KIM CƯƠNG
KINH GIẢNG NGHĨA
Người
giảng: GIANG VỊ NÔNG Cư Sĩ
Người
dịch: ÐỒ NAM Lão nhân
QUYỂN
BỐN
Chỗ
chẳng giống nhau của nửa bộ kinh trước và nửa bộ kinh
sau là: 1) Nửa bộ trước là vì kẻ sắp phát đại tâm tu
hành mà nói, dạy cho nó làm sao phát tâm, làm sao độ chúng,
làm sao phục hoặc, làm sao đoạn hoặc. Nửa bộ sau là vì
kẻ đã phát đại tâm tu hành mà nói. Vì chưng phát tâm mà
nói rằng tôi có thể phát có thể độ, có thể phục hoặc
đoạn hoặc, như thế thì vẫn là phân biệt, vẫn là trước
ngã, vẫn phải khiển trừ. Nửa bộ sau chuyên tỏ rõ nghĩa
nầy. Phải biết, có chỗ thủ trước liền bị nó trói buộc
chẳng được giải thoát. Phàm phu vì có nhân ngã chấp (tức
là chấp sắc thân làm ngã), nên bị sanh tử trói buộc, chẳng
lìa ra khỏi luân hồi, nhị thừa vì có pháp ngã chấp (tuy
chẳng chấp có sắc thân mà chấp có pháp ngũ uẩn, thì vẫn
là ngã kiến chưa quên, nên gọi là pháp ngã), bèn bị niết
bàn trói buộc đến nỗi trầm không trệ tịch. Bồ tát đại
bi đại trí chẳng bị hết thảy trói buộc, nên không quải
ngại mà đắc tự tại, đây gọi là chẳng trụ ở đạo.
Cho nên còn có một chút tình chấp liền phải rửa gột sạch
hết mà không trụ ở một cái gì.
2)
Nhân ngã chấp, pháp ngã chấp, nói một cách đơn giản là
ngã chấp, pháp chấp. Tầm thường nói là kinh nầy trước
phá ngã chấp, sau phá pháp chấp, thì chưa tránh khỏi sơ lược.
Nửa bộ trước mở miệng ra liền nói: “Bồ tát ư pháp
ưng vô sở trụ” và “vô ngã tướng vô pháp tướng diệc
vô phi pháp tướng, bất ưng thủ pháp bất ưng thủ phi pháp,
pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp v.v...” Nói đi nói
lại nhiều lần, thì sao được bảo là chỉ phá nhân ngã
chấp ư? Phải biết, ngã pháp hai chấp đều có thô có tế,
thô thì gọi là phân biệt ngã pháp hai chấp, vì chưng đối
cảnh gặp duyên do phân biệt mà nổi dậy. Tế thì gọi là
câu sanh ngã pháp hai chấp, đây là chẳng đợi phân biệt
hễ nổi dậy niệm liền có, nó cùng với niệm đều sanh
ra. Kinh nầy nửa bộ trước là khiển trừ thô chấp, như
nói: “chẳng nên trụ lục trần bố thí, chẳng nên trụ
lục trần sanh tâm, ưng vô trụ sanh tâm, ưng sanh vô sở trụ
tâm, ưng ly nhứt thiết tướng v.v...” đều là khiển trừ
cái bịnh ở trên cảnh duyên sanh tâm phân biệt, bèn đến
nỗi trụ trước. Chỗ bảo là ngã pháp hai chấp do phân biệt
mà nổi dậy là vậy, cho nên thô. Làm sao khiển trừ nó? Ly
tướng mà thôi ! Nửa bộ sau là khiển trừ tế chấp, tức
là ở lúc khởi tâm động niệm chẳng nên trụ trước. Nếu
còn có sở niệm tức là tình tưởng của ngã chấp pháp chấp
chưa hoá, thì liền là căn bịnh thủ tướng, trước cảnh.
Ðây là khiển trừ ngã pháp hai chấp cùng với tâm niệm đồng
thời đều sanh, cho nên tế. Làm sao khiển trừ? Ly niệm mà
thôi !
3)
Trước khiến ly tướng là khiển trừ sở chấp, sau khiến
ly niệm là khiển trừ năng chấp. Trước tôi đã chẳng nói
ư : huyễn tướng sở chấp nổi dậy ở vọng kiến năng chấp,
nên vừa mới xem thì nghĩa thú kinh nầy trước cạn sau sâu.
Thế nhưng chẳng thể xem một cách cục bộ như thế, vì lúc
khiển sở chấp mà trong chỗ kín đáo đã gồm khiển luôn
năng chấp. Vì cớ gì? Vì nếu chẳng ly niệm thì không từ
đâu mà ly tướng, nên nửa bộ trước tuy chưa nói rõ ly niệm,
thực ra đã đánh thức tỉnh chẳng ít. Như câu: “Năng tác
thị niệm phủ, ngã bất ưng tác thị niệm, ưng sanh thanh
tịnh tâm, ưng sanh vô trụ tâm, nhược tâm hữu trụ tắc
vi phi trụ”, đều là ly niệm. Ngay đến câu nói: “ưng ly
nhứt thiết tướng phát bồ đề tâm”, thì người lợi căn
có thể lĩnh hội được tâm chỗ phát ra cũng chẳng nên trụ.
Vì cớ gì? Vì nói rõ hữu trụ tắc vi phi trụ. Trước nói
kẻ tín tâm bất nghịch gánh vác như lai sẽ đắc bồ đề,
thì người này ắt đã lĩnh hội được ly niệm, nếu chẳng
như thế thì chưa đủ để nói gánh vác, sẽ đắc. Sở dĩ
người xưa có kẻ phán nửa bộ sau là thuần vì người độn
căn mà thuyết, ý ở chỗ này, có nghĩa là người lợi căn
liền chẳng cần phải nói lại lần nữa. Vì người lợi
căn ở thế gian rất ít, nên chẳng thể nào mà không thuyết
nửa bộ sau, khiến kẻ độn căn được đó mà vào sâu, đây
là ý của người xưa. Ta chẳng thể vì lời nói trên mà hiểu
lầm rằng nửa bộ sau cạn hơn nửa bộ trước. Tuy thế,
công phu ly niệm rất sâu, rất tế nhị, nếu chẳng mổ xẻ
ra từng tầng từng tầng một mà vào, thì không những một
lớp người chưa dễ gì tiến bộ, ngay đến kẻ lợi căn
đã biết ly niệm nếu chẳng nghiền ngẫm mài dũa cho thiệt
kỹ lưỡng, thì công hành sao có thể triệt để. Như lột
bẹ chuối, nếu chẳng lột rồi lại lột thì há có thể
suốt thấu bổn không, qui về vô sở đắc ư? Phải biết,
nửa bộ sau từ tỏ rõ ngũ nhãn trở về sau, càng thuyết
càng tinh tế. Ðến ở chứng phận chính là khiến công phu
rất thẳng mau đúng rõ ở trên một sợi lông nhỏ mà chứng
nhập, chỗ gọi là “trực chỉ hướng thượng”. Nếu không
hiểu rõ như thế, viên thì viên rồi vậy, nhưng đốn thì
còn chưa đốn. Nếu bảo một cách cục bộ rằng nửa bộ
sau chuyên vì kẻ độn căn mà thuyết, thì ở tôn chỉ của
kinh này cũng chưa hợp hết. Lý nầy chẳng thể nào mà không
biết.
4)
Nửa bộ trước nói “ly hết thảy tướng mới là phát bồ
đề tâm, mới là bồ tát lợi ích hết thảy chúng sanh”,
là không cái bịnh trụ trước ngã pháp. Nửa bộ sau thì nói
các câu “không có pháp phát bồ đề, không có pháp gọi
là bồ tát, và hết thảy pháp đều là phật pháp”, là không
cái bịnh trụ trước ngã pháp hai cái đều không. Nên phía
trước là hai bên chẳng trước, mà phía sau là hai bên chẳng
trước cũng chẳng trước, phía trước là phát tâm phải ly
tướng, mà phía sau thì ngay đến cả cái tướng phát tâm
cũng ly. Phải biết, nếu còn có niệm năng ly thì vẫn là
ngã và pháp y nguyên, liền đã phân biệt thủ tướng, cho
nên lại nói : “chẳng phải chẳng lấy cụ túc tướng đắc
bồ đề, ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, pháp tướng
tức chẳng phải pháp tướng”, đều là để khiển đãng
tình chấp vi tế. Khiển rồi lại khiển, đến chỗ năng và
sở đều ly, ngay cái ly cũng ly mới chứng bổn lai. Chỗ gọi
là chứng, không có gì khác, chỉ là hết phàm tình thì bổn
thể tự hiện ra, chẳng phải riêng có năng chứng, sở chứng.
Chẳng những phàm tình không thể có, ngay đến thánh giải
cũng phải không có. Còn có một cái năng tu, sở tu, năng chứng,
sở chứng, sở chứng tức là thánh giải, tức là sở tri
chướng che lấp giác thể. Nên Kim cương Kinh Tụng của Di
Lặc bồ tát rằng: “ở nội tâm tu hành còn có cái ngã là
bồ tát, đây là che lấp ở tâm, trái với đạo bất trụ”.Kinh
Viên giác nói : “hết thảy bồ tát và mạt thế chúng sanh
phải nên lìa xa hết thảy cảnh giới huyễn hoá hư vọng”.
Kinh này nửa bộ trước chẳng ngoài nghĩa này. Kinh Viên Giác
lại nói : “Bởi cớ kiên chấp trì tâm viễn ly, thì tâm
như huyễn cũng lại viễn ly, viễn ly là huyễn cũng lại viễn
ly, ly viễn ly huyễn cũng lại viễn ly, đắc không chỗ ly,
tức trừ các huyễn”. Kinh này nửa bộ sau chẳng ngoài nghĩa
này.
5)
Nửa bộ trước là tỏ rõ hết thảy đều phi (chẳng phải),
như nói phi pháp, phi phi pháp, hữu trụ tắc vi phi trụ, để
hiển cái chân thực độc đáo của bát nhã chánh trí. Vì
chưng trí này vốn chẳng nhiễm một mảy bụi, mà hết thảy
tướng thì không cái nào là chẳng hư huyễn, nên phải hết
thảy chẳng trụ, mà sau chánh trí hiển ra viên minh. Nửa bộ
sau là tỏ rõ hết thảy đều thị (phải), như nói “chư
pháp như nghĩa, nhứt thiết pháp dai thị phật pháp, thị pháp
bình đẳng vô hữu cao hạ”, để tỏ rõ lý thể nhứt như
của bát nhã, vì thể này là tông của vạn pháp. Hết thảy
pháp đều là thực tướng, nên phải bồ đề chẳng trụ
mà sau lý thể viên dung. Do đây mà xem, chỗ thuyên của một
bộ kinh Kim Cương, là hai chữ Chân Như mà thôi! Sau chót kết
rằng : “bất thủ ư tướng, như như bất động”, thì nghĩa
thú trọn bộ kinh ở hết thảy trong câu này. Lại trước
tỏ rõ hết thảy đều phi là khiến quán cái thể của chẳng
biến. Chỗ gọi là chánh trí là trí như như, tức là trí
của thể. Sau tỏ rõ hết thảy đều thị là khiến quán cái
dụng của tùy duyên. Chỗ gọi lý thể là : lý là diệu lý
thuộc tánh và dụng mà nói, dụng chẳng ly thể nên gọi là
lý thể. Lại trước đã hết thảy đều phi, nên tuy đều
đem ra nói : tắc phi và thị danh, mà ý chú trọng ở tắc
phi, chỗ gọi là tuy tùy duyên mà chẳng biến. Sau đã hết
thảy đều thị, nên tuy khiển trừ pháp chấp một cách tinh
tế, mà nói ở pháp chẳng nói đoạn diệt tướng, chỗ gọi
là tuy chẳng biến mà tùy duyên. Tóm hết năm thuyết trên
để quán trọn bộ kinh, thì chỉ thú của trọn bộ kinh rõ
ràng ở trong tâm nơi mắt.
TỎ
RÕ VÔ TRỤ ÐỂ HIỂN BÁT NHÃ LÝ THỂ
Nhĩ
thời Tu Bồ Ðề bạch phật ngôn : Thế tôn ! Thiện nam tử
thiện nữ nhân phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm,
vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?
Dịch
nghĩa : Lúc đó Tu Bồ đề thưa phật rằng : Thưa thế tôn,
trai lành gái lành phát tâm a nậu đa la tam miệu tam bồ đề,
làm sao phải trụ, làm sao hàng phục tâm mình?
Khoa
nầy xem ra như nổi dậy riêng biệt, thực ra thì thu nhiếp
khít khao văn trước mà tới. Chữ nhĩ thời chính là trỏ
lúc phật thuyết kinh nghĩa quả báo đều chẳng thể nghĩ
bàn vừa xong. Ý trưởng lão bảo : đã phải ly danh tuyệt
tướng, mà thiện nam tử thiện nữ nhân rõ ràng mỗi người
đều có tướng phát tâm, vả rõ ràng có cái tên a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề, vì chưng mỗi người đều tự biết
ta phải phát tâm, mỗi người đều tự biết a nậu bồ đề
là vô thượng pháp, há chẳng phải danh tướng của ngã và
pháp vẫn y nguyên ư? Trước nói : phải ly hết thảy tướng
phát bồ đề tâm, nay lúc suy nghĩ phát tâm thì liền trụ
tướng rồi, làm sao tâm nầy riêng một mình trụ ư? Nếu
chẳng phải trụ, mà phải hàng phục thì há chẳng phải chẳng
phát tâm ư? Thế thì làm sao hàng phục tâm nó ư? Ý nầy là
nói hai chấp chấp ngã và pháp đã cùng với lúc phát bồ
đề tâm đồng thời đều sanh. Hàng thì chẳng phải phát
tâm, trụ thì chấp ngã pháp, đây chính là day về trên một
sợi lông nhỏ xoi đục mà vào, chỉ thị người tu hành phải
day về lúc khởi tâm động niệm mà dụng công. Trưởng lão
đại từ, nên thay mặt hết thảy chúng sanh lại thỉnh khai
thị phương tiện căn bản.
Trước
nói : ưng vân hà trụ, là hỏi bồ đề tâm phải làm sao an
trụ khiến cho không rong ruổi tan mất, nay hỏi vân hà ưng
trụ là hỏi bồ đề tâm làm sao riêng một mình nó phải
trụ? Vì chưng nếu chẳng trụ ở pháp nầy, thì làm sao gọi
là phát bồ đề tâm? Trụ đã chẳng thể, hàng lại chẳng
được, thế thì biết làm sao? Ðây là vì nghe nói : “ư pháp
ưng vô sở trụ”, cho đến “hữu trụ tắc phi”, vì suy
nghĩ bồ đề cũng là pháp, thì làm sao phải trụ ư? Vả trước
nói : ưng ly nhứt thiết tướng phát bồ đề tâm, nhứt thiết
tướng thu nhiếp gồm rất rộng, tướng của phát bồ đề
tâm đương nhiên cũng ở trong đó. Sao đã nói phải ly hết
thảy tướng, lại nói phát bồ đề tâm? Nếu cũng phải ly,
thì sao gọi là phát bồ đề tâm ư? Người độn căn nghe
pháp thường hay chấp trước danh từ ngôn ngữ, dính cứng
chẳng tiêu hoá. Trưởng lão ở môn nầy lại là quanh co, vì
hiện tại tương lai hết thảy kẻ dính cứng chẳng tiêu hoá
thỉnh cầu khai thị.
Phật
cáo Tu Bồ Ðề ! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát a nậu
đa la tam miệu tam bồ để giả, đương sanh như thị tâm :
ngã ưng diệt độ nhứt thiết chúng sanh, diệt độ nhứt
thiết chúng sanh dĩ, nhi vô hữu nhứt chúng sanh thực diệt
độ giả.
Dịch
nghĩa : Phật bảo Tu Bồ Ðề : trai lành gái lành phát a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề phải sanh tâm như thế nầy : ta
phải diệt độ hết thảy chúng sanh, diệt độ hết thảy
chúng sanh rồi, mà không có một chúng sanh nào thực diệt
độ.
Ðây
chính là khai thị dạy dắt phương tiện để ly tướng lúc
khởi tâm động niệm. Xem khoa trên lời hỏi như không có
biện pháp nào, lại xem lời đáp khoa nầy hết sức nhẹ nhàng
viên diệu. Dưới chữ bồ đề người nhà Ðường viết kinh
không có chữ tâm, phải nên theo đó. Thử nghĩ : mở miệng
ra nói một câu phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, liền
nối tiếp nói : đương sanh như thị tâm, chính là tảo trừ
cái nầy là tướng của phát bồ đề tâm, nên nguyên bản
chẳng dùng chữ tâm để tỏ bày ý không có tướng. Ngay đem
văn tự ra để bàn, chẳng cần chữ tâm cũng nói được thông,
vì chưng phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tức là phát
vô thượng chánh đẳng chánh giác, chẳng thêm chữ tâm thừa
ra, có gì mà không thể được?
Hai
chữ như thị trỏ ba câu dưới, chữ “ưng” trong câu ngã
ưng chính cùng với chữ sanh hô ứng nhau. Vì chưng hiện cái
vốn có của nó ra gọi là sanh, hiển cái vốn không có của
nó ra gọi là phát, hết thảy chúng sanh vốn là đồng thể,
diệt độ hết thảy chúng sanh chẳng qua là hoàn tất cái
tánh phận chỗ nó sẵn có, là thiên chức phải làm trọn,
có gì là lạ khác đâu? Nếu cho là ta phải phát tâm nầy
liền có ý khoa trương, tức là trước tướng, nên chẳng
nói đương phát, mà nói đương sanh là vậy. Vì chưng nói
một chữ “ưng” là khiển trừ cái trước ở bồ đề,
ấy là phá pháp chấp. Nói chữ “đương sanh” là khiển
trừ cái trước ở phát tâm, ấy là phá ngã chấp. Chữ ưng
suốt hết ba câu dưới. Ý của ba câu lần lượt tiến lên
sâu, câu đầu nói độ sanh vốn là trách nhiệm phải làm
trọn, dưới câu nầy gồm có sao có thể tự khoe đây là
bồ đề ư? Câu thứ nhì nói phải độ chúng sanh đến hết,
dĩ : có nghĩa là hết, dưới câu nầy gồm có chúng sanh vô
tận, thì trách nhiệm nầy lại sao đã có thể hết, thì sao
có thể tự bảo là ta có thể độ ư? Câu thứ ba lại tiến
lên bước nữa, bảo phải biết tuy độ được hết, mà gồm
luôn thực không có một chúng sanh nào thiệt có diệt độ.
Vì cớ gì? Vì tánh của chúng sanh vốn là niết bàn, vả tuy
niết bàn mà cũng chẳng trụ, chúng nó nếu có trụ tức là
chẳng phải diệt độ. Thế thì há có một chúng sanh thực
diệt độ, thì sao lại có thể tự bảo có chỗ độ ư? Kẻ
phát vô thượng chánh đẳng chánh giác phải trước giác ngộ
rõ độ chúng sanh là trách nhiệm phải làm trọn, vả trách
nhiệm nầy rốt cuộc chưa có thể trọn, ngay đến trọn cũng
giống như chưa trọn. Phải sanh tâm như thế nầy : không có
năng độ, không có sở độ, không phân biệt, không cái gì
gọi là bồ đề, không có gì gọi là độ, ngay luôn cả không
có gì gọi là phát tâm, ngõ hầu cùng với thanh tịnh giác
tâm ứng với nhau.
Trước
đáp rằng : thực vô chúng sanh được triệt độ, chú trọng
ở chữ “được”, bảo tuy được diệt độ mà thực không
chỗ nào được. Ở đây chú trọng ở chữ “diệt độ”,
còn không chỗ nào gọi là diệt độ, thì còn có cái gì nói
là được hay không được, ý nầy lại sâu hơn trước, có
thể biết. Lại trước đáp tuy là năng độ sở độ đều
khiển trừ hết, cái khiển năng độ sở độ tuy cũng là
khiển trước bồ đề tâm, nhưng ý câu nói bao gồm, nay thì
thân thiết rõ ràng mà nói rằng : “phải sanh tâm như thế
nầy”, thì cái bóng của bồ đề nầy, của phát bồ đề
tâm nầy, của chúng sanh diệt độ nầy cũng chẳng hứa cho
còn lại một mảy may. Nên lời tuy cùng với câu đáp trước
hơi giống nhau, mà ý thì như đầm sâu muôn trượng trong suốt
tới đáy. Lại có chỗ phải biết, nghe được chỗ nói trong
nầy liền phải y theo đó bắt đầu tu hành. Trước nói một
khoa sanh tín đã đem tôn chỉ của trọn bộ kinh thu nhiếp
hết, sau đó là thêm vào sự mở rõ rộng lớn, sự phát huy
sâu kín. Lũ người học chúng ta phải từ chỗ sâu kín mà
hạ thủ mới có thể đạt đến cứu cánh. Cho nên nghe nửa
bộ kinh trước lại chẳng thể nào không nghe nửa bộ kinh
sau. Kinh nầy tự nhiên chia làm bốn bộ phận : tín, giải,
tu, chứng, chẳng phải bảo là trong tín giải không có tu công,
ấy là chỉ thị chỗ công phu tu ở phía trước đều phải
y theo chỗ thuyết ở trong nầy mà tu. Phía trước chỗ tôi
nói về tín tâm thanh tịnh, sở dĩ cực lực phát huy tín giải
hành chứng tuy có thứ lớp, mà chẳng thể chia thứ lớp một
cách cục bộ, tuy chia ra làm bốn thứ, mà chẳng thể cho là
bốn một cách cục bộ. Các bực thiện tri thức phải thể
hội ý nầy.
Hà
dĩ cố? nhược bồ tát hữu ngã tướng nhân tướng chúng
sanh tướng thọ giả tướng tắc phi bồ tát.
Dịch
nghĩa : Vì cớ gì? Nếu bồ tát có tướng ta tướng người
tướng chúng sanh tướng thọ giả tức chẳng phải là bồ
tát.
Hà
dĩ cố: là tự hỏi vì cớ gì phải sanh tâm như thế? Những
câu dưới có nghĩa là : nếu chẳng sanh tâm như thế liền
có đối đãi phân biệt, đã chưa thoát các tướng phân biệt
chấp trước ngã nhân v.v.. thì vẫn là phàm phu, há là bồ
tát? Câu sở dĩ giả hà ở văn dưới lại chuyển giải thích
cái sở dĩ nhiên của tắc phi bồ tát. Trước nói : nếu thủ
pháp tướng tức là trước ngã nhân chúng sanh thọ giả, nếu
tự mình cho là phát bồ đề tâm liền thủ trước bồ đề
pháp thì bốn tướng vẫn y nguyên, nên nói tắc phi bồ tát,
vậy nên phải sanh tâm như thế. Bốn tướng ngã nhân chúng
sanh thọ giả tuy cũng giống với phía trước, mà ý thì rất
tinh tế, vì chưng đã hết thảy chẳng trước, chỉ trước
ở phân biệt cực vi tế của thượng cầu hạ hoá mà thôi.
Chẳng
thể lạm cho là giống như bốn tướng phổ thông một thứ.
Thế tôn nói câu nầy là khai thị hành giả: nếu phân biệt
vi tế chưa sạch hết thì căn bịnh ngã tướng vẫn còn, tuy
gọi là bồ tát mà danh chẳng đúng với thực, ý nầy cảnh
sách rất sâu.
Sở
dĩ giả hà? Tu Bồ Ðề, thực vô hữu pháp phát a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề giả.
Dịch
nghĩa: Sở dĩ ra sao? Tu Bồ Ðề ơi, thực không có pháp phát
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Bản
xưa dưới chữ bồ đề cũng không có chữ tâm, câu nầy chính
dẫn khởi văn dưới “vô pháp đắc bồ đề”, nên chữ
tâm càng chẳng nên có. Bởi tại sao? Là vì thừa tiếp khoa
trên, khởi đầu khoa dưới, kết thành nghĩa hai khoa. Thực
vô hữu pháp a nậu đa la tam miệu tam bồ đề có hai nghĩa:
1) chữ pháp có nghĩa là pháp chánh giác, thực vô hữu pháp
vì vô thượng chánh đẳng giác tức là nghĩa cứu cánh thanh
tịnh. Trong thanh tịnh giác chẳng nhiễm một mảy bụi, nếu
còn một mảy may cái nầy là bồ đề tức là pháp trần,
chẳng phải là tịnh giác, thế thì chỗ phát tuy tên là bồ
đề, thực ra là tâm phân biệt mà thôi. Nên ắt thực vô
hữu pháp mới có tên gọi là vô thượng chánh đẳng giác.
2) Chữ “vô” có ý bảo là hữu pháp phát vô thượng chánh
đẳng giác thì thực không có sự và lý như thế. Vì chúng
sanh do vô thủy bất giác, nhân ái sanh ra thủ, bèn đến nỗi
lưu chuyển, nên chẳng kể pháp nào đều chẳng nên thủ,
thủ pháp tức là bất giác, sao có thể gọi là phát giác
ư? Cho nên hai nghĩa thực vô, và có thể có pháp phát vô thượng
chánh đẳng giác đã rõ, thì văn trên cái sở dĩ nhiên của
“đương sanh như thị tâm” và “nhược hữu tứ tướng
tắc phi bồ tát” có thể hiểu rõ.
Ở
trên chỗ tỏ rõ, chẳng ngoài kẻ phát bồ đề phải phát
mà chẳng tự cho là phát, không phát mà phát, như thế mới
là thiệt phát, mà trụ, hàng cũng ở trong đó. Vì chưng làm
sao trụ hàng, trọn vẹn xem phát tâm ra sao, chẳng cần cầu
cái khác, nên chẳng đáp riêng biệt. Phải biết, đương sanh
như thị tâm tức là ý vô trụ mà trụ. Ba câu “ưng diệt
độ nhứt thiết chúng sanh” là ý hàng phục kỳ tâm.
Mới
hỏi chỉ đáp hàng trụ, hỏi lần nữa chỉ đáp phát tâm,
đã đành rằng để tỏ bày cạn sâu thứ tự (nếu chẳng
phát tâm thì cần gì phải hỏi hàng trụ, nên phát tâm là
gốc, hàng trụ là ngọn, nên mới nói cạn sâu thứ tự),
thế nhưng trước đáp hàng, trụ mà phát tâm nhiếp ở trong
đó, nay đáp phát tâm mà hàng trụ nhiếp ở trong đó. Vả
biết được làm sao hàng liền biết được làm sao trụ, lại
để bày tỏ bày ba việc chỉ là một việc, mà trước từ
trên hàng phục mà nói nguyên vì chẳng hàng mà hàng, nay đem
trên phát tâm ra nói lại là không phát mà phát, đây đều
là phương pháp vi diệu phá ngã chấp, phải nên ở những
chỗ nầy hết lòng lĩnh hội mới là kẻ khéo dụng công.
ÐEM
QUẢ ÐỂ TỎ RÕ NHÂN
Tu
Bồ Ðề ư ý vân hà, như lai ư Nhiên Ðăng phật sở hữu
pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề phủ?
Dịch
nghĩa: Tu Bồ Ðề ơi, ở ý ông ra sao, như lai ở chỗ Nhiên
Ðăng phật có pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
chăng?
Ðây
là dẫn việc đã qua để làm chứng. Lúc đó thế tôn chứng
vô sanh pháp nhẫn, vị lên bát địa, sự tích nhơn duyên trước
đã nói tường tận rồi. Ngó lên trên cực quả thì bát địa
vẫn là nhân của người, mà ngó xuống dưới kẻ phát tâm
thì lại là quả vị, việc nầy liên hệ đến khoảng nhân
và quả, lý của nhân nhân quả quả là một, dễ hiểu rõ,
nên đem ra nói để làm chứng. Thế tôn phòng ngừa kẻ nghe
thuyết trên nghi ngờ, bảo rằng phát tâm nếu không có pháp
thì làm sao đắc quả, nên đem quả ra nói để chứng minh.
Nếu biết đắc quả là không đắc mà đắc thì phát tâm
ắt phải không phát mà phát, thật rõ ràng. Khoa nêu lên là
đem quả để tỏ rõ nhân gồm có nhân quả hai lần, vì chưng
đem quả pháp của phật địa để tỏ rõ nhân tâm của bát
địa, tức là mượn cái tâm của người quả bát địa để
tỏ rõ cái hành của kẻ sơ tâm phát giác.
Việc
nầy trước sau dẫn ra hai lần, mà mệnh-ý chẳng giống nhau.
Ý chẳng giống nhau có ba :
1)
Trước hỏi : “ở pháp có chỗ đắc không?” Ðáp rằng
: “ở pháp thực không chỗ đắc”, ý của nó chú trọng
ở chữ “đắc”, tỏ rõ tuy là đắc mà chẳng trụ ở tướng
đắc, cùng với ý văn trên tứ quả đắc mà không có tướng
đắc thông suốt, để dẫn khởi văn dưới kẻ phát tâm phải
sanh thanh tịnh tâm, chẳng nên trụ các tướng sắc thanh v.v...
lục trần. Chỗ nầy thì chú trọng ở chữ pháp, vì lấy
không có pháp đắc bồ đề để chứng minh nghĩa không có
pháp phát bồ đề ở văn trên.
2)
Chữ pháp chỗ hỏi phía trước là trỏ vô-sanh pháp nhẫn,
chữ pháp ở đây là trỏ a nậu đa la tam miệu tam bồ đề,
lúc
đó mới lên bát địa chưa đắc cứu cánh quả pháp. Phải
biết, vô sanh pháp nhẫn có tên là bồ đề phận pháp, chỗ
gọi là chứng bồ đề từng phần, chẳng phải là cứu cánh
chứng đắc vô thượng chánh đẳng giác. Nên ý hỏi chỗ
nầy chú trọng ở văn dưới, ý tỏ rõ lúc đó vì chứng
vô sanh pháp nhẫn, không sanh một pháp nào nên được thụ
ký, thế thì lúc đó tâm chẳng trụ pháp có thể biết được.
Vì lúc đó tâm chẳng trụ pháp, nên ngày nay chứng đắc cứu
cánh quả pháp viên mãn mà thành như lai, khiến cho người
ta hiểu rõ nhân như thế thì quả như thế, mảy may chẳng
sai, thì phát tâm chẳng nên trụ bồ đề pháp, không còn chút
nghi ngờ gì nữa. Nếu hiểu lầm ý của câu nầy là lúc đó
đã đắc vô thượng chánh đẳng giác mà chẳng trụ pháp
tướng, thì sai xa quá. Xem văn dưới nói : “nhược hữu pháp
như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề”, đủ chứng
minh chữ “đắc” trong câu nầy chẳng phải là trỏ lúc
đó, vì lúc đó chưa thành như lai. Tóm lại mà nói, đắc
là sẽ đắc, chẳng phải là đã đắc.
3)
Trước hỏi : “ư pháp hữu sở đắc phủ”, cũng là đem
quả ra để tỏ rõ nhân, nhưng chữ pháp đã trỏ vô sanh pháp
nhẫn, nên trong đó chỉ đem một nghĩa quả bát địa để
tỏ rõ nhân phát tâm, chữ pháp ở đây là trỏ vô thượng
bồ đề, nên phải lấy hai lần nhân quả để giải thích
nó, thì ở nghĩa mới viên.
Hữu
pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề phủ phải đọc
thành một câu. Hữu pháp là tâm có pháp nầy, tức là ý trụ
pháp. Ý câu hỏi nầy là: Như lai xưa ở chỗ Nhiên Ðăng Phật
trong tâm còn có pháp vô thượng chánh đẳng giác quả để
cầu chứng đắc không? Cũng như nói: trong tâm còn có cái
niệm sẽ đắc vô thượng bồ đề không? Trong kinh chẳng
nói như thế mà nói “hữu pháp đắc” v.v... là phối hợp
với câu : “hữu pháp phát v.v...” ở văn trên, tức là có
ý khiến cho khiển trừ pháp chấp vi tế, thật rõ ràng vậy.
Nói một chữ như lai là gồm có ý bất ưng trụ pháp ở trong
đó, như lai là tên gọi của tánh đức, giác tánh viên minh
há có pháp trần. Lúc làm phật như thế, thì hồi xưa lúc
ở bát địa đã được thụ ký làm phật, có thể biết được
là trong tâm không có pháp trần. Lúc chứng đắc bồ đề
phận pháp như thế thì kẻ mới phát bồ đề liền phải
học như thế, cũng do đây mà có thể biết. Nhân nhân quả
quả trước sau như một, nên nói chỗ nầy là đem quả ra
để tỏ rõ nhân, gồm hai lần nghĩa.
Phất
dã thế tôn ! Như ngã giải phật sở thuyết nghĩa, phật ư
Nhiên Ðăng Phật sở vô, hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề.
Dịch
nghĩa : Thưa thế tôn không. Như chỗ tôi hiểu nghĩa phật
thuyết, phật ở Nhiên Ðăng phật sở không, có pháp đắc
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Chữ
phất : có nghĩa là chẳng phải không có pháp, chẳng phải
có pháp. Lúc đó chính được thụ ký tương lai làm phật.
Làm phật có nghĩa là : hứa cho tương lai đắc chứng quả
pháp, nên chẳng phải là không có pháp. Nhưng lúc đó thực
ra vì chứng vô sanh nhẫn, không có một pháp nào sanh mà được
thụ ký, nên chẳng phải là có pháp. Giải sở thuyết nghĩa
: chính là trỏ nghĩa chỗ nói vô pháp phát bồ đề ở văn
trên, tức là do nghĩa vô pháp phát bồ đề lĩnh hội nghĩa
nầy, biết rằng ắt vô pháp mới đắc bồ đề. Vì cớ gì?
Vì nhân quả như một. Trưởng lão đã chưa làm phật, lại
chẳng phải bát địa bồ tát làm sao biết được cảnh giới
đó. Chỉ ở trong nghĩa của phật thuyết lĩnh hội mà được,
đây chính là bày tỏ sự cần yếu của giải tuệ. Chẳng
nói là như lai mà nói là phật ấy là có ý sâu. Vì chưng
trên nói giải nghĩa, ấy là lấy nghĩa lúc sơ phát tâm tu
nhân mà hiểu được tâm của kẻ chứng bát địa. Nay đem
chữ phật ra để nói, ấy là do ngày nay đã đắc quả phật
mà chứng minh cái nhân hồi xưa sẽ được làm phật. Vì cớ
gì? Vì phật là tên gọi của chứng đắc quả pháp thành
cứu cánh giác. Ðem một chữ phật ra nói là tỏ rõ theo chứng
quả mà nói thì chẳng phải là rốt ráo không có pháp. Thế
nhưng do chỗ hiểu nghĩa không có pháp mới đắc mà suy ra,
thế thì lấy quả ngày nay ngóng nhân ngày xưa, thì thế tôn
ở thời Nhiên Ðăng phật ắt không mảy may tâm niệm có pháp
đắc a nậu bồ đề, có thể biết được. Chữ ‘vô” phải
đọc đứt đoạn. Hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam
bồ đề nguyên là lời để hỏi, nay thêm vào một chữ vô,
là tỏ rõ theo tu nhân mà nói chẳng phải là rốt ráo có pháp.
Tóm lại là để hiển rõ tâm không có pháp để cầu đắc,
mà sau mới có thể đắc. Nếu trụ pháp cầu đắc liền chẳng
thể đắc, thế thì chẳng nên trụ pháp phát tâm, nghĩa thật
rõ ràng.
Phật
ngôn : như thị như thị. Tu Bồ Ðề ! Thực vô, hữu pháp
như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Dịch
nghĩa : Phật nói : như thế, như thế. Tu Bồ Ðề ơi, thực
không, có pháp như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Hai
lời như thị, như thị ấy là hứa cho nó thuyết phi hữu
pháp, phi vô pháp là chẳng sai lầm. Thực vô là một đoạn,
hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề phải đọc
liền một câu. Hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ
đề nguyên là lời hỏi, nay ở trong đó thêm hai chữ như
lai. Như lai là tên gọi của tánh tức. Giác tánh hiển ra viên
minh gọi là đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nếu có
pháp trần liền chẳng phải là hiển ra viên minh, sao gọi
là đắc vô thượng bồ đề? Nên như lai đắc a nậu đa la
tam miệu tam bồ đề, cũng như nói đắc thành như lai. Hữu
pháp như lai đắc v.v... cũng như nói hữu pháp đắc thành
như lai. Thực vô: là lúc đó ở chỗ Nhiên Ðăng phật thực
không có một mảy may tâm hữu pháp đắc thành như lai. Văn
của kinh chẳng nói đắc thành như lai, mà ắt nói như lai
đắc a nậu đa la tam miệu tam miệu tam bồ đề, vì chính
là ở chỗ phá pháp chấp, nên đem vô thượng bồ đề pháp
ra nói để tỏ rõ thực vì trong tâm không có quả pháp nầy
mà sau đắc thành như lai. Ðây chính là ấn định chỗ giải
của trưởng lão chẳng sai lầm. Trưởng lão lấy quả để
tỏ rõ nhân nên đem phật ra nói. Thế tôn thì theo tánh đức
để tỏ rõ giác tánh hiển ra viên minh, làm gì còn có pháp,
nên đem như lai ra để nói, ý ở khiến cho biết tuy đắc
mà thực không chỗ đắc mới là như lai tánh đức viên hiển
ra, để làm tiền đề cho văn dưới nói : “như lai giả,
chư pháp như nghĩa.”
Tu
Bồ Ðề ! Nhược hữu pháp như lai đắc a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề, Nhiên Ðăng phật tắc bất dữ ngã thụ ký, nhữ
ư lai thế đương đắc tác phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, nếu có pháp như lai đắc a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề, Nhiên Ðăng phật liền chẳng thụ
ký cho ta rằng ông ở kiếp sau sẽ được làm phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni.
Ở
trên đều là đem quả vị phật địa ngày nay để tỏ rõ
nhân tâm bát địa hồi xưa, ở đây thì đem quả hành thụ
ký hồi xưa để tỏ rõ nhân tâm mới phát giác ngày nay, nên
chỗ nói ở trên đều là làm dẫn-án cho chỗ nầy. Vì chưng
thành phật, thành như lai do ở thụ ký ngày xưa, mà sự thụ
ký ngày xưa thực do ở chứng pháp vô sanh. Hết thảy bồ
tát phát giác sơ tâm nếu biết được hữu pháp thì chẳng
thụ ký, vô pháp mới được thụ ký, thì thụ trì đọc tụng
kinh nầy phải như lời dạy ở nhứt thiết pháp không trụ
mà trụ mới là tín tâm bất nghịch, gánh vác như lai, mới
có thể sanh phước diệt tội, sẽ đắc bồ đề, nghĩa nầy
há chẳng rõ ràng ư?
Xem
thuyết chẳng được thụ ký, thì có thể biết : “thử nhược
hữu pháp như lai đắc v.v...” là trỏ lúc còn chưa được
thụ ký mà nói. Ý nói : lúc đó trước khi chưa được thụ
ký, nếu tâm trụ ở pháp vô thượng bồ đề, hy vọng thành
như lai, đắc vô thượng bồ đề liền chẳng thể chứng
vô sanh pháp nhẫn, thì ngay đến thụ ký cũng chẳng thể được,
há có thể thành như lai ư? Ba câu : “nhữ ư lai thế” là
lời Nhiên Ðăng phật thụ ký, nay sợ chẳng rõ sao gọi là
thụ ký, nên dẫn ra để tỏ rõ, mà chẳng dùng câu : “tác
thị ngôn”, rõ ràng là chẳng phải lời của Nhiên Ðăng
phật.
Dĩ
thực vô, hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề,
thị cố Nhiên Ðăng phật dữ ngã thụ ký tác thị ngôn; nhữ
ư lai thế đương đắc tác phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Dịch
nghĩa : Vì thực không, có pháp đắc a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề, thế nên Nhiên Ðăng phật thụ ký cho ta, làm
lời nói nầy : ông ở kiếp sau sẽ được làm phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni.
Một
câu ngắn: dĩ thực vô: có nghĩa là vì người này thực không
có tâm trụ trước bồ đề pháp để cầu đắc. Thị cố
: có nghĩa là tỏ rõ chính vì tâm không có pháp mới chứng
vô sanh, vì cớ đó mới được thụ ký. Câu tác thị ngôn
: là tỏ rõ ba câu : “nhữ ư lai thế v.v...” là lời chính
Nhiên Ðăng phật nói ra, cùng với lời dẫn để giải thích
nghĩa thụ ký ở khoa trên chẳng giống nhau. Hoặc vì nghĩa
Thích Ca là họ, Mâu Ni là tên, có nghĩa là Năng Nhân Tịch
Mặc, thế nên mới nói năng nhân thì chẳng trụ niết bàn,
tịch mặc thì chẳng trụ sanh tử, vì ở pháp chẳng trụ
nên lấy danh hiệu nầy để thụ ký, lời giải thích nầy
chưa từng chẳng thể được, nhưng không nên câu chấp, vì
thụ ký chú trọng ở chỗ ấn khả tương lai làm phật, không
quan hệ gì đến danh hiệu. Vả phật phật đều chẳng trụ
pháp, đều được phật trước thụ ký, đều có danh hiệu,
mà danh hiệu chưa ắt đều lấy nghĩa chẳng trụ, sao có thể
câu chấp danh hiệu để giải thích?
Ở
dưới đây là tỏ rõ yếu chỉ khoa pháp pháp đều như, một
khoa không đắc mà đắc ở trên là đem việc chứng quả để
tỏ rõ chẳng nên trụ bồ đề. Một khoa pháp pháp đều như
nầy là nói lý chứng quả để tỏ rõ không có bồ đề có
thể trụ, chính là thuyết minh cái sở dĩ nhiên của chẳng
nên trụ, là cực vị trí của ly tướng, cũng là bổn nhiên
của pháp tánh. Vì chưng lấy quả chứng thì tướng và phi
tướng đều mất hết, khiến cho biết lúc nhân hành, phải
nên tướng và phi tướng đều ly.
Nghĩa
uẩn của pháp pháp đều như rất tinh vi, nay đem yếu chỉ
của nghĩa nầy cùng tận đến nguồn gốc lần lượt nói
rõ, rồi sau chỉ thú nói trong khoa nầy ngõ hầu được có
đầu mối để dễ hiểu rõ. Phải biết, thế tôn nói nghĩa
pháp pháp đều như nầy, ý khiến kẻ nghe pháp ở cứu cánh
liễu nghĩa hiểu rõ triệt để. Vì chưng ắt hiểu sâu mà
sau tín sâu, giải viên mà sau tu viên, thì chứng nhập chẳng
khó gì. Vì cớ gì? Vì giải lần lần mở ra, thì chấp tình
ngã kiến lần lần tiêu đi, cho nên học phật chú trọng ở
giải tuệ là vì thế. Giải tuệ là quán tuệ, thế cho nên
ba cái : văn, tư, tu chẳng lìa một cái tuệ. Thế thì yếu
chỉ của pháp pháp đều như nầy, sao chẳng phân biện cho
rõ ư?
Chỗ
gọi là vô thượng chánh đẳng giác, không là cái gì khác,
tức là chân như bổn tánh, cũng gọi là tự tánh thanh tịnh
tâm. Vì nó là tông của muôn pháp nên gọi là vô thượng,
vì nó là chỗ đều có đầy đủ của hết thảy chúng sanh
nên gọi là chánh đẳng. Nhưng chúng sanh bị che lấp bởi
vọng niệm phân biệt chấp trước, chẳng tự giác biết nó
là vô thượng chánh đẳng mà thôi. Nếu biết nó, mà có thể
khiển vọng trừ chướng thì gọi là chánh giác. Lúc mới
có thể giác gọi là phát giác sơ tâm. Giác đến cứu cánh
mà khiến cho tánh đức của vô thượng chánh đẳng hoàn toàn
tỏ rõ, không biết gọi là gì, nên gọi nó là vô thượng
chánh đẳng giác mà thôi. Thực ra thì là tánh vốn có đầy
đủ, sao có thể gọi là đắc ư? Sở dĩ tuy đắc mà ắt
qui về vô sở đắc là vậy. Mà đắc vô thượng chánh đẳng
giác, vì chúng sanh đồng thể, vì từ bi bổn nguyện, đem
lý thể thân chứng dùng bao nhiêu thứ lời nói, mở bao nhiêu
thứ phương tiện, dùng bao nhiêu thí dụ hay khéo, khiến cho
khắp hết thảy chúng sanh đều được giác cái đó, ngộ
cái đó, tu cái đó, chứng cái đó, không biết đặt tên nó
là gì nên gọi nó là vô thượng chánh đẳng giác pháp mà
thôi ! Thực ra là tánh vốn có đầy đủ của chúng sanh, sao
có chỗ gọi là pháp ư? Hiểu rõ được lý nầy liền biết
chẳng nên còn có pháp tưởng, còn có đắc tưởng. Tự tánh
đã có tên là thanh tịnh thì có thể biết nó từ xưa tới
nay chẳng nhiễm chút bụi, ví như mặt trời sáng ở trong
khoảng không, nếu có một chút mây liền che lấp mất ánh
sáng đi. Nên muốn cho ánh sáng của tánh viên chiếu phải
khiến cho sạch không chút bụi. Hết thảy chúng sanh vốn chẳng
biết tự tánh là thanh tịnh như thế, Phật đã thân chứng,
nên ngài dạy khiến cho phản chiếu như thế, phải tự giác
như thế. Nếu chẳng mỗi mỗi y theo giáo phụng hành thì sao
gọi là phát giác ư? Vì cớ gì? Vì có một cái pháp ở đó,
có một cái đắc ở đó, thì y nguyên vẫn là thói quen lâu
đời phân biệt chấp trước, vậy thì bổn tánh của nó vẫn
y nguyên ở chỗ che lấp. Nên chẳng những hết thảy pháp
chẳng nên trụ, ngay đến bồ đề pháp cũng chẳng nên trụ
là vì thế ! Chúng sanh vì cớ gì có bịnh phân biệt chấp
trước? Không là gì khác, do nó chẳng đạt nhứt chân pháp
giới, chỉ nhận thức tướng của hết thảy pháp. Ðã là
tướng thì tướng nầy tướng kia chẳng một, vì mê ở tướng
bèn trong chỗ chẳng hay chẳng biết theo đó mà phân biệt,
theo đó mà chấp trước. Biết đâu rằng đã gọi là tướng
thì lúc nào cũng nổi dậy sự biến hoá, nên nói : “phàm
chỗ có tướng đều là hư vọng”. Hư vọng có nghĩa là
giả mà chẳng phải thiệt, chẳng phải bảo là tuyệt đối
không có. Mà chúng sanh chẳng biết là giả, niệm niệm ở
trên tướng hư vọng phân biệt chấp trước, nên gọi là
vọng niệm, nghĩa là theo đuổi vọng tướng mà khởi niệm.
Hoặc tuy biết là giả, mà lại vẫn niệm niệm chẳng ngừng,
khiến cho tướng hư vọng ở tâm đầy rẫy, nên gọi là vọng
niệm, tức là tướng hư vọng theo niệm mà nổi dậy. Nên
một danh từ vọng niệm gồm hai nghĩa nầy. Phương tiện đối
trị cũng có hai thứ :
1)
ly tướng như chỗ nói nửa bộ trước kinh nầy. Ắt phải
giác ngộ triệt để căn, thân, khí, giới, hết thảy cảnh
tướng đều là hoa đốm ở trong không, mặt trăng nơi đáy
nước, mê những cái đó mà tính toán so sánh chỉ thêm phiền
não một cách vô ích. Lại gồm phải trì giới tu phước dứt
nhiễm duyên, trừ tham sân. Quán hành lâu ngày như thế, tình
chấp lần lần đạm bạc, vọng tưởng cũng theo đó mà giảm
thiểu. Vì cớ gì? Vì chỗ gọi là vọng tưởng đều là tình
chấp khiến nó như thế thôi ! Thế nên ly tướng là phương
tiện của ly niệm, đây là một pháp.
2)
Ly niệm như chỗ nói ở nửa bộ sau kinh này. Vì chưng từ
vô thủy đến nay thói quen rất sâu, tuy biết tướng đều
là hư vọng, mà đeo dính chẳng ngừng nghỉ. Ắt phải ở
chỗ động niệm ra sức day về trên nguồn gốc của tâm mà
quán trở lại. Chỗ có trì giới tu phước lục độ vạn
hạnh lại càng phải tinh tiến, vì trải qua sự mà luyện
tâm. Nếu đập chết được niệm-đầu, thì hết thảy phân
biệt chấp trước tự nó không có, mà tướng có hay không,
lại không quan hệ. Vì cớ gì? Vì có thể chẳng nổi dậy
niệm thì hết thảy tướng chẳng ly mà tự nó ly. Thế nên
ly niệm là cứu cánh của ly tướng, đây lại là một pháp.
Hai thứ pháp nầy có thể thực hành đều nhau mà chẳng trái,
ly tướng tức là ly niệm, ly niệm mới có thể ly tướng,
nên nói là chẳng trái nhau. Thế nhưng ly tướng là chỉ ly
một tầng vọng niệm trước, chỗ gọi là đuổi theo tướng
hư vọng mà nổi dậy, ly niệm là ly một tầng vọng niệm
sau, chỗ gọi là vọng tướng theo niệm mà nổi dậy, nên
phải thực hành đều nhau. Thực hành đều nhau chẳng phải
là câu chấp ở trước ly tướng, sau ly niệm, có nghĩa là
lúc ly tướng tu gồm luôn ly niệm, thì ly tướng mới có thể
cứu cánh, lúc ly niệm tu gồm luôn ly tướng thì lúc ly niệm
càng được phương tiện, phải cùng một lúc thực hành đều
nhau.
Tóm
lại chúng sanh đã bị hết thảy tướng làm mê, từ xưa đến
nay chẳng biết phản chiếu tự tánh, có biết đâu tự tánh
cùng với chúng sanh cùng một thể. Lại biết đâu rằng trong
là ngũ uẩn, lục căn, ngoài là sơn hà đại địa v.v... hết
thảy pháp đều là duy tâm sở tạo. Cái nầy đã chẳng biết,
liền chẳng biết phật khiến chẳng nên trụ hết thảy pháp
ấy là khiển trừ cái bịnh phân biệt chấp trước thủ tướng,
cùng với hết thảy pháp đều chẳng can thiệp gì với nhau.
Bịnh thủ tướng nếu trừ, thì trong là ngũ uẩn, ngoài là
sơn hà v.v... hết thảy pháp liền như chỗ nói trong kinh Lăng
Nghiêm đều là diệu tịnh minh tâm, tánh tịnh minh thể. Vì
cớ gì? Vì hết thảy pháp đều chỉ có tướng mà không có
tánh, chẳng phải là không có tánh, vì tánh của hết thảy
pháp tức là tự tánh. Vì cớ gì? Vì là nhất chân pháp giới,
thế thì lại sao có thể khiển trừ ư? Lại cần gì phải
khiển trừ ư? Ðây là nghĩa chân thực của pháp pháp đều
như. Cho nên Khởi Tín Luận nói : “Thể chân như nầy không
có thể khiển, vì hết thảy pháp đều chân, cũng không có
thể lập, vì hết thảy pháp đều đồng như.” Phải biết
rằng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề là tên khác của chân
như, nếu trụ ở đó thì vẫn là thủ tướng. Có chỗ thủ
liền có chỗ lập nên. Tuy đem hết thảy pháp tướng khiển
hết mà riêng lập một tướng bồ đề tức là chẳng phải
hết thảy pháp đều như. Vì cớ gì? Vì có lập nên liền
có phế bỏ. Bổn tánh là tông của vạn pháp bao gồm hết
thảy, đầy đủ hết thảy, lập một cái mà phế những cái
khác tức là chẳng phải tánh trọn vẹn, há là vô thượng
chánh đẳng, há lại là chánh giác ư? Nửa bộ trước kinh
nầy khiển hết thảy pháp tướng để hiển bồ đề, là
để trừ cái bịnh thủ trước hết thảy pháp mà thôi. Lại
sợ hoặc còn thủ trước bồ đề, nên nửa bộ sau mới mở
ra nói, tức là khiển cái nầy. Bịnh nầy đã khiển thì tánh
đức hiển rõ ràng trọn vẹn, pháp pháp đều như, không có
thể khiển mà cũng không có thể lập. Mục đích sau chót
của người tu hành là ở đó. Các nghĩa chỗ nói từ lúc
bắt đầu khai kinh đến nay qui thú cũng ở đó, cho nên một
khoa pháp pháp đều như là nghĩa trọng yếu trong trọn bộ
kinh, lại cũng tức là nghĩa trọng yếu của hết thảy phật
pháp đại thừa. Sau đây chỗ nói đều là mở phát nghĩa
nầy, chứng thành nghĩa nầy. Chỗ nói nửa bộ trước cũng
là xu hướng tôn trọng nghĩa nầy, thu nhiếp vào nghĩa nầy.
Ðây là thế tôn đem cái tự mình thân chứng nói huỵch tẹt
ra, khai thị rõ ràng, khiến cho chúng sanh do đây mà ngộ, do
đây mà nhập. Nên pháp pháp đều như ắt phải khiển hết
thảy tình chấp, chỉ có chứng mới biết, chẳng thể nói
ra một cách trống không. Nếu hoặc là bịnh thủ trước chẳng
khiển được một mảy may nào, mà nói với người khác là
hết thảy đều như thì pháp pháp thành ra chướng mà thôi,
há có thể pháp pháp đều như ư? Cho nên chỉ là người nói
bậy mà thôi! Nói bậy bát nhã tội đến rơi xuống vô gián
địa ngục vì nó làm cho chúng sanh nghi hoặc, hiểu lầm, khiến
cho người ta vì đó mà báng phật, báng pháp, coi rẻ tam bảo.
Phải biết pháp pháp đều như, nếu đã chứng tới thì ắt
có thể thực hành, như rút vô lượng kiếp làm một sát na,
kéo dài một sát na làm vô lượng kiếp, đem hột cải nạp
núi Tu Di vào, biến sa bà làm tịnh độ, đến địa vị sự
sự vô ngại nầy, mới hứa cho nói được câu nói nầy. Hết
thảy người học chỉ nên day về trên pháp pháp đều như
mà quán chiếu, khiển hết chấp tình biến kế, ngã kiến
của mình để mong chứng nhập, đó là có thể được vậy.
Há có thể sanh đại ngã mạn, khinh mạn lấy một câu nói
NHỨT NHƯ làm khẩu đầu thiền ư? Thử xem kinh nầy chỗ kết
thúc sau cùng, cũng tức là đầu phần lưu thông sau khi nói
như như bất động liền nối tiếp nói : “vì cớ gì? Hết
thảy pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như móc lại
như chớp, phải nên quán như thế”, chính là chỉ thị như
như bất động phải từ quán hết thảy pháp như mộng như
huyễn mà chứng nhập. Làm sự quán như mộng như huyễn v.v...
là khiển tình chấp. Ðây là chỗ then chốt khẩn yếu trong
kinh chẳng thể bỏ qua.
Sao
gọi là nghĩa nửa bộ trước thu nhiếp ở trong này ư? Nay
nói sơ lược để mở ra cửa giác ngộ. Như nói: “nếu thấy
các tướng chẳng phải tướng tức là thấy như lai”, thử
nghĩ nếu thấy được các tướng tức là chẳng phải tướng,
há chẳng phải là pháp pháp đều như ư, nên nói tức là
thấy như lai. Phàm nói cái nầy mà chẳng phải cái nầy đều
là chỉ-điểm nghĩa trên. Lại như tín tâm thanh tịnh tức
là sanh thực tướng, phải biết vì không phân biệt chấp
trước mà sau tâm mới tịnh, tâm tịnh tức là sanh thực tướng,
Thực tướng là vô tướng vô bất tướng, thì pháp pháp đều
như. Nên nói: “phải sanh thanh tịnh tâm, phải vô trụ sanh
tâm, phải sanh vô trụ tâm, phải ly hết thảy tướng phát
bồ đề, hành lục độ, nếu tâm hữu trụ tức là chẳng
phải trụ”. Lại như chẳng nên thủ pháp, chẳng nên thủ
phi pháp. Chẳng thủ pháp là vì hết thảy pháp đều như,
không có thể lập. Chẳng thủ phi pháp là vì hết thảy pháp
đều chân, không có thể khiển, chính là chỗ bảo pháp pháp
đều như. Vì pháp pháp đều như cho nên vô hữu định pháp
gọi là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng vô hữu định
pháp như lai có thể thuyết. Cho nên pháp và phi pháp đều
chẳng phải, đều chẳng thể thủ, chẳng thể thuyết. Hết
thảy hiền thánh đều lấy vô vi pháp mà có sai biệt, là
vì pháp pháp đều như thì pháp pháp đều chân (Kinh Pháp Hoa
sở dĩ nói : thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường
trụ). Nên hết thảy pháp thanh tịnh vốn nó như thế, tuyệt
nhiên chẳng phải là tạo tác nên nói là vô vi. Hết thảy
hiền thánh không ai là chẳng tu cái nầy, chỉ vì công phu
tu hành sâu hay cạn nên có sự sai biệt thành hiền hay thánh,
thực ra thì pháp nhứt như ban đầu sao từng có sai biệt ư?
Những cái khác chuẩn theo cái nầy để suy nghĩ ra. Tóm lại
nếu lĩnh hội pháp pháp đều như mà khế nhập vào, thì cũng
không chỗ nào gọi là không, không chỗ nào gọi là hữu,
không chỗ nào gọi là trung, thì cũng không ngại gì không,
không ngại gì hữu, vả lại cũng không cái không nào, không
cái giả nào mà chẳng phải trung. Vì cớ gì? Vì bịnh ngã
kiến tình chấp đã đều khiển hết, thì thấy tướng tức
là thấy tánh, đầu mối nào cũng đều là đạo, không chỗ
nào là chẳng thể được. Nên các kinh Tối Thắng Vương,
Duy Ma Cật nói : “ngũ uẩn tức là pháp thân, sanh tử tức
là niết bàn, phiền não tức là bồ đề”, đều là hiển
nghĩa pháp pháp đều như. Nếu còn chút ít phân biệt chấp
trước chưa phá, thì đụng vào đường nầy thành ra trệ
ngại, đầu mối nào cũng chẳng phải là đạo, không một
cái nào có thể được. Dẫu rằng hết thảy chẳng trước
mà còn trước một cái bồ đề cũng là thủ tướng phân
biệt tự che lấp giác thể, thì chỗ gọi là trung cũng chẳng
phải trung, lại chẳng kể là trước hữu hay nghiêng về không
nữa. Phàm kẻ phát tâm tự độ độ tha để cầu minh tâm
kiến tánh, phương pháp khẩn yếu trọn vẹn ở chỗ nầy.
Phương pháp ra sao? Là y theo kinh giáo này ly tướng ly niệm
mà thôi. Phải biết, kinh nầy đã là chỗ ra của chư phật
và chư phật a nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp, nên chỗ
nói trong kinh đều là nghĩa căn bản, nghĩa cứu cánh. Ngàn
kinh muôn luận khác đều là hiển rõ nghĩa nầy, giúp cho nghĩa
nầy mà thôi. Nên nay đem nghĩa trọng yếu nầy nói ra tường
tận, các bực thiện tri thức nên suy nghĩ cho khéo.
Hà
dĩ cố? Như lai giả, tức chư pháp như nghĩa.
Dịch
nghĩa : Vì cớ gì? Như lai tức là nghĩa chư pháp như.
Câu
hà dĩ cố : Là tự đặt ra lời hỏi. Hỏi : chỗ nói ở văn
trên, không có bồ đề pháp mới thụ ký cho làm phật, không
có bồ đề pháp mới thành như lai đắc bồ đề, cớ của
nó ra sao? Dưới câu như lai là tự đặt ra lời đáp, có ý
nói rằng : phật gọi là như lai, ông cũng biết nghĩa của
như lai chăng? Nghĩa nầy chẳng có gì khác, chính vì người
này lìa hư tướng của hết thảy pháp sai biệt, chứng chân
tánh của hết thảy pháp nhứt như. Phải biết rằng phật
chẳng thấy có tướng các pháp sai biệt, đó gọi là như,
phật cũng chẳng thấy tướng của một pháp riêng khác, đó
gọi là chư pháp như. Như có nghĩa là không sai biệt, lại
có nghĩa là chẳng khác, tức là pháp tánh không có sai khác.
Pháp tánh không có sai khác vì nó không tịch. Nên nghĩa của
chư pháp như tức là nghĩa của pháp tánh không tịch. Gọi
là như lai vì người này chứng tánh không tịch mà thôi !
Nếu còn tồn tại một cái không tịch liền thành ra sai khác,
liền chẳng phải là không tịch, há gọi là như lai ư? Nên
nói như lai tức là nghĩa CHƯ PHÁP NHƯ. Thế thì kẻ phát vô
thượng chánh đẳng chánh giác há có thể tồn tại một tướng
phát giác ở tâm khiến chẳng không tịch ư? Lại nói câu
“chư pháp” ấy là chẳng một, lại nói “như” ấy là
chẳng khác, chẳng một chẳng khác pháp tánh như vậy. Phật
gọi là đại giác, tức là cứu cánh giác cái pháp tánh chẳng
một chẳng khác nầy, nên nói như lai tức là nghĩa chư pháp
như. Phải biết, vì cớ chẳng một sở dĩ phi bồ đề pháp
chẳng nên thủ, vì cớ chẳng khác sở dĩ bồ đề pháp cũng
chẳng nên thủ (một thuyết trước chuyên theo thể thuyết
thứ nhì gồm theo cả thể tướng dụng). Do đây mà xem, nhứt
định nói chư pháp là chư pháp thì chẳng phải. Vì cớ gì?
Vì tuy chư pháp mà là nhứt như (phải chú trọng ở chữ nhứt
như). Còn nhứt định nói chư pháp chẳng phải là chư pháp
cũng chẳng phải. Vì cớ gì? Vì cớ là nhứt như của chư
pháp (phải chú trọng chữ chư pháp), then chốt trong đó trọn
vẹn xem ở trước hay chẳng trước. Chẳng trước hữu thì
chư pháp chẳng ngại nhứt như, chẳng trước không thì nhứt
như chẳng ngại chư pháp. Trước ở chư pháp thì chẳng phải
như, trước ở như thì chẳng phải chư pháp như. Nên chỗ
thuyết pháp của như lai đều chẳng thể thủ, chẳng thể
thuyết, Chẳng thể thủ là tánh của chư pháp chỉ nhứt chân
như, vì cớ không phân biệt, vì là sai biệt của bình đẳng.
Chẳng thể thuyết, là vì tánh của chân như chẳng ly chư
pháp, chỉ có chứng mới biết, vì cớ ở sai biệt thấy bình
đẳng. Cho nên kẻ phát giác phải ly hết thảy chư tướng,
tu lục độ vạn hạnh. Ly chư tướng là vì cớ chỗ lý thực
tế chẳng nhiễm một mảy bụi. Tu vạn hạnh là vì cớ trong
môn phật sự chẳng bỏ một pháp nào. Vì chư pháp nhứt như
nên phải chẳng bỏ một pháp nào. Vì là pháp của nhứt như
nên phải chẳng nhiễm một mảy bụi. Giác như thế ly như
thế, tu như thế, thì pháp tương ứng, tánh tương ứng, mà
đắc chứng tương ứng. Tóm lại mê muội bình đẳng, chấp
thủ sai biệt thì tâm theo pháp chuyển, ngay đến phi pháp cũng
thành chướng ngại. Ở sai biệt thấy bình đẳng thì pháp
theo tâm chuyển, tức là pháp pháp đều là chân như. Cổ đức
bảo : “đưa đón khách khứa, gánh nước dọn củi, đi đứng
nằm ngồi, ở trong sáu thời ở trên chư pháp đem nghĩa này
ra thực hành tức là cái đó”, đây là một bức vẽ vô
sự đạo nhân hành lạc rất đẹp. Phải biết thiên hạ vốn
vô sự, người ngu tự làm rối mình, ở trong cái không có
Không và Hữu thủ tướng Không và Hữu, ở trong cái không
có thiện và ác suy nghĩ thiện và ác, vọng tưởng đầy rẫy,
há chẳng phải tự làm rối mình, nay đem nghĩa này ra thực
hành tức là cái đó, thì tự tại biết bao? Cổ đức lại
nói : “lúc chưa ngộ thì núi là núi, nước là nước, lúc
liễu ngộ thì núi chẳng phải núi, nước chẳng phải nước”.
Núi là núi, nước là nước có nghĩa là chỉ thấy chư pháp,
núi chẳng phải núi, nước chẳng phải nước có nghĩa là
chỉ thấy nhứt như. Lại có bài ca sau khi ngộ rằng: “Non
xanh vẫn là non xanh cũ”, vì chưng bảo là chư pháp vẫn như
cũ, mà thấy chư pháp nhứt như, thì non xanh tuy vẫn là cũ
mà quang cảnh rực rỡ mới vậy. Như lai là nghĩa chư pháp
như, giống như chỉ giải thích một chữ NHƯ, thực ra chữ
LAI cũng giải thích ở trong đó. Vì sao nói thế? Có lai có
khứ là sự tướng sai biệt, tức là một pháp của chư pháp.
Ðã là chư pháp như thì lai cũng như. Hết thảy chúng sanh
lai mà chẳng như, bực nhị thừa thánh nhân như mà chẳng
lai, bực quyền vị bồ tát tuy như mà chưa như đến cùng
tận, tuy lai mà chưa thể lai khắp cả. Chỉ có phật, như
lai chứng tánh nhứt như, thì cùng tận chỗ chân như là lai,
chân như không chỗ nên lai cũng không chỗ, chân như chẳng
động nên lai cũng chẳng động. Tuy gọi là lai, thực ra thì
lai mà không lai, không lai mà lai. Phải biết rằng gọi là
như lai, là tỏ rõ lai mà không có tướng lai nên nói là như.
Vì tỏ rõ như mà không có tướng như, nên nói là lai mà thôi.
Nhược
hữu nhân ngôn như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Tu Bồ Ðề ! Thực vô hữu pháp phật đắc a nậu đa la tam
miệu tam bồ đề.
Dịch
nghĩa : Nếu có người nói như lai đắc a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề, Tu Bồ Ðề ơi, thực không có pháp, phật đắc
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Nhược
hữu : có nghĩa là hoặc có, vì văn trên có câu nói như lai
đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, sợ có kẻ chưa rõ
ý, nghe câu như lai tức là nghĩa chư pháp như, vì đó mà hoài
nghi rằng : đã là nghĩa của như lai là chư pháp nhứt như
thì không có bồ đề có thể đắc thật rõ ràng, vì cớ
gì trên lại nói như lai đắc a nậu bồ đề ư? Vì già (che)
cái nghi nầy nên đặt ra một lời nói “hoặc có”, lại
kêu trưởng lão mà bảo ông ta rằng : hoặc chỗ nói của
người ta vì nghi là vẫn còn có pháp, biết đâu rằng thực
không có pháp vậy. Chỉ vì tỏ rõ đã cứu cánh giác ngộ,
không biết gọi tên là gì, nên gọi phật đắc a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề mà thôi, dưới lời nói này bao gồm
có cái hữu. Còn nếu theo tánh đức mà nói thực là chư pháp
nhứt như cho nên ở đây chẳng nói như lai mà nói phật, chính
là tỏ rõ gọi là đắc bồ đề ý ở hiển rõ đã chứng
vô thượng chánh đẳng giác, cũng là quả của chư pháp nhứt
như mà thôi, há bảo có bồ đề pháp có thể đắc ư? Có
gì mà phải nghi. Văn dưới lại lấy nghĩa vô thực vô hư,
tỏ rõ là nói đắc mà thực không chỗ đắc, tuy không chỗ
đắc mà cũng chẳng ngại gì mà gọi đắc, càng có thể hiểu
rõ vậy.
Tu
Bồ Ðề ! Như lai sở đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề,
ư thị trung vô thực vô hư.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, như lai chỗ đắc a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề, ở trong nầy vô thực vô hư.
Ư
thị trung : có nghĩa là trong chỗ đắc. Ý bảo rằng : dẫu
như lời người ta nói là như lai đắc bồ đề, biết đâu
rằng chỗ đắc của như lai chỉ một vô thực vô hư mà thôi.
Vô thực vô hư tức là nghĩa chư pháp như. Nghĩa nầy phải
nói rộng ra để tiện lĩnh hội.
1)
Ðây cùng với ở trên chỗ nói : “như lai sở đắc pháp
thử pháp vô thực vô hư”, lời nói tuy gần giống nhau nhưng
ý khác xa. Trên là tỏ rõ pháp chân thực, có nghĩa là pháp
của như lai chỗ đắc là thực tướng. Thực tướng có nghĩa
là vô tướng vô bất tướng. Vô tướng là vô thực, vô bất
tướng là vô hư. Nếu nói rốt ráo, thì thực tướng là tướng
và bất tướng đều không, nên nói vô thực vô hư, có nghĩa
là hư và thực đều không. Ðó là pháp chân thực để chứng
thành thuyết chân thực ở văn trên. Còn ở đây là tỏ rõ
thực không có pháp, đã không có pháp thì còn nói gì là đắc.
Hãy cứ như lời người ta nói là như lai đắc, mà xem ở
trong nầy gồm không chỗ đắc. Vì cớ gì? Vì thực không
có pháp, ấy là đặc biệt gọi tên giả là đắc, đây là
vô thực. Nhưng cũng không ngại gì mà nói như lai đắc, vì
cớ gì? Vì chỗ đắc chỉ là như. Ðắc như mới gọi là
như lai, đây là vô hư.
2)
A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tức là tên khác của chân
như giác tánh, thế thì như lai tức là nghĩa chư pháp như,
cũng như nói : gọi là như lai vì đã chứng chân như giác
tánh mà thôi. Ðủ chứng minh chỗ đắc của như lai chỉ là
nhứt như, nên tuy gọi là chỗ đắc mà ở trong chỗ đắc
nầy là vô thực, vì cớ gì? Vì giác tánh không tịch. Cũng
là vô hư, vì cớ gì? Vì giác tánh hiển ra viên minh, cho nên
nói : ở trong nầy vô thực vô hư. Tóm lại không có cái đắc
của hữu đắc ấy là vô thực, chẳng phải là không có cái
đắc của vô đắc ấy là vô hư. Ðây chính là Trung Biên
Luận chỗ nói : “Không có năng thủ sở thủ là hữu, có
năng thủ sở thủ là vô”. Lại cũng tức là Phật Tánh Luận
chỗ nói : “Vì cớ do khách trần không, vùng với pháp giới
ly nhau, vô thượng pháp bất không, cùng với pháp giới theo
nhau” là vậy. Khách trần không, cho nên vô thực, vô thượng
pháp bất không cho nên vô hư. Phải biết, phật nói đây là
tỏ rõ chẳng thể nghe nói đắc liền nghi là có pháp, chẳng
thể nghe nói không có pháp liền nghi là rốt ráo không có
chứng.
3)
Nói một cách vô thực là tỏ rõ nó chiếu mà thường tịch,
nói một cái vô hư là tỏ rõ nó tịch mà thường chiếu,
vô thực vô hư tức là già cả hai, mà chiếu cả hai, tịch
và chiếu đồng thời. Ở trong đó không sanh một pháp vì
cớ tịch, lại không pháp nào là chẳng hiện rõ vì cớ chiếu.
Một pháp chẳng sanh là thực không có pháp, cho nên vô thực.
Không pháp nào là chẳng hiện là chư pháp nhứt như, cho nên
vô hư. Ðây gọi là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, như
lai đắc là đắc cái nầy.
4)Vô
thực vô hư tức là nghĩa “như thực không, như thực bất
không” trong Khởi Tín Luận. Như thực tức là chân như, vì
chân như là tánh thể chân thực nên nói là như thực. Tỏ
rõ chư pháp nhứt như ấy là chân thực. Khởi Tín Luận tỏ
nghĩa như thực không rằng : “Chỗ nói là không, vì từ xưa
đến nay hết thảy nhiễm pháp chẳng tương ứng, gọi là
ly tướng của hết thảy pháp sai biệt vì không có hư vọng
niệm”. Ðây là nói trong tâm hết thảy chúng sanh tuy có hư
vọng niệm và các tướng nầy sở dĩ đối đãi ô nhiễm
chẳng sạch, mà tánh thể như thực nầy vẫn là thường hằng
chẳng biến, vì từ xưa đến nay một cái tịnh một cái nhiễm
chẳng tương ứng. Chẳng tương ứng có nghĩa là lìa nhau.
Làm sao lìa nhau? Vì từ xưa đến nay thể của như thực vốn
chẳng phải là hư vọng tâm niệm. Lại nói : “Phải biết
chân như tự tánh chẳng phải là hữu tướng, chẳng hải
là vô tướng, cho đến chẳng phải là nhứt dị, đều tướng.
Nói tóm lại vì có vọng tâm, niệm niệm phân biệt đều
chẳng tương ứng, nên nói là KHÔNG, nếu ly vọng tâm thì
không có thể không”. Ðây là nói chỗ gọi là không, là
không cái hư vọng niệm sai biệt tướng. Cho nên nói chẳng
phải là hữu tướng, chẳng phải là vô tướng, cho đến
chẳng phải là nhất dị đều tướng, ý nầy là nói về
ly tướng. Nếu ly hết tướng tứ cú : hữu vô nhất dị v.v..
của hết thảy đối đãi thì ly hư vọng tâm niệm vậy. Những
cái nầy đã ly thì chân như tự tánh hiện ra. Nên nói nếu
ly vọng tâm thực không có thể không, là tỏ rõ chỗ gọi
là không chẳng phải là bảo không có chân như tự tánh. Thế
thì hư vọng tâm niệm làm sao có thể ly mà không nó? Vì cớ
có vọng tâm, niệm niệm phân biệt nên cùng với chân như
tự tánh vốn chẳng tướng ứng. Tỏ rõ tự tánh của nó
vốn không, cho nên có thể không. Nhưng vọng niệm nhiễm tướng
đã không thì chân hiển hiện, lại tỏ rõ nó không mà bất
không. Chỗ tỏ rõ nghĩa như thực bất không rằng : “Chỗ
nói bất không là vì đã hiển pháp thể không, không có vọng,
tức là chân tâm thường hằng chẳng biến, tịnh pháp đầy
đủ, thì gọi là bất không”. Ðây là nói pháp thể đã
không, các vọng niệm mà không có, tức là chân tâm thường
hằng chẳng biến đầy đủ vô lượng tịnh công đức pháp
cho nên nói bất không. Pháp thể tức là chân tánh nhứt như,
gọi là chân như vậy. Chân như là thể của hết thảy pháp
nên gọi là pháp thể. Luận lại nói : “Cũng không có tướng
có thể thủ, vì cảnh giới ly niệm chỉ có chứng mới tương
ứng”. Ðây là nói chân tánh của như pháp nhứt như là thể
của hết thảy pháp, là thực không có pháp, cũng chẳng nên
trụ, vì nó là cảnh giới ly niệm, chỉ chứng mới biết,
cho nên nói cũng không có tướng có thể thủ, ý tỏ rõ nó
bất không mà không. Tóm nghĩa của luận nói trên mà xem thì
như thực không là vô thực, như thực bất không là vô hư.
Không mà bất không là vô thực, tức lại là vô hư. Bất
không mà không là vô hư, tức lại là vô thực. Ðây là chân
thể của hết thảy pháp như như bất động, nên trong nầy
phật nói như lai chỗ đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
ở trong đó vô thực vô hư, chính là nói để chú thích câu
: “như lai tức chư pháp như nghĩa”, ở văn trên. Vả chăng
đọc kỹ văn Khởi Tín Luận nói rõ bất không là do không
mà tới, thì có thể biết vô hư là do vô thực mà tới, chư
pháp nhứt như, thực do không có pháp mà tới. Lấy luận chứng
kinh nghĩa thú càng tỏ rõ. Lại có thể thấy chỗ dẫn ra
hai đoạn luận văn chẳng khác gì dung hội tông chỉ lớn
của kinh nầy để nói, nên muốn tỏ rõ kinh nầy chẳng thể
nào mà chẳng đọc Khởi Tín Luận.
5)
Vô thực có thể trỏ chư pháp để nói, vì chư pháp duyên
sanh nên vô thực, vô hư có thể trỏ như để nói, vì chân
như bất không nên vô hư. Tướng của chư pháp tuy là duyên
sanh mà vô thực, tánh của chư pháp thì cùng một chân như
mà vô hư. Nên nói ở trong đó vô thực vô hư, là tỏ rõ
như lai chỗ đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề thực là
không có pháp, cũng không chỗ đắc, chỉ chứng nghĩa chư
pháp như mà thôi.
6)
Vô thực vô hư là không và hữu như một, tánh đức vốn
như vậy. Như lai chứng cái nầy nên nói khoa nầy, mà khiến
chúng sanh giác cái nầy tu cái nầy. Phải biết bốn chữ nầy
bình đẳng bình đẳng, chẳng thể xem thành hai mảng, chẳng
thể chia ra trước và sau, Nếu xem hết thảy pháp chỉ có
thực là phàm phu, nếu xem hết thảy pháp chỉ có hư là nhị
thừa. Ngay đến xem hết thảy pháp trong cái thực có hư, trong
cái hư có thực cũng là quyền vị bồ tát. Chỉ có phật
thì chẳng như thế, phật xem hết thảy pháp vô thực vô hư
một cách hoàn chỉnh. Vô thực tức lại là vô hư, vô hư
tức lại là vô thực, đó gọi là chư pháp nhứt như, cũng
tức là không và hữu đồng thời. Phải giác như thế, phải
tu như thế. Làm sao tu? Là sanh vô sở trụ tâm, là ly hết
thảy tướng, hành bố thí lục độ để lợi ích hết thảy
chúng sanh. Phải khiến lúc ly tướng tức là lúc lợi ích,
lúc lợi ích tức là lúc ly tướng, đây tức là sanh vô trụ
tâm, đây tức là phát vô thượng bồ đề, thì tuy nói phát
mà thực không có pháp của bồ đề. Như thế ngõ hầu cùng
với giác tánh của vô thực vô hư, chư pháp nhứt như ứng
với nhau. Vì chưng luôn cả các danh tướng vô thực vô hư,
chư pháp nhứt như cũng lại phải ly hết mới là không có
pháp, mới có thể ứng với nhau. Nếu chẳng như thế, thì
tuy nói rằng phát bồ đề, thực đã quên mất bồ đề. Quên
mất bồ đề liền thành ma sự. Ðây là chỗ chúng ta lúc
nào cũng phải đề cao cảnh giác. Phải biết, thế tôn nói
ra cái tự chứng của ngài, không có gì khác, vì khiến kẻ
đọc kinh nghe pháp y theo lời dạy phụng hành mà thôi. Tổng
hợp các nghĩa nói trên mà xem, có thể biết ý của phật
nói khoa nầy gồm để tỏ rõ bồ đề vô tướng mà thôi.
Vì vô tướng, sở dĩ không có pháp phát bồ đề, không có
pháp đắc bồ đề, nên nói là vô thực. Vì vô tướng sở
dĩ chẳng phải một pháp là bồ đề, mà pháp pháp là bồ
đề, đó là vô hư, nên lại nói khoa dưới để kết thành
nghĩa nầy.
Thị
cố như lai thuyết nhứt thiết pháp dai thị phật pháp.
Dịch
nghĩa : Vì thế cho nên như lai nói hết thảy pháp đều là
phật pháp.
Trên
nói nghĩa chư pháp như. Làm sao thấy được chư pháp nhứt
như ư? Ðến đây bèn kết thành là : vì hết thảy pháp đều
là phật pháp. Hai chữ thị cố, bàn về mạch gần của nó
là thừa tiếp câu vô thực vô hư, mà phăng trở lên nguồn
gốc của nó thì thừa tiếp câu chư pháp như nghĩa. Ý bảo
là : Vì cớ chư pháp duyên sanh mà vô thực, cùng một như
thực mà vô hư, cho nên như lai nói hết thảy pháp đều là
phật pháp, vì chưng do nghĩa chư pháp như mở ra vô thực vô
hư, tức là lấy vô thực vô hư để hiển rõ hết thảy đều
thị. Lại lấy hết thảy đều thị chứng thành chư pháp
nhứt như. Xoay chuyển sanh lẫn nhau, xoay chuyển giải thích
lẫn nhau, xoay chuyển thành lẫn nhau, thực ra đều là tỏ
rõ một nghĩa. Sao gọi là một nghĩa? Là ưng vô sở trụ vậy
! Thế nên phật pháp sở dĩ không một pháp nào là chẳng
viên, phật thuyết pháp sở dĩ không pháp nào là chẳng diệu.
Ba
chữ : như lai thuyết rất khẩn yếu, tỏ rõ là theo tánh mà
thuyết. Nếu theo tướng mà thuyết, thì hết thảy pháp chỉ
là hết thảy pháp, há là phật pháp? Tóm lại là để tỏ
rõ ly tướng quán tánh, thì đầu mối nào cũng là đạo. Kinh
Lăng Nghiêm sở dĩ nói : “Ngũ uẩn, lục nhập cho đến thập
bát giới đều là như lai tạng diệu chân như tánh”. Cổ
đức sở dĩ nói : “Hoa vàng ngoài cửa sổ đều là bát nhã,
khóm trúc trước sân hết thảy là chân như”, là vậy. Ðây
tức là bảo hết thảy pháp đều là phật pháp. Tóm lại
thế pháp, xuất thế pháp đều là duyên sanh, biết là duyên
sanh mà quán cái tánh chẳng khác của nó, cái thể chẳng biến
của nó thì hết thảy đều thị, chư pháp nhứt như vậy.
Nếu chẳng như thế, mà trụ pháp phát tâm, trụ pháp tu hành
thì phật pháp cũng chẳng phải là phật pháp, huống chi hết
thảy pháp. Phật pháp chỗ nói ở trong nầy chẳng thể cho
là pháp của phật thuyết. Phật có nghĩa là giác. Hết thảy
pháp đều là giác pháp, có nghĩa là pháp pháp đều là bồ
đề, để tỏ rõ bồ đề chẳng phải riêng có pháp nào khác.
Vì chưng ly tướng quán tánh tức là ngay ở trên hết thảy
pháp mà giác chiếu cái tánh nhứt chân, nên pháp pháp đều
là bồ đề, đây là theo nghĩa của như mà nói. Nếu suy rộng
ra mà nói, phàm lúc hành thế gian pháp lấy từ bi làm gốc,
đều vì lợi tha, chẳng còn lợi kỷ, mỗi mỗi chẳng trái
với phật pháp, thì cũng có thể nói thế pháp tức là phật
pháp. Nếu chỉ có danh là hành phật pháp mà còn có tâm danh
lợi cung kính, thì phật pháp cũng thành thế pháp. Khoa nầy
là tức hết thảy pháp để tỏ rõ NHƯ, tức là tỏ rõ chư
pháp cùng với phật pháp nhứt như, chính sở dĩ khiển bồ
đề pháp tướng, vì cớ hết thảy pháp đều thị. Thế nhưng
khiển một pháp tướng thì hết thảy pháp tướng đều phải
khiển, nên khoa văn dưới lại khiển hết thảy pháp.
Tu
bồ đề ! sở ngôn nhứt thiết pháp giả tức phi nhứt thiết
pháp, thị cố danh nhứt thiết pháp.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, chỗ nói hết thảy pháp tức là chẳng
phải hết thảy pháp, cho nên gọi tên là hết thảy pháp.
Khoa
nầy là khiển hết thảy pháp, tức là để chứng thành hết
thảy pháp đều là phật pháp. Vì cớ gì hết thảy pháp đều
là phật pháp? Vì hết thảy pháp tức là chẳng phải hết
thảy pháp. Tức phi là theo tánh mà nói. Theo tánh mà nói là
tỏ rõ chẳng nên trước tướng, nên nói tức phi. Biết là
tức phi mà chẳng trước tướng thì là phật pháp, mà chẳng
phải là hết thảy pháp, nên nói đều là phật pháp. Ðã
đều là phật pháp vì cớ gì lại nêu lên mà gọi nó là
hết thảy pháp? Vì rằng chẳng phải là không có cái giả
danh là hết thảy pháp. Thị danh là theo tướng mà nói. Theo
tướng mà nói ý ở hội về ở tánh, nên nói thị danh. Biết
là giả danh mà qui về ở tánh thì tuy gọi là hết thảy pháp
mà đều là phật pháp, nên nói hết thảy pháp đều là phật
pháp. Vì chưng lĩnh hội được hết thảy pháp tức là phi
hết thảy pháp, liền biết nó chỉ là giả danh. Lĩnh hội
được hết thảy pháp là giả danh, liền biết nó tức là
chẳng phải chân thực, ấy là đã chẳng cho là hết thảy
pháp để lĩnh hội, mà cho là phật pháp để lĩnh hội. Ðây
là cái sở dĩ nhiên của hết thảy pháp đều là phật pháp.
Phải biết, tức phi thị danh hợp lại mà nói gồm là để
tỏ rõ nghĩa vô thực vô hư, không và hữu đồng thời mà
thôi. Thế tôn nói chỗ nầy là dạy người thực hành, đi
đứng nằm ngồi ở trong nhị lục thời, đối cảnh tùy duyên
phải làm sự quán như thế, thì chỗ chỗ đều là đạo tràng,
sự sự tăng lớn bồ đề, đây gọi là vô lượng ấn pháp
môn. Lại khoa nầy là ly hết thảy tướng để tỏ rõ NHƯ,
tức là tỏ rõ chư pháp cùng với chư pháp nhứt như. Vì hết
thảy pháp đều như, nên hết thảy pháp đều là phật pháp.
Ở trên chỗ nói nghĩa chư pháp như, vô thực vô hư, hết
thảy đều thị, hết thảy tức phi, hết thảy thị danh, tóm
lại là để mở rõ giác tánh thanh tịnh mà thôi. Thanh tịnh
giác tánh không còn sắc tướng nữa, nên đắc bồ đề thực
không có pháp, mà lúc sắc tướng không tức là lúc giác tánh
hiển ra, nên đắc bồ đề cũng thuộc vô hư. Ðã vô hư mà
lại không có thực pháp, chính là mượn hết thảy pháp để
trải qua sự việc luyện tâm, không hết thảy các tướng,
lại cần gì ở ngoài hết thảy pháp tìm kiếm bồ đề nào
riêng biệt? Vì cớ gì? Vì Tâm Kinh nói : “thị chư pháp không
tướng bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng
bất giảm”, há chẳng phải là vô thượng bồ đề rõ ràng
ngó thấy ư? Tóm lại tự tánh như hạt châu ma-ni tùy theo
phương mà hiện ra sắc (ví dụ chư pháp tự tánh hiển hiện),
mà trong hạt châu thì sắc tướng không có mảy may (ví dụ
tức phi hết thảy pháp). Phật pháp như cơm ăn hằng ngày,
tự mình phải ăn cho no mà người ăn phải chú trọng tiêu
hoá (ví dụ bồ đề cũng chẳng trụ). Ðây là chỗ người
ta phải thường giác ngộ, chẳng tức, chẳng ly, thì tùy chỗ
tùy thời đều có thể được chân thụ dụng.
Chỗ
thuyết của phật pháp, thuyết lý liền nhiếp có sự, thuyết
tánh liền nhiếp có tu. Một khoa lớn pháp pháp đều như nầy
đều thuyết tự giác thánh trí, khiến người học nương
theo đó khởi quán chiếu. Ắt phải ly tướng, ly niệm mới
có thể khế nhập, thì làm sao có thể giảng được, giảng
ra liền rơi vào danh tướng. Nhưng lại chẳng thể nào mà
không giảng, nên nói chỗ nói về công phu tu chỉ tốt hơn
là dùng phương pháp nói mí để diễn thuyết. Kẻ nghe phải
ở chỗ không có chữ câu mà lãnh hội. Chỗ nói sau nầy đều
là như thế, phải nên lưu ý.
Xem
Tiếp: Trang 02
Xem
Thêm:
Kinh
Kim Cang Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Kinh
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, HT. Thích Trí Quang Dịch Giải
Kinh
Kim Cang Dịch Nghĩa và Lược Giải, HT Thiện Hoa
Kinh
Kim Cang, HT. ThÍch Duy Lực Dịch
