II.
Hồi 1 : Huyền Thiết Lệnh
A .
Tóm tắt hồi 1
-
Tạ Yên Khách, một quái kiệt giang hồ, sinh thời đã tặng
cho ba đại ân nhân ba tấm Huyền Thiết Lệnh, mỗi tấm Thiết
Lệnh có thể yêu cầu Tạ Yên Khách làm bất cứ một việc
gì dù khó khăn, nguy hiểm. Tạ Yên Khách đã thu về hai tấm
và đã làm hai việc chấn động giang hồ. Tấm thứ ba tặng
cho một đại hiệp mà có lẽ trọn đời vị đại hiệp sẽ
không dùng đến. Không may vị đại hiệp đánh rơi Thiết
Lệnh. Thế là giang hồ tranh nhau tìm đoạt, bao gồm cả chủ
nhân Tạ Yên Khách: nhóm Kim Đan Trại, nhóm kiếm sĩ Tuyết
Sơn, hai hiệp khách Thạch Thanh, Mẫn Nhu, v.v...
- Kiếm
sĩ Ngô Đạo Thông đang cất giữ Huyền Thiết Lệnh nầy và
trở thành kẻ địch của thiên hạ. Ngô Đạo Thông vừa nuôi
tham vọng nhờ cậy Tạ Yên Khách, vừa hoá trang để che mắt:
làm một ông già bán bánh Tiêu ở trị trấn Hầu Giám Tập:
đao kiếm đẫm máu đã xẩy ra vào một buổi hoàng hôn ...
Bấy giờ có một bé ăn xin Cẩu Tạp Chủng đi lang thang tìm
mẹ, kẹt giữa " trận chiến " đao kiếm, tình cờ nhặt được
chiếc bánh tiêu bên vệ đường để ăn, chiếc bánh mà Ngô
Đạo Thông cất giữ Thiết Lệnh.
- Tạ
Yên Khách tìm thấy Thiết Lệnh từ chiếc bánh tiêu của Cẩu
Tạp Chủng trước sự chứng kiến của nhiều kiếm khách.
Theo lời hứa, Tạ Yên Khách phải bảo vệ cậu bé, và phải
làm theo một yêu cầu của bé, nhưng bé thì vâng theo giáo
huấn của "má má " ở Hùng Nhĩ, trọn đời sẽ không mở
miệng xin ai một điều gì. Do vậy, Tạ Yên Khách phải giữ
cậu bé cạnh mình, không rời một bước, sợ bị người
xấu xúi giục yêu cầu điều khó thực hiện, và chờ đợi
cơ hội để đánh lừa bé...
- Tạ
Yên Khách đem Cẩu Tạp Chủng về sống cách ly trên đỉnh
núi Ma Thiên Nhai cô vắng .
B.
Ý kiến
1.
Hiệp sĩ, hay hiệp khách, là người thường cứu giúp người,
cứu giúp đời, thoát khỏi các áp bức , bất công. Xa hơn,
Hiệp khách còn trừ khử các cường tặc, các tham quan ô lại
để bảo vệ dân lành, bảo vệ các quan trung chính vì nước,
vì dân. Nhân vật chính của truyện kiếm hiệp vì thế đầy
tiết khí, hấp dẫn người đọc. Kim Dung đã mượn tiểu
thuyết kiếm hiệp như là phương tiện tốt nhất để chuyên
tải tư tưởng, tâm sự, cảm xúc, tiết khí của mình đối
với nhân quần và quốc gia xã hội, xây dựng một hệ văn
hoá đầy tính nhân văn và trí tuệ.
2.
Nền văn hoá nào cũng nói về điều thiện, đề cao điều
thiện, nhưng quan niệm về lẽ thiện thì có điểm khác nhau.
Kim Dung nói :
" Bậc
thông minh tài trí, kẻ hùng cường dũng cảm đại đa số
đều tích cực tiến thủ. Tiêu chuẩn đạo đức đã chia
họ ra làm hai loại người : mưu cầu hạnh phúc cho nhiều
người, đó là người tốt; chỉ chú ý đến quyền lợi và
địa vị, dục vọng của riêng mình mà làm hại người khác,
đó là người xấu. Mức độ tốt xấu căn cứ vào mức độ
họ đem lại hạnh phúc hay gây tai họa cho người khác để
xác định ".
3.
Về quan niệm về Truyền thống, giáo sư triết Lý Đỗ, trong
dịp thảo luận với Kim Dung tại Đại học Tân An, Hồng Kông,
đã hỏi:
" Tôi
đọc Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Tiếu Ngạo Giang Hồ, v.v... Tôi
đoán, phải chăng tiên sinh cảm thấy văn hóa của chúng ta
phát triển đến ngày nay, những cái tốt đẹp của truyền
thống đã rơi rụng mất rồi, cần phải tìm ở bên ngoài,
như vậy hơi có ý vị phủ định truyền thống ,"
Kim
Dung đáp :
" Có
mấy bộ tiểu thuyết, xuất phát điểm của tôi lúc ấy là
phủ định cách nghĩ giáo điều chủ nghĩa. Tôi tín phục
lý tính... Tôi nghĩ bản thân chân lý cũng có tính tương đối
của nó. Xã hội biến thiên, chân lý cũng có thể thay đổi.
Đạo lý ngàn vạn năm bất biến, đó là điều mà tôi không
tin. Sự thực, những kẻ cuồng tín rất nhiều, thậm chí
trong lãnh vực khoa học cũng có, những lý thuyết khoa học
đã từng được người ta cho là chân lý nhưng rồi lại hóa
ra không hoàn toàn đúng ".
4.
Về quan niệm Nhân quả - Nghiệp giản đơn ở đời, như "
ở hiền thì gặp lành, ác giả ác báo " - khác với nhân quả
ba đời ( quá khứ, hiện tại và vị lai : sanh báo, hậu báo
và laibáo, của Phật giáo thì Kim Dung nghĩ khác hơn :
" Tôi
muốn mượn tiểu thuyết để phản ảnh nhân sinh. Ở đời
không nhất thiết ' ở hiền gặp lành, ác giả ác báo '. Cuộc
đời thật ra rất phức tạp, số phận cũng thiên biến vạn
hóa. Nếu cứ theo mô thức nhất định mà mô tả thì quá
giản đơn hóa cuộc đời. Cờ vây có công thức nhất định
mà nhân sinh thì không có định thức. Đem Kinh kịch để biểu
hiện nhân sinh thì thường định thức hóa, chức năng nghệ
thuật của Kinh kịch thường thiên về giáo huấn, khó lòng
thể hiện chân thực đời sống ". ( Ibid.tr.330 )
Các
điểm vừa nêu trên, từ mở đầu, là ánh sáng rọi vào "
Hiệp Khách Hành " để người viết nhận ra tư duy mới và
tư tưởng Phật học của Kim Dung.
5.
Các nhân vật trong Hồi 1 biểu hiện các mẫu hình tâm lý
về thiện, ác, bất định ở nhiều cấp độ, như :
- Tạ
Yên Khách là một quái kiệt võ lâm bất câu thiện, ác, đã
tặng ba tấm Huyền Thiết Lệnh và hứa sẽ làm theo một yêu
cầu của người có Thiết Lệnh, nhưng khi một tấm rơi vào
tay cường đạo, ông ta đã bằng mọi thủ đoạn để đoạt
lại tấm Thiết Lệnh ấy. Ông thuộc loại mẫu tâm lý bất
định.
- Nhóm
Kim Đao Trại thì hung hãn, đầy ham muốn vị kỷ, xem mạng
sống của tha nhân như cỏ rác : nhóm nầy thuộc tâm lý xấu
ác.
- Thạch
Thanh - Mẫu Nhu suốt đời trọng nghĩa, làm việc nghĩa giúp
người : thuộc tâm lý thiện, tốt.
- "
Má má " của Cẩn Tạp Chủng do hận tình mà một lần đã
gia hại gia đình Mẫn Nhu : theo tâm lý Phật giáo, nàng thuộc
hạng tâm lý si và hận, thuộc ác tâm, hại tâm ...
- Tên
giúp việc trong tiệm tạp hóa quen thói " lý sự cùn ", khi
nghe một tay đao kiếm hung hãn nói : " Còn ai muốn nếm mùi
đao thì cứ việc chạy ra ". liền buột miệng bép xép : "
Đao thì làm gì có mùi ?" liền bị tên hung hãn vung roi giật
bắn người ra đường chết toi. Cái chết rẻ rúng, lạt nhách
như thế là sự cảnh tỉnh cái thói quen hư đàm, huyền luận
vô bổ.
- Cẩu
Tạp Chủng là mẫu tâm lý thuần thiện : trong sáng, chân thật
rất nguyên sơ, thông tuệ, nhân ái. Đây là mẫu tâm lý mà
Kim Dung xây dựng niềm tin phát triển sẽ đi về chân, thiện,
mỹ : chàng sống vô cầu, vô dục từ thân phận kẻ ăn xin,
rồi đời sống dẫn dắt đến điểm nhặt được Huyền
Thiết Lệnh, thân cận quái khách, đi vào phương trời mới.
Qua
Hồi 1, người đọc có cảm nhận rõ : ai sống thiểu dục
tri túc thì tốt đẹp cho bản thân và xã hội; sống đa dục,
vị kỷ thì làm khổ mình, khổ người, thể hiện triết lý
sống của nhà Phật.
III.
Hồi 2 : Thiếu niên gây đại họa
A.
Tóm tắt hồi 2
-
Hai hiệp Khách Thạch Thanh và Mẫu Nhu ký thác con trai là Thạch
Trung Ngọc làm môn nhân của kiếm phái Tuyết Sơn. Năm 15 tuổi,
Thạch Trung Ngọc là một thiếu niên năng động, láu lỉnh,
đa tình, hay chọc ghẹo A - Tú, 13 tuổi, con gái của Bạch
Vạn Kiếm ( Cháu nội của bang chủ Tuyết Sơn ); A Tú chưa
bị hạ nhục, nhưng tức mình tự vẫn ( được kể lại ).
Mẹ nàng bị trách cứ, và vì thương con mà sanh cuồng trí.
Phong Vạn Lý, thầy dạy kiếm của Thạch Trung Ngọc, bị bang
chủ tức mình chặt đứt một cánh tay. Bang chủ phu nhân bị
vạ lây, bỏ Tuyết Sơn ra đi. Hai người sư thúc khác của
Thạch Trung Ngọc bị Đinh Bất Tam giết vì lý do khác cũng
được kết vào tội do lỗi Thạch Trung Ngọc gây ra. Từ đó
Bạch Vạn Kiếm dẫn một toán kiếm sĩ hạ sơn tìm kiếm
Thạch Trung Ngọc để giết, và đốt Thạch gia trang để rửa
hận.
- Bạch
Vạn Kiếm đòi Thạch Thanh - Mẫn Nhu đến gặp bang chủ Tuyết
Sơn ( Bạch Tự Tại ) để nhận trách nhiệm làm cha làm mẹ.
Giọc đường cả toán Tuyết Sơn bị Tạ Yên Khách tấn công
thu hết kiếm, lại vô minh chồng chất, kết oán cho rằng
Thạch Thanh và Mẫn Nhu ám hại họ.
B.
Ý kiến
1.
Ở tuổi 15, Thạch Trung Ngọc chỉ là một thiếu niên " quậy
phá ", trêu chọc A Tú, dễ dàng được các võ sư, kiếm sĩ
uốn nắn, nhất là khi A Tú suýt bị hại. Vậy mà gia đình
bang chủ Bạch Tự Tại đã để mình rơi vào một số sai
lầm mà giáo lý nhà Phật gọi là vô minh :
- Có
các người ganh ghét và đố kỵ Thạch Trung Ngọc ( do vì Thạch
Trung Ngọc có bố mẹ thân tình với bang chủ, giàu có và
tiếng tăm ) đã dựng chuyện thêu dệt, chuyện bé xé ra to.
- Có
những bàn tay quái nghịch trong bóng tối như Đinh Bất Tam,
Đinh Bất Tứ, A Đang nhúng tay vào khiến cho sự việc rối
rắm.
- Quan
niệm sai lầm về giá trị " đứng đắn ", " tiết trinh ",
đức hạnh " của người con gái của gia đình Bạch Tự Tại
đã " đổ dầu vào lửa " cho sự việc cháy bùng, đáng tiếc
!
- Các
tướng trạng, hay các sự kiện, biểu hiện do rất nhiều
nguyên nhân xa, gần tác động, nhưng " vô minh " đã giục gia
đình Bạch Tự Tại quy tội về cho Thạch Trung Ngọc, một
mình Thạch Trung Ngọc.
- Từ
nhìn sai sự việc, dẫn đến hành động sai lầm; các hành
động sai lầm dẫn đến sự kết nối sai lầm dây chuyền.
Hầu như Kim Dung đang phô diễn cái hư huyễn của các tướùng
trạng, và cái nguy hại của các tâm lý xấu của con người
mà Kinh Kim Cang nhà Phật gọi là " Các tướng trạng đều
không thật " ( " Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng " )
2.
Cục diện Tuyết Sơn khởi đầu rối rắm do nhìn sai, thấy
sai và nghĩ sai : thuật ngữ Phật giáo gọi là tà kiến và
tà tư duy ; từ đó kéo theo các sai lầm khác như báo cáo sai
( tà ngữ ), hành động sai ( tà nghiệp ), tưởng nghĩ sai (
tà niệm ), nỗ lực giải quyết sai ( tà tinh tấn ) do thiếu
sáng suốt, định tỉnh ( tà định ). Tại đây Kim Dung bắt
đầu gợi mở ra nếp sống, nếp văn hóa "Bát Chánh Đạo"
của Phật giáo : nếp sống của sự đúng đắn, ổn định.
3.
Cảnh tượng Cảnh Vạn Chung của Tuyết Sơn chạm vào nội
lực của Thạch Thanh mới nhận ra nội lực quá yếu kém của
mình, sợ hãi đến toát mồ hôi lạnh : sự việc nầy các
người chung quanh không nhận ra, rằng giá trị của sức mạnh
của một kiếm khách nằm ở nội lực, mà không ở bên ngoài
kiếm thuật. Cũng vậy, giá trị của một hành động là dựa
vào cái tâm tác động lên hành động ( tốt xấu )...) mà
không nằmở bên ngoài của biểu hiện hành động. Đây là
nội dung định nghĩa chữ Nghiệp (Karma ) của nhà Phật.
4.
Thạch Thanh và Mẫn Nhu là hai đại hiệp khách chân chính mà
liên tục gặp tai ương : con, Thạch Trung Ngọc bị nạn; Thạch
Gia Trang bị đốt; các gia nhân của Thạch Gia Trang bị khốn
đốn; một đứa con trai khác, Thạch Trung Kiên, bị " Mai Phương
Cô " ( tình địch ) bắt đi mất tích từ năm lên một. Đây
là trường hợp ở ngoài sự thật " ác giả ác báo, ở hiền
gặp lành " mà người đương thời tin tưởng.
5.
Đời sống thì dẫy đầy các tác nhân vô thường, bất định
:
- Các
sân hận thì phản ứng đột ngột, tai hại bất định, khó
lường.
- Các
tâm lý tham thì hành động âm thầm, mưu thâm đầy nguy hiểm.
- Các
tâm lý bất định hành động tùy hứng như Tạ Yên Khách,
Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, A Đang... thì khó lường. Giữa
môi trường sống đó thì con người dễ mắc vào các tai họa,
rủi ro không do mình gây ra. Đây là nỗi khổ vô thường,
theo Phật học, gắn chặt với thân phận con người ở ngoài
mọi " logic ".
Chỉ
có sự thuần túy thuật chuyện về một hồi truyện ngắn
của Kim Dung đã ảnh hiện rất nhiều điểm về Phật học,
rất ý vị !
IV.
Hồi 3 : Ma Thiên Nhai
A.
Tóm tắt hồi 3
-
Tạ Yên Khách thu hồi được Huyền Thiết Lệnh từ Cẩu Tạp
Chủng ; sợ nguy hại đến tánh mạng nếu có người xúi giục
Cẩu Tạp Chủng yêu cầu Tạ Yên Khách tự vẫn hay phế bỏ
võ công, nên ông đã đem Cẩu Tạp Chủng từ thị trấn Hầu
Giám Tập về sống trên đỉnh Ma Thiên Lĩnh, ngày đêm giám
sát cậu bé.
- Trên
đường đi, Tạ Yên Khách dùng đủ mưu mô dụ dỗ, uy hiếp
buộc Cẩu Tạp Chủng cầu xin ông một điều gì cho làm xong
lời hứa, nhưng cậu bé thì tuyệt nhiên không mở miệng cầu
xin bất cứ ai một điều gì. Đây là lý do mà cậu bé được
sống lâu dài bên cạnh quái khách Tạ Yên Khách trên Ma Thiên
Lĩnh để hầu hạ ông ta và luyện tập bí pháp "La hán phục
ma thần công ".
- Trên
đường đi, chứng kiến ba cao thủ Trường Lạc bang đang uy
hiếp, bức tử Đại bi lão nhân, Cẩu Tạp Chủng nổi tâm
nghĩa hiệp, lên tiếng bảo vệ lão nhân mà không sợ liên
lụy. Bấy giờ thì lão nhân đã kiệt sức, sắp trút hơi
thở cuối cùng, cảm nghĩa cậu bé bèn cho cậu pho tượng
đất gồm 18 tượng La hán trong túi của ông ta. Đây là pho
bí pháp " La hán phục ma thần công " do các thần tăng Thiếu
Lâm sáng tác và để lại.
- Tạ
Yên Khách bèn nghĩ ra một kế kín đáo hại chết Cẩu Tạp
Chủng bằng cách chỉ dạy cho Cẩu Tạp Chủng luyện tập
bí pháp trên pho tượng, không theo thứ tự, để tẩu hỏa
nhập ma. Nhưng Cẩu Tạp Chủng không có tạp niệm nên không
bị tẩu hỏa trong thời gian dài luyện công. Cuối cùng thì
luyện xong 18 đường dương công và 18 đường âm công, sắp
đến thời điểm thành tựu một võ công " siêu thế "
B.
Ý kiến
1.
Cẩu Tạp Chủng là trẻ thuần lương, thông tuệ là nhân vật
chính sẽ mở ra bí kíp Thái Huyền Kinh, mở ra chân lý, lại
từ năm một tuổi lớn lên ở Khô Thảo Lỉnh, một đỉnh
núi cô vắng, xa thế sự, một đỉnh núi của các loài cỏ
khô; rồi năm 13 tuổi đến sống trên đỉnh Ma Thiên Nhai,
cũng cô vắng, lạnh lùng của " phương trời ma quái " ( Ma
Thiên Nhai ) và nội lực phát triển, trưởng thành ở đây.
Hệt như giải thoát phải đến từ khổ đau; chân lý vượt
ra từ cõi tà vạy : phải hiểu rõ khổ đế ( sự thật của
khổ ) mới thấy con đường đi ra khỏi khổ, đến với giải
thoát (diệt đế) của giáo lý nhà Phật.
2.
Sự thật Tạ Yên Khách dấu mặt lấy đi hai thanh bảo kiếm
của Thạch Thanh và Mẫn Nhu mà nhóm Tuyết Sơn đang giữ làm
tin, khiến nhóm nầy quả quyết rằng đây là mưu gian của
Thạch Thanh và Mẫn Nhu.
- Sự
kiện " má má " đặt tên Cẩu Tạp Chủng khiến Tạ Yên Khách
nghĩ rằng " má má " Mai Phương Cô bị chồng theo gái, bỏ
rơi .
Hai
sự kiện đó nói lên ý nghĩa : Kinh nghiệm thường nghiệm
và tư duy logic rất dễ lầm lẫn : nó đúng mà không thật
. Ở nhà Phật thì chân lý là cái gì vừa đúng ( chân ) và
vừa thật ( như ) gọi là chân như.
3.
Tạ Yên Khách và Cẩu Tạp Chủng là hai hình ảnh văn hóa
tương phản :
- Tạ
Yên Khách thì bận tâm về giá trị hình thức " quân tử ",
" trượng phu ", mà hành xử lại bá đạo.
- Cẩu
Tạp Chủng tự xem là phàm phu mà hành xử chân chất, hiền
thiện, thể hiện đạo lý của Thánh hiền : " Hợp nội ngoại
chi đạo " của Đại học.
Hình
ảnh của chàng gợi lên ở người đọc một chút gì ngậm
ngùi khi nhìn lại giá trị hình thức của nền văn hoá cũ.
4.
Tạ Yên Khách đi vào giang hồ lâu ngày đã đánh mất cái
tính chân chất thuần phác như được thể hiện ở con người
Cẩu Tạp Chủng. Đây là ý nghĩa của " Tánh tương cận, tập
tương viễn " mà đạo đức mang màu sắc Phật giáo ở Cẩu
Tạp Chủng (tẩy sạch tâm lý cấu uế ) có thể làm sống
lại ý nghĩa " cận đạo ":
- Ở
Tạ Yên Khách, cái " ta " ( tự ngã ) và cái " của ta " được
phát triển mạnh.
- Ở
Cẩu Tạp Chủng, cái " ta " và cái " của ta " thì vắng mặt
một cách tự nhiên.
Hai
hình ảnh văn hóa tương phản ấy đã mở ra một cuộc đối
thoại dài của Hồi truyện thứ ba, rất triết lý : Kim Dung
đang nói triết lý bằng ngôn ngữ kiếm hiệp đầy thú vị
. Thử nghe lại một mẫu đối thoại ngắn giữa hai người
ấy :
" Gã
ăn xin ăn xong cái này lại lấy cái khác, ăn hết thảy bốn
cái bánh bao mới nói: "Cháu no rồi, không ăn nữa '.
Tạ
Yên Khách ăn hết hai cái bánh rồi thôi, quay lại hỏi chủ
quán : ' bao nhiêu tiền '
Chủ
quán đáp :' Hai đồng một cái. Cả thảy sáu cái, cộng lại
là mười hai đồng '
Tạ
Yên Khách đáp : ' Không được. Phần ai ăn người ấy trả
tiền. Ta ăn hai tấm, vậy ta trả bốn đồng là đủ.
Lão
thò tay vào bọc toan móc tiền ra trả, nhưng sờ đi sờ lại
mà chẳng còn một đồng nào ... Trong lúc Tạ Yên Khách chưa
biết giải quyết cách nào, thì gã ăn xin đã móc trong bọc
ra một thỏi bạc, đưa cho chủ quán nói : ' Tất cả mười
hai đồng, để cháu trả cho '.
Tạ
Yên Khách chưng hửng hỏi : ' Sao ? Ngươi lại trả tiền cho
ta ư ?'
Gã
ăn xin cười đáp : ' Ông không có tiền mà cháu có, cháu mời
ông ăn mấy cái bánh bao phỏng có chi đáng kể ? '. Chủ quán
cũng lấy làm kinh ngạc, lấy mấy miếng bạc vụn và mấy
xâu tiền đồng thối lại. Gã ăn xin thu tiền cất vào bọc,
rồi nhìn Tạ Yên Khách xem lão sai bảo gì.
Tạ
Yên Khách bất giác nở một nụ cười chua chát, nghĩ thầm
: ' Tạ mỗ cố chấp thành tính, trước nay dù là một miếng
cơm, một ly nước cũng chẳng chịu ơn ai, không ngờ hôm nay
lại để một gã ăn xin mời ăn hai cái bánh bao... ' ( tập
I.tr.92-93)
Nụ
cười chua chát ấy của Tạ Yên Khách là nụ cười về tinh
thần bảo thủ, cố chấp của một nét văn hóa cũ !
5.
Nếp văn hoá ở núi Hùng Nhĩ của Mai Phương Cô " má má ",
hình như có sự hiện diện của bồ tát Quán Thế Âm, trí
tuệ vô ngã và lòng từ bi cứu khổ, đã để lại ảnh hưởng
trong tâm thức hồn nhiên của Cẩu Tạp Chủng khi Cẩu Tạp
Chủng phát ngôn rằng :
" Gã
ăn xin đáp : Sao lại ăn cắp ? Vừa rồi một vị thái thái
giống Quan Âm áo trắng đã cho cháu " ( tr. 94 )
và
:" Ông ăn táo đi ! Ông ( chỉ Tạ Yên Khách ) không phải là
người, cũng không phải ma quỷ, chẳng lẽ lại là Bồ Tát
? Nhưng cháu thấy cũng không giống " ( tr. 97 ).
Nét
văn hóa Phật giáo nhẹ nhàng ấy dần dần in đậm vào tâm
thức Cẩu Tạp Chủng, trước khi khởi động công phu " La
hán phục ma thần công ", để thành tựu việc khai mở chân
lý của Thái Huyền Kinh trên đảo Hiệp Khách !
6.
Ý Nghĩa biểu tượng của 18 tượng La hán :
Trong
Phật giáo, La hán là hàng đệ tử Đức Phật đã hàng phục
được lòng tham dục cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, và
hàng phục được sự đắm trước ( chấp thủ ) lòng dục,
thấy biết, giới luật sai lầm, và các học thuyết chủ trương
có tự ngã ( dù dưới bất cứ dạng thức nào ). Kinh Phật
dạy có 18 dòng Ái ( và Thủ ) liên hệ nội tâm, và 18 dòng
Ái ( và Thủ ) liên hệ ngoại cảnh :
Liên
hệ nội tâm : Khi nào có ý niệm ta có mặt thì sẽ có những
tư tưởng : ta có mặt trong đời này; ta có mặt như vậy,
ta có mặt khác như vậy; ta không thường hằng; ta thường
hằng; ta phải có mặt không ? ta phải có mặt trong đời này
không ? ta phải có mặt như vậy; ta phải có mặt khác như
vậy; mong rằng ta có mặt; mong rằng ta có mặt trong đời
này; mong rằng ta có mặt như vậy; mong rằng ta có mặt khác
như vậy; ta sẽ có mặt; ta sẽ có mặt trong đời này; ta
sẽ có mặt như vậy; ta sẽ có mặt khác như vậy.
Liên
hệ ngoại cảnh : Khi nào có tưởng: ' Do cái này, ta có mặt;
thì sẽ có các tư tưởng : do cái này, ta có mặt trong đời
này ( tương tự trên )
( Tăng
chi kinh, II, PTS, London, 1992, tr.226 )
Nội
dung của 18 dòng Ái ( Thủ ) trên là nội dung của Tập đế
( nguyên nhân của khổ ) trong Tứ Diệu đế của Phật giáo
( được biểu tượng qua chuổi hạt tay 18 hạt hay 36 hạt
).
Đại
bi lão nhân tặng cho Cẩu Tạp Chủng 18 Tượng La hán là trao
cho công phu loại trừ hết thảy các loại chấp thủ ngã tưởng
mà Kinh Kim Cang Bát Nhã của Đại thừa Phật giáo đã đề
cập, bao gồm tám loại : ngã tưởng, nhân tưởng, chúng sanh
tưởng, thọ giả tưởng, pháp tưởng, phi pháp tưởng, tưởng
và phi tưởng :
- Ngã
tưởng : tin tưởng có mặt một tự ngã khác với năm uẩn
như khi nói : cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này
là tự ngã của tôi.
- Chúng
sinh tưởng : tin tưởng có một cá thể độc lập, liên tục
và đồng nhất với chính nó qua thời gian; cá thể đó phân
biệt các phần tố bên trong cá thể khác biệt với những
gì ở bên ngoài.
- Thọ
giả tưởng : tin tưởng có một sức mạnh hợp nhất và sinh
động bên trong cá thể, tồn tại từ khi sinh cho đến khi
chết.
- Nhân
tưởng : tin tưởng có một thực thể thường hằng, luân
hồi, tái sinh từ kiếp nầy qua kiếp khác.
- Pháp
tưởng : tin tưởng có sự hiện hữu thật sự của các pháp
độc lập.
- Phi
pháp tưởng : ( không pháp tưởng ): tin tưởng có không pháp
độc lập với hiện hữu
- Tưởng
: Tưởng thường quyết định tính chất cho sự vật vốn
không có trong thực tế.
- Phi
tưởng : nếu biết tưởng là không thật mà chủ trương không
có tưởng, không tác tưởng-các bậc Thánh, Bồ Tát vẫn tác
tưởng mà vẫn giác tỉnh vô ngã, vẫn không chấp thủ.
Đây
là công phu tu tập chủ yếu của Phật giáo nói chung, và Kim
Cang Bát Nhã nói riêng.
7.
Tu tập công phu loại trừ các tưởng tự ngã :
- Bước
đầu hành giả cần tẩy sạch các tâm lý cấu uế, bất thiện
như tham lam, sân hận, si ám, đố kỵ, kiêu mạn, dối gạt,
ác hại, v.v
nếu không thì không thể tu tập thành tựu các
tâm thiền định ở bước thứ hai.
Đây
là nội dung mà Kim Dung giới thiệu Cẩu Tạp Chủng với tâm
lý trong sáng, giản đơn, không có thất tình, lục dục, hành
" La hán phục ma thần công " dễ dàng thành tựu, không bị
tẩu hỏa, như Tạ Yên Khách đã nhận xét :
" Thằng
bé này đầu óc chưa được mở mang, chuyện đời hoàn toàn
không biết, trong lòng không có tạp niệm, vì thế mới không
bị tẩu hỏa nhập ma "( tr. 136 )
Công
phu " La hán phục ma " quả là công phu giáo dục các tâm hồn,
các cá nhân cho một xã hội đạo đức, nhân ái, đầy tình
người !
V.
Hồi 4 : Bang chúa rừng Lạc bang
A.
Tóm tắt hồi 4
-Tại
Ma Thiên Lãnh, Cẩu Tạp Chủng vừa luyện xong 18 đường âm
công và 18 đường dương công của " La hán phục ma thần công
", do không biết điều hòa kinh mạch âm dương nên bị "tẩu
hỏa", may kịp lúc Bối Hải Thạch, và thêm các đại cao thủ
Trường Lạc bang, xuất hiện cứu cấp, tạm thời qua được
cơn nguy cấp ; Bối Hải Thạch lầm tưởng Cẩu Tạp Chủng
là Thạch Phá Thiên, bang chủ, nên rước về điều dưỡng
ở cung Trường Lạc.
- Tại
cung Thường Lạc, Bối Hải Thạch tiếp tục trị liệu mỗi
ngày. Đinh đỉnh Đang đang, người tình của Thạch Phá Thiên,
cho uống Huyền Băng Bích Hỏa Tửu ( loại rượu rất trân
quý của võ lâm, dùng để trì hoãn lại sự tương giao của
hai luồng khí âm dương trong nội thể ), nên Cẩu Tạp Chủng
hồi tỉnh.
- Vào
lúc hai luồng âm dương khí dâng đầy ở huyệt Đản Trung
( giữa ngực ) thì Triển Phi hương chủ, kẻ thù bị cướp
vợ của Thạch Phá Thiên, xuất hiện đánh một chưởng mạnh
vào huyệt Đản Trung để kết liểu đời Thạch Phá Thiên.
Không ngờ, chưởng nầy đã giúp Cẩu Tạp Chủng điều hòa
được khí huyết, thành tựu thần thông " La hán phục ma "
lên đến đỉnh điểm. Triển Phi hương chủ thì bị phản
lực mà bị gảy một cánh tay và trọng thương.
Cẩu
Tạp Chủng, với từ tâm, vô hại tâm, đã bao che cứu tội
và trị thương cho Triển Phi.
Thật
là sự lạ đầy kinh dị !
B.
Ý kiến
1.
Lạc bang là từ ngữ Phật học chỉ cõi nước của Đức
Phật A-Di-Đà. Ở đó, vắng mặt mọi thứ khổ đau, mãi mãi
hạnh phúc, yên vui nên gọi là Trường Lạc.
Bối
Hải Thạch và các Hương chủ bang nầy thì bản chất hành
ma đạo. Do vì tránh nạn dự hội yến Lạp Bát ở Hiệp Khách
đảo nên tráo dựng bang chủ Thạch Phá Thiên; sau khi Thạch
Phá Thiên ( Thạch Trung Ngọc ) ẩn trốn, Bối Hải Thạch lại
mạo
dựng Cẩu Tạp Chủng.
Thật
là ý vị ! tâm chân của Cẩu Tạp Chủng lại cần được
nuôi dưỡng, phát triển tại ma xứ nầy !
2.
Cẩu Tạp Chủng : sức mạnh của vô dục,vô chấp :
- Bản
tính của Cẩu Tạp Chủng là minh mẫn, chân thật, thuần lương,
vô dục và không chấp nệ các thị phi.
- Mọi
người đều lầm chàng là Thạch Phá Thiên ( trừ Bối Hải
Thạch sau khi điều thương cho chàng ) và bày tỏ thái độ
tương hệ khác nhau : Cùng một đối tượng mà mỗi người
ở vị trí khác nhau thì nhìn khác nhau. Cả tự thân Cẩu Tạp
Chủng cũng không thật sự biết rõ gốc gác của mình, chỉ
lờ mờ chàng là chú bé ở đỉnh Hùng Nhĩ, đùa giỡn với
chó A-hoàng.
Nhờ
có tâm lý vô dục, vô chấp ấy, Cẩu Tạp Chủng đã thành
tựu không khó khăn thần thông siêu đẳng của " La hán phục
ma ". Bước thành tựu còn tiến xa, xa nữa khi chàng không chấp
thủ cả kết quả thành tựu. Khi Bối Hải Thạch nói :
" Chúc
mừng bang chúa! Thần công cái thế của bang chúa đã luyện
thành rồi "
Cẩu
Tạp Chủng đã hồn nhiên hỏi lại :
" Cái
gì ... cái gì là cái thế thần công ? "
Đây,
thực sự là ngôn ngữ của Kinh Kim Cang khi diễn đạt sự
chứng đắc bốn Thánh quả : Tu-đa -hoàn, Tư-đà-hàm , A-na-hàm,
và A-la-hán :
" Đức
Phật hỏi :' Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, vị Tu-đà-hoàn
có nghĩ rằng : Ta đã chứng đắc Tu-đà-hoàn quả chăng ?-Tôn
giả Tu-bồ-đề đáp : Quả thật không, bạch Thế Tôn. Tại
sao? Bởi vì, bạch Thế Tôn vị ấy không có chứng đắc bất
cứ pháp nào. Cho nên vị ấy được gọi là Tu-đà-hoàn...
- "
Bởi vì chưa có một pháp nào chứng đạt được quả Tư-đà-hàm.
Đấy là lý do tại sao vị ấy được gọi là Tư-đà-hàm
"
- ...
( Tương tự đối với quả A-na-hàm, A-la-hán ... )
3.
Hai cảnh giới thiền định :
- Tạ
Yên Khánh, trên Ma Thiên Lãnh, khổ luyện nội công đạt đến
mức " thân, ý, khí " điều hợp, vật ngã đều quên : đây
là một loại thiền định có sức mạnh tập trung và có thần
lực của một cảnh giới định sâu, nhưng tâm ý của ông
còn vướng vào thị phi, tự ngã, nên theo Phật học gọi là
tà định. Loại định nầy vắng mặt trí tuệ và tâm đại
bi.
- Cẩu
Tạp Chủng đạt định " La hán phục ma " với trí minh mẫn,
không dục vọng, không dính mắc, đầy nhân ái, theo Phật
học đây là loại chánh định. Chỉ loại thiền định nầy
mới có thể phát triển đến cao điểm, giáp mặt chân lý,
giải mã được " Thái huyền kinh "
VI.
Hồi 5 : Đinh đinh Đang đang
A.
Tóm tắt Hồi 5
-
Sau khi luyện xong phần nội lực theo các huyệt đạo và kinh
mạch của 18 tượng La hán đất, tình cờ Cẩu Tạp Chủng
đánh vỡ lớp đất bọc ngoài tượng, khám phá ra 18 tượng
gỗ ở bên trong, chỉ thuần kẻ đường kinh mạch để vận
hành công lực. Chàng liên tục ba ngày đêm luyện nhuần nhuyễn
hết chỉ dẫn của 18 tượng gỗ và thực sự thành tựu "
Phục ma thần công ", vận công theo ý muốn - nhiều cao tăng
Thiếu Lâm, do quá ham muốn luyện công đã từng thất bại
trong việc luyện tập La hán phục ma thần công nầy.
- Các
người ở Trường Lạc bang vẫn đinh ninh Cẩu Tạp Chủng
là Thạch Phá Thiên, nên thường sợ hãi chàng vì kinh nghiệm
về xử xự thất thường và tàn ác của Thạch Phá Thiên,
hoặc vì tánh " đa tình " ( trăng nguyệt ), háo sắc của chàng
Phá Thiên. Tất cả cung cách và ngôn ngữ hiền hòa, lịch
sự của Cẩu Tạp Chủng vì thế bị hiểu lầm là ngôn ngữ
trêu chọc, mỉa mai, độc địa. v.v... khiến chàng không thể
hiểu ai, và không ai hiểu chàng .
- Đinh
đinh Đang đang đến kéo chàng ra ngoài đùa cợt, vì vị nể
nàng đã từng săn sóc chàng khi điều thương, chàng đi theo
nàng về gặp lão gia gia Đinh Bất Tam. Nhận ra nội lực hùng
hậu, kỳ đặc của chàng, Đinh Bất Tam hoan hỷ chấp nhận
chàng là bạn trai của cháu gái Đinh Đang của lão và ngõ
ý kén chàng làm cháu rễ...
B.
Ý kiến
1.
Hai công phu hành thiền :
- 18
pho La hán, phần đất là phần chỉ dẫn vận khí qua các huyệt
đạo và kinh mạch để thành tựu nội lực. Đây là hình
thức hệt với công phu tu tập Thiền chỉ ( Samatha ) của Thiền
định Phật giáo. Phần này, trong công phu Thiền định tà
giáo cũng có.
- 18
pho La hán bằng gỗ là phần chỉ dẫn kinh mạch để luyện
công, vận dụng nội lực đã có theo các đường kinh mạch.
Phần
nầy, tâm tập chú và tỉnh giác sâu hơn. Đây là bước công
phu hành Thiền quán (Vipassana ), hay Chỉ-Quán song hành, của
Thiền định Phật giáo.
Kim
Dung giới thiệu : nếu hành giả biết cách thu phát nội lực
theo ý muốn, thì chỉ lực phóng ra sẽ như là đường kiếm
báu, biểu hiện một sức mạnh vô song. Đây là biểu tượng
của trí tuệ giải thoát có thể trực tiếp cắt đứt các
phiền não, các tâm lý trói buộc, mà không chỉ chế ngự
chúng.
Phần
thiền quán nầy nếu liên tục được phát triển, thì sẽ
đi tới điểm giải mã bí kíp của "Thái Huyền Kinh ".
2.
Ý nghĩa " Phục ma "
- Ma
là chỉ các việc làm của thân, lời, ý sai lầm dẫn đến
hại mình, hại người, đem phiền não, khổ đau đến cho mình
và người.
- Ma
còn có nghĩa là chỉ những gì ngăn che tâm thức con người
khỏi sự thật, chân lý, giải thoát. Dục vọng, chấp ngã,
chấp trước các cảm thọ, tri kiến, đều thuộc đường
ma, theo nghĩa rộng hơn.
Phục
ma là hàng phục, chế ngự, loại trừ các tác nhân vừa đề
cập ở trên.
Thần
Công " La hán phục ma ", vì thế, là loại sức mạnh của tâm
lý, định lực giúp hành quả phát triển thiền quán, trí
tuệ để cắt đứt các nhân tố gây ra khổ đau cho mình và
người, được diễn đạt như võ công siêu đẳng có thể
đánh bại dễ dàng các loại võ công khác trên giang hồ.
Tác
giả " Hiệp Khách Hành "đã giới thiệu " La hán phục ma thần
công ", do các thần tăng Thiếu Lâm sáng tạo, chói sáng trên
võ lâm như là văn hóa tâm thức của Phật giáo chói sáng
giữa vùng văn hóa của xưa nay, phải chăng ?
3.
Sự chân thật và định kiến :
- Cẩu
Tạp Chủng sau khi hành " La hán phục ma thần công " theo 18
hình tượng gỗ thành công thuần thục, tâm thức trở nên
rất định tỉnh, sáng suốt, đã cố gắng nói lên sự thật
chàng không phải là Thạch Phá Thiên, nói lên một cách rất
chân thành, nhưng không được mọi người tin tưởng lời
nói của chàng, mà phản ứng bất thuận lợi đối với chàng
:
- Thị
Kiếm thì cho rằng chứng " tẩu hỏa " đã khiến chàng quên
mất quá khứ, cứ đề phòng các tật xấu của Thạch Phá
Thiên xuất hiện nơi chàng.
- Trần
Hương chủ thì hiểu những lời lẽ thân tình của chàng như
là quyết định cắt đứt mạng sống của chính mình...
- Hoa
Vạn Tử thì nhìn chàng như là kẻ " hái hoa " và phản ứng
rất là khó hiểu...
- Đinh
Đang thì cứ nhất quyết đối xử với chàng như Thạch Trung
Ngọc, dù chàng đã nhiều lần chân thật xác nhận chàng là
Cẩu Tạp Chủng ...
Tình
cảnh trở nên rối rắm : Cẩu Tạp Chủng ngạc nhiên, bức
tai về những gì người chung quanh xử sự với chàng. Những
người chung quanh cũng đầy kinh ngạc về thái độ xử sự
của chàng. Tất cả rối rắm chỉ do định kiến của mọi
người về Thạch Phá Thiên, và xem chàng là Thạch Phá Thiên.
Cũng
thế, khi con người đã bị ảnh hưởng sâu đậm về các
giá trị của một nền văn hóa cũ, thì khó mà tiếp thu tiếng
nói mới mẻ dù là thật, chân và hay. Theo thuật ngữ của
Phật
học, đây được gọi là " điên đảo tình " ( sentimental inversion
).
VII.
Hồi 6 : Vết thương
A.
Tóm tắt Hồi 6
-
Liên tiếp nhiều sự hiểu lầm chết người, nhiều cuộc
xung đột lời lẽ và đao kiếm xẩy ra do sự nhận lầm cái
thân tướng giống nhau giữa Cẩu Tạp Chủng và Thạch Phá
Thiên (Thạch Trung Ngọc ) :
Dù
thành thật xác nhận chàng không phải là Thạch Ca của Đinh
Đang, Đinh Đang cũng nhất mực đòi cưới chàng, nhất là
khi nhận ra vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng nằm đúng vị
trí mà Đinh Đang đã một lần cắn vào vai Thạch Trung Ngọc
( vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải Thạch
giả tạo khi chàng đang cơn sốt mê )
Dù
Cẩu Tạp Chủng rất chân thật nói chàng không có mối liên
hệ nào với bang Tuyết Sơn, thì vô minh ( do tin đồn và thị
giác đánh lừa ) của nhóm Bạch Vạn Kiếm vẫn cho là lời
lẽ của chàng là xảo ngôn, bội nghĩa...
- Sự
dối gạt của Bối Hải Thạch, và sự mê muội, sân si, hẹp
lượng của các người khác đã dựng nên bi kịch về cái
tướng dẫn đến cảnh máu rơi...
B.
Ý kiến
1.
Cái tướng trạng là hư dối :
- Cái
na ná của thân tướng Cẩu Tạp Chủng và Thạch Trung Ngọc
chưa có cơ sở để kết luận cả hai là một người duy nhất.
- Dù
hai chàng ấy giống nhau cho đến từng vết thẹo trên thân
thì hai người vẫn là hai cá thể khác biệt, có hai thế giới
cảm xúc và tâm thức hoàn toàn khác nhau.
Việc
nhận diện con người qua ngoại hình, hay việc xác định giá
trị hành động qua các biểu hiện bên ngoài của hành động,
là một bi kịch của máu và nước mắt.
Vết
thương trong Hồi truyện thứ 6 nầy không phải là vết thương
trên vai, trên chân của Cẩu Tạp Chủng, mà là vết thương
trong nhận thức và văn hóa con người !
Đây
là điều mà Kinh Kim Cang đã dạy : sự thật là ở thực tại,
ở cái tâm, mà không ở nơi cái tướng. Các tướng trạng
đều là không thật ( Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng
)
Sự
nhận lầm về giá trị của các hiện hữu qua các tướng
trạng ấy, giáo lý nhà Phật gọi là vô minh. Chính vô minh
là đầu mối của các rối ren của con người và xã hội
phát sinh ra vạn nổi sầu khổ, hệt như sự nhận lầm lừng
lựng về Cẩu Tạp Chủng !
2.
Chủ quan của các quan điểm và giới hạn của các quan điểm
:
- Như
Đinh đinh Đang đang với chủ quan qua kinh nghiệm các giác quan
của mình đã nhận lầm rất lớn về Cẩu Tạp Chủng dẫn
đến cảnh ngộ cưới hỏi, yêu thương lỡ khóc lỡ cười;
cũng thế, các chủ trương của các lý thuyết ở đời cũng
chỉ dẫn đưa con người đến một kết cục lỡ khóc lỡ
cười !
- Như
Bạch Vạn Kiếm và nhóm kiếm sĩ Tuyết Sơn với chủ quan
qua kinh nghiệm các giác quan, qua các báo cáo điều tra, và
qua cả vết thẹo tình cờ mang dấu hoa mai nơi chân của Cẩu
Tạp Chủng, đã dẫn đến bi kịch xung đột đao kiếm rất
tang tóc; cũng thế, các chủ trương của các lý thuyết dựa
vào kinh nghiệm, chứng nghiệm giới hạn cũng chỉ dẫn dắt
con người đến các kết cục bi kịch đầy bi thương !
Giáo
lý nhà Phật nói về sự thật vô ngã, thái độ sống vô
chấp, nhân ái, từ bi chỉ nhằm vào mục đích diệt trừ
nguyên nhân của khổ đau, đem lại hạnh phúc, an lạc cho đời,
mà không nhất thiết dừng lại ở một chủ trương, chủ
thuyết nào, nên sẽ không dẫn dắt con người đến một kết
cục ki bịch nào. Đây là những gì mà người viết nghe âm
vọng từ ngôn ngữ tiểu thuyết Hiệp Khách Hành của Kim Dung.
3.
Nguyên nhân của các hiện hữu :
- Quần
hào nhận lầm Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Ngọc đặc biệt
là qua vết thẹo hoa mai do kiếm pháp của Tuyết Sơn để lại
trên chân của Thạch Trung Ngọc. Nếu tìm hiểu rõ nguyên nhân
của vết thẹo trên chân của Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải
Thạch giả tạo thì sự thật sẽ phơi bày. Cũng vậy, nếu
biết rằng vết thẹo trên vai của Cẩu Tạp Chủng là do Bối
Hải Thạch tạo ra, thì Đinh Đang đã không nhầm lẫn " đấng
" lang quân !
Đây
là bài học tìm hiểu rõ nguyên nhân của một hiện hữu :
theo giáo lý nhà Phật, khi chưa hiểu rõ nguyên nhân của Khổ
thì chưa hiểu rõ sự thật của Khổ, và do đó chưa thể
thấy con đường dẫn ra khỏi khổ.
4.
Các duyên tạo nên vô minh hay sự nhận lầm :
- Bạch
Vạn Kiếm nhận lầm là do tức giận, nóng vội chưa kiểm
chứng và lập luận kỷ về sự việc và nguyên nhân của
sự việc.
- Đinh
đinh Đang đang nhận lầm là do dục ái, nông nổi khiến mù
quáng qua các lập luận.
- Triển
Phi hương chủ nhận lầm là do lòng căm hờn sâu nặng đánh
mất sự thận trọng và sáng suốt.
- Thị
Kiếm nhận lầm là do dễ dãi, lười biếng phân tích, suy
luận, và do cả lòng đầy nghi ngờ đối tượng.
- Tất
cả bị nhận lầm là do bị ám ảnh bởi các tướng, mà xem
nhẹ cái tâm ( tà kiến, tà niệm ).
Các
duyên ấy, theo Phật học, là nội dung của các tâm lý bất
thiện, cấu uế do năm thứ ngăn che tâm, thức gây ra đó là
:
- Trạo
cử, tâm lý thiếu ổn định.
- Hôn
trầm : tâm lý thụ động, mệt mõi, lười biếng.
- Dục
: tâm lý ham muốn sắc, thanh, hương, vị, và xúc chạm...
- Sân
: tâm lý nóng nảy, sân hận.
- Nghi
: tâm lý si ám, nghi ngờ, do dự.
VIII.
Hồi 7 : Tuyết Sơn kiếm pháp
A.
Tóm tắt hồi 7
-
Bạch Vạn Kiếm yêu cầu Thạch Phá Thiên ra khỏi sảnh đường
Mãnh Hổ để đấu kiếm nhằm thanh lý môn hộ. Nhóm Trường
Lạc, Đinh Bất Tam và Đinh Đang đều giục Cẩu Tạc Chủng
nhận lời, bởi tin rằng với nội lực quá hùng hậu của
chàng thì chỉ trong vài chiêu đã có thể đánh gục Bạch
Vạn Kiếm.
- Ngoài
sảnh đường, với bản tánh hồn hậu, Cẩu Tạp Chủng cầm
thanh kiếm do Trần hương chủ trao mà tần ngần chưa biết
xử lý ra sao ( chàng chưa hề học kiếm pháp ) thì Bạch Vạn
Kiếm đã lẹ tay xuất kiếm áp đảo, điểm huyệt chàng và
uy hiếp bang Trường Lạc. Bạch Vạn Kiếm kẹp Cẩu Tạp Chủng
phi hành về phía thành Lăng Tiêu. Uông Vạn Dựt và tám tay
cao thủ Tuyết Sơn đều bị Bối Hải Thạch khống chế, điểm
huyệt, bắt giữ. Do huyệt đạo bị phong tỏa nhẹ, Uông Vạn
Dựt tự giải huyệt và phi hành theo Bạch Vạn Kiếm để
hỗ trợ.
- Một
nhóm, gần 20 kiếm sĩ, của Tuyết Sơn đang đóng quân ở một
thảo am giọc đường chờ Bạch Vạn Kiếm trở về. Nhóm
nầy đã luyện kiếm qua đêm để gia tăng khả năng đối
phó khi hữu sự. Cẩu Tạp Chủng, rất thông tuệ, chỉ quan
sát mà đã làu 72 kiếm chiêu của Tuyết Sơn, dù trước đó
chưa từng tập luyện.
- Bấy
giờ Thạch Thanh-Mẫn Nhu xuất hiện dòi lại hai thanh bảo
kiếm mà nhóm Tuyết Sơn đã đánh mất. Cuộc đọ kiếm bắt
đầu. Bạch Vạn Kiếm không địch lại song kiếm của Thạch
Thanh-Mẫn Nhu. Cẩu Tạp Chủng tự giải khai huyệt đạo và
đòi đứng về phía Bạch Vạn Kiếm để hai đấu hai cho cân.
Cuộc đấu giữa Thạch Thanh và Bạch Vạn Kiếm thì cân tài,
càng đấu càng nể vì nhau. Mẫn Nhu và Cẩu Tạp Chủng thì
so kiếm như là cảnh mẹ dạy kiếm cho con đầy tình cảm
chan chứa.
- Lúc
ngọn đèn cầy chợt tắt ( cạn ), Cẩu Tạp Chủng vô ý sấn
người tới lúc bà Mẫn Nhu chưa kịp rút nhanh kiến về, nên
bị thương nhẹ ở ngực. Bấy giờ, Đinh Bất Tam và Đinh
Đang đang phục ở gầm bàn chờ cứu Cẩu Tạp Chủng. Đèn
tắt là thời điểm thuận lợi để Đinh Bất Tam hành sự.
Cẩu
Tạp Chủng bắt đầu một bước " nổi trôi " mới.
B.
Ý kiến
1.
Điều nghich lý :
- Từ
thái độ sàm sỡ của thiếu niên Thạch Trung Ngọc dẫn đến
việc cô A-Tú ( 13 tuổi ) tự vẫn để bảo toàn danh tiết
người con gái; thân mẫu A-Tú trở nên cuồng trí; Bạch Phu
nhân giận lẫy chồng bỏ nhà ra đi bbiệt tích;
Bạch
Tự Tại tức bực lấy đứt một cánh tay của người đệ
tử giỏi nhất của mình ( thầy dạy kiếm cho Thạch Trung
Ngọc ); Bạch Vạn Kiếm dẫn nhiều kiếm sĩ Tuyết Sơn đi
đốt phá Thạch gia trang ( nhà của bố mẹ Thạch Trung Ngọc
) và lùng kiếm Thạch Trung Ngọc để thanh lý môn hộ đã
hy sinh mất thêm nhiều cao thủ huynh đệ...
Hầu
như con người phải chết và phải khổ vì một giá trị ước
lệ rất mơ hồ của văn hoá Tuyết Sơn. Thật là điều nghịch
lý !
- Cẩu
Tạp chủng, một thiếu niên thuần lương, nhân ái và thông
sáng, vô cớ trở thành nạn nhân của các thái độ hành xử
nghịch lý trên.
Hầu
như niềm tin của tác giả để hoá giải điều nghịch lý
ấy còn dấu kín ở mười tám tượng La hán phục ma ?
2.
Tám cơn gió lay động tâm thức :
- Các
cao thủ võ lâm trên giang hồ thường giáp mặt với tám cuồng
phong ở đời là : phải, trái; được, mất; khen chê, khổ,
lạc. Tám ngọn cuồng phong ấy đã dấy lên ở kiếm phái
Tuyết Sơn, Ttrường Lạc Bang và nhiều vùng liên hệ như ở
thị trấn Hầu Giám Tập, tạo nên các rối ren dây chuyền.
Chỉ duy có một thiếu hiệp thành tựu " La hán phục ma thần
công " là có tâm hồn phẳng lặng để lại một ấn tượng
sâu sắc nhất.
Thuật
ngữ nhà Phật gọi tám cơn cuồng phong ấy là " Bát phong "
và " Bát phong xuy động ", hẳn là có mối liên hệ cảm xúc
của tác giả lúc xây dựng các hồi truyện Hiệp Khách Hành
!
3.
Nghìn năm tay trắng hay Bài học về gốc gác của Cẩu Tạp
Chủng :
- Cẩu
Tạp Chủng vốn là bé Thạch Trung Kiên, con đẻ của Thạch
Thanh và Mẫn Nhu; bị người hận tình Mai Phương Cô trên núi
Hùng Nhĩ bắt đi từ năm một tuổi, và tráo vào xác chết
bầy nhầy của một em bé khác. Điều nầy khiến Thạch Anh
và Mẫn Nhu đinh ninh rằng Thạch Trung Kiên đã chết.
- Cẩu
Tạp Chủng có thân tướng hao hao giống Thạch Trung Ngọc.
Trong thời gian Thạch Trung Ngọc bị Bối Hải Thạch bắt và
dựng lên làm bang chủ Trường Lạc Bang để đi dự hội yến
Lạp Bát ở Hiệp Khách đảo, rồi trốn biệt tích ở một
lầu xanh, Cẩu Tạp Chủng đã bị nhiều phái nhận lầm là
Thạch Trung Ngọc ( hay Thạch Phá Thiên, bang chủ Trường Lạc
). Các cuộc tranh cải và tranh giành Cẩu Tạp Chủng xẩy ra
với các nhân chứng, vật chứng, luận chứng có vẻ hợp
lý đến độ Cẩu Tạp Chủng cũng mơ hồ về gốc gác của
chính mình, nghĩ rằng " má má " của mình là Mai Phương Cô
ở Hùng Nhĩ.
Với
một con người cụ thể như thế mà qua vài sự " tráo trở,
lằng nhằng " giang hồ đã khó xác định gốc gác, huống
nữa là cuộc đi tìm " hạt nguyên sơ " giữa một vũ trụ
mênh mang qua một hệ thống máy móc và tư duy phức tạp ?
(!) Cuộc đi tìm ấy sẽ mãi là nghìn năm tay trắng !
Thế
giới vốn là một trường tương quan của nhân duyên. Đây
là bài học kinh nghiệm của tập truyện, và của Phật giáo
.