XIX.
Hồi 18 : Điều phải cầu xin
A.
Tóm tắt Hồi 18
-
Tạ Yên Khách sau khi luyện rất thành thạo chiêu " Bích Châm
Thanh Chưởng " liền tìm đến Trường Lạc Bang để rửa nhục,
cái nhục ngày trước Bối Hải Thạch đã tự tiện đến
Ma Thiên Lãnh bắt Cẩu Tạp Chủng đi. Trong thoáng nhìn, ông
đã hạ sát liền bốn Hương Chủ; tiếp liền đánh Bối Hải
Thạch trọng thương, nằm bất động dưới nền, máu chảy
loang lố.
- Thạch
Trung Ngọc bắt được sơ hở của Tạ Yên Khách là đang nợ
một yêu cầu của Thạch Phá Thiên, nên giả vờ mình là Thạch
Phá Thiên, và yêu cầu Tạ Yên Khách tru lục toàn bang phái
Tuyết Sơn. Đây là lý do Tạ Yên Khách, Thạch Trung Ngọc và
Đinh Đang có mặt ở Lăng Tiêu bấy giờ.
- Bạch
Vạn Kiếm, Thành Tự Học và Tề Tự Miễn đang liên thủ
tấn công Tạ Yên Khách. Cẩu Tạp Chủng nhảy vào vòng chiến
và giàn hoà, thân thiết kính chào Tạ Yên Khách. Ông ta kinh
ngạc thấy có mặt đến hai Cẩu Tạp Chủng, bèn hỏi " đứa
nào là Cẩu Tạp Chủng thật ? "
Cẩu
Tạp Chủng , trước quần hùng, thỉnh cầu Tạ Yên Khách nuôi
dạy Thạch Trung Ngọc nên người tốt. Ông ta vô cùng bực
bội, nhưng không thể chối từ.
- Bạch
Tự Tại đón nhận lại tình cảm chung thủy thiết tha của
Sử bà bà, bèn điểm huyệt bà, lấy hai tấm bài đồng và
ra đi, đi về hướng lên thuyền đi Hiệp Khách đảo.
Sau
đó, Cẩu Tạp Chủng, Bạch Vạn Kiếm, Sử bà bà, A Tú, Thạch
Thanh - Mẫn Nhu cùng lên đường theo chân Bạch Tự Tại...
B.
Ý Kiến
1.
Danh tiếng mộng mị
- Tạ
Yên Khách là một quái khách giang hồ, võ công cái thế mà
chỉ mắc phải một chứng bệnh trầm kha : đó là ưng nổi
tiếng " anh hùng " trên giang hồ, mọi người nghe đến tên
mình là phải nể vì, kính sợ. Từ đó mắc phải biết bao
việc ác :
- Chỉ
một chuyện Bối Hải Thạch và quần hào Trường Lạc Bang
lầm tưởng Thạch Phá Thiên ở Mã Thiên Nhai, đến đón về
mà không được Tạ Yên Khách ưng thuận, thì cho đó là một
điều nhục nhã cần được rửa sạch : đã thân hành đến
Trường Lạc Bang giết các Hương Chủ và đánh gục Bối Hải
Thạch.
- Ngông
cuồng ban ra Huyền Thiết Lệnh để rồi giữ lời hứa ấy
xem là quan trọng như sinh mạng, lại xem mạng sống của nhiều
người khác như cỏ rác, giết chết vô cớ mà không ái ngại.
Những
ý tưởng về giá trị của Tạ Yên Khách như thế là rất
bệnh hoạn, rất mộng mị, điên đảo! Nhưng, những ý tưởng
đó vẫn đeo đẳng con người từ thế kỷ nầy đến thế
kỷ khác, giục con người từ bỏ nghĩa sống chân thật mà
chạy theo các bóng hình hư ảo, mở ra các bi kịch rất bi
thương !
Đó
là những gì thuộc điên đảo kiến, điên đảo tâm ( như
đã đề cập ở phần trước ) mà giáo lý nhà Phật đã thiết
tha chỉ rõ..
2.
Cái bất nhân vô hạn của tâm vị kỷ :
Thạch
Trung Ngọc sống chỉ biết hưởng thụ khoái lạc cho chính
tự thân, không cần biết đến các tổn hại do thói vị kỷ
của anh ta gây nên. Trung Ngọc với vẻ khoái chí thỉnh cầu
Tạ Yên Khách rằng :
" Tại
hạ cả gan xin Tạ tiên sinh đến thành Lăng Tiêu tru diệt
sạch sẽ phái Tuyết Sơn từ trên xuống dưới, không để
sống sót một người nào ". ( tập 4, tr. 147 )
Thật
đáng sợ thay dục vọng và vị kỷ !
3.
Tâm lý vị tha :
Cẩu
Tạp Chủng thường nghiêm túc làm theo lời " má má " ở núi
Hùng Nhĩ rằng : " Trọn đời không mở lời xin ai một điều
gì ". Vậy mà khi thấy bà Mẫn Nhu ứa nước mắt lo sợ Tạ
Yên Khách xuất chưởng đánh chết Thạch Trung Ngọc, chàng
liền lấy thân mình che chắn cho Trung Ngọc và khẩn xin Tạ
Yên Khách tha tội cho Trung Ngọc và nuôi dạy chàng cho đến
lúc nên người tốt. Không có nguyên tắc, lời hứa nào giá
trị bằng lòng nhân ái và mạng sống của con người !
XX.
Hồi 19 : Cháo Lạp Bát
A.
Tóm tắt Hồi 19
-
Ngày mồng 8 tháng chạp năm nay là ngày hội yến Lạp Bát
trên Hiệp Khách đảo. Theo truyền thống của Phật giáo Trung
Quốc, đó là ngày kỷ niệm Phật thành đạo.
Trên
bờ biển, bịn rịn từ giã những người thân tình nhất,
Thạch Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng ) lên thuyền con ra đảo.
Một đảo vắng giữa biển lớn, phong cảnh đẹp, nơi đến
là một vùng hang động thiên nhiên rộng lớn, đẹp đẽ có
bàn tay con người tu sửa.
- Quần
hùng của hơn 30 năm qua, trừ một số chết vì hết tuổi
thọ, và quần hùng năm nay, tất cả đều có mặt ở phòng
nghinh tân. Long, Mộc nhị vị đảo chúa cùng với hơn 50 chúng
đệ tử áo vàng, áo xanh ( Trương Tam ở hàng 12 của áo vàng
, Lý Tứ ở hàng 14 áo xanh ) ra mắt quan khách rất trang trọng.
Long đảo chúa là vị phương phi đầy tiên phong đạo cốt
mở lời chào đón và mời tất cả nhắp rượu và dùng cháo
(cháo nấu bằng loại rau cỏ rất quý hiếm )
- Các
thắc mắc, nghi ngờ của quần hào về Hiệp Khách đảo lần
lượt được Long đảo chúa rất ôn tồn giải toả : Tất
cả được mời xem các sổ sách ghi chép công phu về các việc
làm thưởng thiện, phạt ác phân minh trên chốn giang hồ 40
năm qua. Các bang phái và các cá nhân bị hai sứ giả tiêu
diệt đều là các bang phái, cá nhân thuộc ma đạo, tạo ra
quá nhiều tội ác không thể dung tha : sổ sách ghi rõ các
lý do trừng phạt : Bấy giờ quần hào mới bớt nỗi lo.
B.
Ý Kiến
1.
Giáp mặt sự thật
- Các
dư luận về hai sứ giả " Thưởng thiện, Phạt ác ", và về
các việc làm, chủ trương của Hiệp Khách đảo đều là
" hý luận "," huyền đàm ", " suy nghĩ một chiều " thiếu căn
cứ. Tất cả chỉ là tin đồn làm rối tung toàn cõi giang
hồ. Sự thật trên đảo cho thấy hoàn toàn khác. Đây là
ảnh tượng của diệu nghĩa Kim Cang Bát Nhã : ở ngoài vòng
ngôn ngữ, huyền đàm, ở ngoài các ngã tưởng.
Một
lời dạy của đức Phật cho các người Kàlamà rất phổ
biến trong giới Phật tử Á Đông là : Đừng vội tin những
gì thuộc tin đồn ! Đừng vội tin những gì thuộc huyền
đàm! Đừng vội tin những gì từ cửa miệng nhà truyền giáo...
Nhưng hãy tin những gì tự mình thấy là thiện, lành cho mình
và người trong hiện tại và tương lai, hãy xem đó là sự
thật mà sống !... cũng cùng một gợi ý rằng hãy tự mình
sống, thể nghiệm rồi sẽ tin là thật .
2.
Các điều kiện tâm lý có thể khám phá sự thật :
- Các
đạo sĩ, như Ngu Trà đạo trưởng, Thiên Hư đạo trưởng
là các bậc thanh tu nên hi vọng có điều kiện để tiếp
cận chân lý.
- Diệu
Đế Thiền sư của Thiếu Lâm tự chuyên hành Giới, Định,
Tuệ của Phật giáo, rất có hi vọng để giác ngộ chân lý.
- Mai
Nữ hiệp có tâm sáng tạo, hi vọng có thể bắt gặp vài
ánh sáng chân lýù.
- Các
nhà bác học : hi vọng có điều kiện để mở tung bí pháp.
- Các
bang chủ hầu hết đều có định lực cao, và kinh nghiệm
khổ đau trần thế nhiều, hi vọng có bừng dậy sự giác
tỉnh về sự thật.
- Tâm
lý thuần thiện, và thông tuệ như Thạch Phá Thiên hi vọng
có nhiều nhân duyên tương ưng với chân lý.
3.
Lý do qua 40 năm mà bí kíp vẫn còn khép kín
- Các
cao nhân đều bị kẹt vào phân tích luận giải, trong khi chân
lý thì ở ngoài thế giới ý nghĩa của các ngã niệm, ngã
tưởng.
- Các
cao nhân đều đắm trước, dính mắc vào các cảm thọ khinh
an, hỷ, lạc nên còn bị trói buộc bởi Thọ uẩn ( của Ngũ
uẩn ) như Tôn Hành Giả bị kẹt ở Ngũ Hành sơn : Thọ uẩn
là pháp bị làm ra gọi là hữu vi, trong khi sự thật thì không
bị làm ra, gọi là vô vi.
- Các
cao nhân đều bị dính mắc vào cái thấy biết của mình nên
không thể đi xa vào sự phát huy trí tuệ.
Còn
bị dính mắc là còn hữu hạn, trong khi trí tuệ giải thoát
và giải thoát thì vô hạn.
Điểm
dính mắc của các đạo nhân, kiếm khách trên đảo được
Kim Dung giới thiệu tương tự sự dính mắc của 62 học thuyết
phi Phật giáo ở xứ Ấn trước khi Đức Phật giác ngộ dưới
cội bồ đề, đã được trình bày ở Kinh Phạm Võng, Trường
Bộ I, Nikàya; và Kinh Phạm Động, Trường A hàm I, tạng A-Hàm.
Theo
kinh Phật, kẹt vào ba điểm nêu trên thì hành giả không thể
vào đại định của Diệt thọ tưởng định ( định đã
dập tắt các cảm thọ và các ngã tưởng ) để tỏa sáng
trí tuệ thể nhập chân lý.
XXI.
Hồi 20 : Hiệp Khách Hành
A.
Tóm tắt Hồi 20
-
Khi mọi cao thủ đều hoan hỷ với các lời dẫn giải của
Long đảo chúa thì đồng thanh muốn tận mắt xem bí kíp "
Hiệp Khách Hành " , một bài thơ cổ của Lý Thái Bạch, một
đại thi hào của Trung Quốc ngày xưa.
- Các
môn đồ của đảo trải rộng tấm bản đồ của Động bí
pháp gồøm 24 gian thạch thất có chữ và đồ hình trên vách
đá. Tất cả được vào, ra tự do, hoặc ở lại luôn trong
động tại từng gian thạch thất : đã chuẩn bị đầy đủ
thức ăn , thức uống và các nhu cầu thiết yếu khác.
* Gian
thạch thất thứ nhất : Câu đầu bài thơ là :
" Triệu
khách mạn hồ anh "
(
Khách nước Triệu phất phơ giải mũ )
với
đồ hình một chàng văn nhân, phong nhã, thanh tú.
* Gian
thạch thất thứ hai :
Câu
thơ thứ hai là :
" Ngô
câu sương tuyết minh "
(
Kiếm ngô câu rực rỡ tuyết sương )
- Các
chữ viết trên vách động hất lên, tạc qua, đá xuống như
là các đường kiếm : có 24 đường kiếm : nhìn kỹ 24 đường
kiếm nầy thì Cẩu Tạp Chủng phát hiện có một nguồn nội
lực vận hành từ huyệt Nghinh Hương đến huyệt Thương Dương
; phương vị cùng hình trạng các thanh kiếm hoàn toàn tương
hợp với vị trí và đường lối vận chuyển kinh mạch trong
nội thể.
- Cẩu
Tạp Chủng trở lui nhìn ngắm đồ hình ở gian thạch thất
thứ nhất : khi nhìn cái tay áo phất thì nhiệt khí đi theo
Túc Thiếu Dương Đảm Kinh, hướng vào hai huyệt Nhật Nguyệt
và Kim Môn; các nét trong đồ hình liên quan chặt chẽ với
nhau như các đường kinh mạch trong cơ thể.
Có
9 lần 9 là 81 nét bút thuận, nghịch, Cẩu Tạp Chủng luyện
theo từng nét cho đến khi thuộc lòng.
* Gian
thạch thất thứ ba :
"
Ngân Yên chiếu bạch mã "
(
Ngân yên bạch mã huy hoàng )
Đồ
hình là một con tuấn mã đang nghểnh cổ phóng nước đại,
dưới vó có nhiều mây mù, như đang bay lên trời. Tập trung
nhìn đồ hình thì Cẩu Tạp Chủng thấy khí nóng trong người
ngưng trệ, không chuyển vận; rồi nội lực bỗng cuồn cuộn
nổi lên giục giã co chân chạy, chạy tiếp nhiều vòng. Chàng
chạy chín vòng, vừa để tâm trên đồ hình vách đá cho đến
khi đồ hình khắc sâu vào tâm trí thì chàng ngừng chạy và
đến gian thạch thất kế tiếp.
* Gian
thạch thất thứ tư :
"
Tạp đạp như lưu tinh "
(
Vó câu vun vút như ngàn sao bay )
Cẩu
Tạp Chủng theo đồ hình mà luyện tập.
Từ
đây, Cẩu Tạp Chủng đi qua đủ 24 gian thạch thất và nhận
ra rằng :
- Câu
thơ số 5, số 10 và số 17 : mỗi câu là một loại kiếm pháp.
- Câu
6, 7, 8 : mỗi câu là một loại khinh công.
- Câu
9, 10, 16 : mỗi câu là một loại chưởng pháp.
- câu
13, 18, 20 : là công phu vận khí, luyện công.
Chàng
học rất nhanh : có ngày học đến 3 môn ; có khi 18 ngày mới
học xong một môn. Chàng luyện liên tục cho đến gian thạch
thất thứ 23. Vậy cho đến nay, chàng ở trong động 75 ngày
trọn.
* Gian
thạch thất 24 :
- 23
gian đầu đều có đồ hình trên vách đá; gian 24 thì không
có đồ hình, mà toàn chữ nghĩa.
- Tại
đây, Long Mộc đảo chúa đang ngồi tịnh tọa.
- Các
nét bút vừa nhìn vào thì liền choáng váng đầu óc. Nhìn
kỹ ngưng thần thì thấy vô số nét bút biến thành những
con nòng nọc chuyển động. Nếu chăm chú nhìn thì nòng nọc
ngưng chuyển động.
Chàng
thanh thản nhìn từng con nòng nọc, thấy nội tức nhảy nhót
ở huyệt Chí Dương sau lưng, rồi đến Huyền Khu nối thành
một sợi dây. Chàng tìm các con nòng nọc nhìn thế nào để
mấy trăm huyệt đạo liên lạc với nhau thành một luồng
nội khí thông với nhau thì toàn thân cảm thấy rất khoan
khoái. Chàng trải qua ở thạch động 24 nầy đã 7,8 bữa ăn
rồi.
Rồi
đến một thời điểm nội khí trong người chàng cuồn cuộn
dâng trào như một con sông lớn, chàng tự động phóng chưởng
" Ngũ nhạc đảo vi khinh ", rồi tiếp sử kiếm pháp " Thập
bộ sát nhất nhân " ( dù tay không có kiếm )... đi qua hết
24 câu trên bài thơ cổ.
Khi
chàng đi qua một mạch đến câu 23 ( Thùy Năng thư các hạ
) thì nội công và khinh công hoà thành một khối ...
Rồi
hàng vạn chiêu thức trên vách đá bỗng dưng từ vô thức
mà phát ra không ngớt, cảm thấy lòng vui thích mà buột miệng
la lên : " Thật là tuyệt diệu ! "
- Long
Mộc đảo chúa chứng kiến sự thành tựu ấy cũng buột miệng
kêu : " Quả nhiên tuyệt diệu ! " rồi sụp lạy chàng thiếu
hiệp một lạy. Thạch Phá Thiên vội lạy đáp lễ.
Bấy
giờ, Long, Mộc đảo chúa kiệt sức do vì cả hai liên thủ
để đỡ chưởng phong do Thạch Phá Thiên đánh ra, mà không
đỡ nỗi ( Sức mạnh nội lực của hai vị là vô song mà
cũng kiệt sức )
- Sau
đó, Thạch Phá Thiên xin dẫn hai vị đảo chúa trở lại từ
động đá thứ nhất đến động 24 và cắt nghĩa ở mỗi
động chàng đã làm gì và cho biết rõ chàng không biết chữ.
Hai vị đảo chúa cảm tạ mà không đi, vì đã cùng bừng
ngộ bí kíp : thì ra các văn tự trên đồ hình là vô dụng
!
( thực
tại ở ngoài văn tự, ngữ nghĩa )
Chẳng
những vô dụng mà còn có hại nữa !
- Hai
vị đảo chúa khuyên Thạch Phá Thiên giữ kín sự thành tựu,
tuyệt nhiên không tiết lộ để tránh các nguy hiểm ở đời.
Động đá bị chấn ,hỏng bởi chưởng phong của ba vị, không
bao lâu nữa sẽ đổ. Hai vị liền " quy tiên "
- Chư
quan khách được triệu tập mời lên thuyền rời đảo. v.v...
- Hai
sứ giả hẹn gặp Thạch Phá Thiên ở đất liền để tiếp
tục con đường hành hiệp.
B.
Ý Kiến
24
động đá ở Hiệp Khách đảo và Phật học
1.
Thạch Phá Thiên ở động thứ nhất và thứ hai cho đến động
23 :
- Trước
khi đến các thạch động, Thạch Phá Thiên vốn đã thành
tựu " La hán phục ma thần công " do tự huấn luyện thiền
chỉ và thiền quán. Ở cấp độ thành tựu nầy, chàng thiếu
hiệp đã gột sạch các tâm lý cấu uế, bất thiện.
- Thạch
Phá Thiên có tâm lý vô dục, không vướng mắc vào tư biện,
chữ nghĩa nên dễ đắc các định.
- Công
phu chỉ nhìn các đồ hình là một hình thức thiền quán (Vipassana)
của Phật giáo.
- Nhìn
và nội khí tự vận hành qua các huyệt đạo cho đến khi
tất cả các huyệt đạo trong nội thể đều thông suốt,
tâm hoàn toàn xả, khinh an thì sự vật tự phô bày thực tướng
duyên sinh của nó như chàng đã ngộ từ động thứ hai.
Cứ
thế, lập đi lập lại nhiều lần cho đến động thứ 24
thì định lực sung mãn và cái tuệ thấy rõ sự thật duyên
sinh sung mãn sẽ cắt đứt tất cả tâm lý ngăn che tâm thức
để thể nhập chân lý (thực tướng). Đây là thành tựu
sau rốt gọi là phá giải được bí kíp " Thái Huyền Kinh
".
2.
Ý nghĩa của 9x9=81 nét bút xuôi, ngược trên đồ hình
Theo
Phật học, cảnh giới chúng sinh có chín cảnh trước khi vào
cảnh giới Phật ( giác ngộ thật pháp ); mỗi cảnh giới,
mỗi chúng sinh có đủ 9 cảnh giới tâm; 9 cảnh giới chúng
sinh sẽ có 9x9=81 cảnh giới tâm sai biệt mà hành giả cần
chứng nghiệm.
3.
Ý nghĩa 24 thạch động
- Qua
mỗi thạch động thì công phu thiền quán của hành giả, và
cả định lực, sẽ mạnh hơn, phát triển cao hơn. 24 thạch
động là tượng trưng cho tâm thiền định của hành giả
qua 24 cảnh giới tâm của cõi trời Dục giới, Sắc giới
và Vô Sắc giới; trước khi giác ngộ sự thật . Đó là :
- Cõi
trời Dục giới có 6 : Tứ Thiên vương, Tam thập tam, Dạ ma,
Đâu suất đà, Hoá lạc, Tha hoá tự tại.
- Cõi
trời sắc giới có 14 :
Sơ
thiền có 3 : Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm.
Nhị
thiền có 3 : Thiện Quang, Vô lượng Quang, Quang Âm.
Tam
thiền có 3 : Thiện Tịnh, Vô lượng Tịnh, Biến Tịnh.
Tứ
thiền có 5 : Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt và
Thiện Hiện.
- Cõi
trời vô sắc giới có 4 :
Khôngvô
biên.
Thức
vô biên.
Vô
Sở Hữu.
Phi
tưởng phi phi tưởng.
4.
Hai vị đảo chúa Long, Mộc đã đến thạch động 24 đối
mặt với một bản văn tự "Hiệp Khách Hành " tại đây hai
vị rơi vào hai vướng mắc :
- Nghĩ
là mình có thành tựu công phu qua 23 thạch động, đang kẹt
vào tri kiến, và đang chờ đợi một tri kiến giải mã bí
pháp. Đây gọi là chấp thủ tri kiến, theo Phật học.
- Hai
vị đang mãi miết an trú vào cảm thọ lạc của thiền định
nên đang bị vướng mắc vào Thọ uẩn, chưa có thể thắng
vượt được Thọ và Tưởng nên không thể vào được đại
định cao nhất gọi là Cữu định ( Diệt thọ tưởng định
) để giáp mặt với chân lý, giải thoát.
5.
Hai vị đảo chúa khi biết Thạch Phá Thiên không biết chữ
nghĩa, cả hai liền bừng tỉnh, sụp lạy Thạch Phá Thiên,
chàng kiếm hiệp lạy đáp lễ. Tâm thức cả ba vị bấy giờ
đang reo vui như đang vang vọng đoạn kinh cuối của bài Bát
Nhã Tâm Kinh :
" Qua
rồi, qua rồi, hoàn toàn đã qua rồi,
Tất
cả hoàn toàn đã qua rồi. Ôi giải thoát ! "
( Yết
đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế,
Bồ
đề tát bà ha )
Đó
là thời điểm sinh tử, khổ đau sụp đổ như là hình ảnh
24 động đá bị chấn động vỡ và sắp sụp đổ !
6.
Bản văn "Hiệp Khách Hành"
- Theo
giáo lý nhà Phật, thế giới chân thật là thế giới vô ngã
ở ngoài mọi ngã tính cố định. Do ở ngoài các ngã tính
cố định, nên ở ngoài thế giới ý nghĩa của khái niệm,
của lý luận, huyền đàm.
Kinh
Kim Cương dạy :
Đoạn
17 c : Này Tu-Bồ-Đề, Như Lai đồng nghĩa với như tính ( suchness
)
Đoạn
17 d : " ... Vì pháp mà Như Lai chứng đắc và tuyên thuyết
thì không phải thật, không phải hư. Cho nên Như Lai dạy tất
cả pháp đều là pháp đặc biệt và riêng của Như Lai "
Như
thế, dưới cái nhìn không chấp thủ ngã tướng, thì các
pháp đều xuất hiện như thực, là thực tại như thực.
Đoạn
26 b : ( Bản dịch của Edward Conze )
" Nên
thấy chư Phật ở các pháp,
Nên
thấy sự chỉ giáo của chư Phật ở pháp thân,
Nhưng
thực tính của các pháp không thể nhận thức,
Và
không ai có thể nhận thức thực tính như một đối tượng
"
Bài
cổ thi của Lý Thái Bạch, " Hiệp Khách Hành ", là bài thơ
thế tục, nếu được nhìn với cái nhìn ngã tính, ngã tướng
( nhìn với văn tự và ý nghĩa ): nó là như thực, nếu được
nhìn với cái nhìn không chấp thủ như cái nhìn thuần khiết
của Thạch Phá Thiên. Bấy giờ, với chàng thiếu hiệp, "
Hiệp Khách Hành " qủa thật là " Thái Huyền Kinh ", tương
tự các dòng Kinh Kim Cương đã nói rằng :
" Nếu
thấy ta qua sắc tướng
Cầu
Ta qua âm thanh,
Thì
người ấy làm sai
Sẽ
trọn không thấy Ta "
( "
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Chung
bất kiến Như Lai " )
XXII.
Hồi 21: Ta là ai ?
A.
Tóm tắt Hồi 21
-
Thuyền sắp cập bến thì liền thấy Sử bà bà và A Tú từ
đỉnh núi phóng xuống biển, Thạch Phá Thiên liền phóng ngay
ra một tấm váng thuyền và sử dụng khinh công thượng thừa
vượt đến đón bắt : chàng giữ lại A Tú, và dùng lực
đẩy Sử bà bà lên thuyền cho Bạch Tự Tại.
- Vừa
đến bờ, Đinh Bất Tứ và Mai Văn Hinh đi núi Hùng Nhĩ tìm
con.
- Nhóm
Thạch Thanh - Mẫn Nhu, Bạch Tự Tại, Sử bà bà, Bạch Vạn
Kiếm, Thạch Phá Thiên và A Tú cũng đến Hùng Nhĩ tìm Mai
Phương Cô để xoá nợ cũ.
- Không
ngờ Mai Phương Cô là " má má " của Thạch Phá Thiên ( Cẩu
Tạp Chủng ) và ngôi nhà trên đỉnh Hùng Nhĩ là nhà của
chàng sống từ nhỏ với chó A Hoàng.
- Một
cuộc hội diện bất ngờ, sau một xung đột nhỏ bằng lời
và bằng kiếm, thì Thạch Phá Thiên cầu xin Thạch Thanh - Mẫn
Nhu đừng báo thù " má má ". Mẫn Nhu thông cảm với nỗi khổ
thâm trầm của Mai Phương Cô, bà trở nên không thù, không
hận nữa.
- Sau
khi biết rõ sự tình Thạch Thanh không đến gần nàng là bởi
nàng giỏi hơn chàng nhiều mặt : võ, văn và tài nấu nướng.
Nàng thất vọng tự vẫn và để lộ dấu son xử nữ trên
cánh tay người con gái còn nguyên: điều nầy nói lên rằng
Thạch Phá Thiên không phải là con của nàng và Thạch Thanh,
mà là chính bé Thạch Trung Kiên nàng đã cướp đi từ hồi
một tuổi.
- Câu
chuyện kết thúc đau buồn từ nhiều phía : Chàng thiếu hiệp
tự mình còn mơ hồ về lai lịch của mình !
B.
Ý Kiến
1.
Cẩu Tạp chủng lớn lên từ núi Hùng Nhĩ, lưu lạc rời xa
Hùng Nhĩ, rồi thành tựu công phu võ công thượng thừa lại
trở về cảnh cũ của núi rừng Hùng Nhĩ. Đây là hình ảnh
gợi lên trong người đọc giai thoại Thiền của đại thi
hào Tô Đông Pha trong văn học Thiền, rằng :
" Khói
tỏa Lô sơn, sóng Triết giang,
Khi
chưa đến đó, những mơ màng.
Đến
rồi lại thấy không gì khác
Khói
tỏa Lô sơn, sóng Triết giang "
( "
Lô sơn yên tỏa Triết giang triều,
Vị
đáo sanh tiền hận bất tiêu.
Đáo
đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô
sơn yên tỏa Triết giang triều " )
Đấy
là ý nghĩa :
1.
Khi chưa tu, thì núi là núi... ( Hùng Nhĩ )
2.
Khi đang tu, núi không phải là núi... ( Hùng Nhĩ )
3.
Khi tu xong, núi vẫn là núi ... ( Hùng Nhĩ )
1'
--> Núi Hùng Nhĩ của bé Cẩu Tạp chủng ...
2'--
> Núi Hùng Nhĩ chìm vào lãng quên ( rời xa )...
3'-->
Núi Hùng Nhĩ của chàng thiếu hiệp Thạch Phá Thiên (hay Thạch
Trung Kiên)
đạt
đạo...
2.
Ta là ai ?
- Mai
Phương Cô tự vẫn. Vết son xử nữ trên tay nàng còn nguyên,
xác định Thạch Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng ) không phải
là con nàng và Thạch Thanh ( bởi Cẩu Tạp Chủng rất giống
Thạch Thanh ).
Bất
giác Thạch Phá Thiên liền miệng hỏi : Ta là ai ?
- Đấy
là câu hỏi rất triết và rất đạo dành cho mọi người
hiện diện trên đời : để tự thức tỉnh biết rõ mình,
tâm thức, tình cảm, hiểu biết đang ở đâu ?
- Đấy
là câu hỏi có hai tiếng rất quan trọng : Ta và Ai bao hàm
sự có mặt của một ngã tướng, ngã tính.
Chính
cái Ta và cái Ai là đầu mối của mọi tranh chấp, rối loạn
trên chốn giang hồ mà " Hiệp Khách Hành " đã ghi lại, và
ghi rất đậm nét !
Để
xoá tan các khổ đau, bất an ở đời, công việc chính của
văn hoá là xóa tan ýniệm về Ta và về Ai trong tư duy của
con người. Thực tại thì trôi chảy không ngừng nên không
hề có mặt một " cái Ai " nào. Ý niệm về Ta, về Ai chỉ
là một vọngtưởng, mà " Thái Huyền Kinh " đã làm nổ tung
ở thạch thất thứ 24, khi Thạch Phá Thiên hoàn toàn nhiếp
niệm thể nhập với thực tại. Vọng tưởng ấy sẽ tan biến
nếu hành giả biết lắng nghe tiếng nói Duyên sinh, Vô ngã
thường nói của gió, trăng, mây, nước, âm thanh, ánh sáng,
và của thân tâm mỗi người. Nghe như thế là nghe bằng lỗ
tai của thực tại , mà không phải bằng lỗ tai máu thịt
của con người, gọi là Hùng Nhĩ mà không phải là nhục nhĩ
! Biết lắng nghe như biết nghe và nhìn theo chỉ dẫn của
bài kệ cuối Kinh Kim Cương :
" Hãy
khởi lên cái nhìn :
Hết
thảy hiện hữu bị làm ra
Là
như mộng, như huyễn, như bọt nước
Như
sương mai, như ánh chớp "
( "
Nhất thiết hữu vi pháp
Như
mộng, huyễn, bào ảnh,
Như
lộ, diệc như điển,
Ưng
tác như thị quán " )
*
TỔNG
LUẬN
Nét
văn hóa Phật giáo trong "Hiệp Khách Hành"
I
- Khái quát
-
Câu truyện là một chuỗi vận hành của nhân duyên:
Cẩu
Tạp Chủng rời núi Hùng Nhĩ đi tìm mẹ - Gặp Huyền Thiết
Lệnh và quái nhân Tạ Yên Khách - Gặp Đại bi lão nhân tặng
pho tượng La hán là bí kíp nội công " La hán phục ma thần
công " do các thần Tăng Thiếu Lâm sáng tạo - Theo Tạ Yên
Khách đến sống ở Ma Thiên Lãnh, luyện nội công " La hán
phục ma " - bị bắt về Trường Lạc Bang làm bang chủ. Truyện
tiếp tục theo bước chân của Cẩu Tạp Chủng ghi lại các
chuyện xẩy đến chung quanh chàng thiếu hiệp trên chốn giang
hồ, và những diễn biến của tâm thức chàng như là hương
hoa Phật giáo để lại trên một vùng văn hóa rộng: Núi Hùng
Nhĩ, Ma Thiên Lãnh, Quan Đông, Lăng Tiêu, Hiệp Khách đảo.
Đó là lộ trình tu tập để chuyển đổi tâm lý qua nhiều
giai đoạn:
- Tu
tập hạnh đức : chuyển đổi tâm lý vị kỷ thành vị tha,
từ cấu uế đến thiện.
- Tu
tập tâm đức : phát triển từ thiện tâm đến các tâm thiền
định thuộc Sắc giới, Vô sắc giới, vượt qua các sầu,
bi, khổ, ưu não.
- Tu
tập tuệ đức : từ định tâm, hành thiền quán để vào
Diệt thọ tưởng định phát sinh trí tuệ giải thoát thể
nhập sự thật, dập tắt khổ đau.
Con
đường chuyển đổi tâm lý cá nhân ấy là cơ sở để xây
dựng văn hóa xã hội dưới hai hình thức :
- Hình
thức tiêu cực : cá nhân sống lương thiện, không gây ra các
rối ren cho tha nhân và xã hội.
- Hình
thức tích cực : hành hiệp giúp đời.
II.
Xây dựng Hạnh đức
Cẩu
Tạp Chủng bẩm tính thuần lương, chân thật, vị tha và thông
sáng, lớn lên trong môi trường văn hóa tự nhiên của núi
rừng Khô Thảo Lãnh và Ma Thiên Lãnh, ở ngoài vòng tiêm nhiễm
của thị phi, được mất, hơn thua, khen chê, dối gạt, hận
thù, đố kỵ, ganh ghét, tâm lý phát triển theo hướng thiện
lương.
Với
các cá nhân khác trong xã hội, thì công phu huấn luyện phải
kiểm soát, chế ngự được năm loại tâm lý vốn là tác
nhân sinh ra các tâm lý bất thiện khác, là :
- Tâm
lý trạo cử : tâm thiếu tập trung, không ổn định, dao động.
- Tâm
lý hôn trầm : tâm lý mệt mỏi, thụ động, lười biếng.
- Tâm
lý tham dục : ham muốn hưởng thụ sắc, thanh, hương vị,
và xúc.
- Tâm
lý sân hận : vội vã, nóng nảy, tức bực.
- Tâm
lý nghi ngờ : tánh phân vân, mê mờ, chấp ngã, tà kiến.
III.
Xây dựng Tâm đức
- Thời
gian Cẩu Tạp Chủng tập luyện nội công theo các huyệt đạo,
kinh mạch được chỉ dẫn trên 18 tượng đất là thời gian
tu tập Tâm đức. Thành tựu bước luyện công nầy là thành
tựu Tâm đức phát sinh các tâm lý khinh an, hỷ, lạc; rời
khỏi các tham, ưu ở đời.
Đây
là công phu Thiền chỉ (Samatha) của Thiền định Phật giáo.
- Thời
gian Cẩu Tạp Chủng vận khí theo các đường kinh mạch trên
18 tượng gỗ là thời gian hành thiền quán (Vipassana), hay Chỉ,
Quán song hành, dẫn đến kết quả tâm thanh tịnh và thấy
biết đúng theo sự thật của sự vật hiện hữu. Kim Dung
gọi kết quả này là thành tựu rực rỡ " La hán phục ma
thần công ".
IV.
Xây dựng Tuệ đức
- Công
phu nầy hiện rõ từ thời điểm Cẩu Tạp Chủng biết rõ
âm mưu của Bối Hải Thạch và các Hương chủ Trường Lạc
Bang mà vẫn khởi đại từ tâm chấp nhận làm bang chủ bang
Trường Lạc để đi vào hiểm nguy: dự hội yến Lạp Bát.
- Công
phu Chỉ - Quán song hành trên đảo Hiệp Khách : Chú tâm tỉnh
giác vào các đồ hình trên vách đá của 24 thạch động cho
đến thời điểm giải ngộ bài cổ thi " Hiệp Khách Hành
" là công phu xây dựng Tuệ đức.
Tại
động 24, Cẩu Tạp Chủng nhiếp phục hoàn toàn các cảm thọ
và các niệm tưởng - Nghĩa là hoàn toàn kiểm soát, chế ngự
năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức - đi vào định
cao nhất: Diệt Thọ Tưởng định. Trí tuệ giải thoát thấy
rõ sự thật Duyên sinh, Vô ngã của con người và thế giới
bừng tỏa từ định nầy.
V.
Xây dựng các Tâm giải thoát
1.
Tâm đại từ đại bi
- Bản
tâm của Cẩu Tạp Chủng vốn đã thiểu dục vị tha. Các
cảnh khổ hoạn trên giang hồ đã giúp chàng mở rộng từ
tâm và bi tâm, không quản ngại gian khó, đi vào cứu giúp
tha nhân như cứu Sử bà bà, A Tú, Bạch Vạn Kiếm, Đại bi
lão nhân, Tứ đại bang chủ ở Quan Đông, Bạch Tự Tại,
kiếm phái Tuyết Sơn, bang Trường Lạc, Thạch Trung Ngọc,
và cả hai sứ giả "Thưởng thiện Phạt ác" tại Thiết Xoa
Hội.
Tâm
đại từ, đại bi có tác dụng mở lớn tâm thức hành giả
để cảm nhận hạnh phúc thanh khiết vô bờ, vừa làm lắng
dịu hận thù trong xã hội, tỏa sáng tình người, tỏa sáng
nền văn hóa nhân bản.
2.
Tâm không cố chấp (Không chấp thủ)
Cẩu
Tạp Chủng sống hồn nhiên với thái độ tâm lý không thấy
gì là ta, là của ta, dễ dàng chia xẻ với các người chung
quanh mà không nệ hơn, thiệt. Chàng ngạc nhiên thấy các người
khác hại nhau vì lợi lộc và quyền thế. Tâm không chấp
thủ ấy là đối trọng của tâm lý vì ngã nhan nhản trên
võ lâm, giang hồ.
Đây
là điều đáng quan tâm của các nhà văn hóa thời đại mới.
3.
Hiểu mình và hiểu thế giới
Câu
hỏi mà Cẩu Tạp Chủng liên miệng hỏi " Ta là ai ? " không
chỉ liên hệ ý nghĩa "má má ta là ai ? ", " gia gia ta là ai
? ", ta là người đã lớn lên ở núi Hùng Nhĩ chăng? mà còn
gợi lên ý nghĩa rằng : ta là thân thể vật lý ư ? là tâm
lý ? sinh lý ? tình cảm? tư duy - hiểu biết ? hay ta làøbao
gồm tất cả các thứ ấy ? Có cái ta riêng lẻ để phục
vụ không ?
Đấy
là các câu hỏi đeo đẳng mãi với con người cho đến thời
điểm chứng nhập chân lý.
Kim
Dung đã nhẹ nhàng hình dung ra câu trả lời là toàn bộ quá
trình phát triển tâm lý của Cẩu Tạp Chủng, giữa khi các
hàng cao thủ thì vướng vào tranh cãi chỉ một cái ta vật
lý của chàng. Tác giả đã cho thấy sự sống không phải
là các câu hỏi và trả lời về cái ta; mà là thực tại
của mối tương quan nhân duyên không cùng tận đang giàn trải
chung quanh ta. Chỉ có một sự thật rõ ràng nhất mà con người
phải thường xuyên đối mặt là giải quyết các phiền não,
khổ đau, và khát vọng hạnh phúc không khi nào vơi.
Theo
giáo lý nhà Phật, con người hiện tượng là tập hợp không
cách ly của năm nhóm :
- Thân
thể vật lý, hay sắc uẩn (gồm cả thế giới vật lý);
- Các
cảm thọ khổ, lạc, không khổ không lạc, hay thọ uẩn;
- Các
tưởng về sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, hay tưởng
uẩn;
- Các
tư duy, tư niệm về sắc, thinh, hương, vị xúc, và pháp, hay
hành uẩn;
- Các
thấy biết, nhận thức đến từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý, hay thức uẩn.
Cái
gọi là Ta do năm nhóm trên tập hợp thành rõ ràng là liên
hệ chặt chẽ với tha nhân, xã hội và môi sinh: tách khỏi
tha nhân, xã hội và môi sinh thì cái ta không thể có mặt.
Trong
tập hợp năm nhóm ấy có thể phát hiện trí tuệ giải thoát
và tâm lý giải thoát mà Kim Dung tin tưởng, đã đưa đến
sự giải ngộ qua 24 thạch động.
Thấy
rõ sự thật ở tự thân, hay ở ngoại cảnh, đều cùng lúc
thấy rõ sự thật của thế giới, bởi chân lý không thể
có hai. Sau khi kinh nghiệm về sự thật vô ngã ấy, các hiệp
khách vong ngã một cách tự nhiên, và hành hiệp một cách
tự nhiên, bởi bằng con đường hành hiệp, các hiệp khách
có nhiều nhân duyên để tiếp cận nguồn hạnh phúc không
tên và không giới hạn. Nếu hành động khác đi, nghĩa là
nuôi dưỡng tự ngã (cái ta) và dục vọng thì sẽ đẩy mình
và người vào rối ren, khổ não như đã từng kinh nghiệm.
" Hiệp
Khách Hành " đã gián tiếp giới thiệu với độc giả các
cái ta lạc lõng, bi thương trải khắp toàn truyện, như :
- Cái
ta tự cao tự đại thành cuồng của Bạch Tự Tại;
-
Cái ta si tình của Mai Phương Cô, Đinh Bất Tứ;
-
Cái ta ác loạn của Đinh Bất Tam;
-
Cái ta phóng đãng của Thạch Trung Ngọc, Đinh Đang;
-
Cái ta cố chấp của Tạ Yên Khách, Sử bà bà;
-
Cái ta ước lệ hẹp hòi của Bạch Vạn Kiếm;
-
Cái ta của giá trị văn hóa cổ xưa của bốn đại môn chủ
ở Quan Đông;
-
Cái ta trung chính của Thạch Thanh, Mẫn Nhu;
-
Cái ta hiền hậu rất nhân thế của A Tú;
-
Cái ta rất hào hiệp và có phần chấp thủ của Trương Tam,
Lý Tứ;
-
Cái ta vô dục, vô chấp, vị tha của Cẩu Tạp Chủng v.v...
( đây là cái ta duy nhất của niềm tin của văn hóa trí tuệ
và nhân ái)
4.
Sống hạnh phúc :
- Sống
là đi tìm hạnh phúc là sự hiển nhiên.
Người
ta sinh ra không phải để khổ đau. Thế nên, giới thiệu các
thái độ sống đem lại các cảm nhận hạnh phúc cho cá nhân
và tập thể là sứ mệnh của văn hóa.
" Hiệp
Khách Hành ", hầu như đặt niềm tin giáp mặt chân lý và
hạnh phúc vào con đường thiền định và trí tuệ của Phật
giáo - Nói của Phật giáo mà một cách nói; thật ra đó là
con đường tâm thức của mọi người - . Con đường đó đã
đươc phản ảnh ở Bồ tát Quán Thế Âm trong phẩm kinh Phổ
Môn ( Cách cửa vào sự thật của thế giới ), Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, như đoạn kệ giới thiệu dưới đây:
"Chân
quán, thanh tịnh quán,
Quảng
đại trí tuệ quán,
Bi
quán cập từ quán,
Thường
nguyện, thường chiêm ngưỡng.
Vô
cấu thanh tịnh quang
Huệ
nhật phá chư ám
Năng
phục tai phong hỏa
Phổ
minh chiếu thế gian.
Bi
thể, giới lôi chấn,
Từ
ý, diệu đại vân
Chú
cam lồ pháp vũ
Diệt
trừ phiền não diệm "
Dịch
nghĩa:
Hãy
nhìn thấy sự thật duyên sinh,
Vô
ngã của các pháp,
Nhìn
với trí huệ lớn,
Nhìn
với tâm đại từ, đại bi
Hãy
thường tư duy, niệm tưởng như vậy,
Ánh
sáng vô cấu của tâm thức sẽ xuất hiện
Trí
tuệ, như mặt trời, sẽ phá tan hôn ám
Xua
tan các tai nạn
Chiếu
sáng khắp thế gian.
Tâm
bi như kéo về sấm chớp,
Tâm
từ như mây lớn bủa ra
Cho
xuống cơn mưa pháp thanh lương
Dập
tắt lửa phiền não.
Cái
nhìn đầy đủ sức mạnh của trí tuệ và từ bi ấy hệt
như cái nhìn tập chú của Cẩu Tạp Chủng dán chặt vào 24
đồ hình và chữ nghĩa trên vách đá của 24 thạch động
(chàng nhìn với tâm tuệ và tâm từ của chàng), tỏa sáng
sự giải ngộ bí kíp mà Long, Mộc nhị vị đảo chúa đã
phải chờ đợi suốt 40 năm, phải chăng ?
- Hạnh
phúc, phải chăng có mặt trong cái nhìn ấy, cái nhìn không
dính mắc vào bất cứ gì ở đời, đã bùng vỡ trong tiếng
la đầy niềm hoan lạc của Thạch Phá Thiên và Long Mộc đảo
chúa vào thời điểm cuối của thạch động thứ 24:" Thật
là tuyệt vời!" và " Quả thật là tuyệt vời ! " ? Cái nhìn
tương tự kinh Kim Cương Bát Nhã diễn đạt : " Ưng vô sở
trụ nhi sinh kỳ tâm " (hãy khởi lên cái tâm lý không dính
mắc).
Với
tâm lý " không dinh mắc vào bất cứ gì " ấy, các hiệp khách
dễ dàng đối mặt với các vô thường, hiểm nguy ở đời.
Bấy giờ bốn mùa vẫn vận hành như từng vận hành, nhưng
vắng bóng các ngã niệm, các sầu ưu. Bấy giờ, ở đó, là
điểm hẹn của ba đại hiệp khách : Trương Tam, Lý Tứ và
Thạch Phá Thiên tiếp nối gieo vãi các hạt giống tỉnh thức
với thái độ của Châu Hợi, Hầu Doanh ngày trước :
" Việc
xong rũ áo ra đi ;
Ẩn
thân rừng núi kể gì tiếng tăm "
(
" Sự liễu bất y khứ ;
Thâm
tàng thân dữ danh " )
Viết
xong ngày 25/9/2003
Chùa
Tường Vân, Huế
Tỷ
kheo Thích Chơn Tìện