KIM CƯƠNG
KINH GIẢNG NGHĨA
Người
giảng: GIANG VỊ NÔNG Cư Sĩ
Người
dịch: ÐỒ NAM Lão nhân
QUYỂN
HAI
BIỆT
GIẢI VĂN NGHĨA
Nghĩa
nhân văn mà hiển ra, vả lại quán chiếu bát nhã, thực tướng
bát nhã đều nhân văn tự mà nổi dậy, thì một chữ một
câu trong kinh văn chẳng thể nào không khảo đính rõ ràng
đích xác cho đúng. Vì kinh này đọc tụng rất phổ biến
sâu rộng, nên từ đời nhà Minh đến nay các bộ lưu thông
ở thế gian chép khác nhau rất nhiều. Thường thường truyền
đi chép lại sai lầm, hoặc cố ý tăng giảm, mỗi người
tự cho mình là đúng, khiến cho người đọc không còn biết
đâu mà theo nữa. Tôi sanh ra muộn, may gặp các kinh sớ của
chư đại đức đời nhà Tấn, Tùy và Ðường như ngài Tăng
Triệu, Trí Giả, Tuệ Tịnh, những cuốn kinh luận này đem
từ hải ngoại trở về, mà những cuốn kinh đời nhà Ðường
viết, như cuốn của ông Liễu Thành Huyền cất dấu ở Ðôn-Hoàng
thạch thất nay cũng phát hiện ở thế-gian. Tôi nhờ những
cuốn này dùng để tham khảo kê cứu lẫn nhau khảo câu kinh
nào là đúng, và đính chính câu nào là sai. Thực là sự gặp
gỡ hiếm có, mà cũng là trách nhiệm kẻ hậu học. Còn đến
những chữ và câu có chỗ giống nhau và khác nhau, tuy một
chữ thêm hay bớt mà có quan hệ nghĩa của kinh rất lớn,
nay tôi cũng mỗi mỗi theo văn tỏ bày ra, nói rõ nghĩa lý
của nó cái nào đúng, cái nào sai, để phân biệt cho rành
rẽ. Văn của kinh chia ra làm 3 khoa : 1- Tự phận . 2. - Chính
tông phận . 3. - Lưu thông phận, hết thảy các kinh, kinh nào
cũng đều như thế. Cách chia phán như thế bắt đầu từ
ngài pháp sư Ðạo An đời Ðông Tấn, ngài là thầy của ngài
Tuệ Viễn ở Lư Sơn, sơ tổ tông tịnh-độ. Thuyết này hồi
mới bắt đầu đặt ra, người nghe còn nghi ngờ. Sau chất
chính cùng các vị đại đức Tây Trúc tới, mới biết ở
Tây Ðộ hết thảy các kinh đều phân khoa như thế, lúc đó
mới chịu phục là đúng, thành ra quy tắc nhứt định. Như
kinh này từ câu như thị ngã văn, đến câu phu tọa nhi tọa,
đó là tự phận, từ câu thời trưởng lão Tu Bồ-Ðề đến
câu thị danh pháp tướng, là chính tông phận. Từ câu Tu bồ-Ðề,
nhược hữu nhân dĩ vô lượng a tăng kỳ thế giới thất
bảo trì dụng bố thí, đến câu tín thụ phụng hành, là
lưu thông phận.
TỰ
PHẬN : - 1. - Chứng tín tự.
Như
thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ
Cấp Cô Ðộc viên, dữ đại tỳ kheo chúng thiên nhị bách
ngũ thập nhân câu.
Dịch
nghĩa : Ta nghe như vầy, một thời Phật ở nước Xá Vệ,
vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Ðộc, cùng với tăng chúng đại tỳ
kheo 1250 người ở chung.
Chúng
tín tự lại có tên là thông tự, vì tự này các kinh đều
có, cũng có tên là kinh hậu tự, Phật lúc mới thuyết kinh
vốn không có lời tự này, đến lúc kết tập mới thêm vào,
nên cũng gọi là di giáo tự. Phật sắp nhập niết bàn, tôn
giả A-Nan khâm phụng di mạng, hết thảy ở đầu cuốn kinh
nào cũng phải để câu : Ta nghe như vầy, một thời Phật
ở xứ Mỗ, cùng với đại chúng Mỗ bao nhiêu người ở chung,
các lời này, Phật sai A Nan để câu trên, cốt chứng minh
đúng là lời Phật nói để khởi tín, nên gọi là chứng
tín tự. ÐẠI TRÍ ÐỘ LUẬN gọi văn của khoa này là lục
thành tựu. Vì phàm kết tập một bộ kinh ắt có saú duyên
mới có thể thành tựu. Sáu duyên là: 1. -Như thị là tín
thành tựu, 2. -Ngã văn là văn thành tựu, 3. - Nhất thời là
thời thành tựu, 4. - Phật là chủ thành tựu, 5. - Xứ Mỗ
là xứ thành tựu, 6. - Cùng với tỳ kheo chúng bao nhiêu người
ở chung là chúng thành tựu. Sáu duyên đã đầy đủ thì chủ
thuyết pháp, thời thuyết pháp, xứ thuyết pháp, chúng nghe
pháp và người kết tập phụ trách chứng minh chỗ tự mình
nghe được, gồm đủ để thành tựu sự tín của mọi người,
mỗi mỗi đều đủ nên gọi là lục thành tựu. Ban đầu
nói : như thị, không khác như, không phi là thị. Phàm người
ta tin nhau thì nói như thị, chẳng tin thì không nói như thị.
Nay kẻ kết tập mở miệng ra đã trịnh trọng nói như thị,
là để tỏ rõ lời nói này đúng như Phật nói, lời và nghĩa
không sai lầm, đủ để tin ở ngày nay mà truyền lại về
sau, nên gọi là tín thành tựu. Kinh Hoa-Nghiêm nói: “Tín là
mẹ công đức của nguồn đạo, nuôi lớn hết thảy các thiện
pháp”, tín là cửa bắt đầu nhập đạo nên sắp đặt ở
hàng đầu. Thứ nhì là ngã văn, ngã là A-Nan tự xưng, đặt
biệt xưng tiếng ngã là lời phụ trách, vả lại để nói
rõ là tự tai của ông ấy thân nghe mà chẳng phải là truyền
thuật. Trên đã như thế, dưới lại xếp đặt tường tận
các người cùng nghe, lại để nói rõ là chẳng phải một
mình nghe riêng, thì như thị tin mà có bằng cớ, nên gọi
là văn thành tựu. Ngày thế tôn thành đạo thì A-Nan mới
giáng sanh, đến lúc A-Nan xuất gia thì Phật đã thuyết pháp
được 20 năm, vì thế ông ấy xin Phật đem lời Phật thuyết
pháp 20 năm trước ra nói lại, gọi là bổ thuyết. A-Nan lại
được pháp tánh giác tự tại tam muội, có thể trong lúc
nhập định hiểu thấu suốt hết thảy các pháp, nên kết
tập pháp tạng ắt phải suy tôn A-Nan, cũng là chỗ Phật thân
hứa. Như kinh Pháp Hoa nói : “Ta cùng A-Nan ở nơi Không Vương
Phật đồng thời phát tâm, ta ưa tinh tiến bèn được làm
Phật, A-Nan thường nghe nhiều nên trì pháp tạng của ta”
là vậy. Lúc kết tập, A-Nan lên pháp tòa, ánh sáng thân của
ông ta giống in như Phật. Mọi người ngờ là thế tôn lại
trở dậy thuyết pháp, hoặc ngờ vị Phật ở phương khác
lại, hoặc ngờ A-Nan thành Phật. A-Nan mở miệng liền nói
: Như thị ngã văn ... thì ba điều nghi trên liền dứt. Vì
thế tôn đã biết trước ắt có sự nghi này, nên khiến hết
thảy ở nơi đầu các cuốn kinh đều để câu như thị ngã
văn. Việc kết tập trong kinh, luật, luận có nhiều thuyết,
hoặc nói tiểu thừa tam tạng đều do A-Nan kết tập, hoặc
nói Ưu Bà Ly kết tập luật tạng, A-Nan kết tập kinh luận.
Hoặc nói luận là Ðại Ca Diếp tự mình kết tập, lại có
chỗ nói luận là ông Phù Lâu Na tụng ra đây gọi là ngũ
bách kết tập, cũng là đệ nhứt kết tập. Lúc đó là năm
thế tôn nhập diệt, chỗ kết tập ở ngoài Vương Xá Thành,
hang Tất Ba La. Vua A Xà Thế làm hộ pháp ở ngoài, Ðại Ca
Diếp tôn giả làm thượng thủ. Hoặc nói 500 tăng chúng, hoặc
nói 1000 tăng chúng, hoặc nói 84 ngàn tăng chúng, đây gọi
là kết tập thượng tọa bộ, vì Ðại Ca Diếp là thượng
tọa trong hết thảy các vị tăng. Kết tập bắt đầu từ
ngày 15, tháng đầu mùa an cư năm đó. An cư 3 tháng thì xong,
hoặc nói 4 tháng mới xong. Hoặc nói tháng 12 năm đó vua A
Xà Thế chết, Ðại Ca Diếp cũng vào núi Lang Tích, đại chúng
liền giải tán. Ðương lúc đó lại có mấy ngàn tăng chúng
hoặc đã chứng, hoặc chưa chứng quả A La Hán chẳng thể
dự hội được, họ muốn báo ơn Phật, nên ở cách phía
tây bắc hang này 20 dặm, họ kết tập riêng kinh, luật, luận
và tạp tập tạng, cấm chú tạng, gọi là năm tạng, vì đây
là phàm và thánh đều tụ hội để kết tập, nên gọi là
đại chúng bộ kết tập. Ngài Ba Tu la hán làm thượng thủ,
vua A Xà Thế cũng làm đàn việt hộ pháp cúng dường. Ðây
là thấy ở trong các kinh sách Phát Tạng và Tây Vực Ký .
Sau
lại có 3 lần kết tập nữa : một lần sau khi Phật nhập
diệt 100 năm, trưởng lão Gia Tư Na làm thượng thủ nhóm hợp
700 thánh tăng, trưởng lão Ly Bà Ða và Tát Bà Ca vấn đáp
bàn luận, chuyên về luật tạng , nghiêm tịnh những điều
giới luật, đây là kết tập lần thứ nhì. Một lần ở
lúc Phật nhập diệt 235 năm sau, đời vua A-Dục, ngài Mục
Kiền Liên Ðế Tu làm thượng thủ, họp tăng chúng 60 ngàn
vị, tuyển chọn lấy 1000 vị. Ngài Ðế Tu làm luận để
phá tà thuyết của ngoại đạo. Ðây là kết tập lần thứ
ba. Sau chót thì ở bốn, năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt,
đời vua Ca Nhĩ Sắc Ca nhóm 500 vị La Hán, 500 vị bồ tát,
ngài Ca Chiên Diên Tử làm thượng thủ, ngài Mã Minh Bồ Tát
tạo luận, trải qua 12 năm thành Tỳ-Ba-Sa luận có một triệu
bài tụng để giải nghĩa kinh. Hoặc nói Thế Hữu Bồ Tát
làm thượng thủ tạo tam tạng luận một triệu bài tụng,
đây là kết tập lần thứ tư. Hoặc lúc Phật còn tại thế
đã có kết tập, như ông Mục Kiền Liên tạo Pháp Uẩn Túc
Luận, nhưng chẳng qua là bộ phận soạn thuật, còn như triệu
tập tăng chúng hội họp lại làm việc kết tập đại quy
mô thực bắt đầu ở Ðại Ca Diếp, A-Nan và các thánh tăng.
Ðại thừa kết tập ước có 2 thuyết : 1. -Là Phật nhập
diệt 7 ngày, Ðại Ca Diếp bảo 500 vị la hán gõ chuông đánh
khánh nhóm họp các vị A La Hán ở khắp 10 phương thế giới
được 88 ngàn vị, ở khoảng giữa 2 cây tha la, mà sai A-Nan,
thăng pháp tòa chia ra kết tập 3 tạng : Bồ Tát, Thanh Văn,
Giới Luật. Bồ Tát tạng có 8 : Thai hóa tạng là thứ nhứt,
Trung ấm tạng là thứ hai, Ma Ha Diễn, phương đẳng là thứ
3, Giới Luật tạng là thứ 4, Thập Trụ Bồ Tát tạng là
thứ 5, Tạp tạng là thứ 6, Kim Cương tạng là thứ 7, Phật
tạng là thứ 8. Ðây là thấy ở trong kinh Bồ Tát Xử Thai.
Một thuyết là Văn-Thù, Di Lặc các vị đại bồ tát cùng
A-Nan ở Thiết Vi sơn kết tập đại thừa tam tạng, đây là
thấy ở trong Trí Ðộ Luận. Ðến như bộ Mật Tông cũng
có hai thuyết, hoặc bảo là ông A-Nan kết tập hết thảy,
hoặc bảo kim Cương Thủ Bồ Tát làm chánh, A-Nan làm phó,
thuyết sau này căn cứ trong kinh Lục Ba La Mật. Trong kinh này
Phật đem các pháp thu nhiếp làm 5 phần, ngài bảo Từ Thị
bồ tát rằng “Sau khi ta diệt độ phải khiến A-Nan thụ
trì kinh tạng, Ưu Bà Li thụ trì luật tạng, Ca Ða Diễn Na
thụ trì luận tạng, Văn Thù Sư Lợi thụ trì đại thừa
bát nhã ba la mật đa, Kim Cương Tạng bồ tát thụ trì thậm
thâm vi diệu chư pháp tổng trì môn (tức là chú)” .
Biểu
pháp : biểu pháp có nghĩa là tiêu về tự tánh. Nghe kinh, nghe
pháp trọng yếu ở chỗ đem kinh văn tiêu dung mỗi mỗi về
đến trên bổn tánh của mình mà thể hội, thì mới được
thụ dụng. Ðoạn văn này vốn là cảnh duyên sự tướng,
mà còn có thể tiêu về tự tánh được, thì kinh văn sau này
có thể dùng đoạn này làm tiền lệ để biết. Suy đó ra,
nếu đối với hết thảy cảnh duyên đều có thể lĩnh hội
như thế, thì thụ dụng vô cùng. Phải nên chú ý! Như : là
như như bất động, có nghĩa là tánh thể vốn có sẵn đầy
đủ của con người, thị: là đương hạ tức thị. Hết thảy
phàm phu tuy tánh này đương hạ tức thị, mà sanh diệt sát
na chẳng ngừng, lại chẳng như như là tại sao? Tại ngã chấp
nó che lấp đi, nên ắt phải phá cái chấp tiểu ngã mà quy
về cái đại ngã. Ðại ngã là nhứt chơn pháp giới, tức
là tâm Phật và chúng sanh ba cái không sai biệt, cái ngã thường,
lạc, ngã, tịnh. Chữ ngã ở đây phải hiểu nghĩa như thế.
Văn: là phản văn, văn tự tánh. Nếu muốn quay trở về ắt
phải phản văn (nghe trở vào) chẳng thể hướng ngoại rong
ruổi mưu cầu, bội giác hợp trần. Nhứt thời : là chỗ
bảo thập thế cổ kim chẳng lìa một niệm, hiện tại lại
cũng là tam thế tâm chẳng thể đắc, phải hiểu như thế.
Chữ ngã trong văn trên là khiến lĩnh hội nhứt chơn pháp
giới, thì chướng ngại của không gian tiêu trừ, chữ nhứt
thời ở đây là khiến lĩnh hội không có tam thế (hiện tại,
quá khứ, vị lai), thì chướng ngại của thời gian cũng tiêu
trừ. Tánh thể vốn nó như thị, như thị! Phải nghe trở
vào như thị! Kẻ phàm phu quên cái bổn lai của mình lâu rồi,
nay muốn phản chiếu lại thì phải có phương tiện. Trong
sáu căn chỉ có nhĩ căn là rất viên thông, như mười phương
đánh trống thì đều nghe đủ cả 10 phương, ở tánh vốn
không chướng ngại, dễ lĩnh hội hơn, nên mới khiến từ
nơi nhĩ căn mà vào. Vì nhĩ căn đầy đủ 1200 công đức,
số 1200 chẳng qua để bày tõ sự viên mãn vô ngại, vì giềng
mối của 10 phương là bốn phương (bốn góc và phương trên
phương dưới đều do đông tây nam bắc mở ra, nên mới thêm
sáu giềng mối, đây là nói về chiều ngang, còn tam thế thì
nói về chiều dọc. Ngang dọc giao tham là số 12, bày tỏ sự
vô tận của nó gọi là 1200), cùng với tam thế nhân lên là
12, lại gấp thêm 100 lần là 1200.
Phật
: là tự tánh thiên chân Phật, già và chiếu cả hai bên, trung
đạo viên dung, tự tánh vốn nó như thế, đây là Xá Vệ
Quốc của tự tánh. Chiến thắng ngũ ấm ma mà thiệu long
Phật chủng là Kỳ Ðà thái tử của tự tánh. Trang nghiêm
phước tuệ, rừng của công đức gọi đó là cây. Ðứa con
bỏ cha chạy trốn nay đã trở về nhà thừa hưởng sản nghiệp
của cha, hạt minh châu dấu trong áo, chẳng mệt nhọc mà được
tức là vườn Cấp Cô Ðộc của tự tánh. Ðại : là đại
bi, đại nguyện. Tỳ kheo: là xa lìa trần cấu. Chúng : là
lý sự hòa hợp, 1200: là viên mãn nhĩ căn, công đức của
nghe trở vào, 55 người : là thập tín, thập trụ, thập hạnh,
thập hướng, tứ gia hạnh, thập địa, đẳng giác, cộng
55 vị. Vì chung bảo bổn tánh như như bất động, đương
hạ tức thị. Nếu quả có thể ngang dọc không chướng ngại,
nghe trở vào như thị, thì tự tánh thiên chân Phật liền
như thị mà tại, mà cùng với 55 vị bồ tát ma ha tát đại
bi đại nguyện xa lìa trần cấu, lý sự hòa hợp, công đức
nghe trở vào viên mãn, làm bạn lứa. Thế thì Linh Sơn pháp
hội nghiễm nhiên chưa giải tán, lại gọi là tại Linh Sơn
thân nghe diệu pháp cũng có thể được, hay nói Linh sơn ở
ngay trong tấc lòng này cũng đều có thể được. Vì cớ gì?
Vì tự tánh thiên chân Phật cùng với Thích Ca Mâu Ni Phật
đã tâm tâm in với nhau, ánh sáng ánh sáng chiếu lẫn nhau,
như thế thì đã thấy cảnh tướng của chứng tín tự là
chẳng phải là tướng mà thấy Như Lai. Thưa các bậc thiện
tri thức, chữ như thị này chẳng phải đối với cuốn kinh
này thì như thị, không đối với cuốn kinh thì chẳng như
thị, lại cũng chẳng phải ở chỗ tòa giảng kinh nghe kinh
này thì như thị, lìa tòa thì chẳng như thị, lại chẳng
phải ở pháp hội thì như thị, ra ngoài pháp hội thì chẳng
như thị. Phải ở hết thảy thời, hết thảy việc, hết
thảy cảnh đều thấy các tướng chẳng phải tướng, thì
động tĩnh như một, không cái nào là chẳng thị.
PHÁT
KHỞI TỰ
Nhĩ
thời thế tôn thực thời, trước y trì bát, nhập Xá Vệ
đại thành khất thực, ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ,
hoàn chỉ bổn xứ, phạn tự ngật, thu y bát, tẩy túc dĩ,
phu tọa nhị tọa.
Dịch
nghĩa : Lúc đó là thời ăn của đức thế tôn, ngài mặc
áo cầm bình bát, vào thành Xá Vệ lớn xin ăn, ở trong thành
này lần lượt xin xong, trở về chỗ cũ, ăn cơm xong, thu y
bát, rửa chân xong, trải tọa cụ mà ngồi.
Phật
vì kẻ xuất gia chế ra ba thứ áo :
1.
-An-đà-hội cũng gọi là ngũ điều y (cắt vải làm miếng
vuông ráp may lại như hình miếng ruộng, nên gọi là phước
điền y, năm điều thì hình vuông lớn, chín điều thì hình
vuông nhỏ lần, lại cũng gọi là trước thể y, làm công
việc và nằm ngồi thì mặc).
2.
- Uất-đa-la-tăng cũng gọi là thất điều y, lúc giảng kinh,
thuyết pháp thì mặc ra ngoài ngũ điều y, nên cũng gọi là
áo ngoài (ngũ điều y lại có tên là hạ phẩm y, thất điều
có tên là trung phẩm y, cửu điều có tên là thượng phẩm
y). Nếu ở nơi đông đảo, hoặc vào chỗ đại đô hội,
hoặc vào cung vua thì mặc y cửu điều, tiếng Phạm gọi là
tăng-già-lê, cũng gọi là đại y. Nay thế tôn sắp vào thành
xin ăn nên mặc đại y. Ba thứ y này có tên chung là cà-sa.
Cà-sa có nghĩa phức tạp, chẵng phải chỉ màu sắc xanh vàng
đỏ đen tím xen lẫn nhau làm phức tạp, mà vì chẳng dùng
màu đỏ ròng, có khi pha lẫn màu đỏ với màu xanh hay màu
vàng, hoặc màu đen màu tím. Chẳng những màu đỏ chẳng phải
màu đỏ ròng, ngay đến màu xanh vàng đen tím cũng chẳng phải
màu xanh ròng, vàng ròng, đen ròng, tím ròng nên gọi là phức
tạp. Cho nên màu đỏ mà pha lẫn màu xanh thì thành ra màu
đen bùn, nên mới gọi là mặc y đen, màu đỏ mà pha vàng
thì gọi là màu mộc-lan, màu tím cũng là màu đỏ pha đen
mà thành, đều chẳng phải là màu chính, nên lại gọi là
màu không chính, màu hư hoại, màu nhuộm, sở dĩ như thế
là để phân biệt với người tại gia, lại cũng có ý chẳng
trụ ở sắc. Những màu sắc như thế thì mờ tối không rực
rỡ, cũng là có ý không làm cho người khác chóa mắt. Mặc
áo cầm bát, xin ăn ... đều là giới luật chế định. Thế
tôn làm như thế tức là lấy bản thân Ngài làm khuôn mẫu
dạy người ta trì giới.
Xin
ăn có nhiều nghĩa, nay nói sơ lược : vì hàng phục ngã mạn,
vì chẳng tham ăn ngon, vì chuyên tâm tu đạo, vì khiến cho
kẻ thấy sanh tâm hổ thẹn. Xuất gia vốn là để độ chúng
sanh, mà muốn độ chúng sanh thì trước phải dứt hoặc, mà
dứt hoặc ắt phải khổ hạnh khiến cho mọi người thấy
đó sanh ra tâm hổ thẹn. Họ nói : vì cớ độ chúng sanh mà
tự mình khổ như thế, thế thì chúng ta há tham miếng ăn
ngon, mưu tính cho sướng thân ư? Sanh tâm hổ thẹn, ngõ hầu
đạo tâm tăng trưởng, tục niệm bớt lần đi, thế thì việc
xin ăn có ích cho chúng sanh rất lớn, há chỉ khiến người
khác bố thí để trồng phước điền mà thôi ư? Nên xin ăn
là phước hết sức lớn của người xuất gia tu hành. Bực
cổ đức vì lo rằng những kẻ có lòng tin chẳng được nhiều,
ắt gặp sự phỉ báng, nên bất đắt dĩ tự mình cày ruộng
trồng lúa lấy để ăn, như thế là đã trái với Phật chế,
đã rất đáng đau lòng! Sao có thể như người đời nay nói
Tỳ kheo lại phải kinh doanh thêm cả các nghề khác, như thế
thì hà tất phải xuất gia làm chi? Chẳng thể phá hoại Phật
pháp như thế được. Muốn cho Phật pháp hưng thạnh Tỳ kheo
nếu không đi xin ăn thì không được. Còn nếu bảo ở đông
phương chẳng thể thực hành, và ở thời đại ngày nay chẳng
thể thực hành, thì nước Thái Lan đến nay vẫn còn vâng
theo Phật chế mà thực hành, sao có thể bảo là đông phương
chẳng thể thực hành ư? Chỉ cần phải được đa số người
có tín tâm thì sau mới có thể thực hành được. Trải tọa
cụ mà ngồi là sắp sửa nhập định. Theo quy tắc thì trước
khi ngồi còn có kinh hành, nay chẳng nói tới là bày tỏ sự
dụng công yếu khẩn, có ý chẳng thể phút giây nào trễ
biếng. Thuyết bộ kinh lớn này mà phát khởi ở việc tầm
thường hằng ngày thì thật là lạ lùng đặc biệt, nên Tu
Bồ Ðề mở miệng liền than : hi hữu! Nhưng lạ lùng đặc
biệt thực không khác với tầm thường, nên ông Tu Bồ Ðề
kế tiếp nói : khéo hộ niệm khéo phó chúc. Có thể thấy
văn này có liên quan với trọn bộ kinh, lý này hết sức sâu
kín tinh vi mà lại thân thiết, nếu chỉ xem sơ qua há chẳng
cô phụ. Nay tôi mở ra 10 tầng để nói rõ nghĩa, 4 tầng trước
theo pháp để nói rõ, sáu tầng sau theo giáo hóa để nói rõ
:
1.
-Thị hiện mặc áo xin ăn, bôn tẩu trần lao giống in như
kẻ phàm phu là Phật chẳng trụ Phật tướng là hiển thị
vô ngã tướng của Phật. Tôn chỉ trọn bộ kinh này là ở
chỗ phá ngã, nay thị hiện vô ngã mà chẳng nói ra một chữ,
cũng tức là thị hiện vô pháp tướng của Phật. Tuy không
nói ra một chữ mà thực ra là hiển thị pháp vô ngã, lại
cũng là chỗ để hiển thị cũng không có phi pháp tướng
của Phật. Lý tam không hiện rõ ràng ra trọn vẹn triệt để,
đây gọi là khéo phó chúc.
2.
- Như chỗ nói rõ ở trên là đại trí, tu bồ tát hạnh ắt
phải bi và trí đầy đủ nên lúc nói tường tận, vừa mở
miệng ra là khiến phải độ chỗ có hết thảy chúng sanh,
mà nay thị hiện giống như kẻ phàm phu là đồng-sự-nhiếp
trong tứ nhiếp pháp. Vì thế tôn đại từ đại bi chẳng
bỏ chúng sanh, mà dùng chính bản thân mình làm quy tắc để
làm kiểu mẫu cho các vị Bồ tát ma ha tát, đây gọi là khéo
hộ niệm. Tóm lại mà xem, lấy đại trí mà thực hành đại
bi là không mà chẳng không. Nhân đại bi mà hiển đại trí
là hữu mà chẳng hữu. Không mà chẳng không gọi đó là diệu
hữu. Hữu mà chẳng hữu mới là chân không. Há chẳng phải
là tức không, tức giả, tức không, nhị đế quán dung, rõ
ràng là đệ nhứt nghĩa đế của trung đạo ư? Thế thì ở
việc tầm thường hằng ngày mà đã đem lý hiển tam không,
quán dung nhị đế, yếu chỉ của trọn bộ kinh nêu lên đầy
đủ. Ðây gọi là hi hữu!.
3.
-Phật thuyết các bộ kinh khác, thường thường phóng quang
động địa làm pháp khởi, để hiển thị hết thảy các
pháp đều từ bát nhã chánh trí mà ra, tức là không pháp
nào là chẳng phải bát nhã. Trong những hội thuyết bát nhã
trước, Phật cũng đã phóng quang động địa để hiển thị
bát nhã chánh trí có thể bạt trừ trụ địa vô minh. Nay
hội thứ chín thuyết Kim-cương bát nhã lại chẳng thị hiện
như thế, là để hiển thị ngay đến pháp tướng của bát
nhã cũng chẳng chấp. Nên kinh này nói: Phật thuyết bát nhã
ba la mật tức là chẳng phải bát nhã ba la mật. Phải biết,
ngay đến cả bát nhã mà chẳng chấp thì mới là bát nhã
ba la mật. Ðây cùng cực của chẳng chấp thủ tướng,
4.
-Trong khoảng mấy chục năm, trước khi chưa thuyết kinh này,
Phật ngày ngày cũng đều thị như thế này, đã thuyết kinh
này rồi, cho đến lúc vào niết bàn trong khoảng mấy chục
năm, cũng lại ngày ngày thị hiện như thế này, thì có thể
thấy gọi là thị hiện, chỉ là người khác thấy như thế
mà nói vậy thôi, còn Phật thì không có niệm ta vì đại
chúng làm sự thị hiện này. Vì Phật không một sát na nào
là chẳng ở trong nhị đế viên dung đại không tam muội.
Người khác thấy chỗ Phật thị hiện như thế, đều là
từ trong đại không tam muội tự tại tuôn chảy ra mà thôi.
Phật thì làm mà như là vô sự, từ ban sơ không để tâm
vào việc làm đó. Ðây là cùng cực của như như bất động.
Ngàn muôn lời nói trọn bộ kinh đến chỗ quy kết thì nói
: thụ trì đọc tụng, vì người khác diễn thuyết. Sao gọi
là vì người khác diễn thuyết? Là bất thủ ư tướng, như
như bất động. Có thể thấy 8 chữ này là chỗ khẩn yếu
của trọn bộ kinh, lại cũng là chỗ khẩn yếu của người
học thụ trì diễn thuyết. Nay ở việc tầm thường hằng
ngày, mà tức là hiển thị chỗ khẩn yếu của kim cương
bát nhã, há chẳng gọi dó là hi hữu, khéo hộ niệm, khéo
phó phúc ư? Trên đây là theo pháp để nói rõ nghĩa của phát
khởi tự.
5.
- Hết thảy chúng sanh cùng đầy đủ Phật tánh, tức là người
người có đầy đủ pháp thân Như Lai. Nhưng pháp thân Như
Lai của chúng sanh ẩn tàng mà chẳng hiển hiện ra. Sở dĩ
ẩn tàng mà chẳng hiện ra, nên chẳng gọi là pháp thân Như
Lai, mà chỉ gọi là Như Lai Tạng, vì chúng sanh bôn tẩu để
có cơm ăn áo mặc, bội giác hợp trần, đã lâu rồi quên
mất bổn lai diện mục. Nay lấy pháp thân Như Lai thị hiện
giống như phàm phu bôn tẩu trần lao, là không có gì khác,
vì muốn khiến hết thảy chúng sanh ở trong trần lao mỗi
người hồi quang phản chiếu Như Lai tạng vốn sẵn có của
mình mà thôi!
6.
- Bác địa phàm phu chướng sâu nghiệp nặng, nay muốn phản
chiếu, nếu không khéo khai thông, khuyên nhủ cho nó huân tập
thì chẳng thể được. Nay thuyết kinh này mà phát khởi ở
những việc xin ăn v. v... là chỉ thị cho chúng sanh thụ trì
kinh này phải coi giống như việc ăn cơm uống nước thường
ngày, một ngày chẳng thể lìa bỏ. Cứ huân tập lâu ngày
như thế ngõ hầu tín tâm thêm lớn, ở trong cái vỏ vô minh
đầy đặc ló ánh sáng ra.
7.
- Thế nhưng kinh tối thượng thừa, thậm thâm vi diệu, nay
được thấy nghe, thụ trì, mà muốn lĩnh hội nghĩa chân thực
của Như Lai, nếu không có đủ tư cách tương đương, thì
cũng không vào được cửa. Kinh này nói : Sau 500 năm có kẻ
trì giới tu phước, ở nơi chương cú này có thể sanh tín
tâm, lấy đây làm thực, tín là cửa để nhập đạo, lấy
đây làm thực là hiểu rõ nghĩa chân thực của nó. Cho nên
có thể thấy, hiểu rõ nghĩa chân thực của nó mới là thực
tín (thực tín khác với tin một cách lờ mờ), mà thực tín
thì do ở trì giới tu phước, há chẳng chú trọng ư? Nay các
việc mặc áo cầm bình bát, xin ăn đều là giới luật của
Phật chế định, y theo đó mà làm tức là trì giới. Mà xin
ăn là khiến cho kẻ thấy nghe sanh tâm hổ thẹn, tăng trưởng
đạo nghiệp, chẳng những chỉ khiến cho họ làm bố thí
trồng phước điền mà thôi, đó mới là tu phước, Kim Cương
bát nhã phát khởi ở trì giới tu phước, chính là chỉ-thị
cho chúng sanh phương tiện trước khi khởi tin nhập môn.
8.
- Xin ăn v.v... là trì giới. Trải tọa cụ mà ngồi là sắp
nhập định. Do giới sanh định, do định sanh tuệ, nên lời
tự cho là khi phát khởi thuyết Kim Cương bát nhã, lại chỉ-thị
chúng sanh bằng ba sự học vô lậu (giới, định, tuệ) theo
một thứ tự nhất định, để tỏ rõ trì giới tu phước
có thể sanh thực tín mà nhập môn được. Nhưng muốn cho
bát nhã chánh trí hiện ra, nếu chẳng tu định thì chẳng
thể được.
9.
- Chỗ cần yếu của tu hành là phải ở lý và sự hai cái
dung hội nhau, trong lúc tĩnh nuôi dưỡng được đầu mối
này, lại phải ở lúc đối cảnh tùy duyên, siêng năng khám
nghiệm. Người xưa gọi là trải qua việc để luyện tâm,
đây là một cách tu hành rất cần yếu. Lý hai bên chẳng
chấp ắt phải ở ngay lúc ăn cơm mặc áo mà lĩnh hội, ắt
phải ở công việc tầm thường hằng ngày mà thực hành được,
ngõ hầu có thể đạt đến chỗ động và tĩnh như một,
thì không cái nào là chẳng phải vậy. Ðây lại là ý huyền
vi của bát nhã phát khởi ra ở các việc xin ăn v. v ...
10.
- Càng có chỗ tinh diệu, phát khởi tự này tức là trỏ đích
xác phương tiện hạ thủ cho người trong cảnh trần lao. Ðã
bị túc nghiệp dắt dẫn rơi vào trong cái túi da thúi này,
thì sự chạy đi kiếm ăn, kiếm mặc, có ai tránh khỏi được?
Vì đó mà đuổi theo ngọn, quên mất gốc thì đã đành là
chẳng thể được, còn nếu vì giải thoát trần lao chẳng
nổi mà sanh phiền não, thì lại cũng sao có thể được? Cái
đạo là ở chỗ khéo léo lợi dụng hoàn cảnh của mình,
như thế thì chỗ nào mà chẳng là đạo-tràng ư? Mỗi sáng
mặc áo đi ra ngoài, mỗi người đều siêng năng chức vụ
xin ăn của mình, xong việc liền trở về. Những việc ứng
tiếp chẳng can thiệp gì tới mình có thể bớt được thì
bớt, bốn chữ: trở về chỗ cũ này kíp phải để mắt vào.
Sau khi trở về liền đem đồ ra ăn uống, rửa ráy v. v...
những việc phải làm đều liệu lý dọn dẹp cho xong xuôi,
rồi liền phải tĩnh tọa, thu nhiếp vọng niệm, quán tâm,
đây là 4 chữ : trải tọa cụ ngồi, lại càng phải để
mắt vào. Người đời nay trọn ngày bận rộn, ứng thù đã
nhiều. Sau khi trở về lại chẳng nhiếp tâm tĩnh tĩnh tọa,
dẫu cho có tụng kinh niệm Phật, công khóa chẳng khuyết,
mà tâm này chưa từng dùng công phu tĩnh nhiếp một chút nào,
nên tuy tụng kinh niệm Phật mà vọng niệm vẫn đầy dẫy,
thì có ích chỗ nào đâu? Lại ở nghĩa lý chẳng chấp tướng,
và chẳng chấp phi tướng là pháp và phi pháp hai bên đều
chẳng chấp, từ xưa tới nay chẳng lưu tâm thể hội, sở
dĩ tu hành nhiều năm mà vẫn như cũ thấy cảnh liền dời,
theo duyên liền chuyển, không có một lập trường vững chắc.
Tự mình đã không có chút thụ dụng nào, thậm chí đại
phá giới luật, không gì là chẳng làm, tự mình cho là chẳng
chấp pháp tướng, có biết đâu rằng sớm đã chấp thủ
phi pháp tướng rồi vậy. Tự mình đọa lạc, lại dắt dẫn
theo vô số thiện nam tín nữ đều cùng đọa lạc. Ðây là
đều bởi chưa từng nhiếp niệm, quán tâm, chưa từng thể
hội hiểu rõ nghĩa bất trụ tướng và hai bên chẳng chấp,
khiến sanh ra như thế. Há chẳng đáng thương hại ! Nên 8
chữ : trở về chỗ cũ, trải tọa cụ ngồi, trong kinh này
chính là cái kim châm vào đỉnh đầu, bài minh bên cạnh chỗ
ngồi của chúng sanh bôn tẩu trần lao chúng ta, lấy cái này
mà phát khởi, chính là trỏ đích xác bát nhã chẳng phải
chỉ nói trống không mà được. Cần phải noi theo văn tự,
bắt đầu quán chiếu, thời thời khắc khắc chẳng buông
lung, sự sự việc cần khám nghiệm, mới hứa cho tiến được
một phần nào. Trên đây là theo giáo hóa để nói rõ nghĩa
phát-khởi-tự. Tóm 10 nghĩa này để làm phát khởi, chẳng
những lý và sự của vô thượng đại pháp rõ ràng trọn
vẹn, lại phương pháp dự bị bắt đầu hạ thủ của kẻ
tu hành cũng nói ra hết ở đây. Thật là hi hữu ! Nếu chẳng
mỗi mỗi lĩnh hội, theo như pháp mà tu, há chẳng những cô
phụ Thế Tôn hi hữu hộ niệm phó chúc, lại cô phụ luôn
phát khởi tự hi hữu này. Nhĩ thời : là lúc chính đương
nói nghe đầy đủ, cơ duyên thành thục. Thế tôn : riêng có
10 danh hiệu, gọi chung lại là thế tôn, vì ngài đầy đủ
đức của 10 danh hiệu được tôn sùng ở thế gian nên gọi
là thế tôn, nghĩa này là theo Ðại-Luận. Mười danh hiệu
là :
1.
- Như Lai, các pháp như một, là như, chẳng lại mà lại là
lai, đây là theo tánh thể để tiêu hiểu đức.
2.
- Ứng cúng, ứng với việc cúng dường của cõi trời cõi
người, đây là theo đại bi, đại nguyện để tiêu biểu
đức.
3.
- Chánh biến tri, là biết hết thảy pháp, tức là giả mà
cũng tức là không, không pháp nào là chẳng trung đạo, một
không hết thảy không, một giả hết thảy giả, một trung
hết thảy trung, không nghiêng không dựa, tịch và chiếu đồng
thời là chánh, tam-đế lý trí viên dung vô ngại, trí khắp
sa giới, soi suốt vi trần là biến, đây là theo nghĩa tịch
chiếu đồng thời để tiêu biểu đức.
4.
- Minh hành túc, có hai thuyết : kinh Ðại Niết Bàn nói : minh
là được vô lượng thiện quả, hành túc là chân có thể
đi (trỏ giới và tuệ), nghĩa là đắc vô thượng bồ đề
do đi bằng chân giới tuệ, đây là theo nghĩa tu nhân đắc
quả mà tiêu biểu đức. Ðại Luận nói : ”minh là tam minh
: túc mạng, thiên nhãn, lậu tận, hành là trỏ ba nghiệp thân,
khẩu, ý, chỉ có Phật là hành của tam minh đầy đủ”,
theo nghĩa này mà nói là theo nghĩa thần thông để tiêu biểu
đức.
5.
- Thiện thệ nghĩa là đi tốt lành, tức là vào vô dư niết
bàn, chỗ gọi là sanh diệt diệt hết thì tịch diệt hiện
ra, đây là theo nghĩa đoạn chứng, để tiêu biểu đức.
6.
- Thế gian giải, sự tướng của hết thảy hữu tình, phi
hữu tình, không loại nào là chẳng hiểu rõ, đây là theo
nghĩa hậu đắc trí để tiêu biểu đức.
7.
- Vô thượng sĩ, ở trong hết chúng sanh, Phật là bực cao
hơn hết, đây là theo địa vị để tiêu biểu đức. 8. -
Ðiều ngự trượng phu, hoặc dùng lời nói mềm dịu, hoặc
dùng lời nói khổ thiết, khéo có thể điều ngự bực trượng
phu khiến cho họ vào thiện đạo (chẳng kể trai hay gái tăng
hay tục, muốn xa lìa trần cấu, nếu chẳng đầy đủ khí
khái của bực trượng phu, tâm chí quả quyết kiên định
thì chẳng thể được. Người mà được như thế thì chỉ
có Phật là có thể điều phục mà giá ngự họ), đây là
theo giáo chủ để tiêu biểu đức.
9.
- Thiên nhân sư, làm tiêu biểu cho cõi trời cõi người, như
ánh sáng mặt trời rọi khắp, không chỗ nào là chẳng được
ích lợi, đây là theo nghĩa lợi khắp để tiêu biểu đức.
10.
- Phật, tự giác, giác tha, giác hành viên mãn gọi là Phật
đà, đây là theo nghĩa cứu cánh giác quả để biểu đức.
Các
kinh luận khác hoặc hợp ứng cúng, chính biến tri làm một
gọi là ứng chính biến tri, hoặc hợp thiện thệ, thế gian
giải làm một, hoặc hợp vô thượng sĩ, điều ngự trượng
phu làm một, hoặc hợp Phật, thế tôn làm một, có nhiều
thứ chẳng giống nhau. Bởi vì kinh nói Phật đủ 10 danh hiệu
nên hợp 10 số làm tiêu-chuẩn. Chỉ có Ðại Luận, từ thứ
nhứt Như Lai, đến thứ mười Phật, chia làm 10 số, mà lấy
thế tôn làm tiếng gọi chung 10 danh hiệu của Phật, nghĩa
này có thể đúng hơn cả.
Thực
thời : Tam thế chư Phật quy định quá ngọ một sợi tóc
liền chẳng được ăn. Nay nói giờ ăn sắp đến, nên trước
phải đi xin. Trong Luật Tạng nói thực thời chẳng phải một
thuyết, nay hãy thuật ra một thuyết : giờ sửu, dần, mão
(từ 2 giờ sáng đến 8 giờ sáng) là giờ ăn của chư thiên,
gọi là sơ phận (hoặc giờ dần, mão, thìn làm sơ phận,
sách Toản Yếu của ngài Khuê Phong y theo thuyết này), giờ
thìn, tỵ, ngọ (từ 8 giờ đến 12 giờ trưa) là giờ ăn của
nhân gian, gọi là trung-phận, giờ mùi, thân, dậu ( từ 2 chiều
đến 8 giờ tối) là giờ ăn của súc sanh, gọi bô-phận,
giờ tuất, hợi, tý (từ 8 giờ tối đến 2 giờ khuya) là
giờ ăn của thần quỉ, gọi là dạ-phận. Vì bảo là các
đạo chúng sanh phần nhiều ăn ở giờ đó, hoặc nên ăn ở
giờ đó, chẳng phải bảo nhứt định là chẳng dời đổi.
Chỉ có Phật pháp chế định qua giờ ngọ thì chẳng ăn,
dụng ý sâu rộng như trong luận nói. Lúc đi khất thực, phần
nhiều ở giờ thìn (8 đến 10 giờ sáng), vì đi sớm quá hay
đi trễ quá thì xin không được. Ðây là đề phòng chúng
sanh không có gì để bố thí khiến cho họ sanh ra phiền não,
và nếu không xin được cái gì ăn lại khiến tự mình phiền
não.
Trước
y : Phật chế ra 3 y : 1. - An-đà-hội nghĩa là áo lót trong,
hành đạo hoặc làm việc có thể dùng, tức là y năm điều,
có tên là hạ phẩm y . 2. - Uất-đa la-tăng nghĩa là áo ngoài,
cũng có tên là trung phẩm y, tức là y 7 điều, có thể mặc
để vào làng xóm hoặc thuyết pháp. Còn nếy gặp đại chúng
tụ hội thì phải mặc đại y. 3. - Tăng-già-lê nghĩa là y
mặc lúc đông người tụ hợp tức là đại y, lại có tên
là thượng phẩm y, cũng có tên là phước điền y, là y chín
điều cho đến 25 điều. Nếu vào cung vua, thành vua, xóm làng,
chỗ nào và lúc nào đại chúng tập hội, uy nghi nghiêm chỉnh,
hoặc truyền giới thuyết pháp, xin ăn v v... phải mặc y này.
Từ năm đến chín điều đều cắt vải rời ra thành miếng
hình vuông, rồi may ráp lại, số điều ít thì vuông vải
lớn, số điều nhiều thì vuông vải nhỏ, nhỏ thì xen khít
nhau rõ ràng như ranh giới miếng ruộng, nên chỉ có y chín
điều gọi là phước điền y. Từ 10 điều trở lên là vì
thân thể có người cao lớn nên y may cũng theo đó mà dài
rộng hơn, vì thế số điều tăng lên nhiều. Bên Thiên Trúc
là xứ lạnh, nên ba y cho phép mặc lồng với nhau. Ðông Phương
vì khí hậu còn lạnh nhiều hơn, và vì tập quán nên phần
nhiều mặc ra ngoài áo thông thường, bởi thế không có thói
quen mặc lồng hai ba cái, chỉ có xứ Tây Tạng, các vị Lạt
Ma mặc như thế mà thôi. Ba y gọi tên chung là cà-sa, là tiếng
Phạm đặt tên theo màu sắc của Y, tức là y có màu sắc
chẳng chính, sắc hư hoại, chẳng chính có nghĩa là màu phức
tạp , màu phức tạp là màu hư hoại. Nên màu đen phải đen
như bùn, màu xanh phải giống như màu đồng-lục, màu đỏ
thì đỏ nhiều đen ít pha lẫn nhau gọi là màu mộc-lan, tức
là Thiên Trúc chỗ gọi là càn-đà sắc, hoặc màu đỏ màu
đen pha lẫn nhau thành ra màu nâu. Ký Quy Truyện nói : hoặc
dùng củ sanh-địa, hoặc dùng hoàng-bá, giã đất đỏ hay
đá đỏ ngâm nước mà nhuộm. Tóm lại chẳng cho dùng các
màu chính tươi tốt rực rỡ như màu xanh, vàng. đỏ, đen,
tím, mà phải gồm màu phức tạp khiến cho màu xậm lại hư
đi. Tứ Phần luật nói : mỗi mỗi trong một màu tùy ý làm
cho màu đó hư hoại đi là vậy. Còn như man điều y là y của
sa di, sa di ni, y này không có tướng điều, các vị tăng lớn
nếu không có ba y thì cũng có thể thông dụng. Ưu-Bà-Tắc,
Ưu-Bà-Di cũng hứa cho trong lúc lễ Phật tạm thời mượn
mặc, mà chẳng được mặc thường. Lúc Phật pháp mới sang
đông phương người xuất gia chẳng biết may cà-sa, chỉ may
man-điều-y mà thôi trải qua 187 năm sau mới biết may cà-sa.
Trí Bát : tiếng Phạm là bát-đa-la, có nghĩa là ứng lượng
khí, tức là ăn tương ứng với lượng của mình, không quá
lớn để chế bớt tham, lại cũng nghĩa là thể, sắc, lượng
đều cùng với pháp tương ứng, Thể của bát chỉ cho làm
bằng sắt hay sành, chẳng cho làm bằng cây, vì bát làm bằng
cây là đồ dùng của ngoại đạo, lại dễ dơ bẩn. Sắt
thì lấy màu chất phác vốn sẵn, lượng thì như trên đã
nói, gọi tắt là ứng-khí tức là đồ ứng cúng của bực
hiền thánh. Thích Ca thành đạo, tứ thiên vương lấy cái
bát bằng ngọc lưu ly xanh của long cung cúng dường quá khứ
Duy-Vệ-Phật, hoá bát này ra làm bốn, mỗi vị thiên vương
cầm một cái dâng lên Phật. Phật lại hợp bốn bát làm
một cầm để đi xin ăn. Nhập Xá Vệ Ðại Thành : vườn
Kỳ Ðà ở phía đông nam thành năm, sáu dặm, nên mới nói
vào thành. Thành này dài hơn 60 dặm, trong thành nhà ở chín
ức, đất rộng người đông nên gọi là đại (lớn).
Khất
thực : Phật chế chẳng cho người xuất gia dùng bốn thứ
phương pháp mưu sinh, nuôi dưỡng thân mạng : 1). -Trồng cây,
cấy lúa, gọi là hạ khẩu thực, 2). -Quan sát tinh tú để
nói điềm kiết hung là ngưỡng khẩu thực, 3). -Giao thiệp
với kẻ có quyền thế giàu có ở bốn phương là phương
khẩu thực, 4). - Bói toán nói sự lành dữ xấu tốt là duy
khẩu thực, gọi chung là bất tịnh thực, tà mạng thực.
Chỉ
cho khất thực gọi là chánh mạng thực, là đường chánh
của người xuất gia. Sao gọi là đường chánh? Vì chiết
phục ngã mạn, chẳng tham ăn ngon, chuyên ý hành đạo, vì
khiến cho hết thảy mọi người phá trừ bỏn xẻn, tăng thêm
phước. Ðến như Phật tự mình xin ăn, theo kinh Anh-Lạc gồm
có nhiều nghĩa, như khiến cho mọi người chẳng sanh lòng
kiêu ngạo, khinh lờn, khiến cho hết thảy chúng sanh bị che
lấp được thấy Phật, được lợi ích, trỏ bảo cho người
xuất gia chẳng nên chứa đựng của cải. Ư kỳ thành trung
thứ đệ khất sĩ : thứ đệ có nghĩa là đi từng nhà theo
thứ tự mà xin, chẳng lựa chọn nhà giàu hay nghèo. Khất
dĩ : nghĩa là hoặc bình bát đã đầy, hoặc xin đến bảy
nhà mà thôi, chẳng phải là lần lượt đi xin khắp cả thành.
Nối liền câu sau mà nói, thì xin xong liền trở về chẳng
chút ngó ngàng. Hoàn chi bổn xứ : là từ thành trở về vườn
Cấp Cô Ðộc. Phạn tự ngật : phạn tự là ăn cơm, như chữ
phạn sơ tự (ăn cơm rau) trong sách Luận Ngữ, ngật là xong.
Trong
kinh Bảo Vân nói : đồ ăn xin được chia làm 4 phần : một
phần định nghĩ cho người cùng phạm hạnh, một phần nghĩ
thí cho người nghèo, đau ốm, một phần thí cho chúng sanh
trên cạn, dưới nước, còn chỉ giữ lại một phần để
ăn. Trong kinh Thập Nhị Ðầu Ðà chẳng nói chia người cùng
phạm hạnh, là kinh này có dụng ý, nên hợp lại mà thực
hành. Chẳng nói chia cho người cùng phạm hạnh là vì đều
phải tự mình đi xin ăn, mà nay nói chia cho là vì hoặc có
duyên cớ gì khác chẳng rảnh đi xin ăn được. Nay ở hai
thứ người phạm hạnh và người nghèo, đau đều nói nghĩ,
và nghĩ thí thì rõ ràng là chẳng nhất định, nếu có thì
cho chúng nó. Còn chúng sanh ở trên cạn dưới nước thì nhứt
định là phải thí, nên chẳng nói nghĩ. Thu y bát : không thu
thì không tránh khỏi quải niệm, chẳng thể yên tâm tu đạo.
Tẫy túc dĩ : vì bảo hộ chúng sanh nên đi chân không khất
thực (người ở Aán Ðộ thường mang giầy da, dễ tổn thương
sanh mạng), sợ dính nhuộm bùn nhơ nên phải rửa, thu y bát,
rửa chân xong liền tu quán, vì lấy đạo làm trọng. Phu tọa
nhi tọa : phu là mở, tọa là tọa cụ. Trong 4 uy nghi đi, đứng,
ngồi, nằm, thì đi dễ tán loạn, đứng dễ mệt nhọc, nằm
đễ hôn trầm, nên kẻ tu hành chỉ ngồi là hơn. Cho nên kẻ
xuất gia có nhiều người chỉ ngồi mà không nằm, kiết-già
phù-tọa là nghi thức thường trong cửa Phật, nên nay bỏ
qua không nói kỹ.
Ngồi
kiết già có 4 lợi ích : 1). -thân tâm thu nhiếp lại, mau phát
ra khinh an, 2. - có thể trải qua thời gian lâu mà chẳng mau
mỏi, 3). - Chẳng giống ngoại đạo, vì họ không có pháp
ngồi này, 4). - Hình tướng ngay ngắn trang trọng khiến người
khác sanh kính tín.
Ở
trên, từ trước y đến tọa, đều là Phật từ bi, ủy khúc
vì đại chúng đem thân mình ra làm quy tắc, thế tôn hồi
ban sơ chẳng cần phải làm như thế. Tại sao lại nói vậy?
Như kinh Anh Lạc Nữ nói: “thân hóa Phật như trọn đoạn
Kim Cương, không có hai tạng sinh thục”. Kinh Niết Bàn nói
: “thân của Như Lai chẳng phải là thân ăn phức tạp”,
tại sao phải xin ăn? Mà thị hiện xin ăn trừ ba nghĩa đã
nói trên khiến cho hết thảy mọi người chẳng sanh kiêu mạn,
thì không cái nào là chẳng vì người tu hành làm khuôn mẫu.
Ðã chẳng cần ăn, mà lại nói ăn cơm xong, chẳng biết cứu
cánh có ăn hay không? Ðây có hai nghĩa, nếu cứu cánh không
ăn thì kẻ bố thí phước chẳng được đầy. Phật từ bi
khiến cho họ mãn nguyện, nên cũng thường theo chúng mà ăn.
Lại có thuyết nói : thức ăn đến miệng Phật thì có uy-đức
thiên ở bên cạnh ẩn mình tiếp món ăn đó đến phương
khác bố thí làm Phật sự. Vì chưng Phật đã hiển thị ăn,
khiến kẻ bố thí phước được đầy đủ, mà lại dùng
thần lực dời đi làm Phật sự, thì ăn và chẳng ăn hai nghĩa
không ngại. Lại kinh A-Hàm nói : “Phật đi lìa xa đất 4
ngón tay, hoa sen nâng ở chân” nguyên chẳng cần rửa, mà
nay mỗi mỗi thị hiện những sự tướng như trên há chẳng
phải là ủy khúc vì đại chúng làm khuông mẫu ư?
Ở
trên chỗ nói nơi đoạn đầu chẳng qua là theo văn giải nghĩa,
đến đoạn thứ nhì chỗ nói làm khuôn mẫu cũng chỉ là
nghĩa phổ thông, chỗ rất cần yếu là phải hiểu rõ kinh
này tại sao bày ra những sự tướng đó để phát khởi? Phải
biết, ở trong đó có tinh nghĩa rất lớn. Chỗ này chính là
trỏ bày một cách thân thiết để khiến người ta day về
trong sự hành, chỉ, động, tĩnh, mà thể hội. Thử nghĩ Như
Lai vì cớ độ chúng sanh, ngài chẳng phải sanh ra mà thị
hiện sanh, thị hiện giống như kẻ phàm phu, không ngày nào
là chẳng mặc áo ăn cơm tức là không ngày nào là chẳng
lấy thân mình làm quy tắc. Tại sao đầu các cuốn kinh khác
phần nhiều nói phóng quang động địa, nay muốn tuyên thuyết
tổng trì của hết thảy các pháp, Kim Cương bát nhã đại
pháp của chư Phật sanh ra, mà lại chỉ nghiêng về nói một
đoạn việc làm tầm thường hằng ngày dùng để phát khởi,
thử hỏi có kỳ hay không? Có diệu hay không? Kỳ diệu chẳng
phải ở chỗ kỳ diệu, mà kỳ diệu ở chỗ thô thiển.
Phải
biết, việc hết sức bình thường, và lý hết sức cao sâu
có quan hệ mật thiết với nhau. Các nhà xưa nay hoặc xem ra
là giới, định làm phát khởi, hoặc đem cảnh tượng như
như bất động làm phát khởi, hoặc bảo việc làm tầm thường
hằng ngày chẳng thể coi thường, hoặc bảo mặc áo ăn cơm
tức là phóng quang động địa làm phát khởi, mỗi vị đều
có chỗ thấy của mình, mỗi vị đều có cái diệu của mình.
Nay tôi đem các thuyết ra, lại từ phương diện yếu chỉ
châm đối kinh văn dẫn chứng nói rõ, khiến người ta có
thể dễ thể hội. Nghĩa uẫn đã sâu, một thời nói ra khó
hết. Nay tổng quát đại khái làm mười tầng, nói một cách
đại lược :
1.
- Bát-nhã là yếu pháp để nuôi lớn tuệ mạng, thiệu long
Phật chủng, cũng như áo mặc cơm ăn là món cần yếu của
người thế gian để hộ trì sắc thân, nối trước truyền
sau. Nay đem các việc mặc áo xin ăn làm phát khởi, chính là
khiến người phát đại tâm hiểu rõ món ăn bát nhã pháp
này chẳng thể nào lìa ra trong chốt lát. Nên kinh nói : Thụ
trì đọc tụng, rộng vì người khác thuyết, tức là gánh
vác A-Nậu Bồ-Ðề. Lại nói : phải biết người này thành
tựu pháp tối thượng hi hữu. Lại nói : Chỗ có kinh này
tức là có Phật và đệ tử tôn trọng. Từ mặt trái của
mấy câu kinh văn này mà xem, thì có thể sợ hãi cho là quan
hệ của nó rất lớn, giống như áo mặc cơm ăn một thứ,
chẳng có thể tạm lìa ra được, nên lấy đó làm phát khởi.
2.
- Kinh nói : sau 500 năm có kẻ trì giới tu phước, ở chương
cú này có thể sanh tín tâm, thì có thể thấy trì giới tu
phước là cửa nhập đạo bát nhã, xin ăn là giới luật chế
định. Nay hiển thị mặc áo cầm bình bát, lần lượt đi
xin ăn, đã là dẫn dắt chúng sanh trì giới, lại là khiến
cho khắp chúng sanh tu phước. Trong kinh chỗ gọi là pháp thân
vốn chẳng phải ăn, ứng thân, hoá thân cũng như thế, vì
tăng trưởng phước ở cõi trời cõi người, nên Phật từ
bi làm phước điền là vậy. Thế Tôn ngày ngày xin ăn tức
là ngày ngày phát khởi chúng sanh tín căn có thể vào bát
nhã. Nay ở trước khi muốn thuyết Kim Cương Bát-Nhã liền
nói xin ăn để làm phát khởi, thân thiết biết bao nhiêu!
3.
- Khuê Phong đại sư nói :”giới có thể nuôi dưỡng định,
định có thể phát tuệ”, nên dùng giới, định phát khởi.
Phải biết, tuệ mà không có giới, định là cuồng tuệ,
chẳng phải là chính tuệ. Xin ăn là giới, trải tọa cụ
mà ngồi là để nhập định. Ðã hiển thị sự tướng giới,
định, rồi sau thuyết bát nhã rất sâu, há chẳng phải là
hiển thị thứ tự nhất định của tam học (giới, định,
tuệ), khiến cho người ta biết cái nào trước, cái nào sau.
Lại trong kinh chỉ nói tuệ, mà riêng ở trong phát khởi bổ
túc thêm giới, định, là Phật, Bồ Tát vì cớ độ chúng
sanh khẩn thiết chu đáo đến như thế !
4.
- Hết thảy người học Phật có thể day về phía áo mặc
cơm ăn, thức ngủ, bận rộn, mệt nhọc mà rèn luyện, ấy
là phương pháp rất cần yếu để hàng phục vọng tâm. Bởi
tham cầu cơm ăn áo mặc mà chẳng ngại bận rộn mệt nhọc,
thì đã đành là chấp tướng, ngay đến chán ghét sự mệt
nhọc bận rộn này mà sanh phiền não thì cũng là chấp tướng.
Ắt phải đối cảnh tùy duyên, đã chẳng mê muội, lại chẳng
phiền não mới là phương pháp an tâm. Nên kinh nói : hết thảy
pháp đều là Phật pháp. Lại trong kinh phần nhiều đem độ
bố thí ra để nói hàng, trụ tâm, cũng là ý này. Thử nghĩ,
bọn phàm phu chúng ta có người nào là chẳng cần cơm ăn
áo mặc, muốn thoát ra đã chẳng thoát nổi, muốn tham cũng
tham chẳng được. Lại đã phát đại tâm học Phật, thì
các việc bố thí độ sanh đều tất nhiên phải học. Nếu
chẳng ở hết thảy đều dụng công như trên, thì một ngày
từ sáng đến tối nếu chẳng chấp hữu thì liền chấp không,
lúc nào mới có thể tìm được cái Tự-Tại? Ngay đến một
câu Phật cũng làm sao có thể niệm được tốt, các việc
hoằng pháp lợi sanh cũng ắt học chẳng được tốt. Nay Phật
ở ngay trên sự mặc áo, ăn cơm, phát khởi thậm thâm bát
nhã, hai bên chẳng chấp, hết thảy đếu như, khiến người
ta lĩnh hội được ngay ở trên những sự tướng này mà dụng
công, đã chẳng thể chấp hữu mê không mà thủ pháp tướng,
lại chẳng thể lìa hữu nói không mà thủ phi pháp tướng,
thiệt là đại từ đại bi vậy !
5.
- Như lai tùy thuận phàm phu mặc áo xin ăn, là nói rõ chẳng
chấp cái tướng của quả vị. Chính là trong kinh chỗ nói
: Như Lai tức là nghĩa chư pháp như, là vậy. Phải biết,
quả như thì nhân cũng như, cho nên phải lìa hết thảy tướng,
phát a nậu bồ đề tâm, mà cái đạo hàng hàng phục tâm
mình ở hết trong này. Lấy quả đức chẳng chấp tướng
phát khởi nhân hành chẳng nên chấp tướng, thiệt đúng là
chỗ gọi : nhân gồm biển quả, quả suốt nguồn nhân, hết
sức vi diệu !
6.
- Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương nói : “Ngũ uẩn tức
là pháp thân” Ngũ uẩn là huyễn hữu của duyên sanh pháp
thân là chân không, tịch mà chiếu. Ðây là bảo cho người
ta phải ở ngay cái huyễn hữu để thấy chân không, mà chẳng
phải là tướng đoạn diệt. Kinh này nhiều thứ khiển trừ
tướng, mà quy trọng ở pháp, chẳng nói đoạn diệt tướng,
cũng là ý này. Phải biết, chỗ gọi là đệ nhứt nghĩa không,
chính phải chẳng chấp thủ, lại chẳng đoạn diệt mới
gọi là đệ nhứt nghĩa. Ðây là điểm khẩn yếu để học
bát nhã, mà Như Lai lấy pháp thân thị hiện các huyễn tướng
phàm phu ăn cơm mặc áo, chính là muốn cho phàm phu từ trên
huyễn tướng của mỗi người thể nhận pháp thân vốn đầy
đủ. Chỉ đừng đuổi theo vọng, cần gì phải cầu cái chân
ở ngoài cái vọng. Nếu lại chấp cái chân, thì lại là ở
trong cái chân nổi dậy cái vọng. Trong kinh những câu : Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm, phàm
phu, phi phàm phu, chúng sanh phi chúng sanh, chẳng câu nào là
không thuyết nghĩa bất thủ, bất đoạn, bất tức, bất ly.
Thế thì phát khởi của kinh này có thể gọi là hết sức
thiết yếu.
7.
- Như Lai thị hiện xin ăn, mà xin ăn xong liền trở về chỗ
cũ. Lũ phàm phu chúng ta chỉ biết bận rộn ở chỗ mưu ăn,
trọn ngày trọn năm hướng ngoại rong duổi mưu cầu, chưa
từng biết phản chiếu bổn tánh. Lại như lai thị hiện ăn
xong liền thu xếp hết thảy, nhiếp tĩnh, vào quán tưởng,
còn lũ phàm phu chúng ta thì ăn no xong rồi chơi dỡn, quậy
động chẳng nghỉ, chưa tùng tĩnh được một lát, lại làm
sao có thể tu quán ư ? Phải biết, bát nhã tuệ lực từ nội
chiếu mà sanh ra, mà nội chiếu ắt trước phải tĩnh tọa
nhiếp tâm. Nay dùng những câu này để phát khởi, chính là
trỏ bảo cho chúng ta hết thảy thế duyên khi nó lại thì
ứng tiếp nó, khi việc qua rồi liền phải thu xếp liệng
qua một bên, liền lại phản quán, tĩnh chiếu, bội trần
hợp giác, thì mới có thể phát khởi bát nhã bổn tuệ .
Phải nên chú ý !
8.
- Yếu chỉ của một bộ Kim Cương kinh chỉ là ở chỗ làm
sao hàng, làm sao trụ, nhưng dễ gì nói ra được? Ngài Ðạt-Thiên
pháp sư nói : “một khi có chỗ trụ thì giác tâm liền mất
đi, vừa muốn hàng phục thì vọng tâm càng nổi dậy”, vậy
nên phải không hàng mà hàng, không trụ mà trụ, thế thì
hạ thủ ra sao? Nay xem thế tôn mặc áo, ăn cơm, đi ra phố,
qua ngõ hẻm, rồi trở về rửa chân, trải tọa cụ, những
việc nhỏ nhặt này chẳng phải làm một thời như thế, mà
độ sanh 49 năm thì 49 năm đều làm như thế. Bởi Kim Cương
thân của thế tôn không cần ăn cơm, không cần rửa chân,
lại chẳng cần học nhập định, nhưng vì cớ vì chúng sanh
mà ngày nào cũng làm những việc đó, tuy làm mà như vô sự,
thiệt là bình đẳng như như. Thứ hành động quen thuộc này
tức là khuôn mẫu lớn để hàng tâm, trụ tâm, chúng ta ắt
phải tu học như thế. Phàm gặp lúc cảnh duyên tới, đều
phải theo như lời Phật dạy mà thực hành, làm mà như vô
sự. Làm mà như vô sự tức là không hàng mà hàng, không trụ
mà trụ, như thế tức là có thể khế hợp vào tôn chỉ sâu
của bát nhã.
9.
- Ở trên chỗ nói không hàng mà hàng, không trụ mà trụ còn
sợ chưa rõ nghĩa, nay xin lại nói thêm, thế tôn khác xa người
thường, tại sao lại thị hiện đường lối của kẻ phàm
phu, mà chẳng khác với người thường chút nào? Phải biết,
vì thế tôn chẳng khác với người thường, sở dĩ ngài khác
xa người thường. Chúng ta phải từ chỗ này mà thể-hội,
và day về tự thân mình mà thể-hội. Vì cớ gì ? Vì tuy chúng
ta là phàm phu, mà vốn đầy đủ có như như Phật tánh. Vì
cớ gì? Vì chẳng thủ ở tướng. Chúng ta học bát nhã phải
từ chẳng thủ ở tướng mà dụng công. Chẳng thủ có nghĩa
là chẳng ly hết thảy tướng mà cũng chẳng chấp tướng.
Nếu nghiêng về lấy vô tướng làm chẳng chấp, thì lại
là thủ phi pháp, mà là đoạt tuyệt. Nên kinh nói : nếu thấy
các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai. Các tướng
chẳng phải tướng có nghĩa là tuy có các tướng mà không
chấp nó. Lại nói : chẳng thủ ở tướng, như như chẳng
động. Vì chẳng thủ ở tướng cho nên được thấy hết
thảy pháp tướng, phi pháp tướng. Chẳng thủ tức là không
hàng phục mà hàng phục, không trụ mà trụ. Ðầu cuốn kinh
lấy chẳng thủ tướng làm phát khởi, tôn chỉ này sâu vậy.
10.
- Tổng hợp chỗ thuyết ở trên có thể thấy một phận phát-khởi-tự
này hiển hiện ra trọn vẹn đệ nhứt nghĩa không, hãy xem
Như Lai thị hiện giống như kẻ phàm phu là vì lợi tha, là
không có ngã tướng. Bát nhã diệu pháp phó mặc cho từ trên
sự tướng của những việc nhỏ nhặt tự tại tuôn ra, tức
là không có pháp tướng. Chẳng cần phải ăn mà đi xin ăn,
cho đến thị hiện rửa chân, trải tọa cụ v v... là dùng
giáo pháp chẳng nói để hộ niệm, phó chúc hết thảy những
kẻ phát đại tâm, cũng tức là không có phi pháp tướng.
Ðược tiến lên như thế, thì lý trí chân-không hiện rõ
ràng ngay nơi tâm, nơi mắt, phát khởi tinh diệu còn gì hơn
thế nữa chăng? Các ông phải biết, sở dĩ trên phận phát-khởi-tự
này, tôi nói đi nói lại chẳng nệ phiền phức, không có
gì khác, chỉ muốn cho các vị thiện tri thức biết được
làm sao khởi tín, và hiểu rõ lý trí tam không, tùy việc mà
có thể thấy. Xin các ông day về lúc mặc áo, ăn cơm, lúc
hành chỉ, động tĩnh, tùy theo từng lúc mà quán chiếu như
thế, thì có thể được sự thụ dụng ngay. Rồi sau mới
biết một bộ kinh Kim Cương này thiệt là phuơng thuốc hay
để tiêu trừ khổ ách, con đường tắt để vào Phật trí.
Các ông phải nên tôn trọng !
CHÍNH
TÔNG PHẬN
Thời
trưởng lão Tu Bồ Ðề tại đại chúng trung, tức tùng tọa
khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hợp chưởng
cung kính nhi bạch Phật ngôn :
Dịch
nghĩa : Lúc đó ông trưởng lão Tu Bồ Ðề ở trong đại chúng,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy hở vai áo phía hữu, đầu
gối phía hữu quì xuống đất, chấp tay cung kính mà thưa
Phật rằng :
Thời
: tức là trỏ lúc thế tôn xin ăn xong trở về vườn Kỳ
Ðà, chữ thời này rất cần phải chú ý. Lời tán thán hi
hữu ở văn dưới liền theo một đoạn văn trên mặc áo,
cầm bát mà tới. Kẻ chép kinh để một chữ thời, gồm có
vô cùng cảm khái ở trong đó. Thế tôn mặc áo, cầm bát,
xin ăn, ngày nào cũng như thế, đại chúng tuy thấy thế mà
giống như không thấy. Lần này cơ duyên thành thục mới bị
con mắt của Tu bồ Ðề xem thấy. Ðại pháp bát nhã thế
tôn chẳng thường thuyết, ngay đến thuyết cũng phải đợi
cơ duyên thành thục mới thuyết. Thiệt là hi hữu khó gặp,
chỗ gọi là ngàn năm một thuở vậy.
Trưởng
lão : là tên gọi bực tuổi tác và đức hạnh đều cao, nhà
Ðường dịch là cụ-thọ chỉ hiển tuổi cao, nhà Ngụy dịch
là tuệ-mạng chỉ hiển đức lớn. Ngài La-Thập thuận theo
văn nghĩa phương đông dịch làm trưởng lão gồm cả hai nghĩa
trên.
Tu
Bồ Ðề : nghĩa là Không sanh, lại có chỗ dịch là Thiện
Hiện, Thiện Cát, Gia đình của ông giàu có nhiều tài bảo,
trong lúc ông sanh ra thì kho tàng vàng bạc trong nhà trống không
hết, nên đặt tên ông là Không Sanh. Sau khi sanh ra 7 ngày,
thì tài bảo trong kho lại hiện ra trở lại, nên gọi ông
là Thiện Hiện. Lại thầy tướng xem tướng ông đoán rằng
: đứa trẻ này tốt lành chẳng cần phải lo lắng, nên lại
có tên là Thiện Cát. Lúc mới sanh ra, kho tàng trống không
là biểu hiển lý không. Sau tài bảo lại hiện ra là biểu
hiển không mà chẳng phải thiên-không. Sách Tây Vực Ký nói
: “ông Tu Bồ Ðề vốn là Thanh Long Ðà Phật ở Ðông Phương,
ảnh hiện ra ở hội Phật Thích Ca, thị hiện làm A La Hán,
phụ giúp Thích Ca Mâu Ni làm việc giáo hóa, ở trong cửa Phật
hiểu nghĩa không đệ nhứt”. Không mà chẳng không mới là
chân không, mới là đệ nhứt nghĩa không. Các đệ tử chẳng
bằng Tu Bồ Ðề lĩnh ngộ rất sâu, nên trên hội bát nhã
ắt phải lấy Tu Bồ Ðề làm đương cơ thay đại chúng thỉnh
vấn Phật. Tu Bồ Ðề vì đại chúng khải thỉnh, gồm có
4 yếu nghĩa :
1)-
Ðại chúng thông thường ngày ngày thấy thế tôn mặc áo,
cầm bát, cùng các vị tỳ kheo tầm thường giống nhau, nên
mờ mịt chẳng biết dụng ý của Phật ở chỗ nào, thế
nên ắt phải đợi thị hiện thanh văn là ông Tu Bồ Ðề
vì đó mà khải thỉnh.
2)-
Ðây đã đến hội bát nhã thứ 9, thế tôn ở lúc bình thường,
mặc áo ăn cơm, khéo hộ niệm, khéo phó chúc bát nhã đại
pháp, đem lý đệ nhứt nghĩa không rất sâu nêu lên đầy
đủ, nhưng đại chúng đã đành chẳng thể hiểu thấu, nếu
không có Tu Bồ Ðề thì chẳng ai có thể vì đó khải thỉnh.
3)-
Các vị trưởng lão đệ tử của Phật chẳng phải chỉ một
ông Tu Bồ Ðề, nhưng hiểu nghĩa không thì không ai bằng Tu
Bồ Ðề, nên đương cơ thỉnh pháp nếu không có Tu Bồ Ðề
thì chẳng có ai thỉnh nổi. 4)- Trong hội còn có các vị bồ
tát ma ha tát, sao không khải thỉnh, mà nhường Tu Bồ Ðề
một mình thỉnh vấn, vì chưng Phật nói bát nhã chính là
vì bậc a la hán, gồm thêm các vị bồ tát, nếu bồ tát khải
thỉnh, thì a la hán sẽ nghi rằng đây là pháp của bồ tát,
cùng với ta chẳng dính líu gì. Nay nhường Tu Bồ Ðề khải
thỉnh hoàn toàn là vì đại chúng mà thỉnh, văn dưới mở
miệng ra liền nói : thiện nam tử, thiện nữ nhân. Nên một
lời nói : ở trong đại chúng, gồm có bao nhiêu ý nghĩa ở
trong đó.
Tức
: có nghĩa là liền, có ý là cấp bách chẳng thể đợi. Thế
tôn trải tọa cụ mà ngồi, đại chúng cũng vậy, nên Tu Bồ
Ðề liền từ tọa cụ đứng dậy, đây là theo dấu tích
mà giảng như thế. Nếu theo trên căn bản thì Tu Bồ Ðề
sớm đã thành Phật, thế tôn thuyết bát nhã đã trải qua
tám hội, tại sao ắt phải đợi đến hội thứ chín lúc
thuyết Kim Cương bát nhã mới từ chỗ ngồi đứng dậy mà
thỉnh? Có thể biết, phàm việc gì ắt phải cần có trọn
vẹn bốn cái : thời, tiết, nhân, duyên mới có thể hợp
thành. Thế tôn thuyết bát nhã là thời, thuyết Kim Cương
là tiết, có bao nhiêu thứ nhân, có bao nhiêu thứ duyên, đến
đây nhân duyên đầy đủ, Tu Bồ Ðề bèn đương cơ thỉnh
vấn đại pháp này. Cà-sa mặc ở vai trái, nên vai mặt có
thể để hở. Phật chế mặc cà-sa lúc bình thời không để
hở vai, ắt đến lúc cung kính mới để hở vai. Phàm người
ta làm việc ắt dùng tay mặt, đi thì chân mặt bước đi trước,
đây là biểu thị ý hễ có việc thì đệ tử phải phục
vụ. Kinh này chú trọng ở gánh vác bồ đề, đệ tử chính
nên gánh lên vai trách nhiệm này. Lúc lễ bái thì hai đầu
gối dính liền với đất, như sám hối thì quì đầu gối
mặt , người xưa gọi là hồ-quị. Trước địa : là chân
dẫm lên đất một cách chắc thực, tiêu biểu pháp tức là
thực tế lý địa, tức là thực tướng, khiến người ta
chứng được bổn tánh. Hợp chưởng : là hai bàn tay hợp
với nhau, không cầm vật gì khác. Chúng ta hai tay lúc duỗi
ra nắm lại toàn là trần cấu, nay thì hợp hai tay với nhau
tức là bội trần hợp giác. Ðể hở vai đến chắp bàn tay
là thân nghiệp thanh tịnh. Diện mạo ở ngoài ngay ngắn nghiêm
chỉnh gọi là cung, trong lòng thành khẩn gọi là kính, là
ý nghiệp thanh tịnh. Nhi bạch Phật ngôn : bạch nghĩa là thưa
với, bày tỏ, đem ý tứ của mình bày tỏ ra, đây là ngữ
nghiệp thanh tịnh.
XƯNG
TÁN
Hi
hữu thế tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư bồ tát, thiện
phó chúc chư bồ tát.
Dịch
nghĩa : Thưa đức thế tôn hi hữu! Như Lai khéo hộ niệm các
bồ tát, khéo phó chúc các bồ tát.
Thông
thường nói hi hữu, qui nạp lại nó có 4 nghĩa :
1)-
thời hi hữu, vì như lai xuất thế trải qua vô lượng kiếp
cũng khó gặp được, 2)- Xứ hi hữu, vì trong tam thiên đại
thiên thế giới chỉ có một vị Phật, 3)- Ðức hi hữu, vì
phước và tuệ thù thắng, không ai sánh kịp, 4)- Sự
hi hữu vì từ bi phương tiện dụng rất khéo léo. Bốn nghĩa
trên là thuyết thông thường. Nay nói hi hữu là trỏ ngay bát
nhã ba la mật mà nói.
Thế
tôn : là danh hiệu chung của Phật, lúc xưng hô thì dùng, gọi
tên Phật là biểu thị quả đức, gọi tên như lai là biểu
thị tánh đức. Tu Bồ Ðề ở việc mặt áo ăn cơm v. v...
của Phật, thấy được các tướng mà chẳng phải tướng
liền thấy như lai, nên mở miệng liền gọi : NHƯ LAI, Phật
lấy pháp thân như lai thị hiện giống như kẻ phàm phu, đây
là chính ở chỗ đó biểu thị chẳng trụ hết thảy tướng.
Pháp thân như lai vì cớ vì lại thị hiện giống như phàm
phu? Tức là chẳng bỏ chúng sanh, tức là hộ niệm. Chẳng
bỏ chúng sanh là đại bi, mà lấy pháp thân như lai để thị
hiện là đại trí. Ðại bi này từ đại trí mà sanh ra, là
hữu mà chẳng hữu. Hữu mà chẳng hữu mới là diệu hữu,
mới là cái diệu hữu chẳng ngại chân không. Lấy cái diệu
hữu chẳng ngại chân không để hộ niệm há chẳng là khéo
ư? Hiện tích giống như phàm phu, chính là biểu thị pháp
thân như lai chẳng trụ hết thảy tướng, tinh nghĩa của Kim
Cương Bát Nhã nêu lên hoàn toàn, đây là lấy giáo nghĩa chẳng
dùng lời nói để phó chúc. Giáo nghĩa chẳng dùng lời nói
là đại trí, đại trí này từ đại bi sanh ra, là không mà
chẳng không. Không mà chẳng không mới là chân không, mới
là chân không chẳng ngại diệu hữu. Lấy cái chân không chẳng
ngại diệu hữu để phó chúc, khéo không còn gì khéo hơn
như thế. Chẳng kể là hộ niệm hay phó chúc, không cái nào
là chẳng không và hữu rõ ràng cả hai, tinh lý phát huy chân
không diệu hữu của trọn bộ kinh chỗ nào cũng có thể thấy,
rõ ràng là mạch lạc thông suốt vậy.
Sự
tán thán hi hữu đã đành là ý nhiều kiếp đã qua khó gặp,
mà cũng gồm cả nghĩa khó lĩnh hội ở trong đó. Ðây là
đem câu văn ở dưới : Tôi từ xưa đến nay chỗ được tuệ
nhãn chưa từng được nghe kinh như thế này, và câu : Tôi
nay được nghe kinh điển như thế này, tín giải thụ trì
chẳng đủ là khó, nếu ở đời sau, sau 500 năm, có chúng
sanh nào được nghe kinh này tín giải thụ trì, thì người
này là đệ nhứt hi hữu, ra mà xem đều có thể chứng minh
là tín giải chẳng dễ vậy. Ý của Tu Bồ Ðề cho là : Tôi
từ xưa đến nay bây giờ mới xem ra sự hộ niệm phó chúc
của như lai, đại chúng tuy chẳng thể lĩnh hội, mà thế
tôn vẫn thị hiện như thế, lại càng hi hữu. Hộ niệm,
phó chúc sở dĩ đều nói là khéo, hộ niệm thuộc về tâm,
phó chúc thuộc về miệng. Nếu đợi khởi tâm hộ niệm,
thì lúc khởi tâm mới có hộ niệm, còn lúc chẳng khởi tâm
liền chẳng hộ niệm. Nếu đợi phát ra lời nói để phó
chúc, thì lúc phát ra lời mới có phó chúc, còn lúc chẳng
phát ra lời nói liền chẳng phó chúc, đều chẳng có thể
gọi là khéo. Nay lấy như lai vào thành rồi trở về vườn
, như như chẳng động, mật thị trụ tâm, dùng thân mình
làm khuôn mẫu, chính là gia hộ ức niệm.
Lại
lấy ăn xong, ngồi tĩnh tọa, một niệm chẳng sanh, mật thị
hàng phục tâm, khiến tăng chúng lấy đó làm phép tắc, chính
là phó thác phó chúc. Trong khoảng động tĩnh lấy thân làm
giáo pháp mà chẳng dùng ngôn ngữ làm giáo pháp, tùy theo lúc,
tùy theo chỗ, không cái nào là chẳng làm mô phạm cho bồ
tát. Ðây thiệt là chỗ bảo rằng khéo, Tu Bồ Ðề mở miệng
tán thán hi hữu thật là đúng vậy.
THỈNH
PHÁP
Thế
tôn ! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát a nậu đa la tam miệu
tam bồ đề tâm, ưng vân hà trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm
?
Dịch
nghĩa : Thưa đức thế tôn ! Trai lành, gái lành phát tâm a
nậu đa la tam miệu tam bồ đề, phải làm sao trụ , làm sao
hàng phục tâm mình ?
Các
bản thông thường đều chép : vân hà ưng trụ. Nay theo bản
viết kinh của người nhà Ðường chép : ưng vân hà trụ.
Chư bồ tát ở câu văn trên tức là trỏ thiện nam tử, thiện
nữ nhân nầy mà nói, vì họ phát vô thượng tâm, liền có
tư cách thành Phật, liền có thể gọi là bồ tát. Thiện
: là thiện căn, phát vô thượng tâm nếu không có đại thiên
căn thì chẳng thể được. Phàm con người đều có thiện
căn, nếu không có thiện căn thì chẳng thể vào trong nhân
đạo, cũng chẳng thể nghe đại pháp này. Nhưng nếu không
phát tâm thì chỉ có thiện căn nầy một cách trống không,
há chẳng cô phụ. Trong kinh Phật thường hay chê trách đàn
bà, lại thường nói đàn bà chướng nặng, chẳng thể thành
Phật, ắt trước phải chuyển qua thân đàn ông mới có thể
thành Phật. Có kẻ nghi ngờ pháp bình đẳng của Phật, nếu
đàn bà trước phải chuyển qua thân đàn ông là bất bình
đẳng, đây là họ chưa hiểu rõ phật lý mà trước đã phê
bình phật pháp, như thế thì chẳng nên! Phải biết, đàn
bà đích xác là có chướng nặng, một là có chướng ngại
về chửa đẻ, nuôi con, hai là thường thường nhận lầm
ÁI làm TỪ BI. TỪ BI là bình đẳng, không chia ra thân sơ,
hậu bạc, ÁI là giòng sông sanh tử, dùng lầm liền rơi vào
luân hồi. Trong con mắt Phật không có tướng nam hay nữ, sở
dĩ nói đàn bà chướng nặng là muốn cho họ đặc biệt chú
ý, chẳng nên chịu sự chướng ngại nầy, chỉ cần phải
phát đại tâm, thì cũng có thể thành phật như đàn ông.
Chỗ nầy sở dĩ Tu Bồ Ðề hỏi cả hai.
Phát
: là sanh ra, nổi dậy, có nghĩa là phát tâm trên cầu Phật
đạo, dưới hóa chúng sanh, chứng quả vô thượng. Chữ phát
thông suốt cả văn trên văn dưới, nghĩa thông năng và sở.
Văn trên thiện nam thiện nữ là năng phát, văn dưới a nậu
bồ đề là sở phát. Tiếng Phạm A nậu đa la có nghĩa là
vô thượng, tam miệu là chánh đẳng, tam bồ đề là chánh
giác, hợp lại là vô thượng chánh đẳng chánh chánh giác.
Chánh giác là khác với cái bất chánh của phàm phu, ngoại
đạo, vì phàm phu còn có cái ngã, chẳng thể tự giác, ngoại
đạo tuy có giác mà thuộc về thiên giác, tà giác, chẳng
phải chánh giác. Chánh đẳng là khác với cái bất đẳng
của nhị thừa. A la hán đều được chánh giác, nhưng sợ
sanh tử như lao ngục, gấp rút ở tự độ, khuyết thiếu
từ bi tâm, chẳng thể tu thiện, độ chúng sanh, vì không có
tâm bình đẳng : Tam miệu là trỏ ngay bồ tát mà nói. Chánh
đẳng là tự giác, giác tha, tự và tha đều bình đẳng. Vô
thượng là khác với hữu thượng của bồ tát. Bồ tát giác
tuy chánh đẳng, nhưng còn chưa được như Phật giác hành
viên mãn, nên vô thượng là trỏ ngay Phật mà nói. Chỗ phát
tâm của thiện nam tử thiện nữ nhân nầy là vô thượng
giác tâm của Phật. Tâm là thể linh minh giác chiếu, ở trên
dụng có chia ra : chân, vọng, nhiễm, tịnh. Nay nói theo bồ
đề mà phát thì rõ ràng là chân là tịnh, chẳng phải vọng
nhiễm.
Ðại
Luận nói : từ nhân đến quả có năm thứ bồ đề : 1)- phát
tâm bồ đề tức là thập tín vị, 2)- phục tâm bồ đề
tức là tam hiền vị, 3)- minh tâm bồ đề tức là từ sơ
địa đến thất địa, 4)- xuất đáo bồ đề tức là bát
địa đến thập địa, 5)- vô thượng bồ đề tức là như
lai quả vị.
Nay
theo năng phát tâm, tức là ngay ở bồ đề thứ nhứt, còn
nếu theo sở phát tâm thì tức là bồ đề thứ năm. Năng
và sở hợp lại mà nói, suốt thông từ đầu đến cuối.
Cho nên biết vô thượng thuộc quả, chánh đẳng chánh giác
thuộc nhân, tâm sở phát thì thông cả nhân lẫn quả. Ưng
: là nên, phải nên, chữ này suốt với hai câu sau. Trụ :
là ngừng ở một chỗ. Hàng phục : là khắc chế, nhiếp trì.
Chữ tâm trong câu kỳ tâm, là trỏ vọng nhiễm mà nói. Lời
nói có ba ý : phàm là bồ tát phải phát bồ đề tâm, nên
trước hỏi phát tâm. Vừa mới phát tâm nầy, chẳng được
như Phật, tùy duyên an trụ, nên thứ nhì hỏi trụ tâm, ý
ở chỗ cầu Phật chỉ bảo phương pháp có thể khiến cho
tâm nầy tương ứng mà trụ. Lại vì vọng tâm nổi dậy liền
liền, chẳng thể giống như Phật tự nhiên hàng phục, nên
sau lại hỏi hàng phục, ý ở chỗ cầu Phật chỉ bảo phương
pháp có thể khiến cho vọng tâm tự nhiên mà hàng phục. Phát
tâm là việc trước hết, nhưng ắt phải phát đại tâm mới
có thể tu đại hạnh, đắc đại quả.
Kinh
Hoa Nghiêm nói : “Quên mất bồ đề tâm mà tu các thiện quả
là bị ma nhiếp trì”. Thiện nam nữ lúc mới phát tâm ắt
phải tự mình kỳ vọng cho mình thành Phật mà phát a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề tâm. Vô thượng chính là chỗ cầu
mong. Muốn cầu vô thượng ắt phải tu phước độ sanh, nên
thứ nhì nói chánh đẳng. Muốn độ chúng sanh ắt phải trước
tự độ, nên sau nói chánh giác. Nói ngược lại, tức là
tự giác giác tha, giác hành viên mãn.
Ðại
luận nói : lúc mới phát tâm, và lúc cứu cánh, hai cái không
khác. Hai tâm này thì tâm trước khó. Phát tâm bồ đề, đến
vô thượng bồ-đề chỉ là một tâm, chẳng phải hai tâm,
nhưng mới phát tâm khó, nên Tu Bồ Ðề trước đem phát tâm
ra để hỏi. Trụ tâm, hàng tâm là việc sau. Có người trước
đã từng phát tâm, sau nầy quên mất, đây là chẳng biết
chơn tâm an trụ ra sao, để đến nỗi vọng tâm chẳng thể
hàng phục được. Nên Thiện-Tài đồng tử mỗi lần gặp
thiện hữu đều khải thỉnh rằng : “Tôi đã trước phát
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, mà chưa biết làm sao
học bồ tát hạnh, tu bồ tát đạo”. Do đó có thể biết
phát đại tâm ắt tu đại hạnh, trụ, hàng, chính là chỗ
hạ thủ thiết thực để tu hành, nên thứ nhì mới hỏi trụ
hàng. Nhưng hai sự hỏi nầy thực giúp lẫn nhau, vì giác tâm
trụ thì vọng tâm chẳng hàng mà hàng, vọng tâm hàng thì
giác tâm chẳng trụ mà trụ.
NHƯ
LAI TÁN HỨA
Phật
ngôn : thiện tai, thiện tai ! Tu Bồ Ðề, như nhữ sở thuyết.
Như Lai thiện hộ niệm chư bồ tát, thiện phó chúc chư bồ
tát.
Dịch
nghĩa : Phật nói : Khéo thay, khéo thay ! Tu Bồ Ðề, như chỗ
ông nói. Như Lai khéo hộ niệm các bồ tát, khéo phó chúc
các bồ tát.
Kẻ
kết tập kinh, chỗ nầy để chữ Phật là có ý sâu. Phật
là quả cứu cánh giác. Văn trên người phát tâm chính là
tu nhân. Muốn biết đường dưới núi thì phải hỏi người
đã đi qua. Chỗ nầy để chữ Phật, tức là nhân như thế,
thì quả như thế, ngược lại tức là quả như thế thì nhân
cũng như thế. Thiện tai, thiện tai : là lời xưng tán. Như
nhữ sở thuyết : là lời ấn chứng. Chữ thiện tai thứ nhứt
là xưng tán ông Tu Bồ Ðề khéo khế hợp với bổn tâm của
Như Lai.
Mấy
chục năm Phật thị hiện trần lao, lẳng lặng hộ niệm phó
chúc, tuyệt nhiên chưa có lời nói, mà nay ông Tu Bồ Ðề
riêng mình có thể thấy được, nên Phật xưng tán ông ấy.
Chữ thiện tai thứ hai là xưng tán ông ấy thay đại chúng
khải thỉnh. Khổ tâm của Phật là muốn cho thiện nam nữ
phát tâm học hỏi, nhưng không người nào có thể thỉnh vấn.
Nay
một mình ông Tu Bồ Bồ Ðề có thể thỉnh vấn, để mãn
bổn nguyện của như lai, nên Phật lại xưng tán ông ấy.
Người khác chẳng thể hỏi, chỉ riêng một mình ông có thể
hỏi, nên chữ thiện tai thứ nhứt là tán đại trí của ông
ấy. Hỏi pháp chẳng phải vì mình mà vì đại chúng, nên
chữ thiện tai thứ nhì là tán đại bi của ông ấy : ông
thiệt có thể thấy được ta chẳng trụ phật tướng mà
hộ niệm phó chúc, nên nói : như chỗ ông nói. Vì hộ niệm
phó chúc như thế thì đại chúng chẳng hiểu, chỉ có Tu Bồ
Ðề một mình có thể trỏ ra, nên Phật ấn khả lời nói
của ông ấy. Hai câu Như Lai nguyên là lời Tu Bồ Ðề tán
Phật, nay Phật hết sức nhìn nhận là đúng. Phật bảo :
Như Lai hộ niệm phó chúc, như chỗ ông nói không sai một
chút nào. Ðó là muốn khiến cho chúng sanh ở trong chỗ mặc
áo cầm bát, đi lại, động tĩnh, của như lai, lĩnh cái ý
hộ niệm phó chúc.
HỨA
NÓI
Nhữ
kim đế thính, đương vị nhữ thuyết. Thiện nam tử thiện
nữ nhân phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, ưng như
thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm.
Dịch
nghĩa : Ông nay nghe cho kỹ, sẽ vì ông nói. Trai lành gái lành
phát tâm a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, phải trụ như
thế, phải hàng phục tâm mình như thế.
Tu
Bồ Ðề há lẽ nào chẳng nghe cho kỹ (đế thính)? Sự răn
này của Phật là vì đại chúng, và vì lũ chúng sanh ta ở
hiện tại. Ðế có nghĩa là chân thực chính xác, một là
chẳng thể cống cao, hai là chẳng thể thấp hèn. Nếu phạm
vào hai bệnh này liền chẳng thể nghe cho kỹ, ngay đến nghe
cũng chẳng có thể chính xác. Có người mới nghiên cứu kinh
luận chút ít liền tự cho là minh thông hiểu phật học, đây
là phạm vào bịnh cống cao. Có người suy cao thánh cảnh,
cho là đại pháp cao sâu như thế, thì chúng ta sao có thể
hiểu nổi, đây là phạm bịnh thấp hèn. Cống cao là mạn,
thấp hèn cũng là ti-mạn. Nghe kinh như thế liền chẳng có
thể chân thực chính xác, cho nên kẻ học phật cần phải
tránh hai bịnh trên, hư tâm để lĩnh thụ, nên gọi là đế
thính. Ðã có thể đế thính, há rằng Phật không nói? Nên
nói : đương vi nhữ thuyết (sẽ vì ông nói) là có ý nói
: nếu ông chẳng đế thính, ta liền chẳng sẽ vì ông nói.
Câu này là cảnh-sách chúng ta lúc nghe kinh, những tri kiến
hồi trước ắt phải liệng bỏ đi hết, chẳng thể còn chất
chứa trong tâm.
Ba
câu dưới từ thiện nam tử, thiện nữ nhơn, chính là nêu
ra tôn chỉ tu hành. Thuyết xưa 2 chữ NHƯ THỊ, là để trỏ
một đoạn văn dưới “diệt độ nhứt thiết chúng sanh“
mà nói, thì mạch lạc trước sau không thông suốt, huống
chi văn dưới vốn đã có 1 câu “ưng như thị hàng phục
kỳ tâm” ư ? Lại bảo hai chữ như thị là trỏ một đoạn
văn trong phát khởi tự, thế tôn trước y trì bát ... đến
phu tọa nhi tọa mà nói, thì cũng chưa xác đáng. Nay bảo hai
chữ như thị là trỏ ngay văn trên 2 câu thiện hộ niệm thiện
phó chúc mà nói, có nghĩa là chỉ-điểm ngay hiện tiền, đương
hạ tức thị.
Một
đoạn văn : trước y trì bát là mạch xa, 2 câu : thiện hộ
niệm là mạch gần. Ðã biết mạch gần thì mạch xa tự mình
thông hiểu. Vì pháp thân như lai thị hiện tướng trần lao
của phàm phu là vô ngã tướng, vô pháp tướng, cũng là vô
phi pháp tướng, nên thiện nam nữ cũng phải nên chẳng trụ
ở tướng, mà trụ như ta. Phàm phu chẳng trụ ở tướng,
thì trụ ở phi pháp tướng. Một khi đã có trụ liền sai
lầm, hàng phục chẳng được vọng tâm sanh diệt. Nên thiện
nam nữ phải ở chỗ như lai mặc áo ăn cơm, lý hội cái lý
hai bên chẳng chấp, như thị hàng phục nó.
Ðáng
thương thay lũ chúng sanh khỗ não, chẳng kể kẻ nghèo người
giàu, một đời vì áo cơm mà bận rộn vất vã, chẳng kể
làm nghề nghiệp gì cũng đều chỉ là một thứ ăn xin. Sáng
sớm thức dậy đi ra nơi đô thị làm việc, tức vào thành
xin ăn. Theo đúng thời giờ bắt đầu làm việc và nghỉ ngơi
tức là lần lượt xin xong. Xin ăn đã dành là cần yếu, nhưng
xong việc liền phải trở về chỗ cũ. Bịnh của phàm phu
là vì vấn đề cơm áo, chẳng thể nào mà không hướng ngoại
rong ruổi mưu cầu, kết quả quên đi mất chủ nhân ông, chẳng
còn trở về chỗ cũ. Thế nên công việc xong xuôi, phải mau
mau quay đầu lại, đem tâm mình yên tĩnh một lúc, hồi quang
phản chiếu, không nên làm những việc chẳng dính dấp gì
với mình. Ðây tức là học “trải tọa cụ mà ngồi” của
Phật. Chúng ta có thể đem lời, câu trong kinh văn quay trở
về đến tự thân mình, thì tự mình có chỗ thu dụng. Quả
nhiên có thể ở khoảng công việc tầm thường hằng ngày,
lúc nào cũng phản chiếu tức là hàng phục, tức là hai bên
chẳng chấp, tức là cùng với tánh thể xứng với nhau mà
bắt đầu tu, ngay đến niệm Phật cũng niệm được tốt.
KHẾ
HỢP VỚI TÔN CHỈ, CẦU XIN NÓI RÕ
Duy
nhiên thế tôn : nguyện nhạo dục văn.
Dịch
nghĩa : Thưa vâng, thưa Thế tôn : Con nguyện ưa thích muốn
nghe.
Duy
là lời đáp ứng có nghĩa là thưa vâng. Tiếng nói đi vào
trong tâm thì tâm thông suốt. Ở lý trụ, hàng như thế đã
hiểu rõ triệt để. Sự hộ niệm phó chúc của như lai, người
khác chưa thể thấy mà Tu Bồ Ðề riêng mình có thể thấy
được, thay đại chúng khải thỉnh trụ tâm, hàng tâm, quả
nhiên được phật tán hứa. Kẻ kếp tập kinh ở dưới chữ
duy, để nhiên, là tả ra ông Tu Bồ Ðề bình sanh mừng rỡ
vui sướng, tự mừng rằng lĩnh hội được tình cảnh không
sai. Nhưng vì đại chúng chưa thể hiểu rõ, nên lại thỉnh
vấn. Nguyện : là nguyện vọng. Nhạo : là ưa thích. Dục :
là mong cầu. Nếu chỉ tâm nguyện mà chẳng ưa thích, thì
sự nghe hoặc là chưa thân thiết. Hoặc tuy ưa thích mà chẳng
mong cầu, thì nghe hoặc chưa sâu xa. Ba chữ này một tầng
tiến lên một tầng, biểu thị sự khác vọng của đại chúng,
cũng có thể vì chúng sanh khổ não đời mạt pháp biểu thị
khát ngưỡng. Chữ văn này cùng với chữ văn trong câu “như
thị ngã văn” ở ngay đầu kinh ứng tiếp với nhau, vì nếu
không có Tu Bồ Ðề nguyện nhạo dục văn, thì A Nan làm sao
có thể nghe được?
Văn
có ba thứ : 1) Nghe lời nói, nhĩ căn phát ra thức, chỉ nghe
ở lời nói, 2) nghe nghĩa, ý thức ở lời nói hiểu nghĩa
của nó, 3) Nghe ý, ngưng thần, nhứt tâm tìm nghĩa lấy ý.
Nay
nghe lời nói như thị trụ, hàng ắt sẽ được ý, mà quên
nghĩa, khiển trừ lời nói mà tiêu về tự tánh mình, có thể
biết được. Người người vốn sẵn đầy đủ cái tự tánh
như như bất động, nhưng vì vô minh che lấp đi, khiến cho
vọng tâm sanh diệt chẳng ngừng, nên kẻ học phải ở trên
chữ VĂN này mà dụng công, phản văn văn tự tánh, thời thời
chiếu, thời thời văn, thì biết tâm, phật, và chúng sanh
ba cái không sai biệt. Nên chữ văn này làm công phu PHẢN VĂN
liền có thể tiêu về tự tánh.
>>
Trang 02
Xem
Thêm:
Kinh
Kim Cang Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Kinh
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, HT. Thích Trí Quang Dịch Giải
Kinh
Kim Cang Dịch Nghĩa và Lược Giải, HT Thiện Hoa
Kinh
Kim Cang, HT. ThÍch Duy Lực Dịch
