9
Có
lẽ chẳng phải ngẫu nhiên mà thay vì răn dậy tôi như ông
thường làm. Lão sư phụ, lần này đúng ngay vào lúc cần
phải răn dậy, lại ban cho tôi một ân huệ. Năm ngày sau khi
Kashiwagi tới đòi tiền, Lão sư phụ gọi tôi vào phòng ông
và đưa cho tôi ba ngàn bốn trăm yen để đóng học phí trong
phân kỳ thứ nhất, ba trăm năm mươi yen để đi xe điện
và năm trăm yen để mua giấy bút. Theo khuôn phép nhà trường,
lẽ ra chúng tôi phải nộp học phí trước dịp hè, nhưng
sau những gì đã xẩy ra, tôi chẳng lúc nào có thể tưởng
tượng là Lão sư phụ lại sẽ cho tôi tiền cả. Tôi nghĩ
là dù cho có ý định trả học phí cho tôi đi nữa nhưng lúc
này thừa biết là tôi chẳng đáng tin cậy lúc nào, lẽ ra
ông nên gửi thẳng tiền đến đại học mới phải.
Tôi
biết rõ hơn ông rằng dù cho bây giờ có trao tiền cho tôi,
sự tin cậy của ông đối với tôi cũng là sự tin cậy giả
dối. Ân huệ Lão sư phụ đã ban cho tôi mà không thèm nói
một lời, tôi thấy na ná giống như làn thịt da hồng hào,
mềm mại của ông. Cái làn da thịt tràn đầy giả dối, cái
làn da thịt tin cậy vào cái gì xứng đáng được tin cậy,
cái làn da thịt không hề bị sự hủ bại phạm tới, cái
làn da thịt hồng hồng, âm ấm lặng lẽ sinh sôi nẩy nở.
Cũng
y như lúc nhìn thấy người cảnh sát ở lữ quán Yura, tôi
đã sợ hết hồn e rằng đã bị phát giác, bây giờ tôi lại
lo sợ hết hồn, sợ rằng Lão sư phụ đã thấy rõ kế hoạch
của tôi và đang cố gắng làm cho tôi bỏ lỡ cơ hội quyết
ý thành động bằng cách cho tôi tiền. Tôi cảm thấy mình
sẽ chẳng bao giờ có đủ can đảm để quyết ý hành động
chừng nào còn cất giữ món tiền mà ông đã cho. Tôi phải
tìm đủ cách để tiêu hết món tiền ấy càng sớm càng tốt.
Tôi phải tìm cách tiêu hết béng món tiền ấy để một khi
biết được Lão sư phụ sẽ nổi giận đùng đùng tống cổ
tôi ra khỏi chùa ngay tức khắc.
Hôm
ấy đến phiên tôi làm bếp. Trong khi đang rửa bát sau bữa
dược thạch, vô tình tôi nhìn về hướng phòng ăn. Ai nấy
đều đã đi hết, và căn phòng vắng lặng im lìm. Ngay cửa
vào có một cây cột lớn đen bóng màu bồ hóng. Trên cột
có treo một tấm bảng hoàn toàn đổi mầu vì ám khói. Tôi
đọc thấy:
A-đa-cổ
tự phù
Cẩn
thận phòng hỏa
Tôi
có thể mường tượng tấy được hình dạng xanh xao, mờ
nhạt của ngọn lửa bị tù hãm trong tấm bùa hộ mệnh này.
Có cái gì tươi đẹp trước đây lúc này đang rập rờn sau
tấm hộ phù nhạt mờ và bệnh hoạn. Tôi tự hỏi liệu người
ngoài có ai tin tôi hay không khi tôi nói rằng trong những ngày
này ảo ảnh của ngọn lửa đã thúc đẩy tôi với một sức
mạnh không thua gì nhục dục. Tuy vậy, có phải là điều
tự nhiên hay không khi ý chí sống còn của tôi hoàn toàn dựa
vào ngọn lửa là nhục dục của tôi nữa cũng phải hướng
về phía ấy? Dục vọng của tôi đã un đúc hình dáng dịu
dàng, mềm mại của ngọn lửa; và ý thức được rằng tôi
đang ngắm nhìn chúng qua cây cột đen xì, bóng lộn những
lưỡi lửa đang dịu dàng, uốn éo trong lúc này. Thực là
mong manh những bàn tay, bàn chân, lồng ngực của ngọn lửa
ấy.
Tối
18 tháng 6 tôi nhét tiền vào trong túi lẻn ra ngoài chùa và
cắm đầu đi về khu Bắc Tân Địa, thường được gọi là
Gobancho. Tôi đã nghe nói là ở đây người ta tính tiền rất
rẻ và đối đãi rất thân thiết đối với các bọn chú
tiểu trong chùa. Từ Lộc Uyển tự đến Gobancho phải đi bộ
mất hơn nữa giờ. Trời đêm ẩm ướt. Mặt trăng lờ mờ
chiếu qua nền trời đầy mây mỏng. Tôi mặc áo chẽn, quần
kaki và đi guốc. Dĩ nhiên một vài giờ sau tôi phải trở
về chùa vẫn ăn mặc quần áo y hệt như thế. Làm sao tôi
có thể thuyết phục được chính mình rằng cái thằng tôi
gói mình trong những quần áo như thế lại là một con người
hoàn toàn khác biệt.
Thật
rõ ràng chỉ vì muốn sống nên tôi đang dự định thiêu hủy
Kim Các Tự, nhưng việc tôi đang làm lúc này thì lại đúng
là sự chuẩn bị để chết. Cũng như một thằng trai tân
đã quyết ý tự sát phải mò đến nhà thổ cho nên bây giờ
tôi hớn hở đến xóm lầu xanh. Nhưng xin cứ an tâm. Khi một
thằng con trai như thế mò tới một ổ điếm thì thật chẳng
khác gì hắn đã ký tên mình vào một tờ giấy để những
khoảng trống, mặc dù có thể mất tân, song hắn quyết chẳng
bao giờ trở thành “một con người khác.”
Bây
giờ tôi không còn phải sợ cái sự nhỡ tầu ấy nữa - cái
sự nhỡ tầu mà tôi đã nhiều lần trải qua vào giây phút
khẩn trương khi Kim Các Tự len vào giữa tôi với đàn bà
con gái. Bởi lẽ tôi chẳng còn có một mộng mơ hoặc mục
đích nào tham dự vào nhân sinh bằng đàn bà con gái nữa.
Cuộc đời tôi bây giờ đã đóng chặt vào cái vật khác
ấy, do đó, tất cả hành vi của tôi trước kia chỉ là những
thủ tục âm u, thảm đạm đã đưa đẩy tôi tới tình trạng
hiện tại.
Cứ
thế tôi vừa nói với mình vừa đi về phía Gobancho. Nhưng
rồi thì những lời nói của Kashiwagi vang dậy trong tôi: “Bọn
buôn phấn bán hương chẳng có lên giường với khách tìm
hoa vì thương yêu gì cả. Những ông già lụ khụ, những tên
ăn mày, những thằng chột mắt, những cậu bảnh trai - cả
ngay những thằng hủi một khi chưa biết sự thực. Sự đối
đãi bình đẳng này đã khiến cho nhiều người cảm thấy
yên lòng và khiến họ sẽ ưng chịu ngay người đàn bà đầu
tiên mà họ gặp. Tuy nhiên, cái bình đẳng tính này không
làm tớ ưng ý chút nào cả. Tớ không sao chịu được cái
ý nghĩ rằng một người đàn bà lại tiếp đón bình đẳng
một người đàn ông hoàn toàn bình thường và một người
nào đó giống như chính tớ làm như thể hai đứa có cùng
một tư cách như nhau. Tớ thấy việc đó chẳng khác gì sự
tự mình bôi nhọ, khinh nhờn hết sức đáng sợ.”
Nghĩ
đến những lời nói này bây giờ tôi thấy bực mình vô kể.
Thực vậy, trường hợp khác hẳn trường hợp Kashiwagi. Ngoài
tật nói lắp ra, tôi là một con người đều đặn, bình thường,
và không có lý do gì tôi lại chẳng coi sự thiếu hấp dẫn
của mình chỉ là một thứ xấu xí hết sức tầm thường.
Tôi
tự hỏi không biết đàn bà có một trực giác nào khiến
họ nhận thấy ngay những dấu vết của kẻ tội phạm có
thiên tài trên vầng trán xấu xí của tôi hay không? Ý nghĩ
ngớ ngẫn này tức khắc làm tôi khó chịu. Tôi chậm bước
chân lại. Cuối cùng tôi thấy chán nghĩ ngợi và chẳng còn
rõ liệu mình có còn nuôi dưỡng ý định làm cho mình mất
tân rồi thiêu hủy Kim Các Tự hoặc thiêu hủy Kim Các Tự
để rồi mất tân hay không nữa. Thế rồi chẳng ra đâu vào
đâu tôi chợt nghĩ đến lời nói cao đẹp tempa kannan (“Thiên
bộ gian nan”) và trong lúc cất bước trên đường tôi cứ
lẫm nhẩm mãi Thiên bộ gian nan, Thiên bộ gian nan. Chẳng mấy
chốc tôi tới một chỗ mà các phòng chơi bi da ồn ào, sáng
choáng và các quán rượu nhường chỗ cho một dẫy phố dài
tối om, im lìm từng quãng đều đặn lại có những ngọn
đèn sáng trưng và những ngọn đèn giấy trắng đục rọi
sáng. Từ lúc ra khỏi chùa, tôi không làm sao xua đuổi được
cái không tưởng là Uiko hãy còn sống và nàng đang náu mình
chính ở nơi cái không tưởng này. Điều đó đã đem lại
cho tôi nhiều sức mạnh. Vì đã quyết tâm thiêu hủy Kim Các
Tự nên tôi quay lại cái trạng thái tươi mới, trắng trong
vào thời kỳ niên thiếu của mình và tôi nghĩ rằng bây giờ
nếu mình có gặp lại những con người và sự vật mà mình
đã gặp ngay từ buổi đầu cuộc sống thì lại càng hay càng
tốt chứ sao.
Tờ
bây giờ trở đi tôi sẽ sống thực. Tuy nhiên kể cũng lạ
lùng là hết ngày nay sang ngày khác đủ thứ ý nghĩ không
lành đã dồn đến tụ tập trong tôi, và tôi cảm thấy rằng
thần chết có thể đến thăm tôi vào bất cứ lúc nào. Tôi
chỉ cầu mong cái chết buông tha cho tôi cho đến khi nào tôi
phóng hỏa đốt xong Kim Các Tự cái đã. Trước kia tôi ít
khi đau ốm và bây giờ tôi không thấy dấy hiệu ốm đau
nào cả. Tuy vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy rõ rệt là
sự kiểm soát những điều kiện khác nhau khiến cho tôi sống
trên đời là cái trách nhiệm đè riêng trên vai tôi. Riêng
mình tôi phải chịu đựng cái gánh nặng của trọng trách
này.
Hôm
trước, khi đang quét dọn, tôi đã bị một cái dầm tre ở
cán chổi đâm vào ngón tay, và cứ riêng một vết thương
nhỏ xíu này thôi cũng đã đủ làm cho tôi khó chịu. Tôi
nhớ đến tuyện một thi nhân đã chết chỉ vì bị một cái
gai hoa hồng đâm vào ngón tay. Những con người tầm thường
quanh tôi chẳng bao giờ chết vì những lý do như thế. Nhưng
tôi đã trở nên một con người quí giá và thực không thể
nói trước là vận mệnh đã dành sẵn cho tôi một cái chết
như thế nào. May thay ngón tay tôi không sưng mủ; và hôm nay
khi bấm mạnh vào, tôi chỉ cảm thấy hơi đau một chút mà
thôi.
Tôi
chẳng cần nói thêm là trước khi đến xóm Gobancho, tôi đã
chú ý không xao lãng một sự giữ gìn vệ sinh nào hết. Hôm
trước tôi đã tới một hiệu thuốc tại khu khá xa thành
phố, nơi không ai biết mặt tôi hết và đã tự mình mua một
gói ống bọc băng cao su phòng ngừa vi trùng. Nhưng cái màng
ống bọc cao su bợt bợt mỏng teo này có một mầu sắc thực
là ốm yếu. Tối hôm trước tôi đã lấy ra một cái và lắp
thử. Vì cái “vật đó” của tôi ngỏng lên giữa những
đồ vật khác trong phòng - bức tranh Phật trên đó tôi đã
nghịch ngợm lấy bút chì đỏ bôi quết nghuệch ngoạc, tấm
lịch của Hiệp Hội Du Lịch Kyoto, những bản kinh văn dùng
trong các khóa lễ Thiền lâm chẳng may đã giở ra đúng vào
đoạn có bài kệ Phật Đính Tôn Thắng Đà La Ni, những chiếc
quần đùi bẩn thỉu, chiếc chiếu rơm rách nát của tôi -
trông nó giống như một bức tượng Phật ủ ê nào đó, nhẵn
thín, xam xám, không có mắt mũi gì cả. Hình dạng xấu xí
của nó làm tôi nhớ tới cái hành vi hung bạo gọi là “La
thiết” - cắt của quí - mà ngày nay chỉ còn thấy ghi chép
trong những cuốn sách sử nào đó từ xưa để lại.
Tôi
đi vào một phố hẻm hai bên đèn giấy treo thành hàng. Khoảng
hơn một trăm căn nhà dọc theo phố này đều xây cất theo
cùng một kiểu. Người ta bảo nếu một tội nhân nào đó
muốn trốn tránh luật pháp, mà đem thân phận mình trao phó
cho tay anh chị cai quản khu này thì sẽ có thể ẩn náu rất
dễ dàng. Hiển nhiên là khi có người tìm bắt, tay anh chị
ấy chỉ cần bấm vào một cái nút, chuông sẽ reo vang trong
tất cả mọi căn nhà chứa báo nguy cho kẻ phạm tội biết
là cảnh sát đang lùng bắt.
Nhà
nào cũng có một cửa liếp tối om bên cạnh cửa ra vào, và
nhà nào cũng có hai tầng. Những mái nhà lợp ngói thảy đều
cao bằng nhau cũ kỹ, nặng nề vươn cao mãi lên dưới mặt
trăng ấm áp. Những tấm mành xanh thẫm với những chữ “Tây
Hiên” nhuộm trắng treo lửng lơ ở mỗi cửa ra vào và phía
sau những bức mành này người ta có thể nhìn thấy những
mụ Tú trong các lầu xanh khác nhau mặc áo khoác ngoài màu
trắng và đang khom người về phía trước để dòm ngó những
người đi lại.
Tôi
chẳng có một chút quan niệm nào về khoái lạc. Tôi cảm
thấy dường như trật tự thông thường của sự vật đã
xa lìa tôi hết, dường như tôi đã tự mình xa lìa tất cả
mọi hàng ngũ; và giờ đây hình như tôi đang kéo lê đôi
chân mỏi mệt qua một vùng đất hoang lạnh hoàn toàn. Cái
dục vọng ẩn núp trong tôi đã ôm chặt đầu gối mà quỳ
xuống chìa cho tôi thấy cái lưng lì lượm. Tôi nghĩ là mình
có nghĩa vụ phải tiêu hết món tiền này tại chỗ này. Tôi
đã tiêu hết món tiền mà Lão sư phụ đã cho tôi để trả
học phí và như thế tôi sẽ cho Lão sư phụ một cái cớ
rất là hợp lý để tống cổ tôi ra khỏi chùa. Tôi thấy
rõ rành rành là không hề có một mâu thuẫn đặc biệt nào
trong ý nghĩ này; tuy nhiên nếu bản tâm tôi như vậy điều
đó có nghĩa là tôi hẳn phải yêu thương Lão sư phụ lắm
lắm.
Có
thể lúc đó vẫn còn quá sớm nên chưa có đông khách mò
tới Gobancho. Dầu sao đi nữa ngoài đường phố có ít người
một cách lạ kỳ. Tiếng guốc tôi đi vang lên lóc cóc trong
làn không khí ban đêm.
Giọng
nói đều đều của mụ Tú dường như kéo theo qua làn không
khí ẩm ướt giăng mắc trong mùa mưa khi họ réo gọi những
người tình cờ đi qua. Ngón chân tôi bám chặt lấy đôi quai
quốc đã lỏng lẻo. Và tôi nghĩ thế này. Giữa đám đèn
sáng muôn màu muôn vẻ ấy mà tôi đã nhìn thấy từ đỉnh
núi Fudo vào cái đêm chiến tranh chấm dứt, chắc hẳn tôi
đã ngắm những ngọn đèn của chính đường phố này.
Tại
chính chỗ lúc này tôi đang đi tới hẳn có Uiko đang chờ
đợi tôi. Tại một ngã tư tôi nhìn thấy một căn nhà gọi
là Otaki (Đại Lang). Chẳng chút đắn đo tôi chọn bừa chỗ
này và bước qua những tấm màn cửa màu xanh đi vào trong.
Tôi chợt thấy mình đứng trong một căn phòng lát gạch. Có
ba cô gái đang ngồi ở cuối phòng. Trông họ thật giống
như những người đang chán chường, mỏi mệt ngồi chờ xe
lửa vậy. Một người trong bọn mặc quốc phục quấn một
chiếc khăn quàng quanh cổ. Hai người kia mặc đầm. Một người
đang cuối xuống; cô ả đã kéo chiếc bít tất dài xuống
thấp và đang gãi lấy gãi để bắp chân. Không có Uiko ở
đây. Việc nàng không có mặt ở đây khiến tôi cảm thấy
an lòng dễ chịu.
Cô
gái đang gãi chân ấy ngẩng mặt lên trông giống một con
chó được ai gọi đến. Lớp phấn trắng dầy và lớp sơn
đỏ chát trên khuôn mặt tròn xoe đầy đặn của nàng trông
nổi bật lên như trong bức vẽ một đứa trẻ con. Tuy nhiên
nói ra thì có vẻ kỳ cục, nàng đã nhìn tôi với dáng vẻ
có thiện ý thực sự. Đó đúng là cái nhìn đối với một
người đi qua trước mặt mình ở góc đường. Ánh mắt nàng
tuyệt nhiên không hề nhận thấy cái dục vọng đang tràn
dâng trong tôi.
Vì
không có Uiko ở đó, nên tôi thấy chọn cô gái nào cũng vậy
mà thôi. Tôi vẫn chưa hết mê tín là nếu tôi mà chọn lựa
hay đợi chờ trước là thế nào tôi cũng lại sẽ thất bại.
Cũng như những cô gái này không hề chọn lựa khách hàng
tôi cũng không thể chọn lựa cô gái nào cả. Tôi phải chắc
bụng rằng cái quan niệm khủng khiếp về cái đẹp, thường
làm cho con người trở nên bất lực khi hành động, vào lúc
này sẽ không len vào ngăn cách tôi với ý định của tôi.
“Cậu
thích em nào?” mụ Tú nói. Tôi chỉ người con gái lúc nãy
ngồi gãi chân. Sự ngứa ngáy ở chân người con gái ấy -
có lẽ vì bị một con muỗi vo ve bay lượn quanh sàn nhà đốt
chân, thực đã là cái tơ duyên giữa tôi với lại cô nàng.
Vì sự ngứa ngáy đó, nàng sẽ được quyền làm chứng nhân
cho tôi sau này. Người con gái đứng dậy và đi tới gần
tôi, nhẹ nhàng vuốt tay áo chẽn của tôi. Tôi nhận thấy
nàng chúm môi cười.
Trong
khi trèo những bậc thang tối om, cũ kỹ để lên tầng hai,
một lần nữa tôi lại nghĩ đến Uiko. Tôi lan man nghĩ vào
lúc này nàng đã đi ra khỏi cái thế giới đang tồn tại
vào lúc này nàng đã đi ra khỏi cái thế giới đang tồn tại
vào lúc này như thế nào. Vì nàng đã đi khỏi nơi này, cho
nên dù cho có đưa mắt tìm kiếm nàng ở bất cứ chỗ nào
chắc chắn là tôi chẳng thể tìm ra nàng nữa. Tôi thấy hình
như Uiko đã đi ra ngoài thế giới này của chúng ta để đi
tắm hoặc làm một việc gì đại khái cũng tầm thường đơn
giản như thế.
Trong
lúc Uiko hãy còn sống tôi cảm thấy dường như nàng có thể
tự do ra vào cái thế giới nhị trùng như thế này. Ngay cả
vào lúc xảy ra tấn bi kịch ấy, đúng vào lúc tưởng như
nàng đang cự tuyệt thế giới, nàng đã hơn một lần chịu
đựng thế giới. Đối với Uiko có lẽ cái chết chỉ là
một việc tầm thường. Chỗ máu nàng để lại trên độ
điện của Kim Cương viện có lẽ đã là một cái gì giống
như bụi phấn trên cánh con bươm bướm rơi rớt lại vào
buổi sáng khi mình mở cửa sổ ra và con bươm bướm ấy tức
khắc bay đi.
Ngay
giữa tầng nhì có một lan can vây quanh một khoảng trống
nơi luồng không khí thường từ dưới sân trong bốc lên;
một dây phơi quần áo giăng suốt từ đầu gồi này tới
đầu gồi kia trên đó treo một cái váy đỏ, một vài tấm
quần áo lót của đàn bà và một cái áo ngủ. Căn phòng tối
như bưng và cái áo ngủ lờ mờ buông xuống trông giống như
một hình người.
Một
cô gái đang ca hát trong một căn phòng. Tiếng ca của cô bé
bềnh bồng êm nhẹ; thỉnh thoảng có giọng đàn ông lạc
lõng chen vào. Lời ca chấm dứt và một lúc im lặng ngắn
ngủi tiếp theo. Rồi người con gái phá lên cười như thể
một sợi dây đã bị giựt đứt.
“Haruka
đó,” người con gái ngồi với tôi quay về phía mụ chủ
mà nói.
“Con
ấy lúc nào cũng thế mà,” mụ chủ nói, “lúc nào cũng
thế.” Nói rồi mụ quay phắt tấm lưng vuông như cánh phản
về phía căn phòng, nơi phát ra tiếng cười. Họ chỉ cho tôi
một căn phòng nhỏ bé chán ngắt. Một thứ bục gỗ chiếm
chỗ của cái giường và trên đó ai đã tình cờ đặt một
bức tranh thần đem may mắn Hoteil (Bố Đại) và hình một
con mèo đang uốn éo. Trên tường có dán một bản điều lệ
tỉ mỉ và còn có treo cả tấm lịch nữa. Qua cửa sổ mở
toang thỉnh thoảng mình có thể nghe thấy tiếng chân những
khách tìm hoa khi họ lang thang qua đường phố này.
Mụ
chủ hỏi liệu tôi muốn ở lại chốc lát hay suốt cả đêm.
Đi một lần phải trả bốn trăm yen. Tôi gọi đem ít rượu
và bánh ngọt. Mụ chủ đi xuống dưới nhà lấy những thứ
tôi gọi nhưng người con gái vẫn chưa đến ngồi bên tôi.
Mãi đến lúc mụ chủ mang rượu đi lên và cô gái đến ngồi
cạnh bên tôi trên chiếc chiếu rơm. Bấy giờ nhìn nàng gần
hơn tôi mới thấy dưới mũi nàng hơi đỏ vì xoa gãi dữ
quá. Hiển nhiên, cô ả có thói quen giết thì giờ bằng cách
xoa gãi không những đôi chân và khắp cả mình mẩy. Rồi
ngắm kỹ, tôi thấy cái mầu đo đỏ này có thể chỉ là
một vệt quệt của lớp son dầy đặc. Xin đừng ngạc nhiên
về truyện tôi đã quan sát tỉ mỉ đén thế. Xét cho cùng,
đây là lần đầu tiên tôi mò đến nhà chứa và tôi háo
hức tìm kiếm tất cả những chứng cứ của sự khoái lạc
mà tôi có thể nhìn thấy. Tôi nhìn thấy mọi vật rõ rành
rành như một bảng khắc bằng đồng; từng chi tiết đều
hiển hiện rõ ràng tại một cự li nhất định trước mắt
tôi.
“Trước
đây em đã gặp cậu rồi phải không?” người còn gái nói
sau khi xưng tên là Mariko.
“Tôi
mới tới đây lần đầu tiên cô ạ.”
“Thực
hả? Lần đầu tiên cậu tới một chỗ thế này ư?”
“Phải,
cứ cho là thế đi. Thảo nào tay cậu cứ run lập cập.”
Cho
đến lúc nàng nói câu này tôi mới nhận ra rằng bàn tay đang
nâng ly rượu của tôi đang run lẩy bẩy.
“Nếu
quả như vậy, Mariko ạ,” mụ chủ xía lời “đêm nay mày
gặp may rồi phải không?” “Vâng, con sẽ biết có thực
thế hay không ngay đây mà,” Mariko lững lờ nói. Trong lối
nói của cô ả không có lấy một tí gì là khêu gợi cả,
và tôi nhận thấy tâm hồn Mariko đang thơ thẩn rong chơi ở
một nơi nào đó chẳng hề quan hệ tới thân xác tôi hoặc
thân thể nàng hết, giống như một đứa trẻ gái bị tách
ra khỏi đám bạn bè đang chơi với nó vậy. Mariko mặc một
chiếc áo bluse xanh lợt và một cái áo màu vàng. Nhìn hai bàn
tay nàng, tôi thấy chỉ có hai ngón tay cái bôi thuốc đánh
móng tay màu đỏ. Có lẽ nàng đã mượn người bạn cái bàn
chải đánh móng tay và đánh móng tay của mình chơi cho vui.
Thế
rồi hai đứa chúng tôi leo lên giường. Mariko gác một chân
lên cái nệm trải rộng trên chiếc chiếu rơm và kéo sợi
dây dài lủng lẳng bên cạnh chiếc chụp đèn. Mầu sắc rực
rỡ của chiếc nệm vải bông in hình lòe loẹt hiện rõ mồn
một dưới ánh đèn điện. Một con búp bê của Pháp núp mình
trong hốc tường lộng lẫy.
Tôi
cởi quần áo một cách vụng về. Mariko choàng qua vai một
cái áo ngủ rộng thùng thình màu hồng nhạt và khéo léo trút
bỏ xiêm áo ở bên trong. Gầm giường ngủ có một bình nước
lã, tôi làm một hơi mấy cốc liền. Đang quay mặt phía khác,
Mariko nghe thấy tiếng uống nước ừng ực.
“Ồ,
anh là thằng bợm nước hả!” nàng vừa nói vừa cười sằng
sặc.
Khi
hai đứa đã vào giường và nằm quay mặt vào nhau, cô ả
khẽ đặt ngón tay lên đầu mũi tôi vừa cười vừa hỏi:
“Có thực đây là lần đầu tiên anh đi chơi không đấy?”
Dù
ánh đèn cạnh giường lờ mờ tôi cũng không quên lõ mắt
ngắm nhìn. Vì nhìn như thế này mới chứng tỏ rằng tôi
đang sống. Ngoài ra, đây là lần đầu tiên tôi được nghe
nhìn thấy mắt người khác gần ngay mắt mình cho đến thế.
Cái viễn cận pháp vẫn hằng chi phối thế giới của tôi
đến lúc này đã bị sụp đổ. Một kẻ lạ mặt đã táo
bạo xông vào cuộc sống của tôi. Cái hơi ấm áp, mùi thơm
rẻ tiền trên da thịt tấm thân người lạ mặt ấy đã phối
hợp lại dần dần tràng dâng cho đến khi nhận chìm toàn
thể con người tôi trong đó. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy
rằng thế giới của tha nhân có thể tan biến giống như thế
này.
Tôi
đang bị đưa đẩy, giống như một đơn vị phổ biến thông
thường của toàn thể. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng rằng
có một ai đó lại có thể đưa đẩy tôi như thế này. Sau
khi tôi đã cởi hết quần áo, trút bỏ nhiều thứ phụ thuộc
khác nữa - cả cái tật nói lắp, vẻ xấu xí cùng sự nghèo
nàn nữa - tối hôm đó, tôi đã thực sự đạt được khoái
cảm thể xác, tuy nhiên tôi vẫn không tin chính tôi là người
đã hưởng niềm khoái cảm ấy. Xa xa một cảm giác từ lâu
từng tránh né tôi bây giờ dâng lên tràn trề và sụp đổ
ngay sau đó. Tôi vội tách mình ra khỏi thân thể cô gái rồi
tựa cằm lên chiếc gối. Cả một bên đầu tê tê vì lạnh,
tôi lấy nắm tay vỗ nhẹ vào chỗ ấy. Thế rồi tôi hoàn
toàn có cảm giác rằng tất cả đều bỏ rơi tôi trong tình
trạng vật vờ. Tuy nhiên, tất cả vẫn chưa đủ sức làm
tôi rơi nước mắt.
Sau
khi hai đứa đã hành sự xong xuôi, chúng tôi nằm bên nhau
trò chuyện. Tôi mơ màng nghe tiếng cô gái kể truyện nàng
đã từ Nagoga trôi dạt tới nơi này như thế nào. Nhưng tất
cả ý nghĩ của tôi đều hướng thẳng về Kim Các Tự. thực
ra đấy chỉ là những ý nghĩ trừu tượng về ngôi chùa hoàn
toàn khác hẳn những ý nghĩ quen thuộc, tù đọng, cặn bã,
đầy nhục cảm của tôi.
“Anh
không trở lại nơi này nữa, phải không?” Mariko hỏi, và
qua lời nói của nàng, tôi cảm thấy nàng già hơn tôi ít
ra một hai tuổi. Đúng, rõ ràng là nàng phải già hơn tôi.
Hai bầu vú nàng ngồn ngộn trước mắt tôi, ướt đẫm mồ
hôi. Chỉ là hai khối thịt, hai bầu vú Mariko và quyết chẳng
bao giờ có thể trải qua sự biến mạo lạ kỳ để trở
thành Kim Các Tự. Tôi lấy đầu ngón tay rụt rè sờ vào cặp
vú nàng.
“Chắc
là anh thấy những cái này lạ mắt lắm phải không?” Mariko
nói. Sau đấy, nàng ngồi nhỏm dậy chăm chăm nhìn vào một
bên ngực rồi đưa tay nâng vú lên và lắc nhẹ như thể đang
chơi đùa với một con vật nhỏ bé. Thịt da nàng rung rinh
nhè nhẹ làm tôi nhớ lại mặt trời chiều trên vịnh Maizuru.
Cung cách mặt trời chiều biến sắc thật nhanh hình như kết
hợp trong lòng tôi cùng với tính chất biến đổi mau lẹ
của thịt da người con gái. Tôi cảm thấy yên lòng khi tưởng
tượng rằng giống như mặt trời chiều đang bị chôn vùi
trong những lớp mây chập chùng, dầy đặc, lớp da thịt rung
trước mắt tôi kia chẳng mấy chốc rồi cũng sẽ vùi sau
trong nấm mồ âm u của đêm tối.
Hôm
sau tôi lại mò đến cùng “cửa hiệu” ấy và đòi cho được
cũng cô gái ấy. Chẳng phải vì tôi hãy còn khối tiền, mà
còn vì cái hành vi tôi mơi làm lần đầu tiên ấy hình như
chẳng thấm thía vào đâu so với sự sướng khoái ngây ngất
mà tôi vẫn hằng tưởng tượng, vì thế tôi thấy cần là
phải thử lại một lần nữa và mang cái hành vi ấy gần
hơn chút nữa với nguồn vui thú ngất ngây trong tưởng tượng
của tôi. Một trong nhiều điểm khác người của tôi là những
hành vi tôi thực hiện trong cuộc đời luôn luôn có khuynh
hướng kết liễu y như những bản sao trung thực của những
gì tôi vẫn tưởng tượng. Hoặc hơn thế, tôi muốn nói không
phải sự tưởng tượng mà là nguồn gốc những ký ức của
mình. Tôi không làm sao vượt qua được cái cảm giác là mỗi
thí nghiệm mà tôi trải qua trong đời đều là được chính
tôi thí nghiệm trước đó dưới một hình thức thú vị hơn.
Ngay cả trong trường hợp một hành vi nhục thể như thế
này, tôi cảm thấy rằng vào lúc nào đó và tại nơi nào
đó mà tôi không thể nhớ rõ nữa - có lẽ cùng với Uiko
- tôi đã được biết một hình thức khoái lạc nhục thể
mãnh liệt hơn, một khoái cảm đủ khiến cho sướng đến
tê dại cả người. Việc này đã khơi nguồn những niềm
vui sau này của tôi, và thực thế, những niềm vui ấy chỉ
có nghĩa như là việc lấy tay vốc từng vốc nước ra khỏi
quá khứ.
Thực
vậy tôi cảm thấy rằng một lúc nào đó trong quá khứ xa
xôi tôi đã mục kích tại nơi nào đó một ánh hoàng hôn
tráng lệ không gì sánh kịp. Có phải vì tội của tôi nên
những buổi mặt trời lặn đã nhìn thấy về sau chẳng nhiều
thì ít luôn luôn nhạt mờ?
Hôm
qua cô gái đã tiếp đãi tôi rất nồng hậu như thể tôi
là khách hàng quen thuộc vì thế trong lần viếng thăm ngày
hôm nay tôi đã mang theo một quyển sách nhét vào túi áo. Quyển
này thuộc loại sách bỏ túi mà tôi dã mua được mấy hôm
trước ở một hiệu sách cũ. Đó là quyển Tội Phạm và
Hình Phạt của Bequaria. Cuốn này do môt học giả người Ý
chuyên về hình pháp ở thế kỷ mười tám viết; nó đã trở
thành một món ăn cổ điển và Khải mông chủ nghĩa và Hợp
lý chủ nghĩa; sau khi đọc được mấy trang tôi đã vất nó
sang một bên. Tuy vậy, tôi chợt nghĩ ra rất có thể cô bé
lại thích thứ nhan đề cuốn sách ấy.
Mariko
chào đón tôi cũng với nụ cười mủm mỉm như hôm qua. Vẫn
nụ cười ấy, nhưng “hôm qua” thì chằng hề để lại
một dấu vết nào. Vẻ thân thiện của nàng đối với tôi
là sự thân thiện mà thiên hạ bầy tỏ với một người
lạ khi tình cờ nhìn thấy ở một góc đường phố. Có lẽ
chỉ vì thân hình cô gái này tự nó cũng giống như một góc
phố.
Tôi
ngồi trong một phòng nhỏ với Mariko và mụ chủ. Chúng tôi
nhấm nháp chút rượu và tôi cũng tỏ ra khéo léo trong cách
trao đổi ly rượu theo cổ lệ.
“Cậu
truyền ly rất đúng cách khi đưa cho cô bạn tình của câu,
có đúng không nào?” Mụ chủ nói: “Trông cậu hãy còn trẻ
nhưng tôi nhận thấy cũng ra dáng lắm đấy!”
“Nhưng,
nếu mỗi ngày anh đều mò đến đây như thế này”, Mariko
góp truyện, “liệu có bị Hòa thượng trách mắng hay không?”
Như
vậy là họ đã biết rõ tông tích tôi rồi, tôi nghĩ; họ
biết tôi là người trong một ngôi chùa.
“Này,
đừng tưởng em không khám phá ra đâu!” Mariko nói khi nhận
tấy tôi có vẻ ngạc nhiên. “Bây giờ tất cả thanh niên
đều để tóc dài theo lối công tử. Hễ thấy chàng nào cắt
tóc cụt lủn sát da đầu như anh đây này là mình có thể
nói ngay là anh chàng là người trong một ngôi chùa nào đó.
Tụi em biết đủ mọi truyện về bọn họ trong những nhà
như thế này. Vì lẽ đây là nơi những người bây giờ đã
trở nên những tu sĩ nổi tiếng thường tới lui khi họ còn
trẻ tuổi. Mà này có nên hát một bài nghe chơi không nhỉ?”
Thế là Mariko liền hát ngay một bài dân ca nói về những
công việc khác nhau của một người đàn bà con gái nào đó
ngoài hải cảng.
Sau
đó hai đứa chúng tôi leo lên giường và tôi đã hành sự
thật trơn tru trong cái khung cảnh bây giờ đã trở nên quen
thuộc. Lần này tôi thực sự cảm thấy đã thấp thoáng thấy
niềm lạc thú; tuy nhiên, đó không phải thứ khoái lạc tôi
hằng tưởng tượng, nhưng chỉ là cảm giác thỏa mãn hỗn
độn, ồn ào mà tôi đang tự thích ứng với sự đọa lạc.
Khi
hành sự xong xuôi Mariko mới cho tôi một lời răn dậy giọng
đầy cảm thương khiến càng thấy rõ là nàng lớn tuổi hơn
tôi. Lời nàng nói làm tôi cụt hứng trong chốc lát.
“Em
nghĩ là anh chẳng nên đi lại quá nhiều một nơi như thế
này”. Mariko nói. “Anh là người đứng đắn đàng hoàng.
Em dám chắc như vậy. Không nên say đắm với loại thú vui
này, anh ạ. Anh nên đem nghị lực dồn hết vào công việc
của mình. Đó là điều duy nhất chao anh. Dĩ nhiên, em thích
anh lại đây chơi với em. Nhưng anh hiểu tại sao em lại đang
nói với anh như thế này chứ? Vì em coi anh như một người
em trai vậy”.
Có
lẽ Mariko đã học được lối nói năng này trong một cuốn
tiểu thuyết ba xu nào đó. Lời nói của nàng chẳng có một
chút cảm xúc sâu xa đặc biệt nào hết. Mariko chỉ bịa ra
một câu truyện tình tự nho nhỏ hy vọng lôi cuốn tôi vào
thôi. Hẳn là cô nàng đang chờ đợi tôi đáp lại bằng những
giọt nước mắt.
Nhưng
tôi đã không làm như vậy. Thay vì thế, tôi chộp lấy cuốn
Tội Phạm và Hình Phạt ở bên gối và dí vào trước mắt
nàng. Mariko ngoan ngoãn giở đọc lướt mấy trang. Rồi chẳng
nói chẳng rằng nàng đặt quyển sách lại chỗ cũ. Nàng hoàn
toàn không thèm để ý đến nó nữa.
Tôi
chỉ ước mong sao Mariko sẽ cảm thấy một vài dự tưởng
nào đó về sự run rủi của vận mệnh đã khiến nàng gặp
tôi. Tôi ước mong rằng nàng sẽ đi gần tới chỗ ý thức
thêm chút nữa là nàng đang giúp một tay vào sự phá hủy
thế giới. Dù sao đi nữa cả cô gái này cũng không thể coi
câu truyện này là câu truyện không đáng quan tâm. Tôi thấy
sốt ruột và sau đã phải buột ra điều đáng lẽ tôi không
nên nói: “Trong một tháng - phải, trong vòng một tháng thôi,
em sẽ thấy báo chí nói nhiều đến anh. Xin hãy nghĩ đến
anh khi việc ấy xẩy ra”.
Nói
xong tôi thấy tim mình nện thình thịch. Nhưng Mariko lại phá
ra cười. Nàng cười to đến nỗi rung rinh cả hai bầu vú,
và nàng liếc tôi và cố gắng cắn ống tay áo để nín tiếng
cười, nhưng một lần nữa nàng lại phá ra cười sằng sặc
đến độ run rẩy cả người. Tôi biết chắc chính Mariko
cũng chẳng thể nào cắt nghĩa được tại sao nàng lại thấy
buồn cười cho đến thế. Thấy vẻ mặt tôi ngỡ ngàng, nàng
mới dứt tiếng cười.
“Có
cái gì buồn cười thế hở?” Tôi hỏi. Thực là một câu
hỏi ngớ ngẩn.
“Anh
là thằng nói dối chính tông, có phải không? Ô, thực buồn
cười quá! Anh thực là thằng nói dối kinh khủng!”
“Anh
đâu có nói dối điều gì”.
“Ô,
thôi xin ngừng lại đi!” Mariko vừa nói vừa phá ra cười
một lần nữa. “Cười đến chết mất. Anh đang giết chết
em đó! Toàn là những lời nói láo. Ấy thế mà cái mặt anh
cứ nhơn nhơn ra được.”
Tôi
nhìn nàng cười. Có lẽ nàng buồn cười chỉ vì tôi đã
nói lắp một cách lạ lùng khi đặc biệt nói đến tương
lai. Rõ ràng là nàng hoàn toàn không hề tin những lời tôi
đã nói ra một chút xíu nào.
Mariko
chẳng có một chút tin tưởng nào hết. Giả như có một trận
động đất nổi lên ngay trước mắt, thì nàng cũng chẳng
tin nào. Nếu cả thế giới này có sụp đổ, riêng người
con gái này có lẽ sẽ thoát nạn. Bởi vì Mariko chỉ tin vào
những sự việc xảy ra theo lối lý luận riêng của mình.
Cái lối lý luận này không chấp nhận sự sụp đổ của
thế giới và vì thế nhất định chẳng bao giờ có một cái
gì có thể tạo cơ hội khiến Mariko nghĩ đến một điều
như thế. Về điểm này nàng giống Kashiwagi. Mariko là một
Kashiwagi đàn bà, một Kashiwagi không biết suy tưởng.
Câu
truyện giữa hai đứa chúng tôi chấm dứt thì Mariko nhỏm
dậy, hai vú vẫn phơi trần và nàng bắt đầu ngân nga giọng
mũi mà cất tiếng hát. Tiếng ngân nga giọng mũi của nàng
hòa điệu với tiếng vỗ cánh vù vù của một con ruồi đang
bay lượn quanh đầu nàng. Bay được một lúc tình cờ con
ruồi nhào xuống đậu trên một bầu vú nàng.
“Ồ,
nhột quá!” nói vậy xong nàng lại không có ý muốn xua đuổi
nó đi.
Mỗi
khi con ruồi đậu vào bầu vú nàng nó cứ bám chặt lấy.
Tôi lấy làm ngạc nhiên Mariko không tỏ vẻ khó chịu chút
nào hết khi bị một côn trùng âu yếm, vuốt ve, vỗ về theo
lối này.
Tôi
nghe tiếng mưa rơi trên mái hiên. Tiếng mưa rơi ào ào như
thể trời chỉ mưa ở riêng một nơi này mà thôi. Tôi nghe
tiếng mưa rời hình như đã sợ hãi đến mê lịm đi vì đã
lang thang tới khu phố riêng biệt và đã hoàn toàn lạc lói
không biết đường về. Tiếng mưa rơi đường như bị cắt
rời khỏi đêm tối bao la, cũng như tôi vậy; đó là âm thanh
thuộc về một thế giới cục hạn, giống như cái thế giới
nhỏ bé đang được ánh đèn lờ mờ để đầu giường soi
sáng.
Vì
loài ruồi ưa thích sự rữa nát liệu Mariko đã bắt đầu
rữa nát hay chưa? Có phải việc người con gái này hoàn toàn
không tin tưởng gì hết đã chứa đựng sự tan rửa ung thối
không? có phải vì thế nàng đã sống trong một thế giới
tuyệt đối của riêng mình mà con ruồi đã bay tới hỏi thăm
nàng hay không? Thật khó mà tôi hiểu nổi.
Rồi
đột nhiên Mariko lăn ra ngủ như chết. Nàng nằm đó giống
như một xác chết, và trên bầu vú tròn trặn lập lòa dưới
ánh đèn đầu giường, cả con ruồi nữa cũng nằm bất động;
hiển nhiên là nó cũng đã ngũ thiu thiu.
Tôi
không bao giờ trở lại Otaki. Tôi đã làm xong những việc
cần phải làm. Bây giờ chỉ còn có việc chờ Lão sư phụ
khám phá ra là tôi đã tiêu sạch tiền học phí ra làm sao
và tống cổ tôi khỏi chùa.
Tuy
nhiên, tôi không gợi cho Lão sư phụ biết tí gì cách tôi
tiêu nhẵn cả món tiền ấy. Tôi chẳng cần phải thú tội;
Lão sư phụ phải đánh hơi thấy hành vi của tôi mà tôi chẳng
cần phải thú tội gì hết.
Kể
ra tôi cũng thấy khó mà giải thích cho chính mình nghe tại
sao tôi muốn nhắm mắt tin tưởng, ỷ lại trọn vẹn vào
sức mạnh của Lão sư phụ một khi sự thể đã như thế.
Tại sao tôi lại muốn mượn sức mạnh của Lão sư phụ?
Tại sao tôi lại để cho quyết định tối hậu của mình
phải căn cứ vào việc bị Lão sư phụ tống cổ ra khỏi
chùa? Bởi lẽ, như tôi đã nói từ lâu, tôi đã sớm thấy
cái bản chất vô lực của Lão sư phụ.
Vài
ngày sau khi mò đến nhà chứa lần thứ hai, tôi đã có dịp
thấy rõ cái khía cạnh đặc biệt này của Lão sư phụ. Sáng
sớm hôm đó, trước khi cổng vườn mở, Lão sư phụ đi tản
bộ một vòng quanh Kim Các Tự. Đây là điệu thật hãn hữu
đối với ông. Ông đi lên về phía tôi và những chú tiểu
khác đang quét sân chùa và nói đôi ba lời thường lệ cảm
ơn sự cố gắng của chúng tôi. Thế rồi, trong tấm áo trắng
bong lạnh lẽo, ông bước lên những bậc thềm đá dẫn đến
Tịch giai đình. Hiển nhiên ông lên đó ngồi nghỉ một mình,
sửa soạn trà uống cho thảnh thơi tâm thần.
Bầu
trời mang dấu vết của một buổi bình minh chói lọi. Đó
đây, những đám mây hãy còn phản ánh đỏ rực đang băng
qua nền trời màu xanh. Trông thật như thể những đám mây
ấy vẫn chưa khắc phục được nỗi e thẹn, rụt rè của
chúng.
Khi
chúng tôi đã quét dọn xong xuôi, những người khác trong nhóm
quay về chính điện. Riêng mình tôi đi theo con đường dẫn
qua Tịch giai đình phía sau Đại Thư Viện. Tôi cầm chổi
và trèo lên các bậc thềm dẫn tới một điểm gần trà thất
trong Tịch giai đình. Cành lá hãy còn ướt sũng nước mưa
đổ xuống từ đêm hôm trước. Ánh sáng chói chan buổi sớm
phản chiếu trên vô số những giọt sương mai lốm đốm mầu
hồng nhạt trên các bụi cây gần đó, trông như loại dâu
đỏ trái mùa đã mọc ở đây. Những cái mạng nhện dăng
từ giọt sương mai này sang giọt sương mai khác cũng hơi nhuốm
hồng và tôi thấy chúng đang rung rinh.
Sau
khi ngắm nhìn hết một lượt, tôi thấy một nỗi cảm động
tràn ngập cõi lòng không biết vì sao những sự vật trên
trái đất này lại có thể phản ánh những màu sắc trên
trời một cách mẫn cảm cho đến thế. Ngay cả màn mưa thấm
đượm giăng mắc quanh khắp ngôi chùa cũng được hưởng
những gì từ trên trời cao buông xuống. Mọi vật đều ướt
át như thể chúng đã được hưởng nguồn ân sủng tràn trề
nào đó sự rữa nát đã pha trộn với vẻ mát tươi. Bởi
lẽ những sự vật trên trái đất này không hề biết một
phương thuật nào để cự tuyệt bất kỳ cái gì.
Sát
ngay bên Tịch giai đình ngọn Củng Bắc lâu nổi tiếng đứng
nghễu nghện; tên gọi tháp này bắt nguồn từ câu: “Bắc
thần chi cư kỳ sở. Chúng tinh củng chi - sao Bắc Đẩu ngự
đến nơi này trên các vì sao khác đều tới chầu phục”.
Tuy nhiên, Củng Bắc lâu bây giờ không còn giống cái tháp
thời xưa khi Yoshimitsu đang cầm quyền. Nó đã được tái
thiết khoảng một trăm năm trước đây theo hình tròn cho thích
hợp với các trà tịch. Vì Lão sư phụ không có ở trong Tịch
giai đình chắc hẳn ông phải ở trong Củng bắc lâu.
Tôi
không muốn một mình gặp Lão sư phụ. Tôi lặng lẽ đi theo
hàng rậu, cúi khom người để khỏi bị người nào ở phía
bên kia nhìn thấy.
Cửa
Củng Bắc lâu mở toang. Trong hộc tường tôi nhìn thấy bức
họa quen thuộc của Tanyama Okyo. Trong hốc tường cũng còn
có một bàn thờ Phật nho nhỏ đẽo bằng gỗ bạch đàn nhưng
đã bị năm tháng biến thành màu đen kể từ khi được rước
từ xứ Thiên Trúc về. Bên trái tôi nhìn thấy cái giá bằng
gỗ tang bằng đóng theo kiểu Rikyu, tôi cũng còn nhìn thấy
bức họa trên tấm cửa kéo nữa. Mọi vật đều ở đó như
tôi đã đoán trước chỉ trừ hình bóng Lão sư phụ là tôi
chẳng thấy đâu. Bất giác tôi nhô đầu khỏi hàng rậu và
nhìn quanh.
Trong
một góc phòng tối tăm gần cây cột lớn tôi nhìn thấy một
cái gì trông giống một cái bao lớn màu trắng. Nhìn kỹ hơn,
tôi thấy đó là Lão sư phụ, thân hình ông cúi gặp hẳn
xuống trong chiếc áo màu trắng; ông ngồi đó khom người
úp đầu xuống gối và hai ống tay áo dài phủ lên kín mặt.
Lão
sư phụ vẫn ngồi trong tư thế cũ hoàn toàn bất động. Nhưng
tôi là đứa đang đứng đó ngắm nhìn ông thì lại thấy
nôn nao cả người vì một tình cảm dạt dào.
Ban
đầu tôi nghĩ là Lão sư đã lâm bệnh kịch liệt cấp kỳ
và hiện đang mê sảng. Tôi phải đến bên ông ngay tức khắc
và sẵn sàng giúp đỡ ông. Thế nhưng vừa có ý nghĩ như
thế thì có một cái gì nắm giữ tôi lại. Tôi chẳng còn
chút yêu thương nào đối với Lão sư và kể từ ngày mai
trở đi tôi có thể thi hành cái quyết tâm phóng hỏa đốt
chùa vào bất cứ lúc nào. Trong những trường hợp như thế
này mà đến giúp đỡ ông thì thật chỉ là đạo đức giả.
Hơn nữa, lại có sự nguy hiểm là nếu quả thực là tôi
mà giúp đỡ ông thì hòa thượng sẽ cảm tạ và yêu thương
tôi và kết quả là tôi sẽ mềm lòng không thực hiện được
quyết định của mình nữa.
Bây
giờ thì tôi đã ngắm Lão sư phụ kỹ lưỡng rồi; ông không
có dáng vẻ gì là bị đau yếu hết. Dù cho việc gì đã xẩy
ra với ông đi nữa trong cái tư thế gục đầu khom mình trong
căn trà thất nhỏ bé, ông đã hoàn toàn mất hết uy tín mất
rồi. có một cái gì ti tiện, xấu xa trong cái tư thế đó,
giống như tư thế một con thú đang ngủ thiếp đi vậy. Tôi
nhận thấy tay áo ông hơi hơi run run và quả tình như thể
có một sức nặng vô hình nào đó đang tì mạnh lên lưng
ông.
Sức
mạnh vô hình này là cái gì vậy? Nó có làm cho mình khổ
não hay không? Hoặc giả, phải chăng Lão sư phụ đã tự mình
cảm thấy không sao chịu đựng nổi sự vô lực của mình?
Khi
đã quen tai với sự im lặng này, tôi mới nhận thấy Lão
sư phụ đang thấp giọng thì thầm một điều gì đó. Tiếng
thì thầm ấy nghe giống như một đoạn kinh văn, tuy nhiên
tôi không biết đó là một đoạn kinh nào. Đột nhiên một
ý nghĩ vụt hiện làm tan vỡ niềm kiêu căng của tôi. Lão
sư phụ có một sinh hoạt tinh thần tối tăm mà bọn chúng
tôi chẳng đứa nào hay biết gì hết; và so với cuộc sống
này những sự xấu xa nho nhỏ, những điều tội lỗi nho nhỏ,
những sự biếng lười nho nhỏ mà tôi đã ra công phạm vào
xét ra thực tầm thường không thể nào tả được.
À,
thế ra vậy đó. Cái thế ngồi khom mình của Lão sư phụ
trong lúc này thật giống hệt cái tư thế “đinh cật” nghĩa
là tư thế của một hành cước tăng chỉ muốn năn nỉ xin
nhập chúng tăng đường nhưng đã bị cự tuyệt và đang gục
đầu ngồi trên khăn gói tay nải suốt cả ngày ngoài cửa
huyền quan. Nếu một cao tăng như Lão sư phụ thực sự bắt
chước lối điều hành của một tu sĩ lang thang mới tới,
hẳn là ông phải được trời ban cho một mức độ khiêm
hư khủng khiếp. Nhưng cái sự khiêm hư này của người ấy
hướng về cái gì? Cũng y như sự khiêm hư của cọng lá trên
cây, của sương mai vương mắc trên mạng nhện đã hướng
thẳng về ánh mặt trời vì thế có lẽ Lão sư phụ đang
tự mình hướng về sự khiêm hư của mình về nguồn gốc
cũng điều ác và những tội nghiệp; có lẽ ông đang để
mặc cho những điều này phản ánh một cách tự nhiên trên
con người ông trong khi ông ngồi đó khom mình trong tư thế
của một con thú.
Nhưng
không phải thế. Bỗng dưng tôi thấy ông đang tỏ bầy thái
độ khiêm hư đối với chính tôi. Chẳng còn có thể nghi
ngờ gì nữa. Ông đã biết là tôi sắp sửa đi qua nơi này
và chính tôi mà ông đã lựa cái tư thế này để cho tôi
nhìn thấy. Lão sư phụ đã hoàn toàn ý thức được sự vô
lực của chính mình và sau cùng ông đã chọn lựa phương
pháp huấn giới lặng lẽ cực kỳ mỉa mai này để âm thầm
vò xé tim tôi ra từng mảnh nhỏ, để đánh thức cho tình
thương xót chỗi dậy trong tôi, để khiến tôi phải quỳ
gối khẩn nguyện.
Trong
khi ngắm Lão sư phụ khom mình ngồi đó trong dáng vẻ tôi
cho là khiêm hư, thật khó lòng mà tôi tránh khỏi đắm chìm
trong xúc động. Mặc dù tôi cố gắng đem hết sức mình phủ
nhận nguồn xúc động ấy song sự thật vẫn là tôi đang
sắp sửa gục ngã trước sự ái mộ đối với Lão sư phụ.
Nhưng cái ý nghĩ ông đã lựa chọn tư thế này chính vì đặc
biệt muốn cho tôi nhìn thấy đã làm mọi truyện thay đổi
ngược hẳn lại và khiến tôi thấy lòng mình lại càng cứng
dắn hơn trước nhiều.
Đúng
vào lúc này tôi quyết định thi hành kế hoạch phóng hỏa
không cần dựa vào một điều kiện tiên quyết nào chẳng
hạn như việc bị Lão sư phụ tống cổ ra khỏi chùa. Tôi
và Lão sư phụ đã trở nên hai con người sống trong hai thế
giới khác biệt và không còn ảnh hưởng tí gì đến nhau
nữa. Tôi thoát khỏi tất cả mọi trở ngại. Bây giờ tôi
có thể thi hành mọi quyết định của mình theo bất cứ cách
nào và vào bất cứ lúc nào tôi thích chứ không còn mong đợi
bất kỳ cái gì từ một sức mạnh bên ngoài nào khác nữa.
Ánh
hồng chói chan của buổi sớm nhạt dần trên nền trời, đồng
thời mây đã tụ lại từng đám và ánh mặt trời tươi sáng
đã rút ra khỏi Củng Bắc lâu. Lão sư phụ vẫn khom mình
ngồi đó. Tôi vội vã rảo bước rời khỏi nơi này.
Vào
ngày 25 tháng 6 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Điều tôi
linh cảm rằng thế giới sắp sửa sụp đổ tan tành trở
thành sự thực. Tôi phải vội vã mau tay lên mới được.
Hết
phần 9