A
- Bàn về " Hiệp Khách Hành "
Thay
lời tựa - Tiểu sử
I.
Mở đầu
II.
Hồi 1 : Huyền Thiết Lệnh
III.
Hồi 2 : Thiếu niên gây đại họa
IV.
Hồi 3 : Ma Thiên Nhai
V.
Hồi 4 : Bang chúa rừng Lạc bang
VI.
Hồi 5 : Đinh đinh Đang đang
VII.
Hồi 6 : Vết thương
VIII.
Hồi 7 : Tuyết Sơn kiếm pháp
IX.
Hồi 8 : Thằng Ngốc
X.
Hồi 9 : Đòn bánh tét
XI.
Hồi 10 : Kim Ô Đao pháp
XII.
Hồi 11 : Rượu thuốc
XIII
Hồi 12 : Hai tấm bài đồng
XIV.
Hồi 13 : Tình cốt nhục
XV.
Hồi 14 : Tứ đại môn phái ở Quan Đông
XVI.
Hồi 15 : Chân tướng
XVII.
Hồi 16 : Thành Lăng Tiêu
XVIII.
Hồi 17 : Tự đại thành cuồng
XIX.
Hồi 18 : Điều phải cầu xin
XX.
Hồi 19 : Cháo Lạp Bát
XXI.
Hồi 20 : Hiệp Khách Hành
XXII.
Hồi 21: Ta là ai ?
TỔNG
LUẬN
Cốt
truyệnHiệp Khách Hành
Viết
xong ngày 25/9/2003
Chùa
Tường Vân, Huế
Tỷ
kheo Thích Chơn Thìện
Bàn
về " Thiên Long Bát Bộ / Lục Mạch Thần Kiếm "
A.
Giới thiệu khái quát
B.
Giới thiệu từng hồi truyện
Hồi
1 : Giữa đường gặp chuyện bất bình
Hồi
2 : Lời nguyền ở Vạn Kiếp Cốc
Hồi
3 : Người được vợ, kẻ vạ lây
Hồi
4 : Lời thề của Mộc Cô Nương
Hồi
5 : Lăng Ba Vi Bộ
Hồi
6 : Chưa kịp bái sư đã ... bái !
Hồi
7 : Cha ăn mặn, con khát nước
Hồi
8 : Ông già áo xanh là ai
Hồi
9 : Phượng bay ra, loan vào tổ
Hồi
10 : Kiếm khí dọc ngang như tường khói
Hồi
11 : Hai cô Mỹ nữ, một chiếc thuyền con
Hồi
12 : Người đâu gặp gỡ làm chi ...
Hồi
13 : Cô nương chỉ điểm, quần hào nhẩn ngơ
Hồi
14 : Mỹ tửu chạy theo lục mạch, Đệ huynh uống đủ thiên
bôi
Hồi
15 : Dù người phụ ta, ta chẳng phụ người
Hồi
16 : Ân xưa oán cũ, sớm bạn trưa thù
Hồi
17 : Nguyện làm con cóc khác thường, chỉ mong thiên nga ngó
đến
Hồi
18 : Một ngày ba nỗi đại oan, anh hùng Khất đan rơi lệ
Hồi
19 : Trợn mắt xem khinh nghìn hảo hán, nhất tâm cứu mạng
tiểu cô nương
Hồi
20 : Chữ trên vách đá đã mòn , hình xăm trước ngực vẫn
còn trơ trơ
Hồi
21: Nghìn dặm đường trường, mơ hồ mộng ảo
Hồi
22 : Tiểu kính hồ lần ra manh mối
Hồi
23 : Chưa vui sum họp đã sầu chia ly ...
Hồi
24 : Yêu nhau lắm cắn nhau đau ...
Hồi
25 : Nén thương đau, đạp tuyết lên đường
Hồi
26 : Tay không bắt cọp
Hồi
27 : Chốn thiên quân bắt tướng, khất cái hóa đại vương
Hồi
28 : Chịu thảm hình trở thành " thiết sửu "
Hồi
29 : Hàn độc trùng, luyện hàn độc chưởng
Hồi
30 : Cuộc hội ngộ kinh hoàng ở Tiết gia trang
Hồi
31 : Nát óc tính cờ đành tự tử, vô tâm đi ẩu được thần
công
Hồi
32 : Người câm trổ tài hùng biện, Nhà sư lãnh phái tiêu
dao
Hồi
33 : Đẩu chuyển tinh di, trấn áp hồ quần, cẩu đảng
Hồi
34 : Núi phiêu Diễu mây dồn gió giật
Hồi
35 : Cứu Đồng Mỗ, tiểu tăng phạm giới
Hồi
36 : Bóng hồng đã khép cửa thiền
Hồi
37 : Cùng cười ha hả một tràng, cuối đường yêu hận rõ
ràng là không
Hồi
38 : Chén chú chén anh, đồng bệnh si tình thành huynh đệ
Hồi
39 : Vải thưa che mắt thánh, bốn chín gặp năm mươi
Hồi
40 : Biết lúc nào bỏ được lòng si
Hồi
41 : Mười tám kỵ sĩ Yên vân, Khí thế thiên binh vạn mã
Hồi
42 : Giả chết chờ thời phục quốc, cõi thiền nặng nợ
phu thê
Hồi
43 :Một đời mộng bá vương, cùng trở về cát bụi
Hồi
44 : Đừng xây mộng đẹp mà chi, trăm năm chẳng có duyên
gì với nhau
Hồi
45 : Đáy giếng khô hai lòng hòa nhịp, chốn bùn lầy hẹn
ước chung thân
Hồi
46 : Ba câu hỏi kén ngôi phò mã
Hồi
47 : Hoa trà nở rộ vì ai
Hồi
48 : Kẻ thù lại chính là cha, đứa con oan nghiệt bây giờ
là vua
Hồi
49 : Sống chết chẳng qua là giấc mộng, sá gì phú quý với
vinh hoa
Hồi
50 : Trung nghĩa khó toàn đành tự vẫn, thân tàn chưa tỉnh
mộng quân vương
TỔNG
LUẬN
II
- Cốt truyện
Thiên
Long Bát Bộ
Lục
Mạch Thần Kiếm
2004
Chùa
Tường Vân, Huế
Tỷ
kheo Thích Chơn Thìện
Thay
lời tựa
*
Kim
Dung
(
Tra Lương Dung )
*
Tiểu
sử
Theo
tài liệu :
1.
" Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm ", Bành Hoa-Triệu Kiến
Lập, dịch giả Nguyễn thị Bích Hải, NXB Trẻ, TP. HCM, 2002.
2.
" Kim Dung : Tác Phẩm và Dư Luận ", Nhiều tác giả, NXB Văn
Học, TP. HCM, 2001.
Kim
Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tháng 2, 1924 trong một
gia đình gồm sáu anh chị em, Kim Dung là thứ hai, tại Viên
Hoa Trấn, huyệïn Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, là nơi địa
linh nhân kiệt của Trung Quốc.
Thân
mẫu là người của thời " Ngũ Tứ " ( 4/5/1919 ), thời của
phong trào đấu tranh dân chủ mở đầu thời kỳ hiện đại
Trung Quốc, tri thủ đạt lễ, thích thơ văn, tư tưởng khai
minh, dân chủ.
Thân
phụ là Tra Xu Khanh không theo nghiệp văn chương, mà vào doanh
thương,
vừa là một đại địa chủ có đến 3.600 mẫu ruộng, với
hơn 100 hộ tá điền.
Cụ
cố nội là Tra Thận Hành là nhà thơ nổi tiếng bậc nhất
đời Thanh. Ông nội là Tra Văn Thanh, đỗ Tiến sĩ, làm Tri
huyện ở Giang Tô, bênh vực nhóm nhân dân đốt nhà thờ Thiên
Chúa mà bị triều đình cách chức.
Họ
Tra là dòng dõi thế gia vọng tộc, thanh danh hiển hách từ
triều Nam Đường thời Ngũ Đại (907 - 960). Vua Thanh Cao Tông
- Càn Long đã ngự đề một câu đối treo cao trước cổng
từ đường rằng :
" Đường
Tống dĩ lai cự tộc
Giang
Nam hữu sổ nhân gia "
(
Họ lớn từ thời Đường Tống
Danh
gia bậc nhất Giang Nam )
Người
đương đại thì khen :
"
Một nhà bảy Tiến sĩ
Chú
cháu năm Hàn lâm "
Thiếu
thời, Kim Dung rất tuấn tú, thông minh, hoạt bát, tinh nghịch
mà biết điều; mê cảnh đẹp và say nghe các chuyện kể hay
và đẹp.
Từ
năm 1930 đến 1940 : Theo học Tiểu học ở Hải Ninh, Triết
Giang, học Trung học ở Hàng Châu.
Từ
năm 1941 đến 1945 : Học luật pháp quốc tế khoa ngoại văn,
trường đại học chính trị Trùng Khánh. Làm việc tại Thư
viện Trung ương lúc chưa tốt nghiệp. Bấy giờ Kim Dung có
dịp nghiền ngẫm nhiều sách, truyện.
Từ
năm 1946 đến 1949 : Trở lại Hàng Châu làm phóng viên cho nhật
báo Đông Nam, sau lại được Đại Công Báo tuyển trong số
hơn 3.000 người dự tuyển; sang thường trú ở Hồng Kông,
phiên dịch tin tức quốc tế cho báo nầy.
Từ
năm 1950 đến 1955 : Chuyển sang biên tập phụ san cho báo Tân
Vấn, phụ trách mục Chuyện trà chiều, kiêm dịch tin tức,
dưới bút hiệu Diêu Phúc Lan.
Bấy
giờ Kim Dung khởi sự viết tập tiểu thuyết võ hiệp đầu
tay : " Thư Kiếm Ân Cừu Lục " với bút hiệu Kim Dung.
Năm
1956 : Sáng tác và đăng báo " Bích Huyết Kiếm ".
Năm
1957 : Viết và đăng truyện " Xạ Điêu Anh Hùng "
Năm
1959 : Viết, đăng truyện " Tuyết Sơn Phi Hồ ", truyện dài
rất ngắn của Kim Dung.
Giữa
năm 1959, khởi viết " Thần Điêu Hiệp Lữ ", đến năm 1962
mới xong.
Năm
1960 - 1961 : Viết, đăng " Phi Hồ Ngoại Truyện "
Năm
1963 : Viết, đăng truyện " Liên Thành Quyết " ( hay " Tố Tâm
Kiếm " ) trên Minh Báo (Hồng Kông ) và trên báo Đông Nam Á
ở Singapore.
Cùng
năm 1963, viết, đăng " Thiên Long Bát Bộ " ( hay Lục Mạch
Thần Kiếm ) trên hai báo vừa kể.
Năm
1965 : Viết, đăng " Lộc Đỉnh Ký " trên Minh Báo.
Năm
1975: Viết, đăng " Việt Nữ Kiếm ", truyện Võ hiệp ngắn
nhất của Kim Dung.
Trong
khoảng thời gian hai mươi năm từ 1950 đến 1970, ngoài các
công việc của một phóng viên, biên tập viên, dịch các thông
tin quốc tế, Kim Dung đã sáng tác 15 tập truyện Võ hiệp
rất dài - trừ Tuyết Sơn Phi Hồ và Việt Nữø Kiếm - theo
thứ tự thời gian như sau :
1.
Thư Kiếm Ân Cừu.
2.
Bích Huyết Kiếm.
3.
Tuyết Sơn Phi Hồ.
4.
Phi Hồ Ngoại truyện.
5.
Xạ Điêu Anh Hùng truyện.
6.
Thần Điêu Hiệp Lữ.
7.
Ỷ Thiên Đồ Long Ký.
8.
Bạch Mã Khiếu Tây Phong ( 1960 ).
9.
Uyên Ương Đao.
10.
Liên Thành Quyết ( 1963 ).
11.
Thiên Long Bát Bộ ( 1964-1968 ).
12.
Hiệp Khách Hành ( 1965 ).
13.
Việt Nữ Kiếm.
14.
Tiếu Ngạo Giang Hồ.
15.
Lộc Đỉnh Ký .
Trong
đó số hai truyện Thiên Long Bát Bộ và Hiệp Khách Hành nổi
bật sắc thái Phật giáo, các tập truyện khác cũng bàng bạc
đó đây triết lý Phật giáo với Thiếu Lâm tự xuất hiện
như một Võ lâm Minh chủ.
Tại
lễ đường của trường Đại học Bắc Kinh, ngày 27/10/1994,
hơn 1000 sinh viên vui vẻ, hân hoan đón tiếp Kim Dung. Tại đây,
một số câu hỏi đã được đặt ra :
Hỏi
: " Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt quan niệm nhân
sinh của ngài ?
Đáp
: " Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt quan niệm nhân
sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư tưởng triết học Phật
giáo. Phật giáo khá bi quan đối với nhân sinh, cho rằng đời
người là bể khổ. Vô luận nhân sinh tốt đẹp đến thế
nào, cuối cùng rồi cũng chết
Nhưng
Phật giáo còn có quan niệm khác, tuy con người không tránh
được cái chết, nhưng vẫn còn có lúc tái sinh, sau nầy có
thể đời sống tốt hơn, có thể cống hiến được sức
mình, có thể giúp đỡ được người khác. Có thể nói rằng
chân đế của Phật giáo về nhân sinh là sâu sắc nhưng giá
trị thực dụng của triết học Phật giáo có thể hữu ích
đối với cá nhân, còn đối với xã hội vị tất đã hữu
ích "
( "
Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm,
,tr.356 )
Hỏi
: Phải chăng tiểu thuyết của ngài tuyên dương tư tưởng
tôn giáo ?
Đáp
:
Đối với Phật giáo, tôi có phần tâm đắc, nhưng không có
ý truyền giáo. Cách nhìn của tôi là, nếu anh gần với quan
niệm tôn giáo nào đó thì cần tìm hiểu nó, nếu không gần
gũi thì bất tất phải cố gắng truy cầu ... ( Ibid. tr.357
)
Bành
Hoa và Triệu Kiến Lập thì giới thiệu về Kim Dung rằng :
" Kim
Dung rất phong độ, ông ta không hề bực bội với lời lẽ
của tôi ( Lý Ngao ). Ông ta khiêm tốn giải thích quan điểm
của mình. Ông ta đặc biệt nhắc đến rằng từ sau khi con
trai ông ta bất hạnh mất sớm, ông tập trung nghiên cứu Phật
học, ông đã là một tín đồ trung thành của Phật giáo ...
" ( Ibid. tr.326 )
Trong
" Văn khố đại sư Văn học Trung Quốc, thế kỷ XX ,Tiểu
thuyết quyển " đánh giá Kim Dung, xếp người vào vị trí
thứ tư trong hàng chín bậc đại sư : Lỗ Tấn, Thẩm Tòng
Văn, Ba Kim, Kim Dung, Lão Xá, Ức Đạt Phu, Vương Mông, Trương
Ái Linh và Giả Bình Ao. ( Ibid. tr.345 )
Tiểu
thuyết võ hiệp của Kim Dung đã gây ra một tiếng vang rất
xa, vang khắp các vùng Đông Nam Á từ lâu đến nỗi đã phát
sinh ra hiện tượng nghiên cứu về Tiểu thuyết Kim Dung qua
nhiều khía cạnh gọi là Kim học hay Kim Dung học phát triển
ở Hồng Kông, Đài Loan, và cả ở Bắc Kinh, đại để như
:
- "
Bách gia chư tử và Kim Dung ", Viễn Cảnh Xuất Bản Xã, Đài
Bắc, 1984 ( của Thẩm Đăng Ân ).
- "
Đọc Kim Dung tình cờ tâm đắc ", Thư Quốc Trị, Viễn Cảnh
Xuất Bản Xã, Đài Bắc, 1982.
- "
Thế giới dưới ngòi bút Kim Dung ", Dương Hưng An, Bách Ích
Xuất Bản Xã, Đài Bắc, 1983.
- "
Kim Dung và Nghê Khuông ", Thẩm Tây Thành, Lợi Văn Xuất Bản
Xã, Hồng Kông, 1984.
- Ở
Trung Quốc ( đại lục ), đã có nhiều chuyên gia, giáo sư
đại học viết bài giới thiệu hay bình luận, nghiên cứu
Tiểu thuyết Kim Dung.
Tháng
2, 1986, Phùng Kỳ Dung trong bài " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung
" đã viết về những ấn tượng khi ông đọc Tiểu thuyết
Kim Dung rằng :
- "
Thứ nhất : Lịch sử mà Tiểu thuyết Kim Dung bao hàm có nội
dung xã hội sâu rộng rất nổi bật và rất hiếm thấy trong
các tác gia tiểu thuyết võ hiệp đương đại.
Thứ
hai : Tư tưởng mà Tiểu thuyết Kim Dung đề cập có thể nói
là đủ chư tử bách gia, tam giáo cửu lưu, hầu như bao gồm
tất cả; còn về phương diện văn học thì cả thơ, từ,
ca, đối ngẫu, câu đối, khúc tử đều có đủ lại rất
đắc địa, không hề gò ép khiên cưỡng, khiến cho người
ta có cảm giác vốn liếng và khí lực của tác giả còn rất
dồi dào sung mãn.
Thứ
ba : Trên phương diện nghệ thuật, một số nhân vật do Kim
Dung sáng tạo rất nhiều hình tượng sinh động, thành công
như Tiêu Phong, Trần Gia Lạc, Văn Thái Thái, Hoắc Thành Đồng,
Quách Tĩnh, Hoàng Dung v.v... Đó là những hình tượng khó quên,
có sức hấp dẫn rất mãnh liệt. Có ai đọc những bộ Tiểu
thuyết ấy mà không cảm động trước những hình tượng
nghệ thuật như vậy.
Thứ
tư : Ấn tượng đặc biệt sâu sắc của tôi ( tức Phùng
Kỳ Dung ) là chất văn học trong Tiểu thuyết của Kim Dung:
Nó khác hẳn tất cả tiểu thuyết võ hiệp cũ lẫn tiểu
thuyết võ hiệp đương đại . Nó không những có ngôn ngữ
trong sáng, tính văn học cao, hành văn lưu loát, uyển chuyển;
mà cả thơ cả từ trong đó đều sử dụng rất khéo; điều
quan trọng nữa là trong tác phẩm thường chan chứa ý thơ,
đạt đến cảnh giới mỹ lệ. Theo cách nói quen thuộc, đó
là một thế giới rất phong phú đa dạng, khiến người ta
cảm thấy như đang sống trong thế giới ấy, cảm thấy được
hưởng thụ nghệ thuật, một thứ mỹ cảm khiến người
ta say sưa.
Thứ
năm : Sự biến hoá của tình tiết nghệ thuật trong tiểu
thuyết Kim Dung như núi mọc lên đột ngột ngoài trời, đó
là chỗ khiến người ta phải vỗ án khen tuyệt. Đang tưởng
như " sơn cùng thủy tận " bỗng gặp đường lối mở ra,
tình men theo cảnh, hợp tình hợp lý. Chính vì thế mà người
ta không sao rời sách, cứ phải đọc cho đến hết .
- Năm
1992, " Bách Hoa Châu Văn Nghệ Xuất Bản Xã " đã xuất bản
cuốn " Phân Tích và Thưởng Thức Tiểu Thuyết Kim Dung "...
- Một
số trường đại học nổi tiếng, đã có nhiều chuyên đề"Nghiên
cứu Kim Dung "...
- Các
tác phẩm từ " Thư Kiếm Ân Cừu Hận " đến " Lộc Đỉnh
Ký " đã được giới điện ảnh làm thành phim nhựa ( ibid.
tr. 265 - 267)
Về
nhiệt tình chính trị của Kim Dung, Bành Hoa và Triệu Kiến
Lập nhận xét : " Trong bộ tiểu thuyết này ( Thư Kiêm Ân
Cừu Hận) ta có thể thấy Kim Dung đã thể hiện nhiệt tình
chính trị của mình : tình cảm dân tộc, lòng yêu tổ quốc,
cho đến lý tưởng an bang trị quốc, cứu đời cứu dân.
Nhãn quan của Kim Dung rất chính xác " ( Ibid. tr.299 )
Ngày
16 tháng 7, năm 1981, được sự sắp đặt của chính quyền
Trung Quốc, Kim Dung, phu nhân và con trai vào thăm đại lục,
được Đặng Tiểu Bình tiếp kiến, nhiều nhân vật cao cấp
ở Quốc Hội và Chính Phủ tiếp xúc, trao đổi. Sau chuyến
Bắc du dài, thăm mười Tỉnh và Thành phố trong nước, tại
Hồng Kông, các phóng viên Minh Báo đã phỏng vấn, Kim Dung
đã xác định và điều chỉnh lập trường chính trị và
cái nhìn của ông về đại lục, phát biểu rằng :
" Thứ
nhất, tôi tin rằng hiện nay ở Trung Quốc không có một lực
lượng chính trị nào có thể thay thế vị trí lãnh đạo
của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Thứ
hai, tôi tin rằng Trung Quốc trong mấy mươi năm sắp tới không
thể thực hành dân chủ theo kiểu phương Tây, mà dù có khả
năng thì chưa chắc đã có lợi cho đất nước và nhân dân.
Thứ
ba, cá nhân tôi tán thành Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xã
hội khai minh. Nói chung, so với thói quen phóng túng và sự
phân hóa giàu nghèo thái quá trong xã hội tư bản chủ nghĩa
thì chủ nghĩa xã hội công bằng hợp lý hơn. Nhưng ở đại
lục tự do của cá nhân còn hạn chế, Đảng Cộng Sản lãnh
đạo làm kinh tế hiệu suất còn thấp, chưa giải phóng được
lực lượng sản xuất của nhân dân, tư tưởng và tác phong
tả khuynh khá nghiêm trọng. Cá nhân tôi tán thành việc không
ngừng cải cách từng bước, chứ không nghĩ rằng một cuộc
cách mạng long trời lở đất có thể giải quyết được
vấn đề " Tôi nhận thấy Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ
Trung ương đến địa phương đã không còn khoa trương như
trước mà phần nhiều nói về khuyết điểm của mình, ít
nói đến thành tích, điều nầy để lại trong tôi ấn tượng
sâu sắc nhất ". ( Ibid. tr. 302 )
Nhận
xét về chế độ, tổ chức xã hội ở Hồng Kông, nơi cư
trú hơn hai mươi năm qua của Kim Dung, Kim Dung đánh giá :
"...
Điều đáng quý nhất của Hồng Kông là tự do sinh hoạt,
tinh thần pháp trị, sự phát triển kinh tế có hiệu suất
và linh hoạt, có nhiều cơ hội cho con người, cái dở nhất
của Hồng Kông là sự bất hợp lý, bất công bình của tự
do tư sản cực đoan " ( Ibid. tr.303 )
Với
khối óc và con tim lớn, từng trải qua các biến đổi của
thời đại, thế kỷ XX, nắm vững thông tin thế giới, hẳn
là Kim Dung đã chuyển tải qua các tiểu thuyết võ hiệp của
mình nhiều quan niệm, tư tưởng, nhiều nhận xét đánh giá
giá trị về xã hội hiện đại ( Trung Quốc và Thế giới
) và hẳn đã truyền vào đó những cái nhìn và ý tưởng
chân xác về thái độ sống của các cá nhân, tập thể để
xây dựng một cuộc sống công bằng, nhân ái và an lạc, hạnh
phúc tốt đẹp nhất có thể. Thế nên, tiểu thuyết của
ông đã có một hấp lực lớn quấy động các sạp báo Saigon,
và cả Saigon, trong những năm của thập niên 60. Dân chúng
nhiều giới đều hâm mộ đọc tiểu thuyết võ hiệp của
Kim Dung. Không khí hâm mộ dấy lên như là không khí xem phim
Tây Du Ký trên màn ảnh nhỏ của thập niên 80, TP Hồ Chí
Minh. Tác giả tập sách này cũng bị cuốn hút theo làn sống
hâm mộ có thể đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung liên
tục nhiều ngày đêm không mệt mỏi, tưởng chừng như đang
đi vào lục lọi túi khôn của nhân loại mà Kim Dung đã dốc
cạn vào trong truyện.
Ngày
nay, các học đường nhiều nơi đang lác đác nghiên cứu tiểu
thuyết Kim Dung qua nhiều phương diện, đang chuyển thành hiện
tượng " Kim học " hay " Kim Dung học". Tại Việt Nam, 15 bộ
tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung đang được Nhà Xuất Bản
Văn Học, Hà Nội ấn hành từ năm 2001 :
- Anh
Hùng Xạ Điêu, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
-
Tiếu Ngạo Giang Hồ, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
-
Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 4 tập ( >= 700 trang ), 2002.
-
Lộc Đỉnh Ký, 10 tập ( >= 300 trang ), 2002.
-
Thiên Long Bát Bộ, 9 tập ( >= 300 trang ), 2003.
-
Hiệp Khách Hành, 4 tập ( >= 250 trang ), 2003.
Điều
nầy khiến người viết " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đi
tìm lại các cảm xúc của mình khi mải mê đọc võ hiệp
Kim Dung vào thập niên 60, đặc biệt là cảm xúc về Phật
học, về Văn hoá và Giáo dục. Người viết chỉ có một
nguyện vọng khiêm tốn là nói lên một tiếng nói trân trọng
về những gì tốt đẹp mà Kim Dung đã cống hiến cho độïc
giả bốn phương.
Tác
giả cẩn bút
Tỷ
kheo Thích Chơn Thiện
Chùa
Tường Vân, Huế
Phần
Một
Bàn
về " Hiệp Khách Hành "
I.
Mở đầu
1.
Ấn bản đầu tiên năm 1965. Ấn bản năm 1977 có thay đổi
một số tình tiết, khiến " Hiệp Khách Hành " trở nên chặt
chẽ và ý vị hơn.
2.
Đoạn kết của bản tu chỉnh kết thúc từ cảnh Thạch Phá
Thiên thành công trong công phu giải bí kíp Thái Huyền Kinh,
trở về Khô Thảo Lĩnh, núi Hùng Nhĩ, gặp "má má " Mai Phương
Cô để lại niềm băn khoăn về gốc gác của chính mình :
" gia gia ta là ai ? ", " má má ta là ai ? ", " Ta là ai ? ". Những
câu hỏi, mà tập truyện là câu trả lời, làm dấy lên trong
người đọc niềm thao thức khôn nguôi.
3.
Bài cổ thi " Hiệp Khách Hành " của thi hào Lý Thái Bạch là
bí kíp Thái huyền công cất giữ trên đảo Hiệp Khách. Nguyên
văn bài cổ thi là :
" Triệu
khách mạn hồ anh ; Ngô câu sương tuyết minh ;
Ngân
yên chiếu bạch mã ; Tạp đạp như lưu tinh .
Thập
bộ sát nhất nhân ; Thiên lý bất lưu hành ;
Sự
liễu bất y khứ ; Thâm tàng thân dữ danh .
Nhàn
quá Tín Lăng ẩm ; Thoát kiếm tất tiền hoành ;
Tương
chích đạm Chu Hợi ; Trì khương khuyến Hầu Doanh .
Tam
bôi thổ nhiên nặc ; Ngũ nhạc đảo vi khinh ;
Nhãn
hoa nhĩ phục hậu ; Ý khí tố nghi sinh .
Cứu
Triệu huy kim trụy ; Hàm Đan tiên chấn kinh ;
Thiên
thu nhị tráng sĩ ; Huyền hách Đại Lương thành .
Túng
thử hiệp cốt hương ; Bất tàm thế thượng anh ;
Thùy
năng thư các hạ ; Bạch thủ Thái huyền kinh ".
Dịch
nghĩa :
" Khách
nước Triệu phất phơ giải mũ ; Kiếm ngô câu rực rỡ tuyết
sương ;
Ngân
yên bạch mã huy hoàng ; Vó câu vun vút như ngàn sao bay.
Cách
mười bước giết người chẳng trật ; Nghìn dặm xa vùng
vẫy mà chi ;
Việc
xong rũ áo ra đi ; Ẩn thân rừng núi kể gì tiếng tăm .
Rảnh
lại nhớ Tín Lăng tìm đến ; Gươm gác đùi chuốc chén đầy
vơi ;
Này
nem, này rượu khuyên mời; Bên thời Châu Hợi, bên thời Hầu
Doanh.
Ba
chén cạn thân mình sá kể; Năm núi cao xem nhẹ lông hồng
;
Mắt
hoa mặt đã nóng bừng ; Khí hùng bay bổng lên từng mây xanh.
Chùy
cứu Triệu vung tay khẳng khái; Thành Hàm Đan run rẩy kinh hoàng;
Nghìn
thu tráng sĩ hai chàng ;Tiếng tăm hiển hách rỡ ràng Đại
Lương.
Người
dù chết xương còn thơm ngát ; Chẳng hổ ngươi đáng mặt
anh hào;
Kìa
ai ẩn náu trên lầu ; Chép kinh đến thuở bạc đầu chưa
xong ".
4.
Nguyên bản năm 1965 thì không có lời hậu ký. Nguyên bản
tu chỉnh năm 1977 thì có lời hậu ký rằng :
"...
Mọi cố gắng để chú thích và bình luận đều làm tổn
hại đến bản ý của tác giả, lại còn tạo ra những trở
ngại nghiêm trọng. Bộ Hiệp Khách Hành này viết 12 năm trước,
đã diễn giải ý kiến này khá đầy đủ. Gần đây tôi đọc
nhiều kinh Phật hơn, đối với ý nầy càng tâm đắc.
Kinh
Bát Nhã của Đại thừa, Trung Quán luận của Long Thọ đều
cực lực bài bác những luận giải phiền phức cho rằng các
loại kiến thức chú giải đều do hư vọng sinh ra , chỉ làm
trở ngại cho việc thấy đạo của người tu học. Khi tôi
viết Hiệp Khách Hành nầy, tuy không thể nói là hoàn toàn
không biết kinh Phật, nhưng chỉ mới đọc hết Kinh Kim Cang
vào tháng 11 năm ngoái, tôi còn đọc Bát Nhã và Trung Quán
lại còn mới hơn, mới Xuân Hạ năm nay.
Nhân
duyên bên trong việc này, thật không thể nào giải thích được
".
Tháng
7, 1977.
Qua
lời hậu ký của Kim Dung viết từ năm 1977, độc giả có
thể hình dung ra một số điểm đáng lưu ý rằng :
-
Các giải thích, giải mã, bình luận của nhiều ý kiến đương
thời đều rơi vào các định kiến, giữa khi ý của tác giả,
trong truyện, thì phù hợp với giáo lý nhà Phật, phù hợp
với vô ngã và vô chấp.
- Lúc
sáng tác Hiệp Khách Hành, 1965, Kim Dung nhìn nhận bấy giờ
chưa đọc nhiều kinh điển Phật giáo, nhưng vốn tâm đắc
giáo lý nhà Phật, có nghĩa là có cái nhìn nhân sinh và thế
giới phù hợp với tinh thần Phật học. Lúc tu chỉnh, 1977,
tác giả đã đọc kỷ Kinh Kim Cương, tạng Bát Nhã, Trung Quán
Luận.
Thực
sự từ 1967, người viết " Bàn về Tiểu thuyết võ hiệp
Kim Dung ", một tu sĩ Phật giáo, đã thấy rõ ảnh tượng Kinh
Kim Cương khắp bốn tập truyện Hiệp Khách Hành, đã cùng
các pháp hữu sôi nổi trao đổi cảm nhận ở ngoài hành lang
của giảng đường Phật học Vạn Hạnh. Hẳn là có chút
băn khoăn về phần kết của truyện. Nay thì phần ấy đã
được tu chỉnh rất gọn.
- Do
vì Kim Dung tâm đắc với Phật giáo nên cái nhìn của tác
giả, qua toàn truyện, toát ra nhiều hương sắc Phật giáo.
Đây là phần khảo sát của người viết, không đi vào các
hàm ý giá trị khác.
Phần
Hai
Bàn
về " Thiên Long Bát Bộ " hay "Lục Mạch Thần Kiếm"
A.
GIỚI
THIỆU KHÁI QUÁT
Kim
Dung sáng tác truyện Thiên Long Bát Bộ vào năm 1963; khởi đăng
trên Minh Báo Hồng Kông và Nam Dương Thương Báo (Singapore)
từ ngày 03-09-1963. Bộ truyện dài mười tập, 3000 trang, 50
hồi, chừng hai triệu chữ, đăng liên tục bốn năm. Đây
là tác phẩm dài nhất và là một trong các tác phẩm tuyệt
vời của Kim Dung, đặc biệt đầy màu sắc Phật Giáo, lòng
nhân ái, hữu nghị quốc tế, tinh thần dân tộc khai minh,
và đầy nét thẩm mỹ.
Bối
cảnh của truyện trải khắp sáu nước: Đại Lý ở Phương
Nam; Đại Tống ở Trung Nguyên; Đại Liêu, Tây Hạ, Đại Kim
ở Phương Bắc, và một nước Đại Yên đã bị xóa tên trên
bản đồ lịch sử.
Xung
đột xảy ra chung quanh các mâu thuẫn trong mối liên hệ con
người, quốc gia và quốc tế. Cục diện chính là xung đột
lịch sử giữa đại Liêu và Đại Tống, đan xen vào các âm
mưu quốc tế và ý đồ khôi phục nước Đại Yên của nhà
Mộ Dung.
Chiến
tranh đẫm máu tàn phá các giá trị nhân văn, văn hóa, chỉ
nhằm phục vụ tham vọng bá quyền của Đại Liêu, và toan
tính phục quốc phiêu lưu của nhà Mộ Dung. Tất cả bi thương
đều trút xuống một con người bản tâm trung chính, nghĩa
khí, nhân đạo là anh hùng Tiêu Phong: Tiêu Phong hứng chịu
rất oan khuất các hậu quả của sự man trá, căm hờn, đố
kỵ, thành kiến hẹp hòi, kỳ thị chủng tộc ở xã hội
chàng đang sống.
Tình
người vượt khỏi biên giới lãnh thổ, giai cấp, tuổi tác
giữa ba anh em kết nghĩa Kiều Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự tỏa
sáng trên toàn truyện là tiếng nói giá trị của thời đại,
hóa giải được các hận thù lịch sử, đem lại hòa bình
bền vững cho toàn cõi Trung Quốc, đã thắp sáng thao thức
của độc giả bốn phương.
Thái
độ sống rất hiền triết, giản dị, lặng lẽ của vị
sư già giữ tàng kinh các Thiếu Lâm tự, mà rất trí tuệ
Phật Giáo, là tiếng hống sư tử làm bừng tỉnh một cõi
giang hồ của Võ lâm đương thời, giúp giang hồ thấy rõ
các hạn chế, ràng buộc của dục vọng và tư duy ngã tính
từng gây ra sóng gió, loạn lạc. Tất cả nội dung đó đã
được Kim Dung chuyển tải qua ba nghìn trang sách đầy mỹ
cảm, với hai điểm nhấn rất đặc biệt:
- "
Muốn có hy vọng giải thoát thì đầu tiên phải trừ tham,
trừ ái, trừ thủ, trừ triền".
(Tr
28, tập 10; NXB Văn Học, Hà Nội, 2003)
- "
Chỉ khi nào tất cả đế vương cùng tướng quân khắp thiên
hạ đều tin vào Phật Pháp mà lấy từ bi làm gốc, thì lúc
đó mới không còn thảm họa chiến tranh".
(Tr
273; Tập 10; NXB Văn Học, Hà Nội 2003)
Trừ
tham, ái, triền và phát triển từ bi là loại trừ sạch các
tác nhân gây ra khổ đau cho các cá nhân và xã hội, là đem
lại hòa bình, an lạc và hạnh phúc cho đời. Đây là tiếng
vọng của Phật giáo từ đỉnh Himalaya, xứ Ấn, mà độc
giả có thể nghe qua từng hồi truyện Lục Mạch Thần Kiếm.