyên, cái quan niệm luôn gây ra các
đau nhứt cho trí tuệ và lòng từ ái.
Hồi
16 : ÂN XƯA OÁN CŨ
SỚM
BẠN TRƯA THÙ
16.1.
Lược truyện
-
Trí Quang đại sư, một người của nhóm tổ chức và hành
động về sự biến Nhạn Môn Quan đã thuật lại tận tường
sự biến ấy rằng:
- Có
một người trong bóng tối đã tung tin chất thiệt có một
nhóm cao thủ Khất Đan sắp đến đánh chiếm Thiếu Lâm tự
để chiếm giữ Dịch Cân Kinh và Thất Thập Nhị Huyền Công:
nêu rõ giờ ngày đi qua Nhạn Môn Quan.
- Thủ
lãnh đại ca, Uông bang chủ Cái Bang, Trí Quang và nhiều anh
hùng Trung Nguyên vội vàng không kịp phân tích kỹ tình hình,
băng mình đến phục kích ở Nhạn Môn Quan (gồm có 19 người
tất cả...)
- Thực
tế thì hoàn toàn khác: chỉ có một cặp vợ chồng với con
nhỏ một tuổi và các gia định bình thường đang trên đường
về thăm quê ngoại (quê vợ): họ bị giết sạch, chỉ còn
bé thơ sống sót. Sư Trí Quang và Uông Bang chủ đem về nuôi
nấng...
- Tiêu
Sơn chỉ đánh để tự vệ mà không giết một ai. Mãi cho
đến khi thấy vợ, con bị giết, người mới tung ra các sát
chiêu giết hơn 2/3 số anh hùng có mặt. Triệu Tiền Tồn sợ
hãi mà chết ngất nên được còn sống; sư Trí Quang bị đánh
văng lên mắc vào một cành cây mà sống sót; Huyền Từ, Uông
bang chủ và Huyền Khổ nhờ Tiêu Sơn nương tay, chỉ điểm
huyệt, nên mới còn đến hôm nay... Tiêu sơn thì mất tăm
dạng...
- Huyền
Khổ rất ân hâïn đã giao trẻ cho vợ chồng không con cái
Kiều Tam nuôi dưỡng, và hỗ trợ tiền cấp dưỡng...
Huyền
Khổ bí mật đêm đêm dạy võ cho Kiều Phong thành tài và
thành nhân. Năm Kiều Phong 16 tuổi, Uông bang chủ thu nhận
Kiều Phong làm môn đệ và truyền dạy võ nghệ thượng thừa...
- Trước
khi qua đời, Uông bang chủ để lại cho Mã phó bang chủ một
di thư căn dặn nếu Kiều Phong có hành động phản bang, phản
Tống thì hãy bằng mọi cách tiêu diệt chàng...
- Mã
phu nhân thì nhan sắc mà lẵng lơ; nàng hận Kiều Phong vì
thái độ lạnh lùng trước nhan sắc của nàng (mà gây ra nội
biến về sau)...
- Phát
hiện ra di thư của Uông bang chủ, bà mở xem trộm biết rõ
nội dung, bèn nghĩ ra các kế hiểm để hại Kiều Phong đến
thân bại, danh liệt, gây ra sóng gió ở Cái Bang và trên chốn
giang hồ...
- Kiều
Phong, trước cảnh tình cay nghiệt đó, trả lại chức bang
chủ và đã cẩu bổng trước toàn thể bang chúng, rồi đi
tìm hiểu ngọn nguồn...
16
. 2. Ý kiến
- Kiều
Phong phát triển nhân cách vững vàng, được ban chủ tiền
nhiệm và toàn bang chúng tin tưởng vào khả năng và đạo
đức lãnh đạo. Thế mà chỉ vì chàng thuộc dòng máu Khất
Đan, dù đã lớn lên trong văn hóa Trung Nguyên từ năm lên
một, mà bị mọi người nghi ngờ, khinh rẻ... là nhân tố
chính để các tâm lý cấu uế (tham vọng, tham dục, đố kỵ,
ganh ghét, hờn căm v.v..) sinh khởi gây sóng gió trên chốn
giang hồ.
Giáo
lý nhà Phật là hệ giáo lý xây dựng các thiện tâm để
dập tắt các cấu uế tâm. Dập tắt các cấu uế tâm là
dập tắt các mầm mống rối loạn.
Đây
là điểm tâm lý liên hệ đến sự ổn định, thanh bình của
xã hôi. Nó liên hệ đến cả an ninh, kinh tế, xã hội và
văn hóa.
*
*
*
Hồi
17 : NGUYỆN LÀM CON CÓC KHÁC THƯỜNG
CHỈ
MONG THIÊN NGA NGÓ ĐẾN
17.
1. Lược truyện
-
Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên thoát khỏi quân của Nhất Phẩm
Đường Tây Hạ, vào trú mưa ở một trại cối xay. Vương
Ngữ Yên mượn áo khô của cô gái trại cối xay để mặc
đỡ... Chưa kịp đổi áo thì mười lăm tên của bọn Nhất
Phẩm Đường Tây Hạ đuổi đến; chúng đánh chết đôi nam
nữ thanh niên của trại cối xay rồi xông lên gác để bắt
Vương Ngữ Yên.
- Nhờ
Vương Ngữ Yên mách nước, Đoàn Dự sử dụng Bắc minh Thần
công, Lục Mạch Thần Kiếm điểm huyệt, hạ chết được
15 tên, dù rất vất vả.
- Bỗng
có một tên mới xuất hiện, hóa trang dấu mặt, võ thuật
rất cao cường, tự xưng là tướng quân Lý Diên Tông đòi
bắt Vương Ngữ Yên. Đoàn Dự sử dụng Lăng Ba Vi Bộ để
tránh đòn. Lý Diên Tông đánh mãi vẫn không hạ được Đoàn
Dự, tưởng chàng có ma thuật mà đâm lo. Ông ta vội dùng
xảo kế đánh lừa để Đoàn Dự phân tâm rồi quét chân
cho chàng ngả sóng sượt trên nền, lẹ tay dí kiếm vào cổ
chàng.
- Vương
Ngữ Yên đòi chết theo Đoàn Dự, không chịu đi theo Lý Diên
Tông, nếu Lý Diên Tông giết Đoàn Dự. Nàng dọa sẽ cầu
biểu ca Mộ Dung Phục để báo cừu. Thật ra Lý Diên Tông
là Mộ Dung Phục hóa trang. Khi đối thoại biết giữa Vương
Ngữ Yên và Đoàn Dự không có liên hệ tình cảm nam nữ,
lòng nàng nhất nhất hướng về biểu ca, Lý Diên Tông tha
chết cho Đoàn Dự, và ném cho chàng bình thuốc giải độc
dược Tây Hạ.
- Giải
độc xong, Vương Ngữ Yên và Đoàn Dự đốt cháy trại cối
xay, đi về Vô Tích để kiếm A Châu và A Bích.
17.
2. Ý kiến
- Chiêu
Lục Mạch Thần Kiếm:
Nhờ
có nhiều duyên lành, Đoàn Dự có một nội lực thâm hậu.
Nội lực nầy là có sức mạnh của tâm như là định lực.
Lúc Lục Mạch Thần Kiếm khắc sâu vào tâm khảm của chàng,
nếu Đoàn Dự biết vận dụng tâm ý (hay kinh mạch) thì có
thể xuất ra chỉ kiếm bất cứ lúc nào: chỉ kiếm xuất
ra như là một sự bừng tỏ của trí tuệ.
Với
Đoàn Dự, khi chàng cố ý xuất chiêu đánh gục đối phương
thì chỉ kiếm không có mặt; nhưng khi nguy cấp, bất giác
xuất chưởng thì chỉ kiếm ào ạt tuôn trào. Sự kiện này
nói lên một đạo lý thâm huyền về trí tuệ (sức mạnh
đích thực của tâm thức): rằng trí tuệ (hay chỉ kiếm)
chỉ bừng sáng khi tâm của Đoàn Dự vô dục, vô niệm; nó
lặn mất khi tâm chàng hữu niệm, hữu dục. Trí tuệ này,
vì thế còn có tên là trí tuệ vô ngã, vô chấp thủ.
- Giới
thiệu về cái tâm của Đoàn Dự, tác giả viết:
"Chàng
vốn tâm địa nhân từ, đọc kinh niệm Phật từ bé, đến
con kiến cũng không dám giết, ngờ đâu hôm nay lại gây nhiều
tội nghiệt như thế này".
(tr.92,
tập IV)
- Khi
Lý Diên Tông (tức Mộ Dung Phục cải trang) khăng khăng giết
chàng, Đoàn Dự nói;
"Lão
huynh định giết tại hạ, việc đó không có gì quan trọng.
Chỉ xin lão huynh một việc, vị cô nương này trúng phải
kỳ độc, chân tay bải hoải không cất nhắc được. Xin lão
huynh tìm cách đưa cô ta về Mạn Đà Sơn ở Thái Hồ".
(tr.97,
tập IV)
Các
biểu hiện tâm lý của Đoàn Dự, qua hai trích dẫn trên, là
biểu hiện của thiện tâm đúng nghĩa, theo Tâm lý học nhà
Phật. Ở thời điểm kết thúc đời mình, chàng vẫn nghĩ
đến an nguy của tha nhân, xem bản thân là nhỏ.
Khi
phải tự vệ, bắt buộc để bảo vệ cái chân, cái thiện,
cái mỹ, Đoàn Dự đã nhỡ tay giết nhiều người, nhưng không
có lúc nào cố ý giết: bấy giờ thiện tâm chàng vẫn có
mặt. Chính sự có mặt cái tâm lý thiện ấy, đã giúp chàng
phát triển từ tâm và tuệ tâm như sự phát triển võ công
thượng thừa vậy. Vì thế khi luận về tương lai võ công
của Kiều Phong, Mộ Dung Phục và Đoàn Dự, Vương Ngữ Yên
(tiếng nói thẩm quyền) đã nói.
- "Về
công đạo hay tư tình cũng vậy, ta vẫn mong biểu ca ta giỏi
hơn Kiều bang chủ, nhưng hiện tại thì chưa được".
(tr
19, tập IV)
- "Tương
lai cũng không được đâu! Võ công đệ nhất thiên hạ sau
này có lẽ không ai khác ngoài vị Đoàn công tử đây".
(tr.
99, tập IV)
Tại
đây,tác giả Kim Dung muốn mở ra một sự thật rằng: tâm
lý chấp thủ tự ngã (hay nặng tham dục) là rào cản lớn
nhất của sự bung vỡ nguồn năng lượng tâm thức vô hạn
của con người; tự ngã càng bé thì năng lượng tâm lý được
phát huy càng lớn. Rất là Phật Giáo!
*
*
*
Hồi
18 : MỘT NGÀY BA NỖI ĐẠI OAN
ANH
HÙNG KHẤT ĐAN RƠI LỆ
18.1.
Lược truyện
-
Nhất Phẩm Đường Tây Hạ uy hiếp Cái Bang; đánh hơi độc
Bi Tô Thanh Phong, bắt giữ các đường chủ và bang chúng Cái
Bang giam tại Thiên Ninh Tự.
- Được
Tin, Kiều Phong đi tìm cứu. A Châu và A Bích được Kiều Phong
cứu và giải độc. Kiều Phong trừng trị các võ sĩ Tây Hạ
trên đường đi.
- Vương
Ngữ Yên, A Châu, A Bích và Đoàn Dự hội ngộ ở gần rừng
Hạnh của Cái Bang, thuật cho nhau nghe chuyện thoát nguy và
đi tìm kiếm nhau. Bốn người đi chùa Thiếu Lâm để tìm
Mộ Dung công tử. Trên đường đi, phát hiện ra bang chúng
Cái Bang đang bị giam giữ tại chùa Thiên Ninh. A Châu và Đoàn
Dự quyết định hóa trang thành Kiều Phong và Mộ Dung Phục
tìm cách cứu họ.
- Hai
người vào gặp thủ lãnh Nhất Phẩm Đường là Hách Liên
Thiết Thụ. Hách Liên Thiết Thụ cùng các cao thủ, bao gồm
ba người trong nhóm ác nhân, nghinh tiếp.
- Ở
đại điện, nơi tiếp khách, Nam Hải Ngạc Thần thách thức
Mộ Dung Phục (Đoàn Dự) nói về môn võ của ông ta. Mộ Dung
Phục nói chính xác khiến nhóm ác nhân kinh ngạc.
Nam
Hải Ngạc Thần lại thách Mộ Dung biểu diễn Lăng Ba Vi Bộ.
Mộ Dung Phục (Đoàn Dự) đã biểu diễn tài tình khiến tất
cả người xem kinh sợ.
- Đến
lược Hách Liên Thiết Thụ thách Kiều Phong (A Châu) xuất
chiêu Đả cẩu bổng và Giáng Long Thập Bát Chưởng. May mắn,
giữa lúc ấy có người lẫn trong đại điện đã tung Bi Tô
Thanh Phong khiến mọi người ở đại điện đều tê liệt
(trừ Đoàn Dự).
- Đoàn
Dự giải độc cho A Châu, rồi cả hai người đi giải cứu
toàn bang chúng Cái Bang. Hai người vội vàng lánh mặt để
tránh bị lộ hành tích.
- Kiều
Phong (người thật) đến Thiên Ninh tự để cứu Cái Bang ngay
sau khi bang chúng vừa được giải độc. Toàn bang rất cảm
kích; Ngô trưởng lão nói "vừa vắng mặt bang chủ thì anh
em liền ra nông nổi nầy, bang chủ mà không chủ trì đại
cuộc đứng đầu bản bang thì việc của bang sẽ hỏng hết"...
Kiều
Phong nghe thuật lại chàng và Mộ Dung Phục đã đến đây,
kinh ngạc hỏi: "Mộ Dung Phục đã đến đây rồi ư? - Câu
hỏi khiến bọn Tây Hạ và Cái Bang nghe sững sốt!
Kiều
Phong biết có sự gì ẩn khuất liền vội cáo từ.
- Từ
trưởng lão nghi ngờ Kiều Phong lấy mất đả cẩu bổng từ
tay Nhất Phẩm Đường Tây Hạ. Thật là đại hàm oan! Thật
là bi đát! Người tâm hẹp lượng thì mãi mãi bị trói chặt
bởi các ý nghĩ không sáng!
- Cuộc
diện u ám đã đẩy Kiều Phong đến đường cùng:
* Đã
vì Trung Nguyên mà giết nhiều người Khất Đan trước đây,
là bất nghĩa, bất trung.
* Nhận
người Hán xa lạ làm cha mẹ, không biết đến cha mẹ đẻ
là ai, sống không họ không tên, là bất hiếu.
- Kiều
Phong đi về núi Thiếu Thất để hỏi Huyền Khổ đại sư
và ông bà Kiều Tam Hòe về gốc gác của mình.
- Vừa
đến sân nhà bố mẹ nuôi, thì bố mẹ nuôi vừa bị giết...
Vừa
đến gặp Huyền Khổ thì Huyền Khổ cũng vừa bị đánh tử
thương...
Tất
cả đều đổ tội cho Kiều Phong...
- Vừa
thấy Kiều Phong cạnh sư Huyền Khổ (vừa tắt thở), Thiếu
Lâm mở trận bao vây chàng, phải dùng trí hay, chàng mới thoát
nạn, tránh được xô xác. Chàng ẩn núp ở Bồ Đề viện,
trong khuôn viên chùa.
- Bấy
giờ A Châu hóa trang thành chú tiểu Chỉ Thanh (thị giả của
Huyền Từ phương trượng) vào Bồ đề viện để đánh cấp
Dịch Cân Kinh. Lấy được Dịch Cân Kinh thì bị phát hiện.
Kiều Phong cứu nàng thoát hiểm, nhưng vì bị ảnh hưởng
của Kim Cương chưởng đánh vào vật chắn che nàng, nàng bị
tổn thương nặng. Kiều Phong truyền nội lực nhiều lần
để cấp cứu...
- A
Châu rất cảm kích tính khí "rất đại hiệp" của Kiều Phong,
thấy chàng ưu tư, buồn bã, nàng khuyên: "Xấu, tốt là tùy
thuộc vào suy nghĩ và hành động của cá nhân, mà không liên
hệ gì đến điều gọi là dòng dõi Trung Nguyên hay Khất Đan"...
Kiều
Phong cảm thấy được an ủi đôi phần.
18.2.
Ý kiến
- Cái
Bang trở nên rối loạn là do vì hai nguyên nhân chính:
1 -
Tà tư duy (suy nghĩ sai):
Uông
Bang chủ, các trưởng lão và đà chủ Cái Bang bị ràng buộc
vào một tư duy không đúng về giá trị:
- Kiều
Phong lớn lên ở Trung Nguyên, từ năm một tuổi, do người
Trung Nguyên giáo dục, nuôi dưỡng, nói tiếng Trung Nguyên,
chàng hầu như mang bản chất người Trung Nguyên. Chàng xây
dựng, tổ chức Cái Bang rất thành công, chưa từng có dấu
hiệu tạo phản, không có bất cứ lý do nào để Cái Bang
loại bỏ chàng. Hành động để lại di thư của Uông bang
chủ là không cần thiết, bời vì một khi Kiều Phong gây hại
Cái Bang thì đã có bang quy xử lý. Các trưởng lão, đà chủ
và bang chúng loại bỏ chàng chỉ vì chàng mang dòng máu Khất
Đan là một tư duy hẹp hòi, kỳ thị, không đúng.
2.
Tác động của các tâm lý xấu:
Dù
có di thư của Uông bang chủ, nhưng nếu không bị tác động
bởi các tâm lý xấu dưới đây, thì nội biến sẽ không
xẩy ra:
- Tham
vọng, đa trá, vị kỷ của đà chủ Toàn Quán Thanh.
- Tính
hoa nguyệt, hờn ghen và độc ác của Mã phu nhân.
- Tâm
lý nghi ngờ, lập luận thiếu "logic" của các cao thủ võ lâm.
- Tác
động từ các âm mưu trong bóng tối quấy động (do Tiêu Sơn
và Mộ Dung Bác)
Nói
gọn, là do các ác tâm, hại tâm tác động. Đây là loại
tâm lý mà Tâm lý học Phật Giáo chủ trương loại trừ: "Chư
ác mạc tác" (không làm mọi điều ác). Nếu giang hồ học,
hiểu và thực hành chỉ một lời dạy trên của giáo lý nhà
Phật thì tâm lý, tư duy của con người đã trở nên trong
sáng hơn, văn hóa tỏa sáng hơn, và cục diện thiên hạ sẽ
thanh bình hơn.
Đây
là một tác dụng tích cực của Phật Giáo được tác giả
gián tiếp giới thiệu.
*
*
*
Hồi
19 : TRỢN MẮT XEM KHINH NGHÌN HẢO HÁN
NHẤT
TÂM CỨU MẠNG TIỂU CÔ NƯƠNG
19.
1. Lược truyện
-
Diêm Vương Địch Tiết thần y và hảo hán Du Thị Song Hùng
gửi thiếp khắp nơi mời anh hùng tụ hội ở Tụ Hiền Trang
để bàn kế trừ khử Kiều Phong, kẻ bị họ kết án là
dị tộc, bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, rất
nguy hiểm cho giang hồ đương thời.
- Kiều
Phong biết rõ cuộc tụ hội ấy, nhưng vẫn không úy ngại,
đưa A Châu đến Tụ Hiền Trang cầu Tiết thần y chữa trị
thương thế.
- Nhiều
hảo hán rất ngưỡng mộ nhân cách và tài ba của Kiều Phong,
nhưng bị ảnh hưởng chiến dịch phao vu thâm độc hãm hại
Kiều Phong, đã hưởng ứng lời kêu gọi của Tiết thần
y.
- Vừa
nghe hảo hán Bào Thiên Linh báo Kiều Phong sắp đến Tụ Hiền
Trang, cả đại sảnh đầy các đại cao thủ, hảo hán đang
huyên náo bỗng trở nên im bặt. Giữa lúc đó, có một âm
thanh lạ, không rõ vọng lại từ đâu, bảo bang chúng Cái
Bang rằng: "Cái Bang đã có một nhân vật như Kiều Phong, thanh
danh quả là lừng lẫy. Phải cố giữ lấy thanh danh đó!"
- Rồi
tiếp gia nhân Tụ Hiền Trang phi báo: "Kiều Phong bái trang",
quần hùng toàn thể đều nghe tim đập mạnh...
- Kiều
Phong yết kiến Tiết thần y, khẩn khoản mong thần y chữa
trị cho A Châu, một cô gái xa lạ đối với Kiều Phong (không
có liên hệ thân thích, ruột thịt).
Tiết
thần y, chẩn mạch xong liền nói:
Vị
cô nương này, nếu không nhờ linh dược trị thương của
Đàm Công ở Thái Hàng Sơn, không nhờ các hạ truyền nội
lực vào thì đã chết vì Đại Kim Cương chưởng của đại
sư Huyền Từ rồi".
(tr
227, tập IV)
- A
Châu lại phịa ra chuyện nàng bị Mộ Dung Phục dùng Đại
Kim Cương chưởng đánh nàng (gián tiếp qua một vật cản)
để thách Huyền Từ đối chiêu với Mộ Dung, và thách tài
chữa trị của Tiết thần y.
Vì
nghĩ rằng Kiều Phong đã gây ra tội ác tày trời nên Tiết
thần y không chịu chữa trị.
- Kiều
Phong không úy kỵ, yêu cầu Du Thị Song Hùng cấp cho nhiều
vò rượu và nhiều bát uống, rồi dõng dạc mời các anh hùng
cạn chén tuyệt giao trước khi vào trận đao kiếm.
Bạch
Thế Kính, một trưởng lão Cái Bang, cụng bát nói: "...Nếu
không phải vì chuyện cừu hận quốc gia, Bạch Thế Kính này
thà chết cho rồi, không dám xem Kiều huynh là kẻ địch".
Kiều Phong ủy thác A Châu cho Bạch Thế Kính, mong thuyết phục
tiết thần y cứu chữa...
- Sau
khi uống cạn 50 bát rượu, khí lực Kiều Phong trở nên mãnh
liệt, hùng hậu hơn. Chàng chỉ sử dụng các thế võ của
nhà vua Trung Nguyên sáng chế, trong khi các sư Thiếu Lâm và
quần hùng lại sử dụng võ công ngoại lai. Nhiều anh hùng,
hảo hán tử nạn trước chưởng lực của chàng; dù liên
thủ, các anh hùng vẫn rơi vào thế hạ phong. Du Thị Song Hùng
bị Kiều Phong tước mất khí giới, nhục nhã tự vẫn. Các
sư Thiếu Lâm liên thủ vẫn không thay đổi được thế hạ
phong của họ...
Kiều
Phong rất vị nể các nhà sư Thiếu Lâm nên chỉ ra chưởng
chừng mực. Sau vì quần hùng tấn công A Châu, Kiều Phong bị
phân tâm bảo vệ A Châu nên bị đánh lén, thương thế khá
nặng. Một bóng đen là một quái nhân, nhanh lẹ bốc Kiều
Phong nhảy ra khỏi trận, đưa chàng đến nơi xa xăm và an
toàn để dưỡng thương...
19.
2. Ý kiến
Tại
Tụ Hiền Trang, Kiều Phong biểu thị trước quần hùng tài
nghệ siêu quần và khí phách anh hào bạc chúng của chàng.
Con người toàn diện của chàng tròn đầy chất Trung Nguyên,
trừ hình con sói Khất Đan in rõ trên ngực chàng. Kiều Phong
đang nhận chịu vô vàn hàm oan, khổ đau vì hình vẽ con sói
ấy. Bi thảm thay là các tướng trạng, chúng đổi gam màu
thực tại! Cuộc diện bi thiết của Thiên Long Bát Bộ dậy
sóng cũng chỉ vì cái tướng hiện hữu và cái tưởng giá
trị hư vọng đó thôi! Hệt như Kinh Kim Cương đã viết: "Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng" (các tướng trạng đều
hư vọng).
- Ở
đời, giang hồ rộng lớn, đâu chỉ nhà Mộ Dung biết sử
dụng chiêu "gậy ông đập lưng ông" - các hảo thủ, và các
huynh đệ đồng môn của các nạn nhân đều có thể sử dụng
- thế mà các vụ án ở tận nơi xa xăm trời Tây, trời Đông
chết vì chiêu thức của chính mình đều gán về cho một
mình Mộ Dung Phục? Lầm lẫn trong thiên hạ đều chỉ vì
cái ngã tướng!
- Dưới
ánh sáng lờ mờ về đêm, một bóng đen ná ná tướng Kiều
Phong vào Thiếu Lâm hành thích Huyền Khổ đại sư cũng quy
tội về cho Kiều Phong, khi mà người ta có thể có thân tướng
giống Kiều Phong, hoặc giả cố ý hóa trang thành Kiều Phong!
- Kiều
Phong về thăm bố mẹ nhằm lúc bị kẻ bí mật hạ sát, Kiều
Phong đang đau đớn cũng bị các sư Thiếu Lâm kết tội giết
cha mẹ.
Ôi!
Chấp thủ các ngã tướng đã đẻ ra vô minh, và vô minh đã
khiến người đời chấp thủ ngã tướng. Đây là điểm sáng
lóe ra từ các biến cố trên giang hồ mà tác giả mong độc
giả chú ý đến. Điểm sáng có mang theo âm vọng giáo lý
nhà Phật nói lên rằng: cứ quan sát, phân tích kỷ và khách
quan các hiện hữu ở đời, bạn sẽ thấy rõ sự thật ở
khắp hiện hữu: sự thật "vô tự tính" của hiện hữu. Đây
là tiếng nói trí tuệ của Phật giáo!
*
*
*
Hồi
20 : CHỮ TRÊN VÁCH ĐÁ ĐÃ MÒN
HÌNH
XĂM TRƯỚC NGỰC VẪN CÒN TRƠ TRƠ
20.1.
Lược truyện
-
Người hắc y bịt mặt cứu Kiều Phong về dưỡng thương
ở một hang động tiện nghi và cho chàng vài lời khuyên bảo.
Người bịt mặt xuất chưởng chỉ trong một chốc đã biến
thành mấy mươi chiêu để trắc nghiệm tài nghệ của chàng.
Sau lần thử chiêu, Kiều Phong nhận ra đại ân nhân có võ
công vượt trội chàng, lòng rất phục.
- Sau
hai mươi ngày ngơi nghỉ, vết thương đã lành, Kiều Phong
đi Nhạn Môn Quan đọc di ngôn trên vách đá hầu mong mở ra
lai lịch của mình.
- A
Châu đang đợi Kiều Phong tại cửa Nhạn Môn từ 5 ngày qua.
Trước đó, A Châu được thần y, qua trao đổi với Bạch
Thế Kính, chữa lành. Rồi A Châu hóa trang thành Tiết thần
y để thoát thân...
- Giữa
lúc đang phân vân, mơ hồ về thân phận mình, Kiều Phong chứng
kiến ngay tại Nhạn Môn Quan cái cảnh quân Hán bức hiếp,
bóc lột, hành hạ man rợ dân lành Khất Đan. Lòng chàng nhẹ
bớt mặc cảm về dư luận người Khất Đan tàn ác...
Chàng
không đọc được tín hiệu gì ở Nhạn Môn Quan, bèn cùng
A Châu đi tìm hỏi Từ trưởng lão Cái Bang.
20.2.
Ý kiến
- Muôn
thuở đi tìm...:
- Kẻ
gây án thực sự vụ án Nhạn Môn Quan là một người trong
bóng tối ẩn kín suốt ba mươi năm qua, không ai có thể tìm
ra một dấu vết, vì thế cuộc đi tìm thủ phạm, và lý lịch
bản thân của Kiều Phong hầu như là vô vọng.
Thủ
phạm chính là Mộ Dung Bác, đã được giang hồ ghi nhận là
đã qua đời. Ông ta lại là một đại cao thủ siêu quần,
Kiều Phong không phải là đối thủ, vì thế việc trả thù
của chàng rất khó trở thành hiện thực.
- Người
giết Kiều Tam Hòe (cả vợ chồng) lại là Tiêu Viễn Sơn,
bố đẻ của Kiều Phong. Kẻ giết Huyền Khổ đại sư cũng
là Tiêu Viễn Sơn. Việc nuôi chí trả thù của Kiều Phong
kết cục là một lộ trình đau khổ, bi đát! Mà cuộc trả
thù nào rồi cũng dẫn đến một kết thúc đau buồn. Tác
giả như gián tiếp giúp độc giả nhận ra con đường sống
sáng tỏ, hy vọng, không phải là trả thù, mà là xóa bỏ
hận thù. Đó là tiếng nói từ bi xóa hận thù của Phật
Giáo.
- Kẻ
thù thật sự là ai?
- Cái
Bang, Thiếu Lâm tự và quần hào trên giang hồ quả quyết
Kiều Phong là hiểm họa của giang hồ, trong khi Kiều Phong
mãi mãi xứng danh là một đại hiệp, rực sáng tài và đức,
đầy công bằng và nhân ái, ngay cả khi toàn thể giang hồ,
vu oan giáng họa xuống chàng. Sự thật đã nêu ra câu hỏi:
kẻ thù thực sự của giang hồ là ai? - Câu trả lời thì
hầu như đã rõ ràng: Chính là lòng căm thù và tư duy "bệnh
hoạn" của họ! Kẻ thù thực sự của con người cần được
trừ khử trước, ngay lập tức là các ác tâm, hại tâm, hận
tâm, sân tâm, tà kiến, tà tư duy ở ngay chính trong tâm mỗi
người.
Thiên
Long Bát Bộ đang nói như thế và giáo lý nhà Phật cũng nói
thế!